1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật điều trị bệnh hở van hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo: Phân tích chỉ định và mô tả kỹ thuật

6 73 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 559,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hở van hai lá được định nghĩa là tình trạng phụt ngược dòng máu từ thất trái về nhĩ trái trong thời kỳ tâm thu. Hở van hai lá do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có sa lá van.

Trang 1

PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ BỆNH HỞ VAN HAI LÁ SỬ DỤNG DÂY CHẰNG NHÂN TẠO: PHÂN TÍCH CHỈ ĐỊNH

VÀ MÔ TẢ KỸ THUẬT

Nguyễn Văn Nghĩa*

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hở van hai lá được định nghĩa là tình trạng

phụt ngược dòng máu từ thất trái về nhĩ trái

trong thời kỳ tâm thu Hở van hai lá do nhiều

nguyên nhân gây ra, trong đó có sa lá van Tỉ lệ

sa van hai lá chiếm 1-2.5% dân số, trong nhóm

này có 10% gây hở van hai lá Đối với van thoái

hóa, đôi khi phẫu thuật viên gặp khó khăn khi

làm kỹ thuật rút ngắn dây chằng hoặc chuyển vị

dây chằng vì trong van thoái hóa, dây chằng

mỏng manh, rất khó sử dụng Chính vì vậy, chỉ

Gore-tex, hay còn gọi là chỉ PTFE

(polytetrafluoroethylene) được sử dụng để thay

thế dây chằng bị tổn thương(4)

Việc sử dụng dây chằng nhân tạo đã tạo ra

một sự thay đổi lớn về kỹ thuật, được lựa chọn

làm phương pháp mổ hiệu quả trong sửa van

hai lá Frater nghiên cứu thay thế dây chằng tự nhiên bằng dây chằng nhân tạo polytetrafluoroethylene trong những năm 1980

Kỹ thuật này chỉ được sử dụng trên lá trước, sau

đó được sử dụng cho cả lá sau và kết quả đạt được rất tốt Gần đây, Von Oppell UO thực hiện thay thế dây chằng nhân tạo bằng cả 2 phương pháp mở ngực kinh điển và xâm lấn tối thiểu bởi tính tiện lợi của dây chằng nhân tạo cho kết quả khá tốt Hiện nay, có nhiều nghiên cứu so sánh

kỹ thuật sửa van hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo với các phương pháp kinh điển cho thấy tính tiện lợi, lâu bền, kết quả dài hạn của dây chằng nhân tạo là rất tốt(2)

Một số trung tâm tim mạch ở Việt Nam cũng

đã thực hiện phương pháp dây chằng nhân tạo trong sửa van hai lá và ghi nhận kết quả tốt

Chỉ định phẫu thuật sửa van hai lá sử dụng dây chằng nhân tạo

Bảng 1 Kỹ thuật sửa sa van do cơ nhú

Kỹ thuật sửa sa van do cơ nhú

Bảng 2 Kỹ thuật sửa van hai lá do sa lá trước

Kỹ thuật sửa van trong sa lá trước

Vùng sa ≤1/4 diện lá

van

Dây chằng thứ cấp lá trước tốt

Dây chằng thứ cấp lá trước không dùng được

Kỹ thuật Cắt giảm tam giác Chuyển vị dây chằng

thứ cấp lá trước

Chuyển vị dây chằng thứ cấp lá sau sang lá trước

Tạo hình trượt

cơ nhú

Làm ngắn dây chằng

Kỹ thuật thay thế Cố định lá van sa lên

dây chằng thứ cấp

Cắt giảm tam giác, chuyển vị

dây chằng Dây chằng nhân tạo

Những kỹ thuật này đòi hỏi phẫu thuật viên

có nhiều kinh nghiệm, mô van hai lá và bộ máy

dưới van có thể mất nhiều khi sửa van, ảnh hưởng lớn đến hình thái và chức năng của van

* Khoa phẫu thuật – Viện Tim TP.HCM

Trang 2

hai lá sau phẫu thuật

Với những trường hợp thương tổn sa lá

trước diện rộng do dãn dây chằng hay đứt dây

chằng, chuyển vị dây chằng vẫn tỏ ra khá hiệu

quả, và đây là mô tự thân Tuy nhiên, nhiều

trường hợp thương tổn phức tạp, mô dây chằng

tự thân không đủ, dây chằng nhân tạo lại một

lần nữa chứng minh được hiệu quả sử dụng của chính nó

Kỹ thuật sửa van hai lá do sa lá sau

Các kỹ thuật thực hiện sửa van hai lá do sa lá sau: cắt giảm lá van tam giác, chuyển vị dây chằng, làm ngắn dây chằng, cắt giảm tứ giác và gấp nếp vòng van, trượt lá van, và gắn dây

chằng nhân tạo

Bảng 3 Kỹ thuật sửa van trong sa lá sau

Kỹ thuật sửa van trong sa lá sau

<1/3 bờ tự do của 1 phần lá van

>1/3 bờ tự do của 1 phần lá van

Toàn bộ 1 phần lá van

Kỹ thuật Cắt giảm tam giác Cắt giảm tứ giác và gấp nếp

vòng van

Cắt giảm tứ giác và tạo hình trượt lá van

Kỹ thuật thay thế dây chằng

đứt

Chuyển vị dây chằng hoặc dây chằng nhân tạo

Chuyển vị dây chằng dây chằng nhân tạo Phối hợp các kỹ thuật

Kỹ thuật thay thế dây chằng dài Làm ngắn dây chằng Làm ngắn dây chằng Phối hợp các kỹ thuật

dây chằng nhân tạo dây chằng nhân tạo

Tóm lại, trong sa lá sau với nhiều thương tổn

khác nhau, có nhiều kỹ thuật sửa van hai lá từ

đơn giản đến phức tạp phụ thuộc vào: diện sa lá

van và mô lá van còn lại

Kỹ thuật sửa van hai lá do sa mép van, 2 lá van

Sa mép van: các kỹ thuật được thực hiện là

cắt giảm tam giác, chuyển vị dây chằng, cắt giảm

tứ giác, thay thế dây chằng, trượt cơ nhú, làm

ngắn cơ nhú đã được mô tả ở phần trước

Sa 2 lá van: phối hợp tất cả các kỹ thuật sửa lá trước, lá

sau, mép van

Bảng 4 Kỹ thuật sửa van trong sa mép van

Kỹ thuật sửa van trong sa mép van

Tình trạng lá

van Sa giới hạn

Sa diện rộng Đứt dây chằng Dây chằng dài

Kỹ thuật Cắt giảm tam giác Cắt giảm tứ giác Trượt cơ nhú

Kỹ thuật thay

thế dây

chằng đứt

Chuyển vị

dây chằng

dây chằng nhân tạo

Làm ngắn cơ nhú

Các thương tổn dây chằng và trụ cơ trong hở

van hai lá do thoái hóa

Đứt dây chằng

Bệnh van tim thoái hóa có mô van mỏng,

mềm mại, trong Dây chằng mảnh mai, giãn dài

dễ đứt Vì vậy, cần thay thế dây chằng bị tổn

thương và vẫn bảo tồn được mô van, giúp tăng cường cho lá van

Dài dây chằng

Diện áp đầy đủ của hai lá van ngang mặt phẳng van hai lá chủ yếu nhờ vào các dây chằng

bờ Nếu giãn hoặc dài dây chằng bờ, hai lá van không đóng kín, gây ra hở van

Trong khi đó, thương tổn ít gặp trong bệnh

lý thoái hóa van hai lá:

Giãn bờ tự do lá van Khiếm khuyết dây chằng Giãn dài trụ cơ

Đứt trụ cơ

Kỹ thuật sửa van sử dụng dây chằng nhân tạo

Dây chằng nhân tạo gồm các vật liệu khác nhau: silk, teflon, nylon được sử dụng rất sớm từ những năm 1969 Frater và cộng sự đã ứng dụng đầu tiên dây chằng nhân tạo bằng chỉ PTFE vào sửa van hai lá, kỹ thuật này đã thành công lớn ở người lớn và trẻ em(3)

Phương pháp dây chằng đa vòng

Các tác giả đã sử dụng bìa cứng vô khuẩn

Trang 3

để tạo nên dây chằng nhân tạo đa vòng một

cách đơn giản và có thể hiệu chỉnh độ dài các

dây chằng (Hình 1)

Hình 1 Dây chằng đa vòng của tác giả Changping

Gan (Nguồn: Gan C, Li Y (2015), "A simple technique for

preparation of artificial chordal loops with a strip of

paper".Ann Thorac Surg)

Phương pháp tạo dây chằng đa vòng trong

vòng lặp của tác giả Shigehiko Tokunaga

Hiện tại, dây chằng nhân tạo đa vòng bằng

chỉ PTFE có nhiều loại như: 3 vòng lặp, 4 vòng

lặp hay 5 vòng lặp và với chiều dài khác nhau

16mm, 18mm, 20mm, 22mm và 24mm giúp

phẫu thuật viên tiết kiệm được thời gian tạo dây

chằng rất nhiều(1) (Hình2)

Hình 2 Dây chằng đa vòng trong vòng lặp của tác

giả Shigehiko Tokunaga (Nguồn: Tokunaga S, Yasuda

S (2014), "Devised loop-in-loop technique in mitral

valve repair".Asian Cardiovasc Thorac Ann)

Kỹ thuật dây chằng nhân tạo sợi thẳng (Hình

3)

Cách hiệu chỉnh độ dài dây chằng nhân tạo

Khâu sợi PTFE qua đỉnh của cơ nhú tương

ứng với vùng lá van sa, chiều dài của dây chằng

nhân tạo được xác định bằng hai phương pháp:

Phương pháp điểm tham chiếu

Xác định chiều dài của dây chằng nhân tạo bằng cách ước lượng với chiều dài dây chằng bình thường, sau đó định vị trí bằng bút vô khuẩn

Hình 3 Kỹ thuật dây chằng nhân tạo sợi thẳng

(Nguồn: Carpentier A, (2010), "Mitral Valve Reconstruction", Carpentier's Reconstructive Valve Surgery)

Phương pháp thứ hai

Sử dụng thước đo để xác định chiều dài của dây chằng nhân tạo, đo từ đỉnh cơ nhú đến bờ tự

do của lá van Sau khi xác định được chiều dài của dây chằng nhân tạo, khâu cố định tạm bởi nốt buộc đầu tiên bằng chỉ prolene 5.0 lên bờ tự

do lá van (Hình 4)

Hình 4 Kỹ thuật hiệu chỉnh độ dài dây chằng nhân

tạo ở lá van (Nguồn: Carpentier A, (2010), "Mitral Valve Reconstruction", Carpentier's Reconstructive Valve Surgery)

Hiệu chỉnh độ dài dây chằng nhân tạo ở thất

Trong kỹ thuật này, một miếng đệm được khâu bởi PTFE qua đỉnh của cơ nhú tương ứng vùng lá van sa, sau đó qua bờ lá van và cuối

Trang 4

cùng khâu ngược trở lại cơ nhú, từ đây có thể tạo

được nhiều vòng dây chằng nhân tạo Chiều dài

của dây chằng được điều chỉnh phù hợp với độ

căng bờ tự do lá van

Ngoài 2 phương pháp hiệu chỉnh độ dài của

dây chằng nhân tạo trên, tác giả Van Oppel và

Mohr đã sử dụng một kỹ thuật khác để xác định

chiều dài của dây chằng nhân tạo bằng dụng cụ

đo Kỹ thuật này được ứng dụng trong phẫu

thuật xâm lấn tối thiểu Chiều dài của dây chằng

nhân tạo được xác định bởi thước hoặc dụng cụ

đo là khoảng X, khoảng cách này được xác định

là giữa bờ tự do lá van và vị trí dự kiến cắm lại

dây chằng nhân tạo trên cơ nhú, tương ứng với

khoảng cách của dây chằng ở lá van bình

thường Sau khi có được khoảng cách X, sử dụng

nó để tạo chiều dài của dây chằng nhân tạo

(Hình 5)

Hình 5 Kỹ thuật đo chiều dài dây chằng nhân tạo của

Van Oppel và Mohr (Nguồn: Von Oppell UO, Morh FW

(2000) “Chordal replacement with polytetraflouroethylene

sutures for mitral surgery using premeasure Gore-Tex

loops”, Ann Thorac Surg)

Ngoài ra, theo một nghiên cứu của các tác giả

Michael Ibrahim, Christopher Rao, Thanos

Athanasiou đã tổng kết có khoảng 40 cách khác

nhau để xác định chiều dài dâ chằng nhân tạo

trong điều trị phẫu thuật sửa sa van hai lá do

nguyên nhân thoái biến(7) Tác giả David tạo sợi

chỉ Gore-Tex đa vòng để gắn cho bệnh nhân

trong nghiên cứu của mình năm 2004, và sau đó

là Isoda năm 2012(5) (Hình 6)

Hình 6 (a) David năm 2004, (b) Isoda, năm 2012

Dụng cụ Hegar cũng được Cagli, Calafiore

để làm dây chằng đa vòng trong nghiên cứu

năm 2008 (Hình 7)

Hình 7 Calafiore, năm 2008

Phương pháp bơm nước vào thất trái: Kasegawa năm 1994, Adams năm 2001, Cimen thực hiện năm 2006, Moorjani 2009, Chocron

2007, Fattouch 2007 (Hình 8)

Hình 8 Kasegawa năm 1994

Kẹp Clip làm dấu trên sợi chỉ đinh vị có các tác giả Chan, Rankin, Chhocron năm 2007

(Hình 9)

(a)

(b)

Trang 5

Hình 9 Chan, năm 2008

Nhiều tác giả đo chiều dài dây chằng nhân

tạo bằng thước, đại diện là Tam và cộng sự,

năm 2006 , Mandegar thực hiện nghiên cứu

năm 2007 (Hình 10)

Hình 10 Mandegar, năm 2007

Hình 11 (a) von Oppell năm 2000, (b) Iida, năm

2010

Hoặc dùng thước đo có móc như trong

nghiên cứu của Matsui năm2005, Maisano

năm 2011, von Oppell, Doi , Gillinov , và Iida

năm 2010 (Hình 11)

Các tác giả Chang và Kao, năm 2011,

Matsui, năm 2011tiến hành cột chỉ trên một

ống nhựa với chiều dài xác định trước, dựa

trên siêu âm trước mổ (Hình 12)

Tác giả Pretre mở động mạch chủ để quan

sát dây chằng nhân tạo trong lô nghiên cứu

của mình năm 2006 (Hình 13)

Brunsting đại diện cho việc sử dụng robot để

thực hiện gắn dây chằng nhân tạo Trong khi đó,

Seeburger, năm 2012 thực hiện gắn dây chằng nhân tạo tim đập, mổ ít xâm lấn với dụng cụ

chuyên dụng (Hình 14)

Hình 12 Matsui, năm 2011

Hình 13 Pretre, năm 2011

Hình 14 Seeburger, năm 2012

Tác giả Nguyễn Văn Phan tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh áp dụng phương pháp dây chằng nhân tạo trong nghiên cứu này của chúng tôi với kỹ thuật như sau: Đầu tiên, xác định dây chằng bị tổn thương và vùng lá van bị sa, khâu một sợi chỉ 5.0 vào bờ

tự do của hai lá van ở vùng van bình thường

kế bên Một sợi chỉ ePTFE móc vào đầu cơ nhú hai vòng, rồi gắn lên vùng lá van bị sa Kéo

(a)

(b)

Trang 6

căng sợi chỉ 5.0 để làm chiều dài chuẩn, cột chỉ

ePTFE sao cho nơ chỉ vừa áp trên bề mặt lá

van ngang với mức chuẩn Sau cùng, kết thúc

mũi chỉ ở mặt thất của lá van và cột chỉ một

lần nữa

Tóm lại, có nhiều cách để thực hiện dây

chằng nhân tạo Tuy nhiên, cho dù cách nào

cũng phải trả lời một câu hỏi là chiều dài vừa đủ,

không quá dài, không quá ngắn Nếu dài quá,

van vẫn còn bị sa, vẫn còn hở Nếu ngắn quá,

van bị kéo cụp xuống dưới, biến hở van hai lá

loại 2 thành loại 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Duran CM, Pekar F (2003 ) Techniques for ensuring the correct

length of new mitral chords J Heart Valve Dis.;12(2):156-161

2 Ellis FH, Frye RL, McGoon DC (1966), “Results of reconstructive

operations for mitral insufficiency due to ruptured Chordae

tendinese”, Surgery, 59, pp 165 – 166

3 Gillenov A, Cosgrove DM, Blackstone EH, et al (1998),

“Durability of mitral valve repair for degenerative disease”, J Thorac Cardiovasc Surg, 116, pp 734 – 743

4 Grossi EA, Galloway AC, Miller JS, et al (1998), “Valve repair

versus replacement for mitral insufficiency” J Thorac Cadiovasc Surg, pp 389 – 396

5 Holubec T, Sundermann SH (2013), "Chordae replacement versus leaflet resection in minimally invasive mitral valve

repair" Ann Cardiothorac Surg, 2 (6), pp 809-813

6 McGoon DC (1960), “Repair of mitral insufficiency due to

rupture chordae tendinae”, J Thorac Cadiovasc Surg, 39, pp 357 –

359

7 Michael I, Christopher R, Thanos A.(2012) Artificial chordae for degenerative mitral valve disease: critical analysis of current

techniques Interactive CardioVascular and Thoracic Surgery,

Volume 15, Issue 6: 1019–1032

8 Shibata T, Kato Y (2015), "Mitral valve repair with loop

technique via median sternotomy in 180 patients" Eur J Cardiothorac Surg, 47 (3), pp 491-496

Ngày nhận bài báo: 12/06/2018 Ngày bài báo được đăng: 30/06/2018

Ngày đăng: 14/01/2020, 21:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w