1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm ống tủy hình C ở răng cối lớn thứ hai hàm dưới người Việt (nghiên cứu trên conebeam CT)

8 196 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 396,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày xác định tỷ lệ, mô tả đặc điểm của ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm dưới ở người Việt. Răng cối lớn thứ hai hàm dưới người Việt có tỷ lệ ống tủy hình C cao. Đặc điểm này có tính đối xứng cao và hình dạng ống tủy hình C thay đổi đa dạng.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM ỐNG TỦY HÌNH C Ở RĂNG CỐI LỚN THỨ HAI HÀM DƯỚI

NGƯỜI VIỆT (NGHIÊN CỨU TRÊN CONEBEAM CT)

Nguyễn Thị Thủy Tiên*, Huỳnh Hữu Thục Hiền**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ, mô tả đặc điểm của ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm dưới ở người

Việt

Phương pháp nghiên cứu: Mẫu thuận tiện gồm 180 hình ảnh conebeam CT được chụp tại khoa Răng Hàm

Mặt, ĐH Y Dược TPHCM Các răng cối lớn thứ hai hàm dưới (342 răng) được quan sát trong 3 mặt phẳng trục

để ghi nhận có hay không dạng ống tủy hình C Hình dạng ống tủy C được quan sát và phân loại theo Fan (2004)

ở các mức phần ba cổ, phần ba giữa và phần ba chóp chân răng Sử dụng thống kê mô tả để xác định tỉ lệ ống tủy hình C, phép kiểm chi bình phương để đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm, đánh giá sự phân bố của ống tủy hình

C trên răng cối lớn thứ hai hàm dưới theo giới tính, tuổi, vị trí răng

Kết quả: Tỉ lệ ống tủy hình C ở răng cối lớn thứ hai hàm dưới người Việt theo nghiên cứu này là 37,2% Sự

phân bố ống tủy hình C theo tuổi và vị trí không khác biệt có ý nghĩa, nhưng có sự khác biệt theo giới Nữ thường

có răng cối lớn thứ hai hàm dưới có ống tủy hình C (43,5%) hơn nam (27,8%) (p=0,008) Đặc điểm ống tủy hình

C ở răng cối lớn thứ hai hàm dưới có tính đối xứng cao với 75,8% người có ống tủy hình C là ở cả hai bên Ở răng có ống tủy hình C, hình dạng ống tủy này thay đổi phức tạp trong suốt chiều dài ống tủy, chỉ có 7% răng có ống tủy hình C có cùng một dạng suốt chiều dài, 93% còn lại hình dạng ống tủy C thay đổi Trong đó phần lớn có dạng chữ C liên tục ở phần ba cổ chân răng, sau đó tách ra thành hai hay ba ống tủy ở phần ba giữa rồi lại hợp thành một ở phần ba chóp và đi ra ngoài qua một lỗ chóp

Kết luận: Răng cối lớn thứ hai hàm dưới người Việt có tỷ lệ ống tủy hình C cao Đặc điểm này có tính đối xứng cao và hình dạng ống tủy hình C thay đổi đa dạng

Từ khóa: ống tủy hình C, răng cối lớn, hàm dưới, coneabeam CT

ABSTRACT

C-SHAPED ROOT CANALS OF MANDIBULAR SECOND MOLARS AMONG VIETNAMESE:

A CONEBEAM COMPUTED TOMOGRAPHY STUDY IN VIVO

Nguyen Thi Thuy Tien, Huynh Huu Thuc Hien

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 68 - 75

Objective: The aim of this study was to evaluate the prevalence and configurations of C-shaped canals in

permanent mandibular second molars among Vietnamese by using cone-beam computed tomography (CBCT) images

Methods: CBCT images of 180 patients (342 teeth) were collected to identify the presence of C-shaped root

canals and anatomical features according to the classification of Fan (2004) at the cervical, middle and apical thirds Bilateral or unilateral occurrence of C-shaped canals and their relationships with gender, age and tooth position were examined The chi-squared test was applied

Results: There were 342 mandibular second molars examined, 114 of them (33.3%) (From 67 patients) had

C-shaped root canals There were no significant differences in the distribution of C-shaped canals between age

* Khóa BS RHM 2009-2015, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP.HCM

Trang 2

groups and tooth positions, but there was significant difference in the distribution between male and female (p=0.008) C-shaped root canals were often seen in female (43.5%) than in male (27.8%) The prevalence of bilateral C-shaped canals was 75.8% among 62 patients with bilateral mandibular second molars in which had at least one tooth with C-shaped root canal There were only 8 teeth having the same canal configuration from the orifice to the apex and the other ones having the cross-sectional canal configuration changed in different levels of the root In addition, the study found higher prevalence of one C-shaped canal at cervical third then separating into two or three canals at middle third, finally merging into one

Conclusion: There was a high prevalence of C-shaped canals in the mandibular second molars among

Vietnamese The C-shaped root canal system varied in configuration, and bilateral occurrence

Keywords: C-shaped canal, molar, mandibular, cone beam CT

MỞ ĐẦU

Ống tủy hình C là một biến thể giải phẫu

ống tủy thường gặp nhiều nhất ở răng cối lớn

thứ hai hàm dưới nhưng cũng có thể gặp ở các

răng cối lớn khác Tỷ lệ của ống tủy hình C ở

răng cối lớn thứ hai hàm dưới thay đổi từ 2,7%

- 44,5% tùy theo chủng tộc Các nghiên cứu

cho thấy tỷ lệ ống tủy hình C trên răng cối lớn

thứ hai hàm dưới ở người Mongoloid cao hơn

các chủng tộc khác

Do sự phức tạp về cấu trúc, ống tủy hình C là

một thử thách đối với bất cứ nhà thực hành lâm

sàng nội nha nào Vì vậy hiểu biết thấu đáo về

giải phẫu hệ thống ống tủy hình C từ miệng ống

tủy đến lỗ chóp là rất quan trọng để chẩn đoán

và điều trị đạt kết quả tốt

Trước đây, đa số các nghiên cứu về ống tủy

hình C được thực hiện trên răng khô hoặc sử

dụng kĩ thuật chụp phim X-quang thông

thường Những nghiên cứu loại này cần khá

nhiều mẫu để có thể đại diện cho dân số và việc

thu thập đủ số lượng răng đã nhổ có nguồn gốc

rõ ràng là không dễ dàng

Kỹ thuật chụp cắt lớp với chùm tia hình nón

(Conebeam CT) cung cấp hình ảnh 3D không

xâm lấn, chính xác, không biến dạng với lượng

tia thấp và chi phí phù hợp hơn nhiều so với các

kỹ thuật chụp cắt lớp khác Conebeam CT cũng

đã và đang được ứng dụng trong nghiên cứu

hình thái hốc tủy Trong nghiên cứu này chúng

tôi sử dụng các dữ liệu conebeam CT sẵn có từ

các bệnh nhân được chỉ định chụp cho những

mục đích điều trị răng miệng

Nghiên cứu "Đặc điểm ống tủy hình C ở răng cối lớn người Việt" được thực hiện nhằm xác định tỉ lệ ống tủy hình C trên các răng cối lớn thứ hai hàm dưới ở người Việt và mô tả đặc điểm giải phẫu ống tủy hình C

Mục tiêu nghiên cứu

1- Xác định tỷ lệ ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm dưới ở người Việt

2- Xác định sự phân bố của ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm dưới theo vị trí, tuổi và giới tính

3- Xác định tỷ lệ các phân loại ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm dưới lần lượt ở phần ba cổ, phần ba giữa và phần ba chóp chân răng theo phân loại của Fan và cộng sự 2004

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện dựa trên quan sát hình ảnh CBCT của 300 bệnh nhân chụp tại bộ môn tia X, Khoa Răng Hàm Mặt Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 9 năm 2013, hình ảnh thỏa điều kiện sau được lựa chọn vào mẫu nghiên cứu:

Hình ảnh conebeam CT rõ ràng có thể quan sát được

Bệnh nhân người Việt có ít nhất một răng cối lớn thứ hai hàm dưới

Các răng cối lớn hai hàm dưới thỏa điều kiện: răng phát triển đầy đủ và đã đóng chóp

Trang 3

Tiêu chuẩn loại trừ mẫu

Răng đã chữa tủy, có trám bít ống tủy chân

răng

Răng có sang thương quanh chóp, có phục

hình cố định đặt chốt trong chân răng

Răng bị ngoại tiêu hay nội tiêu, calci hóa ống

tủy chân răng

Mẫu nghiên cứu

Gồm 180 bệnh nhân có hình ảnh conebeam

CT thỏa điều kiện chọn mẫu Trong đó có tất cả

71 nam và 109 nữ với độ tuổi trung bình là 34 (từ

15 đến 75 tuổi) Tổng số răng cối lớn thứ hai hàm

dưới ở 180 bệnh nhân này là 342 răng, số răng

bên phải và bên trái bằng nhau (171 răng)

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Vật liệu- phương tiện nghiên cứu

Hình ảnh được quan sát bằng phần mềm

SIDEXID trên máy tính với độ phân giải màn

hình là 1920×1080 pixels

Máy chụp CBCT Galileos của hãng Sirona,

Đức (sản xuất 7/2010)

Hiệu điện thế: 200 – 240 V; Tần số: 50/60 Hz;

Cường độ dòng điện: 6A

Thời gian chụp: 14 giây

Kích cỡ voxel: 0,15 mm Phân loại ống tủy hình C theo Fan và cộng

sự 2004(4,5)

C1: Ống tủy hình C liên tục

C2: Ống tủy có dạng dấu chấm phẩy do sự không liên tục của hình C, nhưng góc α hoặc góc

β không dưới 600 C3: Hai hay ba ống tủy riêng rẽ và cả góc α

và β đều nhỏ hơn 600 C4: Một ống tủy hình bầu dục hay hình tròn C5: Không có lỗ tủy (thường chỉ có ở chóp)

Hình 1 Phân loại ống tủy hình C theo Fan và cộng

sự 2004

Hình 2 Cách đo góc α và β để phân biệt ống tủy dạng C2 và C3 Điểm kết thúc của một ống tủy trên lát cắt

ngang (C và D): điểm kết thúc của ống tủy khác trên lát cắt ngang M: trung điểm của đoạn AD α: góc giữa hai đường MA và MB β: góc giữa hai đường CM và DM (a): ống tủy dạng C2, góc β>60 0 (b): ống tủy dạng C3, góc α<60 0 và góc β<60 0 )

Trang 4

Fan cho rằng dù ống tủy dạng C nhìn giống

hai hay ba ống tủy riêng rẽ, vẫn có phần nối thắt

eo giữa chúng Dạng chỉ có một ống tủy hình

tròn hay bầu dục (C4), thường chỉ bắt gặp ở

vùng chóp được xem là một biến thể vì những

phần khác của ống tủy vẫn có dạng hình C

Qui trình thực hiện

Hình ảnh conebeam CT thỏa điều kiện lựa

chọn mẫu được quan sát trên màn hình máy tính

độ phân giải 1920×1080 pixels với phần mềm

SIDEXID

Ghi nhận tuổi, giới tính, vị trí răng, sự xuất

hiện của ống tủy hình C ở mỗi bệnh nhân

Ống tủy được xem là có dạng hình C khi

thỏa mãn điều kiện theo định nghĩa của Fan và

cộng sự: Các chân răng nối với nhau, và ít nhất

có một lát cắt trên thiết diện ngang của ống tủy

có dạng C1, C2 hay C3 (theo phân loại của Fan

và cộng sự 2004a)

Quan sát ống tủy chân răng cối lớn hai hàm

dưới theo ba mặt phẳng

Khảo sát đặc điểm giải phẫu ống tủy hình C

bằng cách quan sát theo thiết diện ngang ở

những mức sau: Miệng ống tủy, phần ba giữa

chân răng, phần ba chóp chân răng

Xếp loại ống tủy hình C theo phân loại của

Fan và cộng sự (2004) Loại C2 và C3 được phân

biệt bằng cách đo góc α và β

Những người có hai răng cối lớn thứ hai

hàm dưới được dùng để khảo sát sự phân bố

theo vị trí của ống tủy hình C

Kiểm soát sai lệch

Tất cả hình ảnh conebeam CT được khảo sát

bởi hai quan sát viên Mọi số liệu thu thập đều

thông qua sự nhất trí, đồng thuận của cả hai Chỉ

số Kappa được dùng để đánh giá độ kiên định

của người quan sát Từ mẫu nghiên cứu, chúng

tôi rút ngẫu nhiên 20 hình ảnh CBCT và thực

hiện quan sát lại các thông tin cần ghi nhận và

tính chỉ số Kappa giữa các lần quan sát Chỉ số

Kappa trong nghiên cứu này là K = 1 (K ≥0,85 có

nghiã quan sát viên có độ kiên định cao)

Xử lý số liệu

Số liệu được nhập vào máy tính, lưu giữ và

xử lý bằng phần mềm SPSS 16 for Windows

Thống kê mô tả

Tính tỉ lệ ống tủy hình C của mẫu, tỷ lệ theo giới, theo vị trí

Tính tỉ lệ các phân loại ống tủy hình C ở các mức phần ba cổ, phần ba giữa, phần ba chóp chân răng

Thống kê suy lý:

Phép kiểm chi bình phương với độ tin cậy 95% (p≤0,05) được dùng để đánh giá sự phân bố ống tủy hình C theo giới, vị trí và tuổi

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Từ dữ liệu CBCT của 300 bệnh nhân chụp tại

bộ môn tia X, khoa Răng Hàm Mặt Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 12 năm

2013, chúng tôi đã chọn ra 180 bộ dữ liệu hình ảnh (mỗi bộ tương ứng với 1 bệnh nhân) thỏa điều kiện tham gia vào nghiên cứu Trong số 180 người có ít nhất một răng cối lớn thứ 2 hàm dưới, cụ thể là 162 người có hai răng cối lớn thứ hai hàm dưới, và 18 người chỉ có một răng cối lớn thứ hai hàm dưới

Tỉ lệ ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm dưới

Trong 180 người có ít nhất 1 răng cối lớn thứ

2 hàm dưới có 67 người có ít nhất một răng cối lớn thứ hai hàm dưới có ống tủy hình C, 113 người còn lại không có ống tủy hình C Tỉ lệ người có ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm dưới là 37,2%

Bảng 1 Tần số và tỉ lệ ống tủy hình C ở răng cối lớn

thứ hai hàm dưới người Việt

Tổng số răng cối lớn thứ hai hàm dưới ở 180 bệnh nhân là 342 răng, trong đó 114 răng có ống tủy hình C, 228 răng không có ống tủy hình C Tỉ

Trang 5

lệ ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm

dưới tính theo răng là 33,3%

So sánh với kết quả nghiên cứu thực hiện

trên các quốc gia khác, tỉ lệ này cao tương đương với các nước Châu Á như Hàn quốc, Trung Quốc

Bảng 2 Tỉ lệ ống tủy hình C của một số quốc gia trên thế giới

Số răng cối lớn thứ hai hàm dưới bên phải và

bên trái trên 342 răng cối lớn thứ hai hàm dưới

của 180 bệnh nhân trong nghiên cứu đều bằng

171 Tỉ lệ ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm dưới bên trái và bên phải đều là 33,3%

Hình 3 Một bệnh nhân có đặc điểm ống tủy hình C rất giống nhau ở hai răng cối lớn thứ hai hàm dưới (a), (e):

Trên mặt phẳng đứng dọc, răng 37 và 47 có chân răng chụm (b), (c), (d), (f), (g), (h): Hình dạng ống tủy hình C

ở răng 37 và 47 trên mặt phẳng cắt ngang có cùng phân loại ở các mức phần ba cổ, phần ba giữa, phần ba chóp lần lượt là: C1, C2, C4

Có 162 bệnh nhân có hai răng cối lớn thứ hai

hàm dưới, tỉ lệ ống tủy hình C ở răng cối lớn thứ

hai hàm dưới bên trái là 34,6%, tỷ lệ này ở răng

cối lớn thứ hai hàm dưới bên phải là 32,7%,

không khác biệt có ý nghĩa (p=0,72)

Trong 62 bệnh nhân có hai răng cối lớn thứ hai hàm dưới và có ít nhất một ống tủy hình C, 75,8% số bệnh nhân có ống tủy hình C ở cả hai bên, tỉ lệ này cao hơn nhiều so với những người

có ống tủy hình C ở một bên, chỉ chiếm 24,2%

Trang 6

Như vậy sự xuất hiện của ống tủy hình C có tính

chất đối xứng, những bệnh nhân có ống tủy hình

C ở răng cối lớn thứ hai hàm dưới bên này thì có

khả năng cao cũng có ống tủy hình C ở răng bên

đối diện

Sự phân bố của ống tủy hình C trên răng cối

lớn thứ hai hàm dưới theo giới

Trong 180 người có ít nhất một răng cối lớn

thứ 2 hàm dưới, có 71 nam và 109 nữ Tỉ lệ nam

có ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm

dưới là 25,4%, thấp hơn so với tỉ lệ này ở nữ là

45% Sự phân bố của ống tủy hình C theo giới

tính khác nhau có ý nghĩa (p=0,008), xuất hiện ở

nữ nhiều hơn nam

Sự phân bố của ống tủy hình C trên răng cối

lớn thứ hai hàm dưới theo tuổi

Chúng tôi chia 180 người có ít nhất một răng

cối lớn thứ 2 hàm dưới thành 6 nhóm tuổi: ≤20

tuổi, 21-30 tuổi, 31-40 tuổi, 41- 50 tuổi, 51-60 tuổi

và ≥60 tuổi Nhóm bệnh nhân từ 51- 60 tuổi có tỷ

lệ ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm dưới thấp nhất (23,5%) Tỷ lệ ống tủy hình C cao nhất ở nhóm bệnh nhân ≤20 tuổi (51,6%) Tuy nhiên sự phân bố ống tủy hình C ở răng cối lớn thứ hai hàm dưới theo tuổi khác nhau không có

ý nghĩa (p=0,13)

Phân loại ống tủy hình C tại các mức phần

ba cổ, phần ba giữa và phần ba chóp chân răng

Sau khi quan sát hình dạng ống tủy hình C

từ cổ đến chóp chân răng, chúng tôi nhận thấy hầu hết (93%) đều có sự thay đổi hình dạng Chỉ có 8 răng (7%) vẫn giữ nguyên hình dạng,

từ miệng ống tủy đến chóp chân răng đều có dạng C1

Hình 4 Biểu đồ phân bố dạng ống tủy hình C ở các mức chân răng

Trong những răng có ống tủy hình C, dạng

chiếm nhiều nhất là những răng có dạng C1 ở

mức phần ba cổ, C3 ở phần ba giữa, C3 ở phần

ba chóp và C1 ở phần ba cổ, C1 ở phần ba

giữa, C4 ở phần ba chóp với cùng số răng là 14

răng (15,4%) Phần lớn những ống tủy có dạng

C1 ở phần ba cổ (79,8%), có xu hướng phân

thành hai ống tủy riêng ở mức phần ba giữa, tức có dạng C2 hay C3 (chiếm tổng cộng 62,7%) Đến phần ba chóp chân răng, dạng C4 lại chiếm ưu thế (37,4%) so với dạng C2 (6,6%)

và C3 (33%) Dạng C1 và C4 (những dạng có một ống tủy liên tục) chiếm đa số ở phần ba chóp với tỷ lệ chung là 60,4%

Trang 7

Như vậy, ống tủy hình C phần lớn có dạng

chữ C liên tục ở miệng ống tủy, sau đó chia

thành những ống tủy riêng rẽ khi đi đến phần ba

giữa chân răng và hợp lại thành một ống tủy

chung khi đến chóp chân răng Tuy nhiên, sự

thay đổi hình dạng ống tủy hình C đi từ lỗ tủy

đến lỗ chóp rất đa dạng

Do sự biến đổi đa dạng từ lỗ tủy đến chóp

nên các răng hình C thường gây khó khăn cho

các bác sĩ khi phải điều trị nội nha Qua

nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy Conebeam

CT là một phương tiện tốt để khảo sát hệ

thống hốc tủy ở những răng có ống tủy hình

C, cho hình ảnh chi tiết, cụ thể, hướng dẫn

điều trị nhằm đem đến kết quả tốt hơn cho

bệnh nhân với chi phí phù hợp

KẾT LUẬN

1 Tỉ lệ ống tủy hình C trên răng cối lớn thứ

hai hàm dưới ở người Việt là 37,2% Tỉ lệ này

tính theo răng là 33,3%

2 Sự phân bố của ống tủy hình C trên răng

cối lớn thứ hai hàm dưới theo tuổi và vị trí

không khác biệt có ý nghĩa thống kê Tỉ lệ ống

tủy hình C trên răng cối lớn thứ hai hàm dưới ở

nam (25,4%) thấp hơn nữ (45%) có ý nghĩa thống

kê (p=0,008)

3 Phân loại ống tủy hình C ở các mức chân

răng: Ở mức phần ba cổ, dạng ống tủy hình chữ

C liên tục (C1) là dạng chiếm đa số Ở mức phần

ba giữa chân răng, dạng C1, C2 và C3 xấp xỉ

nhau Ở phần ba chóp, đa số ống tủy hình C có

dạng C1 và C4

4 Đặc điểm ống tủy hình C ở răng cối lớn

thứ hai hàm dưới người Việt có tính đối xứng

cao, 75,8% người có ống tủy hình C xảy ra ở

hai bên

5 Hầu hết các răng có ống tủy hình C thay đổi hình dạng khi đi từ cổ đến chóp chân răng Ống tủy hình C phần lớn có dạng chữ C liên tục

ở miệng ống tủy, sau đó chia thành những ống tủy riêng rẽ khi đi xuống phần ba giữa chân răng

và hợp lại thành một ống tủy chung khi đến chóp chân răng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ahmed HA, Abu-Bakr NH, Yahia NA, Ibrahim YE (2007),

"Root and canal morphology of permanent mandibular

molars in a Sudanese population", International Endodontic

Journal , 40, pp.766-71

2 Al-Fouzan KS (2002), "C-shaped root canals in mandibular

second molars in a Saudi Arabian population", International

Endodontic Journal, 35, pp.499–504

3 Al-Qudah AA, Awawdeh LA (2009), "Root and canal morphology ofmandibular first and second molar teeth in a

Jordanian population", International Endodontic Journal , 42 ,

pp.775–784

4 Fan B, Cheung GS, Fan M, Gutmann JL, Bian Z (2004a), "C-shaped canal system in mandibular second molars: Part I –

Anatomical features", Journal of Endodontics , 30(12), pp.899–

903

5 Fan B, Cheung GS, Fan M, Gutmann JL, Fan W (2004b), "C-shaped canal system in mandibular second molars: Part

II-Radiographic features", Journal of Endodontics, 30(12), pp.904–

908

6 Gulabivala K, Opasanon A, Ng YL, Alavi A (2002), "Root and

canal morphology of Thai mandibular molars", International

Endodontic Journal , 35, pp.56–62

7 Haddad GY, NehmeWB, Ounsi HF (1999), "Diagnosis, classification, and frequency of C-Shaped canals in

mandibular second molars in the Lebanese population",

Journal of Endodontics, 25, pp 268-71

8 Helvacioglu-Yigit D, Sinanoglu A (2013), "Use of cone-beam computed tomography to evaluate C-shaped root canal systems in mandibular second molars in a Turkish

subpopulation: A retrospective study", International Endodontic

Journal, 46(11):1032-1038

9 Lambrianidis T, Lyroudia K, Pandelidou O, Nicolaou A (2001), "Evaluation of periapical radiographs in the recognition of C-shaped mandibular second molars",

International Endodontic Journal , 34, pp.458–462

10 Seo DG, Gu Y, Yi YA, Lee SG, Jeong JS, Lee Y, Chang SW, Lee

JK, Park W, Kim KD, Kum KY (2012), "A biometric study of C- shape root canal systems in mandibular second molars using

cone –beam computed tomography", International Endodontic

Journal, 45, pp.807-814

11 Seo MS, Park DS (2004), "C-shaped root canals of mandibular second molars in a Korean population: Clinical observation

and in vitro analysis", International Endodontic Journal, 37,

pp.139–144

12 Weine FS and members of the Arizona Endodontic Association (1988), "C-Shaped mandibular second molar:

Incidence and other considerations", Journal of Endodontics, 24(5), pp.372-375

Trang 8

13 Zhang R, Yang H, Yu X, Wang H, Hu T, Dummer PM (2010),

"Use of CBCT to evaluate root and canal morphology of

mandibular molars in Chinese individuals", International

Endodontic Journal, 44, pp.990–999

14 Zheng Q, Zhang L, Zhou X et al (2011), "C-shaped root canal

system in mandibular second molars in a Chinese population

evaluated by cone-beam computed tomography", International

Endodontic Journal, 44, pp.857–862

Ngày nhận bài báo: 17/01/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/03/2016

Ngày đăng: 14/01/2020, 21:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w