1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát rối loạn chức năng tuyến giáp trong ba tháng đầu thai kỳ ở những thai phụ nguy cơ cao (tại Bệnh viện Phụ sản Quốc tế Sài Gòn)

8 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 348,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết xác định tỷ lệ RLCNTG trong ba tháng đầu thai kỳ và các yếu tố liên quan ở những thai phụ nguy cơ cao tại bệnh viện Phụ sản Quốc tế Sài Gòn (BVPSQTSG).

Trang 1

KHẢO SÁT RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TUYẾN GIÁP TRONG BA THÁNG ĐẦU THAI KỲ Ở NHỮNG THAI PHỤ

NGUY CƠ CAO (TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN QUỐC TẾ SÀI GÒN)

Dương Thị Phương Thảo*, Bùi Chí Thương**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Rối loạn chức năng tuyến giáp (RLCNTG) của thai phụ trong ba tháng đầu thai kỳ liên quan

đến nhiều kết cuộc xấu và sự phát triển của thai nhi Tại Việt Nam, các dữ liệu nghiên cứu về RLCNTG trong thai kỳ còn hạn chế

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ RLCNTG trong ba tháng đầu thai kỳ và các yếu tố liên quan ở những thai phụ

nguy cơ cao tại bệnh viện Phụ sản Quốc tế Sài Gòn (BVPSQTSG)

Đối tượng: 385 phụ nữ mang thai 3 tháng đầu có nguy cơ cao RLCNTG trong thai kỳ

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang tiến hành tại BVPSQTSG từ 09/2015 đến 03 /2016 Xét nghiệm nồng

độ TSH và FT4 các thai phụ mang thai 3 tháng đầu có nguy cơ cao RLCNTG, áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán của Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kỳ năm 2011 và Li C năm 2014

Kết quả: 385 thai phụ tham gia nghiên cứu, có 69 trường hợp được chẩn đoán RLCNTG trong 3 tháng đầu

thai kỳ chiếm tỷ lệ 17,9 % Các yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê với RLCNTG là: tiền căn sẩy thai với p = 0,02, PR = 2,06, KTC 95% = 1,11 – 3,83; tiền căn sinh non với p = 0,04, PR = 10,96, KTC 95% = 1,07 – 111,70; tiền căn bệnh lý tuyến giáp với p = 0,02, PR = 13,11, KTC 95% = 1,50 – 113,90; tiền căn gia đình bị bệnh lý tuyến giáp với p = 0,02, PR = 10,96, KTC 95% = 1,30 – 92,50; có triệu chứng RLCNTG với p = 0,000, PR = 5,64, KTC 95% = 2,84 – 11,18

Kết luận: Cần sàng lọc và chẩn đoán RLCNTG trong ba tháng đầu thai kỳ đối với thai phụ có yếu tố nguy

cơ cao

Từ khóa: RLCNTG, tam cá nguyệt đầu, thai kỳ

ABSTRACT

EVALUATION FOR MATERNAL THYROID DISORDERS IN THE FIRST TRIMESTER

OF THE HIGH RISK PREGNANT WOMEN (AT SAIGON INTERNATIONAL HOSPITAL)

Duong Thi Phuong Thao, Bui Chi Thuong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 1 - 2017: 61 - 68

Background: Maternal thyroid disorders during the first trimester of pregnancy are associated with multiple

adverse outcomes and fetal development In Viet Nam, there are limited data on the prevalence of newly diagnosed thyroid disease during pregnancy

Objectives: To determine the prevalence of maternal thyroid disorders during the first trimester of

pregnancy and the related factors in the high risk pregnant women at Saigon international hospital

Method: 385 high risk pregnant women in the first trimester of pregnancy Cross-sectional study is carried

out at Saigon international hospital from March 2015 to September 2016 Levels of thyroid stimulating hormone (TSH) and free thyroxin (FT 4 ) were measured in 385 women during the first trimester of pregnancy in the high risk pregnant women with American Thyroid Association (2011) and Li C (2014) criteria

Trang 2

Results: 385 pregnant women were screened; 69 cases (17.9%) were diagnosed thyroid disorders Some

significant related factors of maternal thyroid disorders during the first trimester of pregnancy were history of miscarriage (p = 0.02, PR = 2.06, KTC 95% = 1.11 – 3.83); history of preterm delivery (p = 0.04, PR = 10.96, KTC 95% = 1.07 – 111.70); personal history of thyroid disorders (p = 0.02, PR = 13.11, KTC 95% = 1.50 – 113.90); family history of thyroid diseases (p = 0.02, PR = 10.96, KTC 95% = 1.30 – 92.50); having symptoms of thyroid disorders (p = 0.000, PR = 5.64, KTC 95% = 2.84 – 11.18)

Conclusion: We need to screen and diagnose maternal thyroid disorders during the first trimester of

pregnancy in the high-risk pregnant women

Keywords: thyroid disorders, first trimester, pregnancy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn chức năng tuyến giáp (RLCNTG)

bao gồm cường giáp và suy giáp thường xảy ra

trên phụ nữ ở lứa tuổi sinh sản, do đó có thể gặp

RLCNTG trong thai kỳ và hậu sản(9)

Tuyến giáp thai nhi bắt đầu có hoạt động

chức năng vào cuối tháng thứ 3 của thai kỳ(9) Vì

vậy, trong 3 tháng đầu của thai kỳ, thai nhi phải

phụ thuộc hoàn toàn vào lượng hoóc-môn của

mẹ cung cấp qua nhau, đây chính là thời kỳ hình

thành và phân chia các cơ quan nên nếu thai nhi

bị thiếu hoóc-môn trong thời gian này sẽ gây ra

biến chứng nặng nề Hậu quả của RLCNTG

trong thai kỳ như: sẩy thai, thai lưu, thai dị tật

bẩm sinh, sinh non, tiền sản giật, thai chậm tăng

trưởng trong tử cung, tăng tỷ lệ tử suất và bệnh

suất chu sinh Đặc biệt suy giáp làm cho trẻ sinh

ra có chỉ số IQ thấp và nguy hiểm nhất trong các

biến chứng của cường giáp là cơn bão giáp với tỷ

lệ tử vong thai và mẹ cao(4,2,6)

Việc tầm soát nhằm phát hiện và điều trị kịp

thời các bệnh lý tuyến giáp ở phụ nữ có thai có ý

nghĩa hết sức quan trọng Ngoài việc ngăn ngừa

các biến chứng, làm giảm tỷ lệ tử vong ở cả mẹ

và con, còn đảm bảo những đứa trẻ sinh ra hoàn

toàn khỏe mạnh về thể chất và trí tuệ

Theo Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kỳ năm 2011,

nhóm thai phụ có nguy cơ cao về RLCNTG

trong thai kỳ là những phụ nữ mang thai có một

trong các yếu tố sau: trên 30 tuổi, có tiền căn bản

thân hoặc gia đình bệnh lý tuyến giáp, béo phì,

tiền căn sẩy thai hoặc sinh non, có các triệu

chứng của RLCNTG, tiền căn phẫu thuật tuyến

giáp, tiền căn xạ trị vùng đầu hoặc cổ, có bướu giáp, có bệnh lý tự miễn, có kháng thể TPO-Ab dương tính, sống trong vùng thiếu iốt(11)

Tỷ lệ RLCNTG trong thai kỳ thay đổi từ 3% cho đến 15% tùy dân số nghiên cứu và tiêu chuẩn chẩn đoán Tại những quốc gia phát triển, các nghiên cứu thực hiện trên toàn bộ phụ nữ mang thai, tỷ lệ RLCNTG trong thai kỳ khoảng 3% thai phụ ở Mỹ(1), tại Đức khoảng 2,5% thai phụ suy giáp(7) Theo nghiên cứu của các nước đang phát triển ở châu Á, tỷ lệ này cao hơn, ở Trung Quốc theo tác giả Wang W năm 2011 có 9,4% thai phụ bị RLCNTG (trong nhóm thai phụ

có yếu tố nguy cơ thì 15% đối tượng bị RLCNTG)(13), nghiên cứu của Hong Yang năm

2014 có 5,4% thai phụ bị RLCNTG (trong đó tỷ lệ cường giáp là 1% và tỷ lệ suy giáp chiếm 4,4%)(14) Nghiên cứu của Anupama Dave năm

2014 ở Ấn Độ trên toàn bộ phụ nữ mang thai có 9,8% đối tượng suy giáp và 0,32% đối tượng cường giáp(4) Tại Việt Nam, năm 2009 nghiên cứu thực hiện trên những phụ nữ mang thai không có tiền căn bệnh lý tuyến giáp và một số bệnh lý khác ở 3 bệnh viện (bệnh viện Từ Dũ, bệnh viện Đại học Y Dược, bệnh viện Bạch Mai) cho thấy trong thời kỳ mang thai tỷ lệ bất thường TSH là 4,88% và tỷ lệ ở mức nguy cơ TSH là 10,93%(8)

Tại Bệnh viện Phụ sản Quốc tế Sài Gòn (BVPSQTSG) hàng năm nhận khoảng 5000 ca sinh, gần đây việc tầm soát RLCNTG trong thai

kỳ trên những thai phụ nguy cơ cao cũng đã được thực hiện, nhưng chưa được thống kê cụ thể Tại Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có một

Trang 3

thống kê đầy đủ về tỷ lệ RLCNTG trong thai kỳ,

các dữ liệu nghiên cứu về RLCNTG trong thai kỳ

còn hạn chế

Chính vì vậy mà chúng tôi tiến hành nghiên

cứu: “Khảo sát rối loạn chức năng tuyến giáp

trong ba tháng đầu thai kỳ ở những thai phụ

nguy cơ cao (tại bệnh viện Phụ sản Quốc tế Sài

Gòn)” nhằm góp phần đánh giá thực trạng

RLCNTG trong thai kỳ tại Việt Nam, tìm ra

những yếu tố nguy cơ để tránh bỏ sót việc chẩn

đoán, từ đó có hướng quản lý và điều trị thích

hợp, góp phần làm tốt công tác chăm sóc sức

khỏe sinh sản Với câu hỏi được đặt ra là tỷ lệ rối

loạn chức năng tuyến giáp trong ba tháng đầu

thai kỳ ở những thai phụ nguy cơ cao tại bệnh

viện Phụ sản Quốc tế Sài Gòn từ 09/2015 đến

03/2016 là bao nhiêu?

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành tại

khoa khám bệnh BVPSQTSG trong thời gian từ

tháng 09/2015 đến tháng 3/2016 Cỡ mẫu tính

được là 384 thai phụ (chúng tôi đưa 385 thai phụ

vào phân tích và xử lý)

Đối tượng nghiên cứu là thai phụ mang thai

3 tháng đầu đến khám thai tại BVPSQTSG có 1

trong các yếu tố: tuổi > 30 tuổi, tiền căn sẩy thai

hoặc sinh non, béo phì (BMI ≥ 23kg/m²), có các

triệu chứng của RLCNTG, tiền căn bệnh lý tuyến

giáp, tiền căn phẫu thuật tuyến giáp, tiền căn xạ

trị vùng cổ hoặc đầu, tiền căn gia đình có bệnh lý

tuyến giáp, có bệnh tự miễn, có bướu giáp, có

TPO-Ab dương tính, mang đơn thai, đồng ý

tham gia nghiên cứu và không có các tiêu chuẩn

loại trừ: những thai phụ bị bệnh lý tâm thần

hoặc không có khả năng trả lời các câu hỏi

Thai phụ đến khám thai, bác sĩ xác định

mang thai 3 tháng đầu, nếu thỏa tiêu chuẩn chọn

mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được

phỏng vấn bộ câu hỏi và thông tin hồ sơ bệnh

án Các thai phụ tham gia nghiên cứu sẽ được

lấy máu làm xét nghiệm TSH, FT4 Phòng xét

nghiệm lấy 4ml máu, huyết tương được chống

đông, máu toàn phần được ly tâm 10000 vòng/10

phút và lưu mẫu ở nhiệt độ -10 đến -20oC cho đến khi tiến hành định lượng Những thai phụ

có kết quả là RLCNTG thì sẽ được tư vấn khám chuyên khoa nội tiết và khám thai định kỳ Các xét nghiệm định lượng TSH, FT4 được thực hiện bằng bằng phương pháp miễn dịch hóa phát quang dùng vi hạt với thuốc thử thế hệ thứ 3 của Abbott trên máy Architect i1000RS Máy Architect i1000RS được kỹ sư của hãng Abbott kiểm tra bảo trì máy hàng tháng và kiểm chuẩn định kỳ tại trung tâm Ngoại kiểm TPHCM mỗi 6 tháng

Tiêu chuẩn chẩn đoán RLCNTG trong ba tháng đầu thai kỳ theo Hiệp hội tuyến giáp Hoa

Kỳ năm 2011 và nghiên cứu của Li C năm 2014

Bảng 1: Tiêu chuẩn chẩn đoán RLCNTG trong ba

tháng đầu thai kỳ

Giảm nồng độ TSH < 0,1 Cường giáp < 0,1 >1,63 Cường giáp dưới lâm sàng <0,1 Bình thường Tăng nồng độ TSH > 2,5

Suy giáp

>2,5 < 0,96

>10 Không tính đến FT4 Suy giáp dưới lâm sàng 2,5<TSH < 10 Bình thường

Số liệu được nhập bằng phần mềm Excel, phân tích và xử lý bằng phần mềm thống kê Stata 10.0/SE Kết quả thu nhận được trình bày trên các bảng số liệu, biểu đồ, sử dụng phương pháp thống kê để tính toán: trị số trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ, phân tích mối liên quan giữa rối loạn chức năng tuyến giáp trong thai kỳ và các yếu tố bằng kiểm định hồi quy Logistic đơn biến và đa biến

KẾT QUẢ

Trong thời gian từ 09/2015 đến 03/2016 chúng tôi thu nhận được 385 thai phụ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu

Trong 385 đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ thai phụ bị RLCNTG khá cao, chiếm 17,9% (KTC 95%: 0,141-0,217)

Trong tổng số trường hợp rối loạn chức năng tuyến giáp, tỷ lệ cường giáp dưới lâm

Trang 4

sàng chiếm ưu thế 10,6% (KTC 95%:

0,075-0,137), kế tiếp là suy giáp và suy giáp dưới lâm

sàng ngang nhau với tỷ lệ 2,6% (KTC 95%:

0,01-0,042), cường giáp chiếm tỷ lệ thấp nhất

2,1% (KTC 95%: 0,007-0,035)

Bảng 2 Phân loại chức năng tuyến giáp trong ba

tháng đầu thai kỳ

Cường giáp dưới lâm sàng 41 10,6

Suy giáp dưới lâm sàng 10 2,6

Bảng 3 Mối liên quan giữa RLCNTG trong ba tháng đầu thai kỳ và các yếu tố

>30 tuổi 290 (84,06) 55 (15,94) 0,66 0,29-1,47 0,31

TC sẩy thai Không 248 (85,22) 43 (14,78)

TC bệnh lý tuyến giáp Không 305 (82,88) 63 (17,12)

TC phẫu thuật

tuyến giáp

TC gia đình bị bệnh lý

tuyến giáp

Triệu chứng RLCNTG Không 292 (86,65) 45 (13,35)

Có 24 (50,00) 24 (50,00) 5,64 2,84-11,18 0,000

* Hồi quy Logistic

Có mối liên quan giữa RLCNTG trong ba

tháng đầu thai kỳ với: tiền căn sẩy thai

(p=0,02, PR = 2,06, KTC 95%:1,11-3,83), triệu

chứng RLCNTG (p=0,000, PR= 5,64, KTC 95%: 2,84-11,18)

Bảng 4 Mối liên quan giữa tăng nồng độ TSH và các yếu tố

N = 365 (%)

Nồng độ TSH > 2,5mUI/L

>30 tuổi 330 (95,65) 15 (4,35) 0,42 0,13-1,39 0,15

TC phẫu thuật tuyến giáp Không 363 (95,03) 19 (4,97) 1

Có 2 (66,67) 1 (33,33) 8,52 0,39-183,5 0,17

TC gia đình bị bệnh lý

tuyến giáp

Có 3 (60,00) 2 (40,00) 10,96 1,30-92,50 0,02

* Hồi quy Logistic

Có mối liên quan giữa nồng độ TSH >

2,5mUI/L với tiền căn gia đình bị bệnh lý tuyến

giáp (p=0,02, PR= 10,96, KTC 95%: 1,30-92,50)

(Bảng 4)

Có mối liên quan giữa cường giáp với: tiền căn sinh non (p=0,04, PR=10,96, KTC 95%: 1,07-111,70), tiền căn bệnh lý tuyến giáp (p=0,02, PR= 13,11, KTC 95%: 1,50-113,90) (Bảng 5)

Trang 5

Bảng 5 Mối liên quan giữa cường giáp và các yếu tố

>30 tuổi 339 (98,26) 6 (1,74) 0,78 0,11-5,41 0,80

TC bệnh lý tuyến

giáp

TC phẫu thuật

tuyến giáp

TC gia đình bị

bệnh lý tuyến giáp

* Hồi quy Logistic

Bảng 6 Mối liên quan giữa cường giáp dưới lâm sàng (CGDLS) và các yếu tố

>30 tuổi 311 (90,14) 34 (9,86) 0,97 0,37-2,57 0,96

≥ 23 kg/m² 11 (78,57) 3 (21,43) 2,53 0,62-10,33 0,19

Triệu chứng

RLCNTG

* Hồi quy Logistic

Có mối liên quan giữa cường giáp dưới lâm

sàng với: tiền căn sẩy thai (p=0,02, PR=2,24, KTC

95%: 1,09-4,62), triệu chứng RLCNTG (p=0,000,

PR=5,22, KTC 95%: 2,44-11,17)

BÀN LUẬN

Tỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp trong

ba tháng đầu thai kỳ

Tỷ lệ RLCNTG trong ba tháng đầu thai kỳ

trong nghiên cứu của chúng tôi là 17,9%, cao hơn

các nghiên cứu của Hong Yang (5,4% thai

phụ)(14), Wang W (10,2% thai phụ)(13), Anupama

(10,1% thai phụ)(4),Dieguez M (6,4% thai phụ)(5),

nhưng thấp hơn kết quả nghiên cứu của Rajesh

Rajput (26,5%)(10) Điều này được giải thích vì các

tác giả Hong Yang, Wang W, Dieguez M không

áp dụng khoảng tham khảo theo từng tam cá

nguyệt của Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kỳ năm

2011, mà sử dụng khoảng tham khảo của người

không mang thai hoặc giá trị tham khảo theo

từng tam cá nguyệt nhưng không giống với

chúng tôi, khoảng tham khảo TSH trong nghiên cứu của Dieguez M, Hong Yang, Wang W lần lượt là 0,2-4,5 mUI/L, 0,09-3,47 mUI/L, 0,13-3,93 mUI/L, so với các nghiên cứu đó thì khoảng tham khảo nồng độ TSH của chúng tôi hẹp hơn nhiều (0,1-2,5 mUI/l) do đó tỷ lệ RLCNTG của chúng tôi cao hơn Tác giả Anupama cũng sử dụng khoảng tham khảo theo từng tam cá nguyệt như chúng tôi nhưng đối tượng nghiên cứu là toàn bộ phụ nữ mang thai còn chúng tôi chỉ nghiên cứu trên những thai phụ có yếu tố nguy cơ cao nên tỷ lệ RLCNTG của Anupama thấp hơn của chúng tôi Rajesh Rajput cũng áp dụng khoảng tham khảo nồng độ TSH từ 0,1-2,5 mUI/L giống với chúng tôi, nhưng trong nghiên cứu này tỷ lệ suy giáp và suy giáp dưới lâm sàng khá cao chiếm 22,8%, do đó đã làm cho tỷ lệ RLCNTG nói chung cao hơn hẳn so với kết quả của chúng tôi

Do tiêu chuẩn chẩn đoán, do vị trí địa lý của từng vùng miền liên quan đến tình trạng iốt,

Trang 6

cũng như là do tiêu chuẩn chọn bệnh không

giống nhau Vì vậy, tỷ lệ của chúng tôi khác với

các nghiên cứu khác

Một điểm khác biệt nữa là trong các nghiên

cứu đã được tìm hiểu thì tỷ lệ suy giáp và suy

giáp dưới lâm sàng chiếm ưu thế, theo các tác giả

Rajesh Rajput, Anupama, Wang W tỷ lệ suy giáp

lần lượt là 22,8%, 9,8%, 7,5% trong khi đó nghiên

cứu của chúng tôi, cường giáp dưới lâm sàng lại

là chủ yếu (10,6% thai phụ) Giải thích cho vấn

đề này, có thể do đối tượng nghiên cứu của

chúng tôi thuộc tầng lớp trung lưu trở lên, trình

độ học vấn phần lớn là đại học - cao đẳng, do đó

vấn đề dinh dưỡng cũng được quan tâm, cho

nên nếu có thiếu iốt thì cũng ở mức độ nhẹ,

trong khi đó Rajesh Rajput, Anupama nghiên

cứu tại Ấn Độ, trong các nghiên cứu trước đây

cho thấy Ấn Độ là nước có tỷ lệ cao của bệnh

bướu giáp (mặc dù nghiên cứu thực hiện trên

khu vực đầy đủ iốt và bệnh lý tuyến giáp tự

miễn thấp) và thiếu vi chất dinh dưỡng như

selen và sắt có thể gây ra suy giáp và bướu

giáp(3), bên cạnh đó tại Ấn Độ, toàn bộ dân số dễ

bị rối loạn thiếu hụt iốt do tình trạng thiếu iốt

trong đất của tiểu lục địa, cây trồng sinh trưởng

trên những mảnh đất này gây nên hậu quả các

thực phẩm bị thiếu iốt Để chống lại những nguy

cơ rối loạn do thiếu hụt iốt, muối được bổ sung

thêm iốt Tuy nhiên, ước tính vẫn còn có khoảng

350 triệu người không tiêu thụ đủ muối iốt cho

nên tỷ lệ suy giáp ở nước này cao(4) Do chúng tôi

nghiên cứu trên những bệnh nhân có yếu tố

nguy cơ, triệu chứng lâm sàng của bệnh lý tuyến

giáp là một trong những yếu tố nguy cơ đó,

những thai phụ trong nghiên cứu của chúng tôi

chủ yếu có triệu chứng biểu hiện của cường

giáp, những triệu chứng này cũng có thể gặp khi

mang thai trong tam cá nguyệt đầu và phần lớn

những trường hợp này nồng độ TSH giảm, có

thể là cường giáp do bệnh lý tuyến giáp hoặc

cường giáp thai kỳ thoáng qua, đó là lý do tỷ lệ

cường giáp dưới lâm sàng của chúng tôi cao

Tuy nhiên, tỷ lệ suy giáp và suy giáp dưới

lâm sàng trong nghiên cứu của chúng tôi cao

hơn so với các nghiên cứu của Klein RZ tại Đức (2,5% thai phụ)(7) và Allan WC tại Mỹ (2,2% thai phụ)(1) Điều này được giải thích là do Đức và Mỹ

là hai cường quốc mạnh của thế giới, kinh tế phát triển, hệ thống y tế tốt hơn Việt Nam, vấn

đề iốt cũng như vấn đề chăm sóc sức khỏe được quan tâm tốt hơn nên tỷ lệ suy giáp thấp Bên cạnh đó, giới hạn trên của nồng độ TSH trong nghiên cứu của Klein RZ và Allan WC là 6 mUI/L cao hơn nhiều so với nghiên cứu của chúng tôi (2,5 mUI/L) nên tỷ lệ suy giáp và suy giáp dưới lâm sàng của chúng tôi cao hơn Một nguyên nhân khác làm cho tỷ lệ suy giáp và suy giáp dưới lâm sàng của chúng tôi cao hơn là chúng tôi nghiên cứu trên những thai phụ có yếu tố nguy cơ cao, trong khi đó Klein RZ và Allan WC lại nghiên cứu trên toàn bộ phụ nữ mang thai

Khi khảo sát mối liên quan giữa RLCNTG trong thai kỳ và các yếu tố cho thấy có mối liên quan giữa RLCNTG với tiền căn sẩy thai, vấn đề này của chúng tôi cũng được thống nhất ở hầu hết các nghiên cứu khác

Tiền căn sinh non cũng có mối liên quan với RLCNTG trong ba tháng đầu thai kỳ (p=0,04, PR=10,96, KTC 95%: 1,07-111,70) Điều này được giải thích do trong nghiên cứu của chúng tôi, có

9 trường hợp sinh non, nguyên nhân chủ yếu là

do các yếu tố khác đi kèm (tiền sản giật, nhau bong non, khung chậu hẹp,…) nên phải chấm dứt thai kỳ sớm, có thể những thai phụ có tiền căn sinh non do tiền sản giật hoặc nhau bong non đã bị RLCNTG trong thai kỳ trước nhưng không biết do thai phụ không có triệu chứng nên bác sĩ không chỉ định xét nghiệm, thai kỳ lần này mới được phát hiện Điều này cũng phù hợp vì theo y văn, nếu thai phụ chưa được điều trị ổn bệnh Graves thì dễ dẫn tới sinh non và dễ có biến chứng tim mạch(9)

Có mối liên quan giữa tiền căn bệnh lý tuyến giáp với RLCNTG trong ba tháng đầu thai kỳ (p=0,02, PR= 13,11, KTC 95%: 1,50-113,90) Vì trong những đối tượng có tiền căn bệnh lý tuyến giáp thì chủ yếu là tiền căn cường giáp, có

Trang 7

những thai phụ đã được điều trị ổn, có những

thai phụ chưa điều trị ổn nhưng bây giờ có thai,

có thể những trường hợp đã điều trị ổn nhưng

dưới ảnh hưởng của thai kỳ lại bị cường giáp tái

phát, trường hợp này hay gặp ở những thai phụ

có tiền căn bệnh Graves Kết quả nghiên cứu của

chúng tôi cũng phù hợp với tác giả Wang W

Có mối liên quan giữa nồng độ TSH >

2,5mUI/L với tiền căn gia đình bị bệnh lý tuyến

giáp (p=0,02, PR= 10,96, KTC 95%: 1,30-92,50)

Điều này được giải thích rằng một trong những

nguyên nhân gây suy giáp trong thai kỳ là viêm

giáp tự miễn mạn tính (viêm giáp Hashimoto),

bệnh có khuynh hướng di truyền, do đó những

thai phụ có người cùng huyết thống mắc bệnh lý

tuyến giáp thì thai phụ đó cũng có nguy cơ cao

mắc bệnh Bên cạnh đó, những thai phụ có bệnh

Graves thì thường trong gia đình đã có nhiều

người biểu hiện bệnh ở tuyến giáp như bướu

giáp đơn thuần, viêm tuyến giáp hoặc bệnh

Graves(9), một trong những nguyên nhân gây suy

giáp thai kỳ là sau mổ bướu Graves, có thể một

số thai phụ trong nghiên cứu của chúng tôi có

nồng độ TSH > 2,5mUI/L (suy giáp, suy giáp

dưới lâm sàng) sau phẫu thuật bướu Graves và

trong gia đình thai phụ đó cũng có người bị

bệnh lý tuyến giáp, do đó có mối liên quan giữa

tiền căn gia đình bệnh lý tuyến giáp và suy giáp,

suy giáp dưới lâm sàng Mặt khác, những thai

phụ có nồng độ TSH > 2,5mUI/L còn do nguyên

nhân thiếu hụt iốt, có thể trong gia đình thai phụ

chế độ dinh dưỡng giống nhau, chế độ này gây

ra tình trạng thiếu iốt (khoai mì, rau họ cải, đậu

nành, muối không chứa iốt,…) (9) nên các thành

viên trong gia đình đều bị rối loạn thiếu hụt iốt,

do đó những thai phụ bị suy giáp thai kỳ cũng

có thể trong gia đình có người bị suy giáp do chế

độ ăn Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với

nghiên cứu của Vaidya(12), Vaidya cho rằng tiền

căn gia đình có bệnh lý tuyến giáp làm tăng

nguy cơ tăng TSH (RR = 3,4, KTC 95%: 1,8-6,2,

p<0,0001) Theo tác giả Anupama(4), phụ nữ có có

tiền sử cá nhân hoặc gia đình của rối loạn chức

năng tuyến giáp hoặc có tiền sử cá nhân của các

bệnh tự miễn khác sẽ làm tăng nguy cơ suy giáp (p <0,001), kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi

Có mối liên quan giữa RLCNTG trong ba tháng đầu thai kỳ với triệu chứng RLCNTG (p=0,000, PR= 5,64, KTC 95%: 2,84-11,18) Điều này phù hợp vì trong nghiên cứu của chúng tôi, những thai phụ có triệu chứng RLCNTG chủ yếu là các triệu chứng gợi ý cường giáp như đánh trống ngực, dễ xúc động, mạch nhanh, sút cân, khó thở lúc gắng sức và những trường hợp này kết quả phần lớn đều có nồng độ TSH giảm (cường giáp, cường giáp dưới lâm sàng)

Các yếu tố khác cũng được khảo sát như tuổi thai phụ, chỉ số khối cơ thể, bướu giáp, tiền căn bệnh lý tự miễn, TPO-Ab dương tính nhưng không có mối liên quan

KẾT LUẬN

Tỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp trong

ba tháng đầu thai kỳ chiếm 17,9% các thai phụ

có nguy cơ đến khám thai tại BVPSQTSG là một con số đáng được quan tâm, vì vậy nên tầm soát và chẩn đoán bệnh lý tuyến giáp trong ba tháng đầu thai kỳ ở những thai phụ nguy cơ cao nhằm hạn chế các tai biến cho mẹ

và con, từ đó góp phần làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Allan WC, Haddow JE, Palomaki GE, et al (2000), "Maternal thyroid deficiency and pregnancy complications: implications

for population screening", Journal of Medical Screening, 7(3), pp

127-130

2 Ashoor G, Maiz N, Rotas M, Jawdat F, Nicolaides KH (2010),

"Maternal thyroid function at 11 to 13 weeks of gestation and

subsequent fetal death",Thyroid, 20(9), pp 989-993

3 Das S, Bhansali A, Dutta P, Aggarwal A, Bansal MP, et al (2011), "Persistence of goitre in the post-iodization phase:

micronutrient deficiency or thyroid autoimmunity?", Indian J

Med, 133(1), pp 103-109

4 Dave A, Maru L, Tripathi M (2014), "Importance of Universal screening for thyroid disorders in first trimester of pregnancy",

Indian J Endocrinol Metab, 18(5), pp 735-738

5 Diéguez M, Herrero A, Avello N, Suárez P, 6 Delgado E, et al (2016), "Prevalence of thyroid dysfunction in women in early

pregnancy: does it increase with maternal age?", Clin

Endocrinol (Oxf), 84(1), pp 121-126

6 Haddow JE, Palomaki GE, Allan WC, et al (1999), "Maternal thyroid deficiency during pregnancy and subsequent

Trang 8

neuropsychological development of the child", The New

England Journal of Medicine, 341(8), pp 549-555

7 Klein RZ1, Haddow JE, Faix JD, Brown RS, Hermos RJ, et al

(1991), "Prevalence of thyroid deficiency in pregnant women",

Clin Endocrinol (Oxf), 35(1), pp 41-46

8 Lê Thị Mai Dung, Phạm Thi Mai, Nguyễn Thị Hương,

Nguyễn Thị Hoàng Phương (2009), "Khảo sát nồng độ TSH và

tỷ lệ TPO-AB dương tính trên phụ nữ có thai và sau sinh ở

Việt Nam", Y học thực hành, số 2, tr 60-62

9 Mai Thế Trạch, Nguyễn Thy Khuê (2003), "Tuyến giáp", Nội

tiết học đại cương, Nhà xuất bản Y học, tr 131 - 138

10 Pandav CS, Yadav K, Srivastava R, Pandav R, Karmarkar MG

(2013), "Iodine deficiency disorders (IDD) control in India",

Indian J Med Res, 138(3), pp 418-433

11 The American Thyroid Association Taskforce on Thyroid

Disease During Pregnancy and Postpartum (2011),

"Guidelines of the American Thyroid Association for the

Diagnosis and Management of Thyroid Disease During

Pregnancy and Postpartum", Thyroid, 21(10), pp 1081-1125

12 Vaidya B, Anthony S, Bilous M, et al (2007), "Brief report: detection of thyroid dysfunction in early pregnancy: universal

screening or targeted high-risk case finding?", Journal of

Clinical Endocrinology and Metabolism, 92(1), pp 203-207

13 Wang W, Teng W, Shan Z, Wang S, Li J, et al (2011), "The prevalence of thyroid disorders during early pregnancy in China: the benefits of universal screening in the first trimester

of pregnancy", Eur J Endocrinol, 164(2), pp 263-268

14 Yang H, Shao M, Chen L, Chen Q, Yu L, Cai L, Lin Z, Zhang C, Lu

X (2014), "Screening Strategies for Thyroid Disorders in the

First and Second Trimester of Pregnancy in China", PLoS One,

9(6):e99611

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/12/2016 Ngày bài báo được đăng: 01/03/2017

Ngày đăng: 14/01/2020, 19:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm