1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

nhom 9 - nang cao hieu qua quan tri rui ro tin dung tai nhtm vn

17 454 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Hiệu Quả Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các NHTM VN
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 618,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm rủi ro tín dụng Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập dự phòng thì rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách hàng khô

Trang 1

Nâng Cao Hiệu Quả Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng

Tại Các NHTM VN

MỤC LỤC

Trang

đầu 4

Chương 1 Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng 5

1 1.Rủi ro tín dụng 5

1.1.1.Khái niệm rủi ro tín dụng 5

1.1.2.Nguyên nhân rủi ro tín dụng 5

1.2.Quản trị rủi ro tín dụng 5

Chương 2 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 7

2.1 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam thời gian qua 7

2.1.1 Tình hình chất lượng tín dụng 8

2.1.2 Quy trình quản lý tín dụng 10

2.2 Đánh giá về công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam thời gian qua 11

2.2.1 Kết quả đạt được trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM 11

2.2.2 Những hạn chế trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM 12

Chương 3 Một số đề xuất nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 15 Kết luận 18

Trang 2

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG

VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

1.1 Rủi ro tín dụng

1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập dự phòng thì rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết

Như vậy, rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng

1.1.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng

Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và người đi vay Nhưng người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan Rủi ro xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan

Do đó, có các nguyên nhân như sau dẫn đến rủi ro tín dụng:

- Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh doanh

- Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan từ người vay

- Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan từ ngân hàng cho vay

1.2 Quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro là một quá trình quan trọng được dựa trên cơ sở kết hợp lý thuyết xác suất và lý thuyết rủi ro Nó phụ thuộc vào chính sách của từng ngân hàng – trên mức độ vi mô và của Ngân hàng Nhà nước – trên mức độ vĩ mô

Đối với rủi ro tín dụng, trước hết, nên coi đó là một hiện tượng có thể xảy ra ngoài mong muốn của ngân hàng khi thực hiện cho vay đối với khách hàng Với quan niệm như vậy, mỗi khi bắt đầu xem xét một khoản tín dụng, ngân hàng cần lường trước những rủi ro có thể xảy ra Đây cũng chính là xuất phát điểm hình thành nên ý tưởng quản trị rủi ro tín dụng của NHTM Mặc dù rủi ro tín dụng là

Trang 3

một hiện tượng tiềm ẩn và không phải bao giờ cũng xảy ra khi ngân hàng cho khách hàng vay vốn nhưng trong nhiều trường hợp do tính lặp lại của rủi ro nên người ta có thể nhận biết được tính quy luật của nó Chính vì điều này mà ngân hàng có thể tìm ra những biện pháp quản lý nhằm hạn chế khả năng xảy ra rủi ro tín dụng và giảm thiểu tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra

Như vậy, “quản lý rủi ro tín dụng là một trong những nội dung quản lý của

NHTM bao gồm: nhận biết và đánh giá mức độ rủi ro, thực thi các biện pháp hạn chế khả năng xảy ra rủi ro và giảm thiểu tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra.”

Quản trị rủi ro ngân hàng, trong đó có quản trị rủi ro tín dụng được dựa trên một số nguyên tắc cơ bản sau :

Một là, nguyên tắc chấp nhận rủi ro Các nhà quản trị ngân hàng cần phải

chấp nhận rủi ro ở mức cho phép nếu như mong muốn có được thu nhập phù hợp

từ những hoạt động nghiệp vụ của mình

Hai là, nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép Nguyên tắc này đòi hỏi phần

lớn rủi ro trong “gói rủi ro cho phép” phải có khả năng điều tiết trong quá trình quản lý

Ba là, nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt Một trong những

nguyên lý cơ bản của lý thuyết quản trị rủi ro là các loại rủi ro khá độc lập với nhau và sự thiệt hại do một loại nào đó gây nên không nhất thiết sẽ làm tăng xác suất xảy ra với loại rủi ro khác Trong quản lý, không thể gộp các loại rủi ro khác nhau vào một nhóm để đưa ra cùng một phương pháp điều hành

Bốn là, nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và mức độ thu nhập Nguyên tắc này là nền tảng của lý thuyết quản trị rủi ro Các ngân hàng

trong quá trình hoạt động của mình chỉ được phép chấp nhận các loại rủi ro mà thiệt hại khi chúng xảy ra ở mức không cao quá mức thu nhập phù hợp

Năm là, nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính Giá trị thiệt hại mà ngân hàng mong muốn từ những khoản rủi ro phải

phù hợp với phần vốn mà ngân hàng có thể trích dự phòng cho những thiệt hại khi chúng xảy ra

Sáu là, nguyên tắc hiệu quả kinh tế Mục đích cơ bản của việc quản lý rủi

ro là điều tiết những tác động tiêu cực của rủi ro khi xảy ra Cùng với điều này, chi phí của ngân hàng bỏ ra để điều tiết phải thấp hơn giá trị thiệt hại do những rủi ro

Trang 4

ngân hàng có khả năng xảy ra và thậm chí ở mức độ giá trị cao nhất khi chúng xảy ra

Bảy là, nguyên tắc hợp lý về thời gian Thời gian tồn tại của một nghiệp vụ

ngân hàng càng lâu thì biên độ xảy ra rủi ro càng lớn, khả năng điều tiết những tác động tiêu cực của nó và tính kinh tế của quản lý rủi ro càng thấp Khi bắt buộc phải tồn tại các nghiệp vụ này thì ngân hàng phải đảm bảo có mức độ thu nhập phụ trội cần thiết không chỉ vì lợi nhuận mà còn vì mục đích bù đắp những chi phí để điều tiết tác động của rủi ro trong trường hợp chúng xảy ra

Tám là, nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng Hệ thống quản lý rủi ro cần phải được dựa trên nền tảng những tiêu chí chung của chiến lược phát triển của ngân hàng cũng như các chính sách điều hành từng hoạt động riêng biệt của ngân hàng

Chín là, nguyên tắc chuyển đẩy các loại rủi ro không cho phép Nguyên

tắc này đòi hỏi các loại rủi ro nằm trong “gói rủi ro cho phép” phải có khả năng/ tính chuyển đẩy cao Các loại rủi ro không tương thích với khả năng của ngân hàng trong việc điều tiết những hậu quả tiêu cực khi chúng xảy ra hay không phù hợp với những yêu cầu cụ thể của chiến lược và chính sách điều hành hoạt động của ngân hàng cần phải được loại bỏ khỏi “gói rủi ro cho phép”

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

2.1 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng

thương mại ở Việt Nam thời gian qua

Thành tựu đáng kể nhất của các NHTM Việt Nam trong công tác quản trị rủi

ro tín dụng thời gian qua là đã từng bước áp dụng “ các nguyên tắc quản trị rủi ro

tín dụng” được quy định trong Basel II, tiến dần đến việc quản lý rủi ro tín dụng

theo thông lệ quốc tế và việc triển khai kỹ thuật công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng nhằm hổ trợ hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động quản trị mà đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng nói riêng

Thực hiện đề án tái cơ cấu NH TMNN và NH TMCP, các NHTM Việt Nam

đã từng bước lành mạnh hóa tài sản tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh và từng bước hướng theo tiêu chuẩn quốc tế về h ệ số an toàn vốn CAR 8% (một trong

Trang 5

năm tiêu chuẩn quan trọng nhất mà các NHTM phải đáp ứng để bảo đảm an toàn hoạt động theo định hướng quản trị rủi ro của NHNN) Thông qua hoạt động tái

cấp vốn của Chính phủ, hoạt động tăng vốn cổ phần, thành lập các công ty quản lý

nợ và khai thác tài sản để xử lý nợ xấu, áp dụng cơ chế trích lập và sử dụng quỹ

dự phòng rủi ro và tích cực xử lý tài sản đảm bảo của các NHTM, xây dựng và triển khai hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc 493/2005/QĐ-NHNN, năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam đã được cải thiện nhiều qua các năm

2.1.1 Tình hình chất lượng tín dụng

Chất lượng tín dụng của các NHTM chủ yếu được đánh giá thông qua t ỷ lệ

nợ x ấu Việc có kiểm soát được tỷ lệ này ở mức thấp hay không chính là biểu hiện

rõ ràng cho hiệu quả của công tác quản trị rủi ro của các NHTM Thông lệ quốc tế cho phép tỷ lệ này duy trì ở mức 5% trở lại Ở Việt Nam, sau khi NHNN ban hành Quyết định 493, khái niệm nợ xấu đã được hiểu gần hơn với thông lệ quốc tế

Theo đó, các NHTM cũng xem lại quy trình và hệ thống quản trị rủi ro của mình đồng thời có biện pháp thắt chặt quản lý, cải thiện đáng kể tỷ lệ nợ xấu trong giai đoạn 2005-2007 Năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, tỷ lệ này có xu hướng tăng mạnh, sau đó dần hồi phục từ năm 2009 Đến giữa năm

2012, tỷ lệ này lại tiếp tục tăng mạnh trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Tại thời điểm đầu năm 2013, theo công bố của Thống đốc NHNN Nguyễn Văn

Bình, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ở mức 6%, giảm đáng kể so với mức

8 – 10% hồi tháng 10 năm ngoái Còn số liệu từ các TCTD báo cáo lên NHNN thì

tỷ lệ này dừng ở mức chưa đến 5% Dù con số nào đi chăng nữa, tốc độ nợ xấu

vẫn tăng chóng mặt so với các năm trước, khi năm 2008 tỷ lệ nợ xấu chỉ là

2,17%; năm 2009 là 2,2%; 2010 là 2,14% và 2011 là 3,3% trên tổng dư nợ

Trang 6

Tỷ l ệ n ợ x ấu tăng vọt trong 2 năm gần đây

Nhìn lại kết quả hoạt động năm 2012 cho thấy, ở nhóm 10 ngân hàng

thương mại lớn nhất hầu hết duy trì tỷ lệ nơ xấu ở mức an toàn là dưới 3% Tuy

nhiên vẫn có những ngân hàng có nợ xấu rất cao, điển hình như Agribank với nợ

xấu chiếm 5,8% trên tổng dư nợ và con số tuyệt đối là 27.803 tỷ đồng Nợ xấu

của Agribank cũng tương đương với tổng nợ xấu của Vietcombank, BIDV,

Vietinbank, SHB và ACB cộng lại Ngân hàng SHB năm 2012 có tỷ lệ nợ xấu

cũng rất cao, tới 8,53% tương đương 4.844 tỷ đồng do nhà băng này phải gánh thêm nợ xấu sau khi hợp nhất với Habubank

Trong số các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn, tỷ lệ nợ xấu của một số ngân

hàng cũng duy trì ở mức an toàn như KienLongBank với 2,77%; DongABank 2,61%; VietCapitalBank với 1,9% Song cũng không ít các ngân hàng thuộc diện phải bắt buộc bán nợ chiếu theo quy định của VAMC

Trang 7

Tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng tại thời điểm cuối năm 2012

Theo các báo cáo công khai thì SCB đang có tỷ lệ nợ xấu cao nhất trong

nhóm này, tới 7,2% Tuy nhiên trường hợp này là ngoại lệ khi mà ngân hàng vừa tiến hành tái cơ cấu được hơn một năm, sau khi tiến hành hợp nhất cùng

TinNghiaBank và FicomBank theo chủ trương của NHNN

Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng trong diện buộc phải tái cơ cấu đều khá cao, ví dụ như WesternBank với 6,89% hay Navibank với 5,6%.

Còn trong nhóm các ngân hàng không thuộc diện bắt buộc phải tái cơ cấu thì

BaoVietBank có tỷ lệ nợ xấu cao nhất Nhà băng này dù chỉ có 400 tỷ đồng nợ

xấu song lại chiếm tới 5,94% trên tổng dư nợ Một trường hợp khác nữa như

Ngân hàng Đại Á, tỷ lệ nợ xấu cũng lên tới 4,4%.

Trong quý 1/2013, theo báo cáo đã được công bố cho đến thời điểm hiện tại, hầu hết tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng đều cao hơn cuối năm 2012 Đặc biệt, theo

kế hoạch kinh doanh năm 2013, nhiều ngân hàng dù nợ xấu ở mức an toàn trong năm trước song lại đặt ra mục tiêu nợ xấu rất cao, như ABBank với kế hoạch 3,54%; SouthernBank 5%

Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng và an toàn hoạt động tín dụng Điều quan trọng nhất là nợ xấu phải được phân loại, ghi nhận và trích lập DPRR đầy đủ theo mức độ rủi ro, đồng thời có biện pháp bảo đảm tiền vay (tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh,…) Không nên tuyệt đối hoá tỷ lệ

nợ xấu cao hay thấp hoặc chỉ dựa vào mức DPRR đã trích lập trong quá trình đánh giá chất lượng tín dụng và xác định khả năng tổn thất tín dụng Tỷ lệ nợ xấu thấp

Trang 8

nhưng không được trích lập DPRR đầy đủ và thiếu tài sản bảo đảm thì có thể nguy hiểm hơn là tỷ lệ nợ xấu cao hơn nhưng được trích lập DPRR và có tài sản bảo đảm đầy đủ Do đó cần xem xét tỷ lệ dự phòng đã được trích và phần tài sản đảm bảo cho nợ xấu có xử lý được hay không.

2.1.2 Quy trình quản lý tín dụng

Những năm gần đây, tại hầu hết các NHTM, chúng ta không còn thấy sự hiện diện của phòng tín dụng với chức danh cán bộ tín dụng – với trách nhiệm tiếp xúc khách hàng, phân tích tín dụng, xác định rủi ro, lập tờ trình xét duyệt… như trước

đây Thay vào đó, quy trình tín dụng bây giờ được thực hiện bởi 3 bộ phận riêng

biệt, độc lập: Quan hệ khách hàng, Quản lý rủi ro tín dụng và phòng tác nghiệp.

Điều này giúp quyết định cho vay khách quan hơn, chuyên môn hóa sâu hơn, từ đó phân tích tín dụng sâu sắc, nhận diện rủi ro rõ ràng để có biện pháp phòng ngừa thích hợp nhất

Để hội nhập kinh tế quốc tế, các NHTM Việt Nam đã thực hiện một cuộc

cách mạng chưa từng có trong lịch sử hoạt động bằng việc tái cấu trúc, chuyển đổi

mô hình quản lý từ chiều ngang sang chiều dọc Theo mô hình này, bộ máy quản

trị rủi ro tín dụng của ngân hàng từ hội sở chính đến các chi nhánh có sự phân cấp

rõ ràng về mức phán quyết, chức năng, nhiệm vụ Cụ thể: hoạt động cấp tín dụng

sẽ được quản lý tập trung tại hội sở chính, còn các chi nhánh chủ yếu làm chức năng bán hàng Bộ máy quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng còn phải thường xuyên giám sát, xây dựng các chính sách rủi ro tín dụng, phân bổ tín dụng, xây dựng danh mục đầu tư…

Đồng thời, theo Quyết định 493, các NHTM có thể xây dựng h ệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo đặc thù hoạt động tín dụng và chiến lược phát triển

riêng của mỗi ngân hàng Điều này sẽ làm cơ sở giúp các ngân hàng đánh giá được chất lượng tín dụng, đánh giá khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng, từ đó lượng hóa được rủi ro tín dụng Đây là một bước tiến hết sức tích cực của hệ thống ngân hàng nước ta trong công tác quản trị rủi ro tín dụng nói riêng và quản trị rủi

ro kinh doanh ngân hàng nói chung

Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua cho thấy, việc xếp hạng tín dụng vẫn còn chưa đạt được kết quả như mong muốn Căn nguyên là do hệ thống xếp hạng tín

Trang 9

dụng nội bộ tại các NHTM Việt Nam hiện đều được xây dựng theo phương pháp chuyên gia, nghĩa là việc lựa chọn, quyết định toàn bộ các yếu tố cơ bản của hệ thống xếp hạng hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của các chuyên gia, thay vì dựa trên dữ liệu thống kê lịch sử và phân tích mô hình kinh tế lượng Điều này dẫn đến hạn chế trong quản trị rủi ro danh mục, định giá tín dụng, xác định khẩu vị rủi ro của ngân hàng

Mới đây, thông tư 02/2013/TT-NHNN đã được ban hành là quy định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để quản lý hoạt động tín dụng ngân hàng Thông

tư yêu cầu, cùng với những quy định khác, các ngân hàng phải xây dựng một phương pháp xếp hạng nội bộ cho mỗi loại đơn vị xin vay vốn, phương pháp phải được HĐQT chấp thuận, được tích hợp với các hệ thống ngân hàng và thông báo cách tiếp cận lên Ngân hàng Nhà nước Đây là một bước tiến đúng hướng để có được quản trị rủi ro tín dụng đáng tin cậy

2.2 Đánh giá về công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam thời gian qua

2 .2.1 Kết quả đạt được trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, đó là việc từng bước áp dụng “các nguyên tắc quản trị rủi ro tín

dụng” được quy định trong Basel II, góp phần giúp các ngân hàng thương mại định hướng tốt cho công tác quản trị rủi ro tín dụng, xây dựng được mô hình quản trị rủi ro tín dụng tương đối chặt chẽ.

Thứ hai là, việc xây dựng và triển khai hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN, các NHTM đã có được cơ sở đánh giá, xếp loại rủi ro đối với các khoản cấp tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng Và từ tháng 06/2013, việc các NHTM thực hiện trích lập dự phòng theo thông tư 02/2013/TT-NHNN là một bước tiến mới chặt chẽ hơn trong công tác quản trị tín dụng

Thứ ba là, việc thực hiện đề án tái cơ cấu của NHNN đối với các NHTMNN

và NH TMCP nhằm lành mạnh hóa tài sản tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh

Trang 10

doanh, đồng thời với sự hỗ trợ của Chính phủ thông qua hoạt động tái cấp vốn của Chính phủ, hoạt động tăng vốn cổ phần, thành lập các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản để xử lý nợ xấu, áp dụng cơ chế trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi

ro và tích cực xử lý tài sản đảm bảo giúp các NHTM nhìn nhận về thực trạng nợ xấu của mình, nâng cao công tác nhận diện rủi ro tín dụng.

Thứ tư là việc nhìn nhận đúng đắn về công tác quản trị rủi ro tín dụng, các NHTM Việt Nam hiện nay hầu hết đều đã thực hiện cải thiện, dần chuẩn hóa quy

trình tín dụng, chuyển đổi mô hình quản lý theo mô hình của ngân hàng hiện

đại , với bộ máy quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng từ hội sở chính đến các chi nhánh có sự phân cấp về mức phán quyết, chức năng, nhiệm vụ Các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ cho vay có bảo đảm bằng tài sản đều được cải thiện đáng kể theo hướng tích cực và dần phù hợp với thông lệ quốc tế.

2.2.2 Những hạn chế trong công tác quản trị rủi ro tín dụngtại các NHTM

Một số nguyên nhân dẫn đến chất lượng tín dụng của các NHTM trong thời gian qua bị suy giảm là:

Nhóm nguyên nhân thuộc môi trường kinh doanh

Kể từ cuối năm 2008, nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát cao và hiện nay là suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước, do đó môi trường kinh doanh và hoạt động ngân hàng gặp nhiều khó khăn làm cho chất lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng Trong giai đoạn 2008-2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân 26,56% nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân 51% Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng từ năm

2011 chậm lại đáng kể, đặc biệt là 5 tháng đầu năm 2012 dư nợ tín dụng không tăng nhưng nợ xấu tăng tới 45,5% do tình hình kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp suy giảm mạnh

- T ốc độ tăng trưởng kinh tế và tổng cầu chậm lại từ năm 2011: Năm

2011, tăng trưởng kinh tế 5,89% Trong 6 tháng đầu năm 2012, tăng trưởng kinh tế ước chỉ đạt 4,38% so với cùng kỳ năm 2011 (cùng kỳ năm 2011 tăng 5,57%)

- Ch ỉ số sản xuất công nghiệp tăng chậm, thấp hơn so với cùng kỳ các năm trước: Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2011 tăng 6,8% so với năm 2010

Ngày đăng: 17/09/2013, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w