Chuyên đề 6QUẢN LÝ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM LỜI MỞ ĐẦU Hiện nay, các ngân hàng thương mại ở nước ta có xu thế mở rộng nhiều nghiệp vụ kinh doanh hiện
Trang 1Chuyên đề 6
QUẢN LÝ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, các ngân hàng thương mại ở nước ta có xu thế mở rộng nhiều nghiệp
vụ kinh doanh hiện đại mới nhằm tăng lợi nhuận và nâng cao khả năng cạnh tranh.Cùng với hoạt động tín dụng truyền thống, hoạt động kinh doanh ngoại hối tại cácngân hàng mang lại lợi nhuận chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng lợi nhuận chungcủa ngân hàng Các ngân hàng thương mại lớn đều đầu tư khá mạnh cho hoạt độngnày Tuy nhiên, cũng như các hoạt đông kinh doanh khác của ngân hàng, kinh doanhngoại hối của ngân hàng luôn chứa đựng những rủi ro tiềm tàng, có khả năng gây ratổn thất rất lớn, đặc biệt trong thời điểm hiện nay, khi mà nước ta đã gia nhập WTO.Rủi ro tỷ giá là một trong những rủi ro thị trường trong hoạt động ngân hàng Tuỳthuộc vào quy mô hoạt động và quan điểm của Ban lãnh đạo ngân hàng, mỗi ngânhàng có mức độ rủi ro ngoại hối khác nhau, do đó cũng có các phương pháp quản lýrủi ro ngoại hối khác nhau giữa các ngân hàng Dưới đây là các phương pháp phân tíchrủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng, trên cơ sở đó chúng
ta phân tích và đánh giá rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngânhàng ngoại thương Việt Nam Với những nhận định trên chúng ta nhận thấy rằng ngoạihối có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia nhất là một quốc giađang trong thời kì phát triển như hiện nay của nước ta.Vì thế, việc nghiên cứu, quản lýrủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối đang là một vấn đề thời sự nóng bỏng vàđược nhiều ngân hàng quan tâm
Trang 2CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm rủi ro tỉ giá hối đoái
Kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động của Ngân hàng nhằm phục
vụ cho nhu cầu đa dạng của nên kinh tế, tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh xuấtnhập khẩu hoạt động thuận lợi
Rủi ro tỉ giá hối đoái là rủi ro xuất hiện trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối
do sự biến động về tỉ giá giữa các đồng tiề
1.2 Biệu hiện của rủi ro tỉ giá
Khi đánh giá rủi ro tỉ giá người ta thường đánh giá sự ảnh hưởng của cả 2 yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp đến lãi (lỗ) của hoạt động kinh doanh
Mối quan hệ đó được thể hiện qua công thức tính lãi (lỗ) đối với từng loại ngoại tệ khi
tỉ giá biến động như sau:
Lãi (lỗ) đối với ngoại tệ i = (trạng thái ngoại hối ròng của ngoại tệ I) x (mức biến độngcủa tỉ giá ngoại tệ I)
Có 2 loại trạng thái biểu hiện rủi ro:
Trạng thái trường (trạng thái ròng > 0)
+ Giá trị tài sản bằng ngoại tệ > Giá trị Nợ bằng ngoại tệ
+ Rủi ro xảy ra khi tỉ giá giảm (nếu tỉ giá tăng thì những Ngân hàng có vị thế đoản vềngoại tệ sẽ bị thiệt hại)
Trạng thái đoản (trạng thái ròng < 0)
+ Giá trị tài sản bằng ngoại tệ < Giá trị Nợ bằng ngoại tệ
+ Rủi ro xảy ra khi tỉ giá tăng (nếu tỉ giá giảm thì những Ngân hàng có vị thế trường
về ngoại tệ sẽ bị thiệt hại)
1.3 Các trường hợp chịu tác động của rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị
kỳ vọng trong tương lai Mọi hoạt động mà dòng tiền thu vào phát sinh bằng một loạiđồng tiền trong khi dòng tiền chi ra lại phát sinh bằng một loại đồng tiền khác đều
Trang 3chứa đựng nguy cơ rủi ro tỷ giá Về cơ bản rủi ro tỷ giá phát sinh trong 3 hoạt độngchủ yếu của doanh nghiệp là hoạt động đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt độngtín dụng.
- Rủi ro tỷ giá trong hoạt động đầu tư thường phát sinh đối với công ty đa quốc gia
(multinational corporations) hoặc đối với các nhà đầu tư tài chính có danh mục đầu tư
đa dạng hoá trên bình diện quốc tế Lý do là vốn đầu tư và doanh thu được tính bằngcác loại đồng tiền khác nhau Ví dụ: một công ty nước ngoài đầu tư sản xuất nước giảikhát tại VN có vốn bỏ ra bằng ngoại tệ để thiết lập nhà máy và nhập khẩu nguyên vậtliệu để sản xuất, như vậy phần lớn các chi phí của công ty này đều phát sinh từ ngoại
tệ Hàng hóa sản xuất ra chủ yếu phục vụ cho nhu cầu trong nước, do đó doanh thu lạichủ yếu bằng VND Nếu tỷ giá tăng thì chi phí sản xuất gia tăng tương đối so vớidoanh thu làm cho lợi nhuận giảm đi thậm chí còn có thể làm đảo lộn kết quả kinhdoanh
- Rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất, nhập là loại rủi ro tỷ giá thường xuyên gặp
phải và đáng lo ngại nhất đối với các công ty có hoạt động xuất nhập khẩu mạnh Sựthay đổi tỷ giá ngoại tệ so với nội tệ làm thay đổi giá trị kỳvọng của các khoản thuhoặc chi ngoại tệ trong tương lai khiến cho hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnhhưởng đáng kể Ví dụ: Tổng Công ty May 10 ký hợp đồng xuất khẩu trị giá 500.000USD ngày 08/05/2012, hợp đồng được thanh toán sau 6 tháng kể từ ngày ký -08/11/2012 Tại thời điểm ký kết tỷ giá USD/VND = 20.200 Vào ngày thanh toán tỷgiá USD/VND = 20.000, như vậy cứ mỗi USD xuất khẩu công ty bị thiệt 200VND.Toàn bộ hợp đồng trị giá 500.000USD, công ty bị mất 10 triệu VND Khoản tiền nàykhông phải là lớn với 1 hợp đồng nhưng nếu tính chung cho toàn bộ hoạtđộng xuấtkhẩu của công ty với vài ba trăm hợp đồng thì đó là một con số không nhỏ
- Hoạt động tín dụng, đặc biệt là tín dụng bằng ngoại tệ cũng chứa đựng rủi ro tỷ giá
rất lớn Khoản nợ có thể trở nên trầm trọng hơn khi tỷ giá biến động Ví dụ: Công tyABC xin vay vốn ngân hàng VPBank với số tiền 2 triệu USD, lãi suất 5,5%/năm trongthời hạn 1 năm Như vậy sau 1 năm số tiền mà công ty phải trả nhà băng là 2(1 +0,055) = 2,1 triệu USD, tại thời điểm hiện tại với tỷ giá USD/VND = 20.000, tươngđương 42.000 triệu Nhưng nếu 1 năm sau tỷ giá USD/VND = 20.200 thì khoản tiền
Trang 4phải trả tương đương 42.420 triệu VND Như vậy công ty phải trả thêm 420 triệu sovới dự tính ban đầu
Như vậy, mức độ rủi ro tỷ giá phụ thuộc vào biến động tỷ giá nhiều hay ít, giá trị hợpđồng hay giá trị khoản thu chi lớn hay nhỏ
1.4 Hậu quả của rủi ro tỷ giá
a Tác động đến ngoại thương của một quốc giá
Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ là quan trọng đối với mỗi quốc gia vì trước tiên nótác động trực tiếp tới giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu của chính quốc gia đó Khi đồngtiền của một quốc gia tăng giá (Tăng trị giá so với đồng tiền khác) thì hàng hoá nước
đó ở nước ngoài trở thành đắt hơn và hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên rẻ hơn.Ngược lại khi đồng tiền một nước sụt giá, hàng hoá của nước đó tại nước ngoài trở nên
rẻ hởn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên đắt hơn (các yếu tố kháckhông đổi) Tỷ giá tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu vì vậy nó tác động tới cáncân thanh toán quốc tế, gây ra thâm hụt hoặc thặng dư cán cân thanh toán
b Tác động tỷ giá hối đoái đến sản lượng công ăn việc làm và lạm phát
Tỷ giá hối đoái không chỉ quan trọng là vì tác động đến ngoại thương, mà thông qua
đó tỷ giá sẽ có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cảtrong nước ,lạm phát khả năng sản xuất, công ăn việc làm hay thất nghiệp…
Với mức tỷ giá hối đoái 1USD =15.000VND của năm 2005 thấp hơn mức 1USD =21.000VND của năm 2012, tức tiền Việt Nam sụt giá và nếu giả định mặt bằng giá thếgiới không đổi, thì không chỉ có xe con khi nhập khẩu tính thành tiền Việt Nam tănggiá mà còn làm tất cả các sản phẩm nhập khẩu đều rơi vào tình trạng tương tự và trong
đó có cả nguyên vật liệu, máy móc cho sản xuất Nếu các yếu tố khác trong nền kinh tế
là không đổi, thì điều này tất yếu sẽ làm mặt bằng giá cả trong nước tăng lên Nếu tỷgiá hối đoái tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm (đồng nội tệ Việt Nam liên tụcmất giá) có nghĩa lạm phát đã tăng Nhưng bên cạnh đó, đối với lĩnh vực sản xuất chủyếu dựa trên nguồn lực trong nước, thì sự tăng giá của hàng nhập khẩu sẽ giúp tăngkhả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này, giúp phát triển sản xuất và từ đó có thể tạothêm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, sản lượng quốc gia có thể tăng lên Ngược
Trang 5lĩnh vực trong nước cũng có xu hướng giảm ,sản lượng quốc gia có thể giảm ,thấtnghiệp của nền kinh tế có thể tăng lên … nếu tỷ gá hối đoái giảm xuống ( USD giảmgiá hay VND tăng giá).
c Tác động cuả rủi ro tỷ giá đến các hoạt động cuả DN
- Tác động đến năng lực cạnh tranh cuả doanh nghiệp
Rủi ro tỷ giá làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh cuả doanh nghiệp so với các đốithủ ở yếu tố "giá cuả sản phẩm" trên thị trường Nếu doanh nghiệp chịu sự tác độngcuả rủi ro tỷ giá dẫn đến tổn thất ngoại hối thì doanh nghiệp sẽ phải tìm cách nâng giábán sản phẩm để trang trải tổn thất Do đó giá sản phẩm cuả DN sẽ không hấp dẫn sovới các đối thủ cạnh tranh, khả năng cạnh tranh cuả DN sẽ bị giảm sút
- Tác động đến khả năng chịu đựng tài chính cuả DN
Rủi ro tỷ giá tác động đến việc hoạch định tài chính cuả doanh nghiệp đối với các dự
án đầu tư dài hạn chịu sự biến động cuả tỷ giá
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.
2.1 Đánh giá thực trạng rủi ro tỷ giá tại các NHTM Việt Nam
2.1.1 Trạng thái ngoại tệ
- Hiện nay theo quy định của NHNN, giới hạn tổng trạng thái ngoại tệ được tính
bằng tỷ lệ giữa tổng trạng thái ngoại tệ dương hoặc tổng trạng thái ngoại tệ âm chiacho vốn tự có của TCTD Vốn tự có để tính giới hạn tổng trạng thái ngoại tệ củaTCTD là vốn tự có của tháng liền kề trước kỳ báo cáo của TCTD; Tổng trạng tháingoại tệ dương của các TCTD không được vượt quá 20% vốn tự có của TCTD; Tổngtrạng thái ngoại tệ âm cuối ngày của các TCTD không được vượt quá 20% vốn tự cócủa TCTD; Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có vốn tự có từ 25 triệu
đô la Mỹ trở xuống được phép áp dụng mức giới hạn tổng trạng thái ngoại tệ như sau:Tổng trạng thái ngoại tệ dương cuối ngày quy ra đô la Mỹ không được vượt quá 5 triệu
đô la Mỹ Tổng trạng thái ngoaị tệ âm cuối ngày quy ra đô la Mỹ không được vượt quá
5 triệu đô la Mỹ
Trang 6- Với việc thu hẹp trạng thái ngoại tệ của các TCTD từ mức 30% (theo quy định
cũ) xuống mức 20%, NHNN muốn phát đi “thông điệp” về một định hướng chính sáchquản lý ngoại hối mới theo hướng chủ động hơn và giảm dần tình trạng đô la hóa trongnền kinh tế Theo đó, từng bước giảm bớt huy động và cho vay bằng ngoại tệ trong hệthống ngân hàng dần chuyển sang quan hệ mua và bán Khi hoạt động vay mượn giảmbớt cộng với việc trạng thái ngoại tệ bị thu hẹp còn 20% sẽ mở ra một cơ chế mua bánngoại tệ rộng hơn trong ngân hàng, mục tiêu lớn nhất trong việc thu hẹp trạng tháingoại hối của các ngân hàng sẽ giảm bớt yếu tố đầu cơ và góp phần tăng cung ngoại tệcho thị trường
2.1.2 Biến động tỷ giá hối đoái
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nếu như năm 2008 giá USD (tỷ giáVND/USD) tăng 6,31%, năm 2009 tăng tới 10,07%, năm 2010 tăng 9,68% thì năm
2011 chỉ tăng 2,2% và năm 2012 đã giảm gần 1% Trong 6 tháng đầu năm 2012 tỷ giáVND/USD có xu hướng tăng nhẹ, còn 6 tháng cuối năm2012 giảm, tính chung cả năm
tỷ giá giảm gần 0,88% Điều đó chứng tỏ rằng năm 2012 là một năm thành công trongcông tác điều hành chính sách tiền tệ nói chung và chính sách tỷ giá VND/USD nóiriêng của NHNN Việt Nam
2.1.3 Điều hành chính sách tỷ giá hối đoái
Thành tựu
- Các NHTM thể hiện vai trò chủ động và tự tin trong điều hành chính sách tỷ giá
trong hệ thống, chủ động thực hiện ổn định tỷ giá, ổn định tâm lý thị trường và tuânthủ đúng các quy định về ngoại hối có liên quan
- Chủ động thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất là biện pháp nổi bật nhất trong
công tác điều hành chính sách tỷ giá tại NHTM theo quy định của NHNN Có thểkhẳng định, sự ổn định của tỷ giá VND/ USD nằm trong chuỗi cắt giảm lãi suất liêntiếp và mạnh của các NHTM đã đạt mục tiêu hạ lãi suất và mặt bằng đã giảm từ 3 -10%/năm so với thời kỳ khủng hoảng kinh tế 2008, góp phần tháo gỡ khó khăn, giảm
áp lực chi phí vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân, qua đó hỗ trợ tăng tổng cầucủa nền kinh tế
Trang 7- Mặc dù lãi suất tiết kiệm bằng VND đã giảm nhưng vẫn còn cao và có sức hấp
dẫn so với tiết kiệm bằng ngoại tệ, trong khi tỷ giá ổn định, quan trọng hơn là lạm phát
đã được kiềm chế Điều này góp phần làm giảm cầu ngoại tệ với mục đích găm giữ,đầu cơ, đồng thời một lượng lớn các dòng ngoại tệ từ nước ngoài đổ về (vốn đầu tưgián tiếp, kiều hối, tiền gửi và vay mượn từ nước ngoài ) được chuyển ra VND để gửivào ngân hàng hưởng chênh lệch lãi suất, góp phần làm tăng cung ngoại tệ, từ đó tỷgiá ổn định và giảm xuống
- Các NHTM đã dự báo tốt và duy trì chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá
trên thị trường tự ở khoảng cách hẹp, từ đó tạo môi trường kinh doanh ngoại hối antoàn và hiệu quả
Hạn chế
Việc giữ tỷ giá cố định trong một giai đoạn giúp ổn định tỷ giá nhưng có thể sẽ tích
tụ thêm khó khăn cho tương lai khi khu vực xuất khẩu bị thiệt hại vượt quá điểm cânbằng giữa lợi ích và chi phí của việc neo giữ tỷ giá đối với nền kinh tế Bởi khi dòngvốn dần được tự do hóa cùng với lộ trình tự do hóa giao dịch vốn và mở cửa thị trườngtài chính theo các cam kết quốc tế, thì chế độ tỷ giá gần như cố định trong một thờigian dài sẽ chịu tác động lớn từ biến động của thị trường quốc tế
Cung cầu ngoại hối trên thị trường Việt Nam không ổn định trong từng lĩnh vựcnghiệp vụ, từng đối tượng khách hàng, từng thời điểm giao dịch…Vì vậy, việc điềuhành chính sách tiền tệ nói chung và duy trì trạng thái ngoại hối nói riêng một cáchlinh hoạt, an toàn và hiệu quả là bài toán không dễ đối với các NHTM hiện nay
Chính sách tỷ giá thay đổi không đúng như dự báo làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quảhoạt động kinh doanh của ngân hàng trên các lĩnh vực tín dụng, kinh doanh ngoạihối… Khi ngân hàng duy trì trạng thái ngoại hối dương hoặc âm đều có thể xảy ra cácrủi ro tỷ giá liên quan đến việc điều hành chính sách ngoại hối
Chính sách điều hành tỷ giá còn hạn chế khi ảnh hưởng từ nền kinh tế trong vàngoài nước, các thông tin về điều hành chính sách tiền tệ nói chung và chính sáchngoại hối của NHNN nói riêng chưa rõ ràng và khó có thể dự báo được, từ đó gây khókhăn cho các NHTM trong việc tuân thủ quy định và điều hành chính sách ngoại hốitheo các chiến lược đặt ra
Trang 82.1.4 Tình hình hoạt động tín dụng ngoại tệ
Các số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng như NHNN gần đây cho thấy tíndụng ngoại tệ đang có xu hướng giảm trong những tháng đầu năm 2012 Mặc dù đây làmột tín hiệu tích cực, phù hợp với chủ trương giảm dần tín dụng ngoại tệ để hạn chếtình trạng đôla hóa trong nền kinh tế Tuy nhiên, theo một số chuyên gia kinh tế, xét ởgóc độ nào đó, đây là những số liệu cảnh báo đáng chú ý cho thấy tình trạng sản xuấtđang gặp nhiều khó khăn
Theo giới phân tích, việc tín dụng ngoại tệ liên tục trong xu hướng giảm là do 2nguyên nhân, từ cả phía cung lẫn cầu
Về phía cung, thời gian qua huy động ngoại tệ gặp nhiều khó khăn khiến cácNHTM cũng bị giảm nguồn để cho vay ra Theo số liệu thống kê của NHNN ViệtNam, tính đến 20/2/2012, tiền gửi ngoại tệ của khách hàng tại các TCTD giảm 0,81%
so với tháng trước Một trong những lý do dẫn đến hiện tượng này là thời gian qua tỷgiá khá ổn định, thậm chí có thời điểm còn giảm nhẹ, trong khi hiện chênh lệch lãi suấttiết kiệm USD và VND đang ở mức khá lớn nên người dân có xu hướng chuyển sangnắm giữ VND để hưởng lãi suất cao hơn Bên cạnh đó, theo lãnh đạo một NHTM, đốitượng cho vay ngoại tệ đang bị giảm đi nhiều vì trong những năm vừa qua, nợ xấu tạimột số ngân hàng tăng lên nên việc cho vay có sự chọn lọc kỹ càng hơn
Không những vậy, mặc dù Thông tư 03/2012/TT-NHNN đến 2/5 tới mới có hiệulực thi hành, nhưng các ngân hàng cũng phải giảm dần cho vay đối với các nhà nhậpkhẩu, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu chiến lược KhiThông tư 03 có hiệu lực, tín dụng ngoại tệ sẽ càng bị siết chặt, chỉ các doanh nghiệp cónguồn thu ngoại tệ từ sản xuất kinh doanh mới được vay Điều này mặc dù trước mắt
có thể sẽ gây khó khăn cho một số doanh nghiệp, tuy nhiên, về lâu dài sẽ giúp tạo mộtthị trường ngoại hối ổn định và lành mạnh khi không có việc các DN đổ xô đi muangoại tệ trả nợ vay vào quý IV hàng năm Các doanh nghiệp cũng tránh được rủi ro tỷgiá không cần thiết
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, việc tín dụng ngoại tệ giảm chủ yếu
do cầu tín dụng ngoại tệ để nhập khẩu giảm Thế nhưng, do đặc trưng của sản xuất vàxuất khẩu trong nước vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, nên
Trang 9nhập khẩu giảm sút cũng có nghĩa sản xuất, xuất khẩu đang gặp nhiều khó khăn Nhucầu vay vốn của khách hàng nhìn chung yếu do các DN vẫn còn quan ngại về tình hìnhkinh tế vĩ mô và sức cầu tiêu dùng kém Tín dụng (cả tiền đồng và ngoại tệ) của toàn
hệ thống tính đến 20/3/2012) giảm 2,13% so với cuối năm 2011
Có thể thấy "sức khỏe" của cộng đồng doanh nghiệp đã bị "bào mòn" khá nhiềusau mấy năm liên tục vật lộn với khó khăn Vừa thoát khỏi cơn bão lạm phát năm 2008
đã phải đối mặt với những khó khăn khi nền kinh tế bị suy giảm do ảnh hưởng củacuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu trong năm 2009 "Sức khỏe"chưa hồi phục được bao nhiêu lại tiếp tục oằn lưng chống đỡ với lạm phát cao trongnăm 2010 và 2011 Năm 2012, kinh tế trong và ngoài nước dự báo vẫn sẽ tiếp tục khókhăn và thậm chí còn khó khăn hơn Đã có nhiều doanh nghiệp gục ngã Với những
DN tốt thì họ lo kinh tế khó khăn chưa dám mở rộng sản xuất kinh doanh Người dâncũng vậy, lạm phát cao nhiều năm qua đã làm suy giảm đáng kể tích lũy của họ Naytrong bối cảnh khó khăn, họ càng có xu hướng thắt chặt tiêu dùng Tiêu dùng giảmcàng khiến đầu ra sản xuất thêm phần khó khăn Trong nước đã vậy, tình hình xuấtkhẩu cũng khó khởi sắc như năm 2011 khi kinh tế thế giới vẫn đầy bất ổn
Tuy nhiên, theo một chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng, đây là khó khăn trongngắn hạn khi chính sách tiền tệ và tài khóa chặt chẽ được áp dụng Về dài hạn, cácchính sách này sẽ giúp tạo một sự tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững trong tươnglai, thay vì tăng trưởng nóng với lạm phát cao như những năm trước đây Việc Chínhphủ và NHNN đang tích cực hạ mặt bằng lãi suất xuống mức hợp lý để thúc đẩy sảnxuất kinh doanh và kích thích tiêu dùng đồng thời đẩy nhanh quá trình cải cách 3 khuvực: bảo đáp ứng nhu cầu vốn ngoại tệ cho các doanh nghiệp trong sản xuất kinhdoanh xuất nhập khẩu Với định hướng biến động tỷ giá 2-3% sẽ tạo điều kiện tốt chodoanh nghiệp tiếp cận ngoại tệ dễ dàng hơn, chủ động tính toán nhu cầu của mình Bêncạnh đó, hai Thông tư 03 và 07 quy định mới về cho vay ngoại tệ và trạng thái ngoạihối, Nghị định 95 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ngoại hối đã vàđang có tác động tích cực đối với thị trường ngoại hối, hoạt động kinh doanh của ngânhàng và doanh nghiệp Trong trung, dài hạn cơ chế quản lý ngoại hối của NHNN sẽchuyển từ hình thức gửi tiền - vay ngoại tệ sang mua-bán ngoại tệ nhằm giảm tình
Trang 10trạng đôla hóa, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận ngoại tệ và dịch
vụ ngoại hối của ngân hàng
DNNN, đầu tư công và hệ thống ngân hàng sẽ giúp xây dựng được một nền tảngvững chắc cho sự phát triển kinh tế trong tương lai - chuyên gia này nhận định
Ngày 28/12/2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông
tư 37 quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài (gọi chung là TCTD) đối với khách hàng vay là người cư trú
Theo đó, cho vay bằng ngoại tệ phục vụ nhu cầu thanh toán ra nước ngoài tiềnnhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khi khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu sản xuất -kinh doanh để trả nợ vay; doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu (quy định nàyđược thực hiện đến hết ngày 31.12.2013); cho vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầuvốn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất - kinh doanh hàng hóa xuất khẩu
mà khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay; khi đượcTCTD giải ngân vốn cho vay, khách hàng vay phải bán số ngoại tệ vay đó cho TCTDcho vay theo hình thức giao dịch hối đoái giao ngay (spot), trừ trường hợp nhu cầu vayvốn của khách hàng để thực hiện giao dịch thanh toán mà pháp luật quy định đồng tiềngiao dịch phải bằng ngoại tệ Quy định này được thực hiện đến hết ngày 31.12.2013 Các TCTD cho vay để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các dự án, công trìnhquan trọng quốc gia được Quốc hội, Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết địnhchủ trương đầu tư và đã được Bộ Kế hoạch - Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư ranước ngoài Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1.1.2013
2.1.5 Thực trạng sử dụng các công cụ ngoại hối phái sinh
- Ngày 10/01/1998, trên cơ sở nhận thức sự cần thiết thúc đẩy giao dịch ngoại hối
phát triển, thống đốc NHNN đã ký quyết định 17/1998/QĐ_NHNN ban hành quy chếgiao dịch hối đoái (quyết định 17) Quy chế này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt độngkinh doanh ngoại tệ của các NHTM, tạo công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất,đồng thời tăng cường sự quản lý và giám sát của NHNN về lĩnh vực ngoại hối Tuynhiên, với quyết định này thì giao dịch ngoại hối chỉ mới được thực hiện thông qua cáccông cụ giao ngay kỳ hạn và hoán đổi
Trang 11- Giao dịch kỳ hạn xuất hiện với tư cách là công cụ tài chính phái sinh đầu tiên ở
Việt Nam theo quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 ngày 25/2/1999 Mặc dù phản ứng
này tỏ ra khá kịp thời nhưng hiệu quả tác dụng chưa cao, nguyên nhân là do các bên
liên quan bao gồm các doanh nghiệp, là người sử dụng và các NHTM, là nguời cung
cấp dịch vụ vẫn chưa hiểu biết đầy đủ về các loại giao dịch này liên ngân hàng ở VN
chưa phát triển, một phần do những hạn chế vốn có của nó trong việc phòng chống rủi
ro tỉ giá và những hạn chế của NHNN Lúc mới cho phép giao dịch chỉ có 28 NHTM
có hoạt động giao dịch ngoại hối hoán đổi và kỳ hạn, trong đó có 21 chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
7 NHTM Việt Nam (4 NHTM quốc doanh, 3 NHTMCP) và số lượng hợp đồng giao dịch cũng rất hạn
chế.
Năm
BIDV Vietinbank Vietcombank
Triệu VND % TriệuVND % TriệuVND %
2009
Tổng thu nhập 7.570.430 100 8.694.253 100 10.991.21
9 100Thu từ các công cụ phái
sinh 363.288 4,79 74.764 0,86 53.492 0,04Tổng lợi nhuận 2.368.018 100 2.436.388 100 3.525.877 100Dịch vụ phái sinh 237.930 10,04 -120.042 0 52.492 1,4
2010
Tổng thu nhập 9.687.959 100 5.428.316 100 9.286.804 100Thu từ các công cụ phái
sinh 91.272 0,94 200.587 3,70 6.420 0,06Tổng lợi nhuận 3.605.469 100 1.678.289 100 5.004.374 100Dịch vụ phái sinh -171.695 0 -289.517 0 -288.777 0