1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo: Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiểu vùng sông Mê - Kông mở rộng (Kết quả Nghiên cứu nam giới, phụ nữ, và trẻ em tại Thái Lan, Camphuchia, và Việt Nam)

126 66 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được xây dựng dựa trên khung khái niệm về buôn bán người và sức khỏe, qua đó, nhấn mạnh những hậu quả tiềm ẩn về sức khỏe tại từng giai đoạn của quá trình di cư và tầm quan trọng của từng giai đoạn này đối với tình trạng sức khỏe tích lũy của những nạn buôn bán người.

Trang 1

Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiểu vùng sông

Mê-Kông mở rộng

Kết quả Nghiên cứu nam giới, phụ nữ, và trẻ em tại

Thái Lan, Campuchia, và Việt Nam

anesvad

for the right to health

Trang 3

Sức khỏe và nạn Buôn bán người tại Tiểu vùng sông

Mê-Kông mở rộng

Kết quả Nghiên cứu nam giới, phụ nữ, và trẻ em tại

Thái Lan, Campuchia, và Việt Nam

IOM Development Fund

Trang 4

Nghiên cứu về nạn Buôn bán người (BBN), Bóc lột và Lạm dụng tại

Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng (STEAM)

Tác giả của báo cáo

Cathy Zimmerman, Ligia Kiss, Nicola Pocock, Varaporn Naisanguansri, Sous Soksreymom, Nisakorn Pongrungsee, Kittiphan Sirisup, Jobst Koehler, Doãn Thùy Dung, Nguyễn Vân Anh, Brett Dickson, Rosilyne Borland và Poonam Dhavan.

Đối tác thực hiện Dự án Nghiên cứu

Trường Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh Nhiệt đới London (LSHTM),

Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM)

Tài trợ

Dự án nghiên cứu này được tài trợ từ Quỹ Anesvad và Quỹ Phát triển của Tổ chức Di cư Quốc tế.

Đội ngũ nghiên cứu STEAM

Trường Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh Nhiệt đới London

IOM Thái Lan

Varaporn Naisanguansri, Trợ lý Dự án cao cấp

Nisakorn Pongrungsee, Trợ lý nghiên cứu

Kittiphan Sirisup, Trợ lý nghiên cứu

IOM Campuchia

Brett Dickson, Quản lý dự án

Suos Soksreymom, Điều phối viên nghiên cứu

Keo Korindeth, Cán bộ phỏng vấn và nhập số liệu

Hun Leang Ay, Cán bộ phỏng vấn và nhập số liệu

IOM Việt Nam

Jobst Koehler, Giám đốc Bộ phận Chương trình và Dự án

Doãn Thùy Dung, Điều phối viên dự án

Hà Huệ Chi, Điều phối viên nghiên cứu

Nguyễn Vân Anh, Trợ lý nghiên cứu

Nguyễn Quang Ninh (CHD), Cán bộ nhập số liệu

IOM Khu vực

Rosilyne Borland

Dịch sang tiếng Việt:

TS Nguyễn Huy Quang

Hiệu đính bản tiếng Việt:

Trang 5

Lời cảm ơn

Những người đóng góp nhiều nhất cho nghiên cứu này là những nạn nhân của nạn buôn bán người đã tham gia trả lời phỏng vấn nghiên cứu Họ đã dành nhiều thời gian để chia sẻ những câu chuyện của mình với nội dung mô tả những nỗi đau, nỗi lo sợ, và sự thất vọng lớn Chúng tôi thật sự hy vọng và sẽ cố gắng đảm bảo rằng những chia sẻ về nhu cầu của người tham gia nghiên cứu sẽ được gửi đến những nhà hoạch định chính sách và các cơ sở dịch vụ để giúp giảm bớt số người sẽ phải chịu đựng các hình thức bóc lột cực đoan, và những người đã chịu đựng bóc lột có thể nhận được sự giúp đỡ cần thiết

Vấn đề quan trọng là nghiên cứu này đã được những cán bộ, nhân viên của các

cơ sở dịch vụ tại các nước thực hiện dự án tham gia tích cực và họ đảm bảo đối

xử tôn trọng và ân cần với những đối tượng nghiên cứu cũng như đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của những đối tượng này:

Các đơn vị đã đóng góp cán bộ tham gia tiến hành phỏng vấn đối tượng nghiên

cứu tại Campuchia bao gồm:

• Văn phòng Tổ chức Di cư Quốc tế tại Phnôm Pênh- bà Sous Soksreymom, ông Keo Korindeth, Hun Leang Ay

• Ban Bảo vệ Quyền Trẻ em Campuchia (CCPCR) - bà Ny Channary

• Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe cho Trẻ em (HCC) tại tỉnh in Koh Khong - ông Sak Somnang

• Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe cho Trẻ em (HCC), Trung tâm Một ngày tốt (GDC) tại tỉnh Kandal - bà Suon Mlis

• Đại diện cho Phụ nữ trong hoàn cảnh khó khăn (AFESIP Campuchia) - Tiến sỹ

Ma Ly

• Kokkyo Naki Kodomotachi (KNK) - bà Kheav Sokhoeun

• Trung tâm Trung chuyển Poi Pet (PTC) - bà Chea Manith

Các đơn vị đã đóng góp cán bộ tham gia tiến hành phỏng vấn đối tượng nghiên

cứu tại Thái Lan bao gồm:

• Vụ Phát triển và Phúc lợi Xã hội, Bộ Phát triển Xã hội và An ninh con người - bà Saowanee Khomepatr;

• Trung tâm Bảo trợ và Phát triển Nghề nghiệp Kredtrakarn – bà Somjit Tantivanichanon, bà Porntip Nontawong, và bà Nussara Konsai;

• Trung tâm Bảo trợ và Phát triển Nghề nghiệp Patumthani cho nam giới - ông Suwan Prompol, ông Punnaphot Khamenketkarn, và bà Tawan Ngao-sri;

• Trung tâm Bảo trợ và Phát triển Nghề nghiệp Sri Surat - bà Somluck Khanom, và bà Suppamon Chotisut;

• Nhà tiếp nhận bé trai Pakkred; ông Somdech Surawat và bà Kanoknop Kerdwattana

Trang 6

Các đơn vị đã đóng góp cán bộ tham gia tiến hành phỏng vấn đối tượng nghiên

cứu tại Việt Nam bao gồm:

• Trung tâm Hỗ trợ Phụ nữ và Trẻ em có Hoàn cảnh Khó khăn tỉnh Cần Thơ

• Trung tâm Bảo trợ Xã hội tỉnh Lạng Sơn

• Trung tâm Bảo trợ Xã hội tỉnh Lào Cai

• Trung tâm Phụ nữ và Phát triển, Hà Nội

• Trung tâm dạy nghề, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Ninh

Các cố vấn kỹ thuật của LSHTM

Sujit Rathod, Heidi Stoekl và Mazeda Hossain

© Trường Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh Nhiệt đới London, Tổ chức Di cư Quốc tế 2014

Trích dẫn:

Zimmerman C, Kiss L, Pocock N, Naisanguansri V, Suos S, Pongrungsee N, Sirisup

K , Doan D, Dickson B, Borland R and Dhavan P 2014 Sức khỏe và nạn BBN tại

Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng Các kết quả nghiên cứu nam giới, phụ nữ, và trẻ em tại Campuchia, Thái Lan và Việt Nam Tổ chức Di cư Quốc tế và Trường

Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh Nhiệt đới London

Quan điểm đưa ra trong báo cáo thuộc về các tác giả và không phản ánh chính sách chính thức của bất kỳ tổ chức hoặc cơ quan nào liên quan đến nghiên cứu này

Dự án nghiên cứu này được tài trợ từ Quỹ Anesvad và Quỹ Phát triển của Tổ chức

Di cư Quốc tế, cùng với hỗ trợ bổ sung của Hội đồng Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội của Anh quốc

Trang 7

Mục lục

Lời cảm ơn iii

Bảng và biểu đồ vii

Tóm tắt 1

Giới thiệu 13

Bối cảnh 17

Mục tiêu nghiên cứu 17

Mục đích 15

Mục tiêu 17

Phương pháp nghiên cứu 19

Thiết kế nghiên cứu 19

Mẫu khảo sát 19

Bảng câu hỏi .21

Thu thập và phân tích thông tin 22

Tiêu chuẩn đạo đức 22

Tổng Quan về các dịch vụ hỗ trợ và chuyển tuyến hậu BBN ở Campuchia, Thái Lan, và Việt Nam 23

Quá trình chuyển tuyến 23

Đặc điểm của các đối tượng tham gia nghiên cứu 25

Phụ nữ, Nam giới và Trẻ em 25

Tuổi và giới tính 27

Nước xuất phát 27

Học vấn 29

Nghề nghiệp trước khi di cư 30

Tình trạng hôn nhân 30

Các đối tượng tham gia nghiên cứu đã có con 31

Chuyển tuyến đến các dịch vụ 31

Giai đoạn tuyển dụng 33

Nhận thức về BBN 33

Lý do rời quê nhà 33

Tuyển dụng 33

Bạo hành trước khi di cư 35

Bạo hành thể chất trước di cư 36

Bạo hành tình dục trước khi bị buôn bán 36

Giai đoạn bóc lột 37

Địa điểm bóc lột 37

Lĩnh vực ngành nghề bị bóc lột 38

Lĩnh vực ngành nghề có bóc lột đối với trẻ nhỏ và vị thành niên (dưới 18 tuổi) .40

Những đối tượng tham gia không tới được địa điểm định đến 40

Kỳ vọng về địa điểm đến 41

Bạo hành thể chất và/hoặc tình dục trong khi bị buôn bán 42

Trang 8

Làm dụng tình dục 44

Người bạo hành 45

Số lần bị bạo hành 45

Bị đe dọa 46

Số ngày và giờ làm việc 46

Hạn chế tự do đi lại 48

Bị ép sử dụng ma túy 50

Sử dụng rượu bia 50

Nguy cơ tiếp xúc với rủi ro nghề nghiệp trong tình trạng bị buôn bán 51

Trang bị bảo hộ cá nhân (PPE) 52

Sử dụng bao cao su của những phụ nữ bị buôn bán làm mại dâm 54

Chấn thương liên quan đến công việc 55

Quãng thời gian bị buôn bán 56

Điều kiện sống và làm việc của những NBBB 57

Thu nhập khi bị buôn bán 58

Giấy tờ cá nhân và giấy tờ thông hành 58

Tiếp cận chăm sóc sức khỏe trong khi bị buôn bán 59

Nhận được chăm sóc y tế trong khi bị buôn bán 59

Mang thai và nạo phá thai trong khi bị buôn bán 60

Thoát khỏi tình trạng bị buôn bán 60

Quá khứ bị giam giữ 60

Giai đoạn hậu buôn bán 63

Các triệu chứng của sức khỏe thể chất 63

Mang thai 64

Sức khỏe tinh thần: trầm cảm, lo âu và stress sau sang chấn 65

Đáp ứng dựa trên kết quả của thang đo cá nhân 67

Trầm cảm và ý nghĩ muốn tự tử 68

Căng thẳng sau sang chấn 69

Lo âu 70

Những mối quan tâm sau khi bị buôn bán 71

Sợ kẻ BBN 72

Đối xử của gia đình và cộng đồng 72

Thu xếp nơi ở sau khi trở về nhà 73

Chia sẻ với người khác 73

Hy vọng về tương lai 75

Kinh nghiệm phỏng vấn 74

Phỏng vấn lần hai 75

Các triệu chứng về sức khỏe thể chất 76

Các triệu chứng về sức khỏe tinh thần: so sánh giữa phỏng vấn lần 1 và lần 2 76

Các mối quan tâm sau khi bị buôn bán Thay đổi từ T1 đến T2 78

Hàm ý của các phát hiện đối với chính sách và thực tiễn 79

Khuyến nghị 95

Trang 9

Bảng và biểu đồ

Bảng 1: Khái quát về các cơ sở dịch vụ tham gia ở

Campuchia, Thái Lan và Việt Nam .20

Bảng 2: Giới tính của người tham gia 25

Bảng 3: Độ tuổi của người tham gia (trẻ em / người lớn) 25

Bảng 4: Giới tính của người tham gia theo nhóm tuổi (người lớn và trẻ em) (n = 1.102)

Bảng 5: Nhóm tuổi của người tham gia theo giới tính (n = 1.102) 26

Bảng 6: Đặc điểm của người tham gia sử dụng dịch vụ theo nước 26

Bảng 7: Tỷ lệ người tham gia tính theo nước xuất phát 28

Bảng 8: Trình độ học vấn của người lớn và trẻ em 29

Bảng 9: Tình trạng hôn nhân trước khi di cư của các đối tượng tham gia trên 15 tuổi 30

Bảng 10: Tỷ lệ cá nhân được chuyển tuyến các dịch vụ theo loại hình tổ chức / cơ quan 31

Bảng 11: Nhận thức của người tham gia nghiên cứu về thuật ngữ “BBN” trước khi bị buôn bán .33

Bảng 12: Kẻ mà các đối tượng tham gia nghiên cứu cho là chịu trách nhiệm về tình trạng buôn bán người gần đây nhất tính của họ theo nữ giới, nam giới và tất cả .34

Bảng 13: Bạo hành thể chất hoặc tình dục trước khi ra đi 35

Bảng 14: Tỷ lệ bạo hành tình dục trước khi rời quê nhà tính theo độ tuổi (trẻ em / người lớn) 36

Bảng 15: Tỷ lệ của các đối tượng tham gia nghiên cứu bịbóc lột ở các nước đến khác nhau .37

Bảng 16: Tỷ lệ đối tượng tham gia cho biết bị bóc lột trong các lĩnh vực lao động khác nhau theo giới trong số người được đưa đến đích (n=1.015) .38

Bảng 17: Tỷ lệ các cá nhân làm việc tại Thái Lan và Trung Quốc theo lĩnh vực ngành nghề 39

Bảng 18: Phân bố đối tượng tham gia theo tuổi và lĩnh vực ngành nghề bị bóc lột 40

Bảng 19: Độ chính xác về thông tin được cung cấp trước khi xuất phát .41

Bảng 20: Tỷ lệ các đối tượng bị bạo hành trong thời gian di chuyển đến địa điểm đích .42

Bảng 21: Tỷ lệ các đối tượng nam, nữ và trẻ em tới được điểm đến bị bạo hành (n=1.015) 43

Bảng 22: Tỷ lệ các đối tượng tham gia chia theo loại hình bạo hành cụ thể, trong số những người đến được nơi định đến (n=1015) 43

Bảng 23: Số giờ làm việc trung bình hàng ngày theo ngành nghề hoặc loại hình bị bóc lột .47

Trang 10

Bảng 24: Số đối tượng theo lĩnh vực nghề nghiệp trả lời họ

“không bao giờ” hoặc “hiếm khi” được tự do làm việc họ

muốn hoặc đến nơi họ muốn khi đang bị buôn bán .49

Bảng 25: Tần suất sử dụng rượu khi ở tình trạng bị bóc lột (n=1.015) 51

Bảng 26: Nguy hại về sức khỏe nghề nghiệp trong quá trình bị buôn bán 51

Bảng 27: Các trang bị bảo hộ được cung cấp khi làm việc 52

Bảng 28: Tần suất sử dụng bao cao su với khách hàng trong đối tượng nghiên cứu là gái mại dâm 54

Bảng 29: Đối tượng cho biết số lần họ từng bị chấn thương nghiêm trọng do công việc hay tai nạn nghề nghiệp 55

Bảng 30: Thời gian trong tình trạng bị buôn bán theo lĩnh vực 56

Bảng 31: Các điều kiện sống và làm việc 57

Bảng 32: Tỷ lệ các đối tượng thoát khỏi trình trạng bị buôn bán thông qua nhiều cách 60

Bảng 33: Tỷ lệ đối tượng bị tạm giữ ở nước đến chính (n=257) 61

Bảng 34: Các triệu chứng về sức khỏe thể chất của đối tượng tham gia nghiên cứu (n=1.102) 63

Bảng 35: Tỷ lệ phụ nữ độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi)* đang mang thai tại thời điểm phỏng vấn và bị/không bị bạo hành tình dục .64

Bảng 36: Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và PTSD trong những đối tượng tham gia nghiên cứu (n=1,102) 65

Bảng 37: Tỷ lệ hậu quả sức khỏe tinh thần của những NBBB theo nhóm tuổi (n=1,102) 65

Bảng 38: Tỷ lệ các triệu chứng liên quan tới lo âu, trầm cảm và PTSD ở nam (n=465) và nữ (n=637) .66

Bảng 39: Tỷ lệ có các triệu chứng liên quan đến rối loạn lo âu,trầm cảm và PTSD theo tuổi .66

Bảng 40: Tỷ lệ có các triệu chứng của rối loạn sức khỏe tinh thần trong các đối tượng ở Thái Lan (n=445), Campuchia (n=443) và Việt Nam (n=389) 67

Bảng 41: Tỷ lệ có các triệu chứng liên quan đến rối loạn sức khỏe tinh thần ở những phụ nữ bị buôn bán để làm mại dâm (n=328) và phụ nữ bị buôn bán làm trong các lĩnh vực lao động khác (n=241)* 67

Bảng 42: Tần suất của các triệu chứng “Ít”, “Khá nhiều” hoặc “Rất nhiều” theo Bảng kiểm trầm cảm Hopkin-25 68

Bảng 43: Tần suất các đối tượng nêu các triệu chứng trong Bộ câu hỏi Harvard về Sang Chấn (HTQ) của những người sử dụng dịch vụ hỗ trợ sau BBN .69

Bảng 44: Tỷ lệ số đối tượng có các triệu chứng theo Bảng kiểm Hopkins-25 về lo âu 71

Bảng 45: Những mối quan tâm thường gặp về tương lai của những nạn nhân bị buôn bán 72

Trang 11

Bảng 46: Tỷ lệ đối tượng lo sợ bị kẻ BBN hãm hại bản thân hoặc gia đình 72

Bảng 47: Tỷ lệ đối tượng tham gia với dự định ở với ai 73

Bảng 48: Hy vọng vào tương lai theo giới 74

Bảng 49: Hy vọng vào tương lai chia theo người trưởng thành và trẻ em 74

Bảng 50: Phỏng vấn lần 2: Số lượng người không tham gia phỏng vấn lần 2 theo quốc gia .76

Bảng 51: Các triệu chứng về sức khỏe thể chất của các đối tượng trong lần phỏng vấn 1 và 2 76

Bảng 52: Sức khỏe tinh thần ở T1 và T2 77

Bảng 53: So sánh giữa các đối tượng tham gia và không tham gia T2 .78

Bảng 54: Bạn mong muốn sống với ai sau khi rời khỏi nơi tạm lánh 78

Biểu đồ 1: Các giai đoạn trong quá trình BBN .18

Biểu đồ 2: Phần trăm số người tham gia nghiên cứu theo nước xuất phát 28

Biểu đồ 3: Sự chính xác của thông tin về tình hình nơi đến trước khi xuất phát 41

Biểu đồ 4: Tỷ lệ các đối tượng bị bạo hành thể chất và/ hoặc tình dục trong khi bị buôn bán 42

Biểu đồ 5: Phần trăm số đối tượng phải làm việc cả 7 ngày trong tuần 46

Biểu đồ 6: Số giờ làm việc trung bình hàng ngày theo ngành nghề/ loại hình bị bóc lột 47

Biểu đồ 7: Số đối tượng theo lĩnh vực nghề nghiệp trả lời họ “không bao giờ” hoặc “hiếm khi” được tự do 49

Biểu đồ 8: Đối tượng với triệu chứng biểu hiện trầm cảm, lo âu và PTSD 65

Trang 13

Tóm tắt

Buôn bán người (BBN) là sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người, thường liên quan đến các hình thức bóc lột và xâm hại cực đoan Người ta bị buôn bán vì những hình thức bóc lột khác nhau, bao gồm những ngành nghề lao động chân tay có kỹ năng thấp và bóc lột tình dục Trong những tình trạng như vậy, NBBB phải đối mặt với nhiều nguy cơ rủi ro về sức khỏe, bao gồm bạo hành, thiếu thốn và các nguy hại nghề nghiệp nghiêm trọng Các mối nguy hiểm này thường dẫn đến mắc các bệnh cấp tính và mãn tính – và đôi khi dẫn tới tử vong Đại đa số những người đã từng trải qua hoàn cảnh bị buôn bán cần được chăm sóc y tế về tâm lý và thể chất

Tính tới nay, các nghiên cứu sâu về hậu quả sức khỏe do BBN gây ra còn rất hạn chế và theo nhóm tác giả, chưa có khảo sát nào được tiến hành liên quan đến nhu cầu sức khỏe của những người đã từng bị buôn bán vì mục đích lao động khác nhau trong khu vực Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng (GMS)

Để giải quyết các hạn chế về bằng chứng về sức khỏe và BBN, một nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang được tiến hành trên nhiều địa điểm với các đối tượng hưởng dịch vụ hỗ trợ sau buôn bán người nhằm xác định những nguy cơ rủi ro về sức khỏe và các nhu cầu ưu tiên chăm sóc y tế của NBBB tại các cơ sở dịch vụ hỗ trợ tại Campuchia, Thái Lan và Việt Nam

Các kết quả nghiên cứu thu được từ phỏng vấn 1,102 người từng bị bóc lột và sẵn sàng chia sẻ các trải nghiệm và nói về những mối quan tâm đối với sức khỏe của họ Những phát hiện này cho thấy một bức tranh toàn cảnh về việc lạm dụng con người, nhưng cũng hy vọng sẽ có cơ hội hiểu, đáp ứng với việc bảo vệ sức khỏe và các cơ chế đáp ứng tốt hơn trong tương lai

Bối cảnh nghiên cứu

Nghiên cứu này được xây dựng dựa trên khung khái niệm về BBN và sức khỏe, qua đó, nhấn mạnh những hậu quả tiềm ẩn về sức khỏe tại từng giai đoạn của quá trình di cư và tầm quan trọng của từng giai đoạn này đối với tình trạng sức khỏe tích lũy của các những NBBB.1 Nghiên cứu này cũng nhìn nhận những điểm còn hạn chế trong định nghĩa BBN, đặc biệt là việc thiếu rõ ràng về mức độ “bị bóc lột” của một người để được xác nhận là “đã bị buôn bán.” Vì lý do này, để tránh việc đội ngũ nghiên cứu tự định nghĩa “ai là NBBB,” và vì những lý do quan trọng về đạo đức, quần thể nghiên cứu được định nghĩa là “những người sử dụng dịch vụ hỗ trợ sau BBN” Như vậy, quần thể nghiên cứu trong dự án này là một mẫu được chọn theo tiêu chí là người sử dụng dịch vụ (khách hàng), và mục đích của nghiên cứu là để cung cấp thêm thông tin cho cơ sở dịch vụ hỗ trợ NBBB

về các nhu cầu hỗ trợ của khách hàng

Trang 14

Tóm tắt

Phương pháp

Thiết kế nghiên cứu. Nghiên cứu này về sức khỏe của những người đang sử dụng các dịch vụ hỗ trợ sau BBN là một nghiên cứu quan sát cùng đối tượng trong một khoảng thời gian dài Báo cáo chủ yếu trình bày các tần suất được tính toán dựa trên kết quả của lần phỏng vấn thứ nhất (nghiên cứu cắt ngang lần đầu) Ngoài

ra còn có báo cáo số liệu của đối tượng nghiên cứu được tiếp tục theo dõi trong 30-60 ngày sau phỏng vấn lần đầu, mặc dù trong quá trình thực hiện nghiên cứu,

có nhiều đối tượng không tham gia lần phỏng vấn tiếp theo (mất dấu)

Mẫu nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu tổng cộng có 1.102 nam giới, phụ nữ, và trẻ em từ 10 tuổi trở lên, là những người đang sử dụng dịch vụ hỗ trợ sau khi

bị buôn bán tại Campuchia, Thái Lan, và Việt Nam Có 15 cơ sở hỗ trợ (6 cơ sở ở Campuchia, 4 ở Thái Lan, và 5 ở Việt Nam) được chọn theo tiêu chí nhóm khách hàng đa dạng, có quan hệ hợp tác với phái đoàn IOM ở nước sở tại hoặc Quỹ Anesvad Việc thu thập số liệu được tiến hành từ năm 2010 đến 2013 trong số các cá nhân sử dụng dịch vụ hỗ trợ của các cơ sở

Các đối tượng nghiên cứu đại diện cho một mẫu liên tiếp những cá nhân sử dụng các dịch vụ và được mời tham gia phỏng vấn trong vòng 2 tuần đầu (từ 0 đến 14 ngày) sau khi được nhận vào cơ sở hỗ trợ Những cá nhân đạt đủ các tiêu chuẩn sau được mời gặp mặt phỏng vấn trực tiếp:

(a) Người sử dụng dịch vụ hỗ trợ tại một trong các cơ sở đối tác cung cấp dịch vụ hỗ trợ sau BBN, bắt đầu sử dụng dịch vụ hỗ trợ từ dưới 10 ngày trước khi phỏng vấn;

(b) Từ 10 tuổi trở lên, và

(c) Sức khỏe tinh thần và thể chất đủ điều kiện tham gia phỏng vấn (theo đánh giá của cán bộ tư vấn hỗ trợ)

Bảng câu hỏi Bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên công cụ nghiên cứu trước đây tại châu Âu đối với nạn nhân bị buôn bán với mục đích bóc lột tình dục và được chỉnh sửa cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu khác (cho các mục đích lao động khác) và phù hợp với địa phương.2 Bảng câu hỏi được dịch sang tiếng Khmer, tiếng Thái, tiếng Việt, tiếng H’Mong và tiếng Lào, theo các bước: dịch thuật chuyên nghiệp từ tiếng Anh sang tiếng nước sở tại, dịch thuật theo nhóm và thảo luận với cán bộ phòng chống BBN của IOM, thử nghiệm, chỉnh sửa cho phù hợp, dịch thuật lại, và điều chỉnh lại

Thu thập và phân tích số liệu. Nghiên cứu thực địa được tiến hành từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 5 năm 2013 Nhân viên tại 15 cơ sở dịch vụ hỗ trợ tại ba nước tham gia nghiên cứu tiến hành phỏng vấn Phái đoàn IOM tại các nước điều phối công tác thu thập và nhập số liệu dưới sự giám sát của trường Đại học

Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh nhiệt đới London (LSHTM)

Trang 15

Tiêu chuẩn đạo đức Tiêu chuẩn đạo đức và an toàn được tuân thủ chặt chẽ

theo Khuyến nghị về vấn đề Đạo đức và An toàn của Tổ chức Y tế Thế giới đối với

Phỏng vấn Phụ nữ bị buôn bán.3 Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh nhiệt đới London và hội đồng đạo đức tại nước sở tại ở Campuchia (Bộ Y tế), Thái Lan (Bộ Phát triển Xã hội và An ninh Con người) và Việt Nam (Trường Đại học Y tế Công Cộng) xét duyệt tiêu chuẩn đạo đức của nghiên cứu này

Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Đặc điểm của quần thể nghiên cứu

Tỉ lệ trả lời Tỉ lệ trả lời là trên 98% tại cả ba nước Đối tượng nghiên cứu bao gồm 1.102 nam giới, phụ nữ, và trẻ em từ 10 tuổi trở lên, đang sử dụng dịch vụ

hỗ trợ sau khi bị buôn bán tại Campuchia, Thái Lan, và Việt Nam

Giới và độ tuổi Đối tượng nghiên cứu gồm 637 nữ (57,8%), 465 nam (42,2%) và

387 thanh thiếu niên (35,1%) từ 10-17 tuổi Cụ thể hơn là 27.9% từ 15-17 tuổi (308 em), và 7,2% (79 em) từ 10-14 tuổi Phần lớn trẻ em tham gia phỏng vấn là

nữ (81,7%)

Đặc điểm mẫu của từng quốc gia. Đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ nhiều nhất là ở Thái Lan (40,3%, 444 người), sau đó là Việt Nam (35,3%, 389 người), và Campuchia (24,4%, 269 người) ở Việt Nam và Thái Lan, phần lớn đối tượng trong mẫu là nữ (lần lượt là 72,5% và 73%); ở Campuchia mẫu gồm hầu hết là đối tượng nam giới (88,5%) và ở Thái Lan 2/3 số đối tượng là trẻ em (67,3%)

Quốc gia quê quán. Quê của đối tượng nghiên cứu là: Việt Nam (388 người, 35,2%), Campuchia (312 người, 28,3%), Thái Lan (156 người, 14,2%), Myanma (128 người, 11,6%), Lào (116 người, 11,6%), và Trung Quốc (1 người, 0,1%) và một người không biết nguồn gốc quốc gia quê quán của mình

Trình độ học vấn Dưới một phần ba (30,8%) người lớn và 43,7% trẻ em đã hoàn thành trung học cơ sở (lớp 6-8) Một số lượng nhỏ người lớn (59 người, 8,2%)

đã học xong lớp 10-11 Gần một phần năm số người lớn (19%) và 8,8% chưa qua trường lớp đào tạo chính quy nào

Nghề nghiệp trước khi đi. Gần một phần mười (9,7%) người tham gia phỏng vấn chưa từng đi làm có trả lương trước khi đi Nông nghiệp hoặc làm ruộng là ngành nghề phổ biến nhất trước khi đi (42,7% trên tổng số đối tượng) Một phần năm (20,4%) đối tượng dưới 18 tuổi là học sinh trước khi đi

Tình trạng hôn nhân Một phần năm (21,6%) đối tượng (trên 15 tuổi) đã kết hôn

và đang sống cùng vợ/chồng trước khi đi

Người trả lời phỏng vấn đã từng kết hôn và có con. Trong số 287 đối tượng đã từng kết hôn, 80,8% có con

Trang 16

Tóm tắt

4

Chuyển gửi Đối tượng chủ yếu được các cơ quan nhà nước, cảnh sát, và cán bộ

xuất nhập cảnh (85,9%) giới thiệu chuyển gửi đến các cơ sở dịch vụ

Giai đoạn trước khi đi

Nhận thức về BBN. Dưới một nửa (44,1%) đối tượng tham gia nghiên cứu (đi

từ nhiều nước khác nhau) nói rằng họ đã từng nghe nói đến nạn “BBN.” Người Thái Lan có tỷ lệ số người đã từng nghe nói về “BBN” cao nhất (65,4%), sau đó là người Campuchia (46,2%), người Lào (39,7%), người Việt Nam (38,9%) và người Myanmar (32,8%)

Bị lừa tuyển dụng. Một phần ba (34,2%) số người tham gia phỏng vấn nói rằng người môi giới phải chịu trách nhiệm vì đưa họ vào tình trạng bị buôn bán Hơn một phần tư (26,5%) số người nói rằng người thân hoặc người lẽ ra phải được tin cậy (ví dụ như cha mẹ, người nhà, bạn bè, đồng nghiệp, người yêu, hàng xóm, v.v…) phải chịu trách nhiệm về việc họ bị buôn bán Có 26 người nói họ bị “lừa bán.”

Bạo hành trước di cư. Trong số đối tượng là người lớn, 15,1% đã từng chịu bạo hành về thể chất hoặc tình dục ít nhất một lần trước khi đi khỏi nhà Gần một phần năm (22,0%) số trẻ em đã từng chịu bạo hành về thể chất hoặc tình dục Số lượng phụ nữ (20.6%) báo cáo chịu bạo hành về thể chất hoặc tình dục trước khi

đi ở mức độ cao hơn so với nam giới (14,6%).i

Các thông tin nghề nghiệp trước khi đi. Gần một nửa số đối tượng nghiên cứu (44,8%) nói rằng thông tin họ nhận được trước khi đi “hoàn toàn không đúng

sự thực”

Giai đoạn bị bóc lột

Địa điểm đến Tổng cộng có 9 quốc gia được tính là địa điểm đến Bộ phận người

tham gia nghiên cứu bị bóc lột lớn nhất là ở Thái Lan (40,7%), sau đó là Trung Quốc (30,0%), và Indonesia (11,7%) Trong tổng số 1.102 người tham gia nghiên cứu, 87 (7,9%) người nói rằng họ không tới được nước định đến Số liệu về giai đoạn bị bóc lột chủ yếu phản ánh 1.015 người (92,1%) đã tới nơi và bắt đầu làm việc

Ngành nghề lao động Các đối tượng bị buôn bán vào 15 lĩnh vực ngành nghề

khác nhau, với hai phần ba (67,2%) bị bán vào 3 lĩnh vực: mại dâm (29,9%), đánh bắt cá (25,0%) và làm việc trong nhà máy (12,3%) Hơn một nửa các đối tượng dưới 18 tuổi bị bán để làm mại dâm (51,9%)

i Số liệu về bạo hành trước di cư chỉ được tính cho 877 trong tổng số 1102 người Tại Việt Nam, bạo hành trước di cư cho 225 người / tổng số 389 (57,8%) không đáng tin cậy vì lý do cơ sở dữ liệu đến ngày 20 tháng

8 năm 2012 mới được sửa Dữ liệu này của Việt Nam được mã hóa là không có (n=225) cho tới ngày 20 tháng

8 năm 2012 Dữ liệu về bạo hành trước di cư của Việt Nam chỉ bao gồm n=164/389 (42,2%) đối tượng có số liệu được nhập sau ngày 20 tháng 8 năm 2012, khi đội ngũ nghiên cứu có thể kiểm chứng là dữ liệu đáng tin

Trang 17

Bạo hành tại nước đến Khoảng một nửa số nam giới (49,3%) và phụ nữ ở độ

tuổi trưởng thành (60%) bị bạo hành về tình dục và/ hoặc thể chất tại nước đến

Có 36,2% trẻ em từ 10-14 tuổi và 35,3% thiếu niên từ 15-17 tuổi phải chịu bạo hành

Bạo hành theo ngành nghề. Những ngành nghề chịu nhiều bạo hành về thể chất

và/hoặc tình dục nhất theo khảo sát là làm cô dâu/làm vợ (88,5% (n=46/52), đánh bắt cá (68,4%, n=188/275), mại dâm (50,8%, n=167/329), hầu hạ trong nhà (60,5%, n=23/38) và ăn xin (36%, n=9/25)

Bạo hành tình dục Trong số những đối tượng đã tới nước đến và trả lời câu hỏi

về bạo hành tình dục (n=1009), gần một phần sáu đối tượng (n=204, 20,2%) bị

cưỡng bức quan hệ tình dục trong khi bị buôn bán Trong số 204 người bị lạm dụng tình dục, 198 (97,1%) là nữ và 6 (2,9%) là nam

Đe dọa. Khoảng một nửa số đối tượng (n=467/1015, 46%) bị đe dọa bạo hành

với bản thân trong thời gian bị buôn bán

Ngày/giờ làm việc Hơn hai phần ba (67,5%) số người tham gia phỏng vấn phải

làm việc 7 ngày một tuần và thời gian làm việc trung bình một ngày là 13,8 giờ (ĐLCii=6.6) Người làm nghề đánh bắt cá phải làm việc nhiều giờ nhất (18,8, ĐLC 5,9), sau đó là làm việc nhà (15,2, ĐLC 6,6)

Hạn chế tự do. Hơn hai phần ba (67,9%) đối tượng “không bao giờ” hoặc “hiếm khi” được “đi đến nơi họ muốn hoặc làm những việc họ muốn”, với hơn một nửa (58,7%) đối tượng “không bao giờ” được tự do NBBB làm việc nhà (86,8%) và đánh bắt cá (80,4%) thường “không bao giờ” được tự do làm những việc mà họ muốn hoặc đi tới nơi họ muốn

Hạn chế tự do và bạo hành. Trong số những người tới được nước đến, đối tượng bị hạn chế thường nhiều khả năng bị bạo hành hơn Cụ thể, 60,1% số đối tượng “không bao giờ” được tự do còn bị bạo hành về thể chất và/hoặc tình dục,

so với 13,9% số đối tượng “luôn có tự do” và bị bạo hành

Bị cưỡng bức sử dụng ma túy. Một số đối tượng bị cưỡng bức sử dụng ma túy, với 6.1% đối tượng bị ép dùng ma túy hoặc thuốc điều trị trong thời gian bị buôn bán Tỉ lệ bị ép sử dụng ở đối tượng trẻ em (8,4%) là cao hơn ở người lớn (4,9%)

Sử dụng rượu bia Một số lượng nhỏ (3,2%) đối tượng nghiên cứu có uống rượu

bia hàng ngày

Nguy hại nghề nghiệp. Tính theo ngành nghề bị bóc lột thì những nguy hại nghề

nghiệp thường gặp nhất là: “liên tục cúi gập người hoặc khuân đồ” (n=389, 44,6%), “nhấc đồ nặng” (n=347, 39,8%), “dùng công cụ sắc nhọn” (n=263,

20,1%) Hơn 90% người đánh bắt cá phải làm việc “trong thời gian dài ngoài trời

ii Độ lệch chuẩn (ĐLC) ĐLC đo lường số lượng biến thiên hay phân tán từ giá trị trung bình.

Trang 18

Tóm tắt

6

nắng, lạnh, ướt mà không hề được nghỉ ngơi” (96.7%); “liên tục cúi gập người hoặc khuân đồ” (94,9%); và “nhấc đồ nặng” (93,5%)

Thiết bị bảo hộ cá nhân Hơn một phần ba đối tượng (37,8%) không nhận được

bất kì thiết bị bảo hộ cá nhân nào Khoảng một nửa đối tượng được phát các thiết bị bảo hộ đơn giản ví dụ như găng tay (45,9%) hoặc mũ chống nắng (50,4%) khi làm công việc nặng nhọc ngoài trời, ví dụ như làm nông nghiệp hoặc đánh cá

Sử dụng bao cao su Tỉ lệ phụ nữ không bị bạo hành “luôn luôn” dùng bao cao su

cao hơn hai lần so với tỉ lệ phụ nữ bị bạo hành (75,5% so với 35,8%)

Các chấn thương liên quan đến công việc Hơn một phần năm (21,9%) đối

tượng nói là bị thương nghiêm trọng ít nhất một lần trong khi làm việc, ví dụ như bị vết cắt sâu và dài, tổn thương về da, hoặc bị thương ở lưng hoặc cổ Gần

một nửa số NBBB để làm nghề đánh bắt cá (n=128/275, 46,6%) và 26% (n=5/19)

làm nghề xây dựng bị thương nghiêm trọng ít nhất một lần Có 7 người tham gia phỏng vấn (3,2%) mất một bộ phận cơ thể Chỉ có 62 trong số 222 người được chăm sóc y tế sau khi bị thương

Thời gian chịu cảnh buôn bán. Đối tượng chịu cảnh bị buôn bán trong khoảng thời gian trung bình là 115 ngày (MAD - Độ lệch trung vị tuyệt đốiiii=92,5) Ngành nghề có thời gian bình quân với BBN nhiều nhất là: đánh bắt cá (487,3 ngày; MAD 350.3), làm cô dâu/làm vợ (183 ngày; MAD=122) và làm việc nhà (122; MAD=107)

Điều kiện sống và làm việc Hầu như tất cả những người tới được nước đích

(n=1014/1015, 99,9%) đều chịu một số điều kiện sống và làm việc kém Các điều kiện bất cập thường được nhắc tới là: “không có hoặc hiếm khi được nghỉ” (56,1%); sống/ngủ trong phòng quá chật chội (44,6%); và không có chỗ ngủ hoặc phải ngủ dưới sàn nhà (36,4%) Gần 200 đối tượng (19,5%) bị ‘ở trong phòng bị khóa”— nhiều nhất là các đối tượng bị buôn bán để làm mại dâm, làm việc nhà, và đánh cá Hơn nữa, hơn một trong năm người không có đủ đồ ăn hoặc nước uống trong khi làm việc

Chi trả tiền mặt. Ít người (n=380/1022, 37,4%) được trả công bằng tiền mặt

Giấy tờ cá nhân và thông hành. Phần lớn (69%) đối tượng không có giấy tờ cá

nhân và thông hành, và trong số đối tượng có giấy tờ, 39,4% (n=124) đối tượng

bị người khác giữ giấy tờ của mình

Chăm sóc y tế. Hơn một phần ba đối tượng (n=414/1015, 40,8%) cần được

chăm sóc sức khỏe trong thời gian bị buôn bán Nhiều trẻ em (51,7%) hơn người lớn (35,2%) cần được chăm sóc sức khỏe, và nữ (49,2%) nhiều hơn nam (30%) Trong số các đối tượng cần được chăm sóc y tế, gần ba mươi phần trăm (29,7)

Trang 19

không nhận được sự chăm sóc nào (n=414), một phần ba (33,7%) có được khám

bác sĩ và 20,8% gặp y tá, trong khi 23% nhận được thuốc uống từ chủ lao động

Thai sản và kết thúc thai nghén trong thời gian bị buôn bán. 35 (7,5%) đối tượng có thai trong thời gian bị buôn bán (ví dụ như người hành nghề mại dâm,

n=15; làm cô dâu/làm vợ, n=11) và 12 người phá thai.

Thoát khỏi tình trạng bị buôn bán. Khoảng một nửa đối tượng (43,3%) nói rằng

họ không bao giờ tìm cách thoát khỏi tình cảnh này Những lý do của đối tượng

về việc không tìm cách thoát là: “tôi đang kiếm được tiền” (44,7%), “tôi sợ bị

lạc” (33,3%), “tôi sợ bị bắt giữ” (n=143/445, 32,1%) và “tôi không có giấy tờ cá nhân” (n=120/466, 27%) Phần lớn các trường hợp (71,1%) trốn thoát nhờ sự hỗ

trợ của cảnh sát, bộ đội biên phòng hoặc cán bộ nhà nước, trong khi 28,9% bỏ trốn hoặc trốn thoát mà không có ai giúp, thì 15,4% được hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ

Giam giữ. Khoảng một phần tư (24,1%) đối tượng bị giam giữ Tỉ lệ nam bị giam giữ (28,5%) nhiều hơn nữ (20,7%) và người lớn (30,3%) nhiều hơn trẻ em (12,2%)

Giai đoạn sau khi bị buôn bán

Sức khỏe thể chất. 15,6% số đối tượng có sức khỏe “kém”, thường là đối tượng

bị buôn bán để làm nghề đánh bắt cá (26,9%) và làm việc nhà (18,4%) Phần lớn các đối tượng (64,3%) đều chỉ ra ít nhất một bộ phận trên cơ thể mà họ bị đau hoặc bị thương Các bộ phận trên cơ thể thường bị đau hoặc bị thương là: đầu (26,2%); bụng (19,5%) và lưng (13,6%)

Chăm sóc y tế sau khi bị buôn bán. Gần một nửa (49,6%) số đối tượng bị đau,

bị thương, hoặc có vấn đề sức khỏe nói rằng họ muốn đi khám bệnh vì vấn đề sức khỏe này

Thai sản 21 phụ nữ (4,5%) trong độ tuổi sinh sản đang có thai tại thời điểm

phỏng vấn Trong số 21 phụ nữ có thai thì 14 (66,6%) từng chịu bạo hành về tình dục

Sức khỏe tinh thần. 59,7% đối tượng có triệu chứng bị trầm cảm 35,6% đối tượng có dấu hiệu rối nhiễu stress sau sang chấn (PTSD), và 41,9% đủ tiêu chí của triệu chứng rối loạn lo âu Tỉ lệ người lớn có triệu chứng liên quan đến các rối loạn cao hơn trẻ em dưới 18 tuổi Đối tượng nữ có dấu hiệu trầm cảm nhiều hơn nam, trong khi đối tượng nam có dấu hiệu rối nhiễu stress sau sang chấn và rối loạn lo âu nhiều hơn Mặc dù số lượng đối tượng nghiên cứu có giới hạn, nhưng qua so sánh giữa các ngành nghề, có thể thấy dấu hiệu trầm cảm xuất hiện nhiều

nhất trong đối tượng bị buôn bán để làm công nhân nhà máy (n=92/136, 67,7%),

Trang 20

Tóm tắt

làm việc nhà (n=31/38, 81,6%) và xây dựng (n=15/19, 79%) Rối loạn lo âu xuất

hiện nhiều nhất trong các đối tượng bị buôn bán để làm việc nhà (24/38, 63.2%)

và nông nghiệp (n=36/58, 62.1%) Rối nhiễu stress sau sang chấn xuất hiện nhiều

trong đối tượng bị buôn bán để làm nông nghiệp, làm việc nhà, xây dựng, và làm trong nhà máy (52,2% đến 65,8%)

Ý nghĩ tự tử. Một phần sáu đối tượng (n=164; 14.9%) có “suy nghĩ về kết thúc

cuộc đời” (ý định tự tử) trong 1 tuần trước phỏng vấn

Những mối quan tâm thường gặp sau khi bị buôn bán Mối quan tâm thường gặp nhất của đối tượng sau khi bị buôn bán là: “vấn đề tiền nong trong gia đình” (44,6%); vấn đề sức khỏe trong gia đình (43,1%) và cảm giác mặc cảm tội lỗi (41,2%)

Nỗi sợ kẻ buôn người. Khoảng một nửa số đối tượng (43,1%) cảm thấy rằng họ vẫn còn khả năng bị nguy hiểm từ kẻ buôn người kể cả sau khi thoát khỏi tình

trạng bị buôn bán, 34,3% tin rằng họ vẫn còn bị nguy hiểm, và 8,8% không chắc

bản thân mình có còn trong tình trạng nguy hiểm hay không

Cách gia đình và cộng đồng đối xử với người trở về. Hơn một nửa số đối tượng (56,3%) lo lắng về cách người khác đối xử với họ khi họ trở về nhà Người chịu

bạo hành tình dục trong khi đang bị buôn bán (n=158/211, 74,9%) có nhiều lo lắng hơn người không phải chịu bạo hành tình dục (n=459/883, 52%).

Nơi ở sau khi trở về nhà. Khi được hỏi là sẽ sống với ai sau khi ra khỏi cơ sở hỗ trợ thì 79,6% người tham gia trả lời phỏng vấn nói họ sẽ về sống với cha mẹ hoặc người nhà

Chia sẻ sau khi bị buôn bán. Một nửa số người tham gia phỏng vấn có ý định

chia sẻ với người khác trải nghiệm bị buôn bán của mình (n=465/1102, 42,2%), và một nửa thì không (n=497/1102, 45,1%) Phụ nữ bị buôn bán để làm mại dâm

ít muốn (n=98/328, 29,9%) chia sẻ hơn là phụ nữ bị buôn bán cho những mục đích khác (n=105/241, 43,6%) hoặc nam giới (n=262/533, 49,2%)

Hy vọng về tương lai Không ngạc nhiên là khi được hỏi về hy vọng cho tương

lai, phần lớn các đối tượng, cả nam và nữ (60,5%) đều nói rằng mình hy vọng “có công ăn việc làm” Nhìn chung các đối tượng đều giữ được hy vọng cho tương lai Chỉ có một số ít (5,1%) nói rằng họ không có hy vọng gì cho tương lai

Trải nghiệm phỏng vấn Khi người tham gia phỏng vấn được hỏi rằng họ cảm

thấy cuộc phỏng vấn khó hoặc dễ như thế nào, phần lớn (70,2%) nói phỏng vấn là “dễ”, trong khi 20,5% nói “hơi khó,” và 9,1% thấy “khó.”

Trang 21

Phỏng vấn lần hai

Phỏng vấn lần hai được tiến hành sau 30-90 ngày từ cuộc phỏng vấn lần đầu với những đối tượng có thể liên lạc được, với mục đích là tìm hiểu xem tình hình sức khỏe thể chất, tinh thần, và các mối lo lắng của họ thay đổi như thế nào theo thời gian Bằng cách so sánh các dấu hiệu và tình trạng của họ từ mốc Thời gian

số 1 (T1) và Thời gian số 2 (T2), những phát hiện này hy vọng sẽ cung cấp thêm hiểu biết về các nhu cầu của người đã từng bị buôn bán sau khi các nhu cầu căn bản của họ đã được đáp ứng đầy đủ và đã có thời gian để hồi phục sức khỏe và cân nhắc về tương lai

Tổng cộng có 353 trong số 1102 (32%) đối tượng từ mẫu ban đầu tham gia

phỏng vấn lần hai Tại Thái Lan, 48,5% (n=215) đối tượng tham gia phỏng vấn lần hai; tại Campuchia, 39% (n=105) từ số đối tượng ban đầu; và tại Việt Nam có 8,5% (n=33) trong tổng số đối tượng được phỏng vấn lần 2 Đối với phần lớn các

nghiên cứu khác thì đây là tỉ lệ mất dấu đáng kể, nhưng đối với đối tượng nghiên cứu là quần thể có tính di biến động cao như trong nghiên cứu này thì tỉ lệ duy trì là tương đối hợp lý

So sánh về sức khỏe tinh thần giữa phỏng vấn lần 1 và lần 2

So sánh mức độ nặng nhẹ của triệu chứng giữa phỏng vấn lần 1 và lần 2 cho thấy các đối tượng đều giảm dấu hiệu bị trầm cảm (từ 46,1% xuống 39,3%), rối loạn

lo âu (từ 37,3% xuống 26%) và một phần ít hơn giảm rối nhiễu stress sau sang chấn (từ 28,5% xuống 23,7%) Không thể khẳng định được yếu tố nào có thể đã ảnh hưởng đến các thay đổi này

Trang 22

Tóm tắt

10

Sơ lược các khuyến nghị cấp vùng

Khuyến nghị tổng quát

(a) Buôn bán người cần được nhìn nhận là một vấn đề sức khỏe.iv

(b) Công nhận quyền được chăm sóc sức khỏe của những người đã bị buôn bán

Khuyến nghị cho các quốc gia

Chính phủ nói chung và các nhà lập pháp Đặc biệt là những đơn vị có trách nhiệm trong phòng chống buôn bán người

(a) Các quốc gia trong Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) cần xây dựng hiệp định cấp khu vực về quyền sức khỏe của phụ nữ, nam giới và trẻ em bị buôn bán

(b) Quốc gia cần xây dựng các cơ chế chuyển tuyến trong nước và xuyên quốc gia) qua đó đảm bảo sức khỏe của NBBB luôn được đặt lên hàng đầu trong suốt quá trình chuyển tuyến và chia sẻ thông tin y tế để nạn nhân luôn nhận được sự chăm sóc mà họ cần Các cơ chế chuyển tuyến cần tuân thủ quy định về sự đồng thuận và bảo mật và riêng tư cho NBBB

(c) Chính phủ các nước cần có những sửa đổi cần thiết về pháp luật và quy định quốc gia, theo đó bổ sung quy định bắt buộc chăm sóc sức khỏe cho nạn nhân bị buôn bán Chính phủ cần cấp ngân sách và lồng ghép công tác chăm sóc sức khỏe NBBB vào chiến lược hoạt động của các đơn vị chủ lực trong phòng chống buôn bán người Cần bố trí dịch vụ chăm sóc phù hợp từng độ tuổi và giới tính, chăm sóc trên cơ sở tự nguyện với sự đồng thuận của nạn nhân Cụ thể như sau:

(i) Đảm bảo NBBB có thể tiếp cận dịch vụ y tế do nhà nước hỗ trợ ở nơi

Trang 23

(vii) Đảm bảo phối hợp giữa các cơ quan liên quan tại nước gốc và nước đến để đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nạn nhân bị buôn bán tại quê nhà

(viii) Đảm bảo các quy định và thủ tục trao trả NBBB đặt sự an toàn và sức khỏe của họ lên ưu tiên hàng đầu, đồng thời quyết định trở về là tự nguyện

(ix) Không trao trả NBBB từ nước đến hoặc nước trung chuyển về nước xuất phát mà không cung cấp cho họ những hỗ trợ y tế trước mắt cần thiết

(x) Thiết lập quỹ hỗ trợ để cung cấp các dịch vụ y tế dành riêng cho nạn nhân bị buôn bán, bao gồm nạn nhân bị buôn bán trong nước cũng như NBBB ra nước ngoài, tại những địa điểm chưa có đủ dịch vụ đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho họ, dù cho họ có khả năng chi trả hay không Thiết lập quỹ quốc gia hay quỹ Bộ Y tế dành riêng cho chăm sóc sức khỏe nạn nhân bị buôn bán

(xi) Nạn nhân bị buôn bán trong nước hay từ nước ngoài trở về phải được hưởng quyền sử dụng dịch vụ y tế của chính phủ tương tự những công dân khác của nước đó, bất kể họ đã ở nước ngoài bao lâu

(xii) Công nhận các quyền về sức khỏe, an toàn và lao động của NBBB nhằm tăng cường các biện pháp bảo vệ trong các ngành lao động trong pháp luật quốc gia, bao gồm cơ chế bồi thường những tổn hại, thương tích hay đau đớn; đồng thời hỗ trợ họ tiếp cận quỹ hỗ trợ phục hồi để giải quyết hậu quả về mặt sức khỏe do bị lạm dụng trong thời gian bị buôn bán

(xiii) Thực hiện công tác vận động nhằm hỗ trợ nạn nhân tiếp cận quỹ hỗ trợ phục hồi và đền bù cho những tổn hại, thương tích hay đau đớn thông qua các cơ chế cấp khu vực, các hiệp hội lao động và công nghiệp quốc gia cũng như các cơ sở y tế

(xiv) Các nước cần thúc đẩy sự phối hợp giữa ngành y tế cũng như các cơ quan, đơn vị chủ chốt về phòng chống buôn bán người để có biện pháp ứng phó về khía cạnh sức khỏe của nạn buôn người

(xv) Các nước cần thông qua luật lệ cho phép thanh tra chuyên ngành và định kỳ về sức khỏe và an toàn đối với những ngành thường xảy ra bóc lột người lao động và buôn bán người Bổ sung các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ người lao động kèm theo hình thức xử phạt mạnh tay đối với kẻ bóc lột Cán bộ thanh tra cần được tập huấn để phát hiện và chuyển tuyến những đối tượng có dấu hiệu bị buôn bán

(xvi) Tăng cường ưu tiên đối với y tế trong các ủy ban về phòng chống buôn người quốc gia và khu vực cũng như các nhóm công tác để họ hiểu rõ vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác chăm sóc nạn nhân, nhằm

có các biện pháp để phát hiện và đáp ứng những nhu cầu y tế của NBBB Đảm bảo có đại diện của cấp cao ngành y tế và các dịch vụ đặc

Trang 24

Tóm tắt

biệt phù hợp (v.d những người hoạt động ứng phó bạo hành dựa trên giới, nhân viên tiếp cận cộng đồng, các bộ quản lý nơi tạm lánh, v.v ) (xvii) Các nước cũng cần thiết lập bộ chỉ số theo dõi sức khỏe, tối thiểu là: (1) những rủi ro về sức khỏe của các đối tượng được xác định là nạn nhân của buôn bán người; (2) những hậu quả về sức khỏe do nạn nhân tự khai báo hay được chẩn đoán; (3) những dịch vụ y tế mà nạn nhân được nhận Số liệu thu được cần giữ kín danh tính nạn nhân, được lồng ghép vào các cơ chế thu thập số liệu quốc gia cũng như khu vực, và được công bố công khai

(xviii) Đảm bảo các cơ quan, đơn vị chủ chốt chỉ đạo công tác phòng chống buôn bán người nhìn nhận các đơn vị y tế là đơn vị tuyến đầu trong sàng lọc và chuyển tuyến những người có dấu hiệu bị buôn bán và đảm bảo cán bộ y tế được tham gia vào công tác lập kế hoạch chiến lược và hoạt động tập huấn về phòng chống BBN

Trang 25

cơ, những lạm dụng, nguy hại nghề nghiệp và những hậu quả về sức khỏe của những NBBB vào các lĩnh vực lao động khác nhau Số liệu trong cuộc khảo sát được trình bày theo số liệu thống kê – phần trăm của tổng số 1.102 đối tượng – nhưng cuối cùng thì mỗi cá nhân đều có trải nghiệm riêng của mình Do đó, chúng tôi khuyến nghị độc giả cũng nhìn và suy nghĩ về con số thực tế những

con người (số “n=”) phải chịu những nạn này Con số dữ liệu về những con người

này cho ta thấy một ấn tượng kinh hoàng về những cuộc đời bị hại – đôi khi bị

hủy hoại – chỉ trong nhóm đối tượng nghiên cứu này Và, như đã nói, đây chỉ là một phần rất nhỏ trong số những người lao động di cư bị bóc lột trong khu vực này, và tất nhiên đó chỉ là một phần tí hon trong số những người bị bóc lột trên toàn cầu

Như chúng tôi được biết, từ trước tới nay có rất ít các nghiên cứu khác cung cấp đầy đủ các phát hiện dựa trên số liệu về đề tài sức khỏe và nạn buôn người ở tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng như thế này Các phát hiện của nghiên cứu có

ý nghĩa rộng và quan trọng đối với lĩnh vực y tế và nhiều lĩnh vực khác Những kết quả nghiên cứu này cũng là một lời kêu gọi hành động khẩn cấp

Trang 27

Bối cảnh

BBN là một sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người, thường liên quan đến các hình thức lạm dụng cực đoan Những NBBB phải chịu đủ mọi nguy cơ về sức khỏe, bao gồm bạo hành, tình trạng thiếu thốn, và những mối nguy hại nghề nghiệp nghiêm trọng Những mối nguy hiểm này thường xuyên dẫn đến mắc bệnh cấp tính và lâu dài, và đôi khi dẫn đến tử vong Phần lớn những NBBB phải hứng chịu hậu quả về thể chất và tâm lý kéo dài nhiều năm, và đối với một số người là phải chịu đựng suốt đời

Mặc dù đã có nhiều cuộc đối thoại và tài liệu quốc tế về lạm dụng và bóc lột nghiêm trọng trong các vụ BBN, nhưng đáng thất vọng là có rất ít bằng chứng về tình trạng sức khỏe của người đã bị buôn bán và các dịch vụ chăm sóc tâm lý và y

tế mà họ cần Trên thực tế có rất ít các nghiên cứu kỹ lưỡng về đề tài hậu quả sức khỏe sau BBN, và theo chúng tôi biết, chưa từng có nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người đã bị buôn bán ở Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng

Phần lớn các nghiên cứu cho tới nay đều tiến hành tại châu Âu, chủ yếu về phụ

nữ bị buôn bán, bóc lột mại dâm, trong khi có rất ít chú ý tới nhu cầu chăm sóc sức khỏe của những người đã bị buôn bán ở những vùng miền hoặc ở ngành nghề khác

Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng là khu vực có tỉ lệ người bị lâm vào tình trạng lao động cưỡng bức, thường là do bị nạn BBN, cao đáng kể Phụ nữ, nam giới, và trẻ em trong vùng bị buôn bán và cưỡng bức vào đủ thể loại lao động, trong đó

có mại dâm, đánh bắt cá, giúp việc nhà, làm nông, chế biến thực phẩm, dịch vụ,

ăn xin đường phố, và việc công xưởng Họ bị kẻ BBN, chủ lao động, và cả đồng nghiệp bạo hành và lạm dụng, trong điều kiện có thể bị hàng loạt rủi ro nghiêm trọng về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp cũng như điều kiện sống tồi tệ Người lao động bị buôn bán thường phải làm việc rất nhiều giờ đồng hồ mà hiếm được nghỉ ngơi, hầu như không được đào tạo hoặc đào tạo bằng ngôn ngữ mà họ không hiểu Người bị bóc lột hiếm khi được cấp thiết bị bảo hộ lao động nhưng thường xuyên trong môi trường công việc không có giám sát kiểm tra an toàn lao động Trong môi trường làm việc nhiều rủi ro này, những NBBB phải chịu nhiều vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần cấp tính và mãn tính và cần được tiếp cận nhiều dịch vụ chăm sóc y tế Cần có ngay các bằng chứng nghiên cứu để cung cấp thông tin về can thiệp y tế và chính sách đáp ứng vùng miền, nhằm đảm bảo NBBB có khả năng phục hồi sức khỏe tốt nhất

Để khắc phục các thiếu hụt với bằng chứng về sức khỏe của người đã bị buôn bán, một cuộc nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang, đa quốc gia đã được thực hiện để xác định các nguy cơ rủi ro về sức khỏe và nhu cầu chăm sóc thiết yếu của NBBB tại Campuchia, Thái Lan, và Việt Nam Công tác thu thập số liệu được tiến hành

từ 2010 đến 2013 với đối tượng là phụ nữ, nam giới, và thanh thiếu niên đang

Trang 28

Bối cảnh

sử dụng dịch vụ của các trung tâm hỗ trợ sau BBN Đây là một dự án nghiên cứu

có tính đột phá được LHSTM và IOM thực hiện với tài trợ của Quỹ Anesvad và Quỹ Phát triển IOM, và sự hợp tác của các tổ chức hỗ trợ sau BBN tại địa phương (Xem Bảng 1) và bản thân những người đã bị buôn bán trở về

Ngoài việc phát hiện các ảnh hưởng đến sức khỏe trong các giai đoạn khác nhau của quá trình di cư, nghiên cứu này còn thừa nhận các “vùng tối” – những điều chưa rõ ràng và phức tạp khi định nghĩa BBN Cụ thể là nghiên cứu này nhận thấy

có sự thiếu rõ ràng trong định nghĩa “bóc lột,” một trong những khái niệm cốt lõi trong phần lớn những định nghĩa BBN, nên chưa rõ một người phải bị bóc lột đến mức độ nào mới được xem xét là đã “bị buôn người.” Vì lý do này, để tránh việc nhóm nghiên cứu tự quyết định chủ quan “ai là NBBB,” và vì lý do đạo đức (để tránh phỏng vấn những người vẫn đang trong tình trạng bị buôn bán), nhóm đối tượng nghiên cứu được định nghĩa là “các cá nhân đang sử dụng dịch vụ hỗ trợ sau BBN.” Bằng cách này, nhóm đối tượng nghiên cứu được lựa chọn

từ nhóm người sử dụng dịch vụ, và mục đích của nghiên cứu là cung cấp thông tin cho các trung tâm hỗ trợ về nhu cầu của người sử dụng Các phát hiện của nghiên cứu chỉ áp dụng với đối tượng nghiên cứu đang sử dụng dịch vụ hỗ trợ trong thời gian nghiên cứu, và không chắc chắn có thể áp dụng với toàn bộ số người sử dụng dịch vụ hỗ trợ sau khi bị BBN Tuy nhiên, đội ngũ nghiên cứu hy vọng rằng các phát hiện của nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin về các hình thái nguy cơ rủi ro sức khỏe, kết quả, và nhu cầu hỗ trợ cho các cơ sở dịch vụ hỗ trợ và chính sách cho NBBB trong cho các mục đích khác nhau trong và ngoài Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng

Báo cáo này trình bày các kết quả nghiên cứu chính và đưa ra những khuyến nghị mà đội ngũ nghiên cứu hy vọng sẽ giúp cho việc phát triển những chính sách y tế phối hợp để có những đáp ứng, chiến lược cho các dịch vụ chăm sóc y tế chuyên biệt, và chăm sóc có tính cá nhân cho NBBB ở Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng

Trang 29

Mục tiêu

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này là:

(a) Cung cấp tư liệu về hậu quả sức khỏe của NBBB trong suốt quá trình BBN;(b) Xem xét các thay đổi theo thời gian về sức khỏe thể chất và tinh thần;

(c) So sánh những điều kiện sống và làm việc, chỉ số giữa bạo hành và sức khỏe phân loại theo mức độ bóc lột, quốc gia, nhóm tuổi, và giới tính;

(d) Mô tả về phản ứng xã hội (ví dụ như cảm giác tội lỗi, xấu hổ, trao quyền, kỳ thị, v.v…) đối với BBN;

(e) Xem xét các yếu tố nguy cơ liên quan tới hậu quả sức khỏe nghiêm trọng về thể chất và tinh thần;

(f) Cung cấp tư liệu về nhận thức của cá nhân về nhu cầu chăm sóc y tế; và

(g) Tìm hiểu khía cạnh giới và các hình thức nguy cơ liên quan đến bóc lột, triệu chứng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe

Báo cáo nghiên cứu này trình bày về tần suất hậu quả sức khỏe và tình trạng bóc lột, bao gồm những điều kiện sống và làm việc, bạo hành, phản ứng xã hội và những nhận thức của cá nhân về những nhu cầu chăm sóc

Nhận thấy rằng di cư thường là một phần của quá trình mà NBBB trải qua, báo cáo này trình bày những phát hiện theo giai đoạn di cư: trước di cư và bị lừa tuyển dụng; nơi đến và quá trình bị bóc lột; và hòa nhập hay tái hòa nhập sau khi thoát khỏi nạn buôn người

Trang 30

Mục Tiêu Nghiên Cứu

Khung Khái Niệm

Biểu đồ 1: Các giai đoạn trong quá trình BBN

• Rủi ro đi lại cao

• Bạo hành khởi phát

• Tịch thu giấy tờ

BÓC LỘT

• Điều kiện sống và

làm việc kém

• Bạo hành thể xác, tinh thần, tình dục

• Không có tự do đi lại

BỊ GIAM GIỮ

• Điều kiện sống thiếu thốn, mất vệ sinh

• Điều kiện nhiều căng thẳng

• Thiếu tiếp cận dịch vụ

BỊ TÁI BUÔN BÁN

• Đặc biệt dễ bị tổn thương sau khi đã bị bóc lột, kỳ thị, và ít cơ hội việc làm

Zimmerman và cộng sự 2011Nghiên cứu được thiết kế dựa trên khung khái niệm: “Các giai đoạn trong Quá trình BBN,” trong đó có ghi nhận các bước trong quá trình di cư và nguy cơ về sức khỏe cũng như các cơ hội để can thiệp trong từng giai đoạn của quá trình Khung khái niệm này củng cố mục đích và hướng dẫn xây dựng các công cụ và việc phân tích nghiên cứu, ngoài ra nó còn hướng dẫn lý thuyết về thay đổi có tính đến vị trí địa lý và thời điểm tốt nhất để can thiệp và giúp đỡ bảo vệ người

di cư khỏi bị nguy cơ rủi ro

Trang 31

Phương Pháp Nghiên Cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu về BBN, Bóc lột và Lạm dụng ở Tiểu vùng sông Mê-Kông mở rộng (STEAM) là một nghiên cứu quan sát cùng đối tượng trong một khoảng thời gian dài Báo cáo này chủ yếu trình bày các tần suất được tính toán dựa trên kết quả của lần phỏng vấn thứ nhất (nghiên cứu cắt ngang đầu tiên) Ngoài ra còn có báo cáo số liệu của đối tượng nghiên cứu được tiếp tục theo dõi trong 30-60 ngày sau phỏng vấn lần đầu, mặc dù trong quá trình thực hiện nghiên cứu, có nhiều đối tượng không tới tham gia lần phỏng vấn tiếp theo

Mẫu khảo sát

Các đối tượng nghiên cứu là nam giới, phụ nữ, và trẻ em từ 10 tuổi trở lên (n=1,102) đang sử dụng dịch vụ hỗ trợ tại Campuchia, Thái Lan và Việt Nam Mẫu được chọn theo hai giai đoạn Trong giai đoạn đầu, các dịch vụ hỗ trợ sau BBN được lựa chọn có chủ đích theo quốc gia (6 dịch vụ ở Campuchia, 4 ở Thái Lan, và 5 ở Việt Nam – theo Bảng 1) dựa trên sự đa dạng của người sử dụng, quan hệ đối tác với văn phòng IOM tại các nước và Quỹ Anesvad, và thỏa thuận với các cơ quan của chính phủ các nước nếu có Các trung tâm hỗ trợ nhiều NBBB (nam giới, phụ nữ, và thanh thiếu niên) vì nhiều mục đích khác nhau (ví dụ như bóc lột tình dục, lao động cưỡng bức, ăn xin) và được nhận hỗ trợ tại Tiểu vùng sông Mê Kông sau khi bị buôn bán

Trang 32

Phương Pháp Nghiên Cứu

Bảng 1: Khái quát về các cơ sở dịch vụ tham gia ở Campuchia, Thái Lan và Việt Nam

4 nhà tạm lánh của tổ chức

phi chính phủ ở tỉnh và 2

trung tâm ở Phnôm Pênh,

gồm:

Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM),

Phnôm Pênh, hỗ trợ nam giới,

phụ nữ, và trẻ em bị buôn

bán tự nguyện trở về

Trung tâm chăm sóc sức khỏe

cho Trẻ em (HCC) – Trung

tâm Một Ngày tốt – các tỉnh

Kandal và Koh Kong

Trung tâm Bảo vệ Quyền Trẻ

em Campuchia (CCPCR) thông

qua nhà tạm lánh ở các tỉnh

Svay Rieng và Siem Reap

Đại diện cho Phụ nữ trong

hoàn cảnh khó khăn (AFESIP

Campuchia) nhà tạm lánh cho

phụ nữ và trẻ em ở Phnôm

Pênh

Mạng lưới Trẻ em không biên

giới (KNK) nhà tạm lánh cho

trẻ em ở tỉnh Battambang

Trung tâm trung chuyển

Poipet (PTC) ở tỉnh Banteay

Meachey, trẻ em và phụ nữ

yếu thế là nạn nhân của BBN

hồi hương trở về từ Thái Lan

do sắp xếp giữa các chính phủ

4 nhà tạm lánh của chính phủ, 3 nhà ở các tỉnh miền Trung và 1 nhà ở một tỉnh miền Nam Thái Lan, đó là:

Trung tâm Bảo vệ và

Phát triển Nghề nghiệp Kredtrakam - phụ nữ và

trẻ emTrung tâm Bảo vệ và phát triển nghề nghiệp cho nam giới - nam giớiTrung tâm Bảo vệ và Phát triển Nghề nghiệp Srisurat

- phụ nữ và trẻ emNhà tiếp nhận trẻ em nam Pakkred (nhà tạm lánh Phumvet) - trẻ em nam

2 trung tâm hỗ trợ xã hội của chính phủ, 3 nhà tạm lánh của tổ chức đoàn thể và phi chính phủ, hoạt động tại các vùng khác nhau của Việt Nam, đó là:Trung tâm hỗ trợ phụ nữ và trẻ em trong hoàn cảnh khó khăn tỉnh Cần Thơ (AAT)

Trung tâm hỗ trợ xã hội tỉnh Lạng Sơn

Trung tâm dạy nghề, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Ninh

Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Lào Cai

Trung tâm phụ nữ và phát triển (Ngôi nhà bình yên)

Trong giai đoạn chọn mẫu thứ 2, mẫu tiếp theo gồm các đối tượng nghiên cứu được mời tham gia phỏng vấn trong vòng 2 tuần (0 đến 14 ngày) sau khi được nhận vào cơ sở dịch vụ hỗ trợ Tất cả các cá nhân đạt đủ điều kiện sau được mời phỏng vấn trực tiếp:

(a) Người sử dụng dịch vụ của trung tâm hỗ trợ sau BBN, trong vòng 10 ngày hoặc trước khi tham gia phỏng vấn;

Trang 33

(b) 10 tuổi trở lên; và

(c) Đủ điều kiện sức khỏe thể chất, tinh thần (do cán bộ trung tâm chứng nhận)

Số lượng đối tượng nghiên cứu được tính toán để ước tính tỉ lệ của ba kết quả nghiên cứu: trầm cảm, lo lắng, và bạo hành Đội ngũ nghiên cứu cũng đã xem xét

kỹ việc cần có dữ liệu ở cấp quốc gia

Tính toán mẫu cho thấy mỗi nước cần phỏng vấn với cỡ mẫu là 384 người để đủ đạt mục tiêu nghiên cứu

Phỏng vấn lần hai được tiến hành trong vòng 30-90 ngày sau lần phỏng vấn đầu tiên

Bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên công cụ được sử dụng trong một nghiên cứu trước đây ở châu Âu cho NBBB vì mục đích mại dâm4, sau đó được chỉnh sửa hơn bởi đội ngũ nghiên cứu chính tại LSHTM và có tham vấn với nhóm của IOM, nhóm chỉ đạo nghiên cứu STEAM và các chuyên gia về nạn BBN trong vùng và quốc tế Bảng câu hỏi bao gồm câu hỏi về điều kiện kinh tế xã hội, tiếp xúc trước khi bị buôn bán, điều kiện sống và làm việc trong khị bị buôn bán, bạo hành, tình trạng sức khỏe, những kế hoạch và mối quan tâm sau khi bị buôn bán

Tình trạng sức khỏe tinh thần được đánh giá bằng sử dụng bảng câu hỏi sàng lọc về trầm cảm và rối loạn lo âu (Bảng kiểm các Triệu chứng Hopkins-25), và rối nhiễu stress sau sang chấn PTSD (Bảng câu hỏi Sang chấn Harvard).5_6_7 Các công cụ này được dùng để phát hiện mức độ triệu chứng liên quan đến các rối loạn này, nhưng không phải là công cụ chẩn đoán Các phát hiện trình bày các triệu chứng liên quan đến các rối loạn nhưng không phải là chẩn đoán lâm sàng

Phần liên quan đến bạo hành được dựa trên câu hỏi về hành vi của Tổ chức Y

tế Thế giới về bạo hành thể chất và tình dục.8 Các câu hỏi này miêu tả các hành

vi bạo hành mà đối tượng nghiên cứu có thể phải chịu trước và trong quá trình buôn người Phần này được bổ sung với các hành vi mà NBBB thường báo cáo khi sử dụng dịch vụ hỗ trợ và nhà tạm lánh Câu hỏi về quan hệ giữa kẻ buôn người và đối tượng nghiên cứu được hỏi riêng đối với bạo hành thể chất và bạo hành tình dục Đội ngũ nghiên cứu cũng hỏi các đối tượng về việc bản thân họ, hoặc gia đình và người thân của họ bị đe dọa

Bảng câu hỏi được chuyên gia dịch thuật và đội ngũ phòng chống BBN của IOM tại các nước dịch sang tiếng Khmer, Thái, Việt, và Lào Bản dịch được rà soát lại trong quá trình tập huấn và thử nghiệm bảng câu hỏi Cuối cùng bản dịch lại được dịch ngược sang tiếng Anh và hoàn tất sửa đổi lần cuối

Trang 34

Phương Pháp Nghiên Cứu

Thu thập và phân tích số liệu

Vì lý do đạo đức và hậu cần, cán bộ của các trung tâm hỗ trợ tại ba nước đã tiến hành phỏng vấn Văn phòng IOM tại các nước đã điều phối thu thập và nhập số liệu dưới sự giám sát của trường Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh nhiệt đới London (LSHTM)

Nghiên cứu thực địa được tiến hành từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 5 năm

2013

Nhập số liệu lần đầu và lần hai đã được trường Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh nhiệt đới London hợp nhất và làm sạch Số liệu được phân tích bằng phần mềm STATA 13

Trong báo cáo này, đội ngũ nghiên cứu chỉ trình bày thống kê mô tả từ nghiên cứu Chúng tôi đã không trình bày những kiểm định độ tin cậy về những so sánh được mô tả trong báo cáo, vì những phân tích sâu hơn sẽ có trong các ấn phẩm sau này về các chủ đề cụ thể

Cần chú ý rằng các giá trị bị thiếu được đưa vào trong mẫu thức cho số liệu được trình bày trừ khi được trình bày khác đi

Tiêu chuẩn đạo đức

Quy trình chặt chẽ về đạo đức và an toàn được soạn thảo và thực hiện theo

Khuyến nghị về vấn đề Đạo đức và An toàn của Tổ chức Y tế Thế giới cho Phỏng vấn Phụ nữ bị buôn bán (tác giả của khuyến nghị cũng là một trong các nhà

nghiên cứu chính của dự án này) Quy trình đạo đức bao gồm hướng dẫn về chấp thuận được cung cấp đầy đủ thông tin, tính vô danh, bảo mật, và riêng tư, giải quyết tình huống khó xử, khi nào nên kết thúc phỏng vấn, và quy trình chuyển gửi Việc phê duyệt vấn đề đạo đức được Đại học Vệ sinh dịch tễ và các Bệnh nhiệt đới London và hội đồng đạo đức tại nước sở tại tiến hành Ở Campuchia, việc phê duyệt do Hội đồng Đạo đức quốc gia về Nghiên cứu Sức khỏe (Bộ Y tế) Tại Việt Nam, Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế Công Cộng và ở Thái Lan, các chuyên gia của Bộ Phát triển Xã hội và An ninh Con người đã xét duyệt tiêu chuẩn đạo đức của nghiên cứu này

Trang 35

Tổng Quan về các dịch vụ hỗ trợ và chuyển

tuyến hậu BBN ở Campuchia, Thái Lan, và

vị thành niên không nơi nương tựa, và đào tạo nghề

Các cơ quan chính phủ khác có tham gia là Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế, các đại sứ quán và lãnh sự quán ở nước ngoài có liên quan, làm việc với chính quyền địa phương và các cơ quan quốc tế tại các nước đến để xác định và hồi trả nạn nhân người Campuchia bị buôn bán trở về Campuchia

Thái Lan

Tại Thái Lan, các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về chuyển tuyến gồm Cảnh sát Hoàng gia Thái Lan (Cục Phòng chống BBN- AHTD), Bộ Tư pháp (Cục điều tra đặc biệt - DSI), Cục xuất nhập cảnh, và Bộ Phát triển Xã hội và An Ninh Con Người (Cục Phát triển xã hội và Phúc lợi - DSDW) Quá trình chuyển gửi các nạn nhân của nạn BBN ở Thái Lan được thực hiện thông qua các “Đội đa ngành” (MDT) về chống BBN MDT bao gồm một nhóm các cán bộ chuyên môn đến từ các lĩnh vực khác nhau để tiến hành đánh giá toàn diện và tư vấn về tất cả các vụ BBN Nhóm này bao gồm các tổ chức chính phủ và phi chính phủ ở cấp địa phương, quốc gia và song phương, làm việc ở mỗi giai đoạn của quá trình, bao gồm việc tiếp nhận/ báo cáo các sự vụ, giải cứu, xác định nạn nhân, trợ giúp pháp lý, bảo vệ, cho đến việc hồi hương trở về và tái hòa nhập Tại Thái Lan, cách tiếp cận MDT được phản ánh thông qua việc lập các biên bản ghi nhớ giữa các cơ quan liên quan, ví dụ, giữa chính phủ và các tổ chức phi chính phủ (NGO)

Trong khuôn khổ của MDT, khi các nạn nhân bị buôn bán được cảnh sát, cơ quan xuất nhập cảnh hoặc các tổ chức phi chính phủ phát hiện hay giải cứu, họ sẽ được chuyển gửi đến DSDW để hỗ trợ thêm

Trang 36

Tổng Quan về các dịch vụ hỗ trợ và chuyển tuyến hậu BBN ở Campuchia, Thái Lan, và Việt Nam

Việt Nam

Tại Việt Nam, các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm chuyển tuyến các nạn nhân của BBN bao gồm Bộ Công an, cụ thể là Cục Xuất Nhập Cảnh (CXNC) và Cảnh sát hình sự; Bộ đội Biên phòng; Bộ Ngoại giao, cụ thể là các cơ quan đại diện của Việt Nam tại các nước đến; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH), cụ thể là Cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội (CPCTNXH) Tùy theo nhu cầu của NBBB, cá nhân những NBBB đó sẽ được chuyển đến Trung tâm Bảo trợ Xã hội của Chính phủ hoặc các dịch vụ của các tổ chức phi chính phủ, hoặc nhận được hỗ trợ tại cộng đồng

Trang 37

Đặc điểm của các đối tượng tham gia

nghiên cứu

Tỷ lệ trả lời của các đối tượng tham gia nghiên cứu là rất cao ở tất cả các dịch vụ

hỗ trợ được đề cập, trên 98% cho tất cả ba nước Chúng tôi tin rằng sự sẵn lòng của người được phỏng vấn tham gia nghiên cứu có liên hệ đến các bối cảnh trong đó cuộc phỏng vấn được thực hiện (các cơ sở dịch vụ hỗ trợ là nơi các đối tượng tham gia nghiên cứu đang ngụ cư) và quen thuộc với người phỏng vấn (nhân viên phục vụ) Không có khuyến khích vật chất khi tham gia nghiên cứu, và người phỏng vấn nói rõ rằng sẽ không có hậu quả tiêu cực nào từ việc từ chối phỏng vấn

Phụ nữ, Nam giới và Trẻ em

Có 637 phụ nữ tham gia vào nghiên cứu này, chiếm 57,8% của toàn bộ mẫu Có

465 nam giới, chiếm 42,2% số người tham gia Xem Bảng 2

Bảng 2: Giới tính của người tham gia

Nam 465 42,2

Nữ 637 57,8Tổng số 1.102 100.0

Hơn một phần ba (35,1%) số người tham gia là trẻ em (dưới 18 tuổi) Xem Bảng 3

Bảng 3: Độ tuổi của người tham gia (trẻ em / người lớn)

Trẻ em (<18 tuổi) 387 35,1 Người lớn (>=l8 tuổi) 715 64,9Tổng số 1.102 100.0

Hầu hết nam giới trong nghiên cứu trên 18 tuổi, trong khi đó có số lượng xấp xỉ tương đương người lớn và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi Xem Bảng 4

Bảng 4: Giới tính của người tham gia theo nhóm tuổi (người lớn và trẻ em) (n = 1.102)

Trang 38

Đặc điểm của các đối tượng tham gia nghiên cứu

=>35 67 14,4 47 7,4Tổng số 465 100,0 637 100,0

Mẫu người lớn là tương đối trẻ, với tuổi trung bình của phụ nữ (25,2 tuổi; ĐLC= 8,7), thấp hơn một chút so với độ tuổi trung bình của nam giới (27,5; ĐLC = 7,3)

Ba phần tư phụ nữ dưới 28 tuổi và 75% nam giới đều dưới 32 Ngược lại, trong

số các đối tượng tham gia dưới 18 tuổi, phần lớn (90%) là trên 14 tuổi, với tuổi trung bình là 15,8 (ĐLC = 2,0) Tỷ lệ theo giới tính và độ tuổi khác nhau giữa các địa điểm nghiên cứu Ở Campuchia, 88,5% số người tham gia là nam giới, trong khi phần lớn các đối tượng tham gia có nhận các dịch vụ hỗ trợ ở Thái Lan (73,0%) và Việt Nam (72,4%) là nữ Các tỷ lệ này phản ánh một mức độ lớn các nhóm đối tượng đích tham gia các dịch vụ hỗ trợ sau BBN Ví dụ, từ 2011- 2012, IOM - Campuchia thấy số các trường hợp nam giới bị buôn bán để lao động hồi hương thông qua các chương trình hồi hương trong khu vực có xu hướng lớn hơn so với nữ giới, thường là những người giúp việc gia đình trở về từ Malaysia Tại Thái Lan, hai trong số bốn dịch vụ của Thái Lan đưa vào nghiên cứu dành riêng cho phụ nữ và trẻ em, và một nơi ở tạm lánh dành riêng cho các bé trai Một phần lớn các đối tượng tham gia trong nghiên cứu này nhận các dịch vụ

ở Thái Lan (40,3%, n = 444), tiếp theo là Việt Nam (35,3%, n = 389), sau đó là Campuchia (24,4%, n = 269) Ở Campuchia, số người lớn chiếm 92,2% mẫu

và phần lớn là nam giới (88,5%) Tại Thái Lan, chiếm phần lớn của mẫu là trẻ

em (67,3%) và nữ (73,0%) Ở Việt Nam, chiếm phần lớn của mẫu là người lớn (82,8%) và nữ (72,5%) Xem Bảng 6

Bảng 6: Đặc điểm của người tham gia sử dụng dịch vụ theo nước

Campuchia

(n=269) Thái Lan (n=444) Việt Nam(n=389)

Trẻ em 21 7,8 299 67,3 67 17,2 Người lớn 248 92,2 145 32,7 322 82,8

Giới tính

Nam 238 88,5 120 27,0 107 27,5

Nữ 31 11,5 324 73,0 282 72,5

Trang 39

em, thường liên quan đến giai đoạn phát triển cụ thể của một đứa trẻ Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phân tách kết quả theo độ tuổi và giới tính khi thấy phù hợp, để phản ánh sự khác biệt tiềm tàng trong kinh nghiệm, tiếp xúc và hệ quả của đối tượng tham gia.

Nước xuất phát

Các đối tượng trong nghiên cứu này có thể đã và đang được tiếp cận các dịch vụ (a) ở nước quê hương sau khi đã trở về; (b) ở nước đến đang chờ được trở về hoặc được thả; hoặc (c) ở một nước trung chuyển, trong trường hợp họ không đến được nước đích

UNODC, Đánh giá mối đe dọa của tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức - khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, 2011

Trang 40

Đặc điểm của các đối tượng tham gia nghiên cứu

Hơn một phần ba (n = 388, 35,2%) số người tham gia sử dụng dịch vụ trong nghiên cứu này là công dân Việt Nam, và hơn một phần tư (n = 312, 28,3%) là

công dân Campuchia, hợp thành hơn một nửa số người tham gia (63,5%) Chỉ có 14,2% là người Thái Lan Xem Bảng 7

Trong số các đối tượng tham gia nghiên cứu có nhận các dịch vụ hỗ trợ ở Thái

Lan (n = 444, 40,3% tổng số mẫu) - chủ yếu là điểm trung chuyển khu vực hoặc

điểm đến – tỷ lệ lớn nhất là công dân Thái Lan (34,7%) và khoảng một phần

tư từ mỗi nước láng giềng như Myanmar (28,8%) và Lào (26,1%), và 10,1% từ Campuchia

Bảng 7: Tỷ lệ người tham gia tính theo nước xuất phát

Cambodia 312 28,3Trung Quốc 1 0,1Lào 116 10,5Myanmar 128 11,6Thái Lan 156 14,2Việt Nam 388 35,2 Thiếu 1 0,1 Tổng số 1.102 100,0

Theo giới tính và độ tuổi, phần lớn đối tượng nữ của nhóm mẫu đến từ Việt Nam (44,1%); hơn một nửa số nam giới tham gia nghiên cứu là người Campuchia (55,9%); và hơn một phần ba số trẻ em là người Thái Lan (37,5%)

Biểu đồ 2: Phần trăm số người tham gia nghiên cứu theo nước xuất phát

Ngày đăng: 14/01/2020, 17:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w