Chính vì lý do đó, với quá trình tìm hiểu của mình, em đã chọn đề tài “Quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” làm đối
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi xuất phát từ quá
trình làm việc nghiêm túc dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của TS Đào Lê Minh Các
kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực, tin cậy căn cứ vào tình hình thực tếcủa đơn vị công tác
Hà Nội, ngày 08 tháng 06 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Minh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên,giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đào Lê Minh đã hướng
dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lạicho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đạihọc, đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp nhữngngười đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đềtài nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 08 tháng 06 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Minh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤCBẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu luận văn 2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 3
1.1 RỦI RO HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 3
1.1.1 Hoạt động môi giới chứng khoán 3
1.1.2 Rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK 8
1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CTCK 21
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK 21
1.2.2 Vai trò, mục tiêu của hoạt động quản trị rủi ro CTCK nói chung và hoạt động môi giới nói riêng 22
1.2.3 Quy trình quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK 24
1.2.4 Các phương pháp quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK 26
1.2.5 Điều kiện quản trị rủi ro có hiệu quả hoạt động môi giới tại CTCK 28
1.2.6 Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động môi giới tại CTCK 34
1.2.7 Hệ thống kiểm soát nội bộ 34
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI MỘT SỐ CTCK Ở VIỆT NAM 37
Trang 41.3.1 Quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK Hải Phòng (Haseco) 37
1.3.2 Quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK IB ( IBSC) 39
1.3.3 Bài học kinh nghiệm: 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 43
2.1 GIỚI THIỆU CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 43
2.1.1 Giới thiệu quá trình hình thành và phát triển 43
2.1.2 Kết quả hoạt động môi giới của BSC từ 2013-2015 50
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI BSC 57 2.2.1 Cơ sở pháp lý về quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại BSC 57
2.2.2 Tổ chức, bộ máy quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại BSC 69
2.2.3 Quy trình quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại BSC 75
2.2.4 Hệ thống kỹ thuật 77
2.3 ĐÁNH GIÁ TRỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI BSC 78
2.3.1 Kết quả đạt được về QTRR hoạt động môi giới tại BSC 78
2.3.2 Những mặt hạn chế về QTRR hoạt động môi giới tại BSC 80
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 83
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 84
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CỦA BSC TRONG THỜI GIAN TỚI 84
3.1.1 Các định hướng cơ bản 84
Trang 53.1.2 Các chỉ tiêu cơ bản đến năm 2020 88
3.2 GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI BSC 89
3.2.1 Giải pháp chung về phía BSC 89
3.2.2 Các giải pháp hỗ trợ 104
3.3 KIẾN NGHỊ VỚI UBCKNN 109
3.3.1 Xây dựng tổ chức quản trị rủi ro độc lập 109
3.3.2 Tạo môi trường cho hoạt động QTRR diễn ra thuận lợi 110
3.3.3 Nâng cao chất lượng thông tin quản trị rủi ro 110
3.3.4 Xây dựng hệ thống dữ liệu để cung cấp thông tin nhanh chóng, đầy đủ, chính xác 110
3.3.5 Thống nhất quy trình quản trị rủi ro tại các CTCK 111
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 112
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 6DANH MỤCBẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
BẢNG
Bảng 2.1: Thị phần tài khoản của BSC so với thị trường 50
Bảng 3.1: Bảng thống kê một số chỉ tiêu đo lường rủi ro hoạt động chính 104
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Số lượng tài khoản tại BSC 50
Biểu đồ 2.2: Tiền gửi của nhà đầu tư về giao dịch chứng khoán tại BSC 51
Biểu đồ 2.3: Thị phần môi giới của BSC qua các năm (%) 52
Biểu đồ 2.4: Doanh thu môi giới tại BSC qua các năm 53
Biểu đồ 2.5: So sánh Vốn chủ sỡ hữu và Lợi nhuận chưa phân phối giữa 54
các CTCK 54
Biểu đồ 2.6: So sánh tỷ lệ an toàn vốn khả dụng giữa các CTCK 54
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu rủi ro tại các CTCK 56
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Quy trình hoạt động môi giới tại CTCK 6
Sơ đồ 1.2: Quy trình quản trị rủi ro 24
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức BSC 47
Sơ đồ 2.2 Quy trình quản trị rủi ro tại BSC 76
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức có phòng quản trị rủi ro khối dịch vụ 90
Sơ đồ 3.2: Quy trình quản trị rủi ro đề xuất đối với BSC 91
Sơ đồ 3.3 Mô hình mối quan hệ giữa các thành phần của rủi ro hoạt động 103
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
CN/PGD Chi nhánh/ Phòng giao dịch
CTCK Công ty chứng khoán
HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Haseco Công ty cổ phần Chứng khoán Hải Phòng
HSX Sở Giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ
KSNB Kiểm soát nội bộ
BSC Công ty CP Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
QTRR Quản trị rủi ro
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
TTCK Thị trường chứng khoán
UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
UpCom Thị trường Giao dịch chứng khoán chưa niêm yết
VSD Trung tâm lưu ký Chứng khoán
IBSC Công ty chứng khoán IB
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết
Một những đặc trưng của TTCK là hoạt động theo nguyên tắc trung gian Vớiđặc trưng này, các giao dịch trên TTCK đều phải thông qua các công ty môi giới vàcác nhân viên môi giới Do đó hoạt động môi giới chứng khoán tất yếu ra đời mộtmặt đã đáp ứng yêu cầu phát triển cần thiết của TTCK, mặt khác góp phần rút ngắnkhoảng thời gian cần thiết để tạo lập kênh huy động vốn trung và dài hạn cho côngcuộc tăng trưởng kinh tế của đất nước
BSC kể từ những ngày đầu thành lập đã luôn chú trọng phát triển hoạt độngmôi giới của mình Tuy mới hoạt động hơn 15 năm, nhưng hoạt động môi giới củacông ty vẫn ngày một lớn mạnh, BSC đúng vào danh sách những CTCK có thị phầnMGCK lớn nhất Việt Nam những năm gần đây Điều này giúp khẳng định vị thế,chỗ đứng của bộ phận môi giới BSC cũng như hình ảnh, uy tín đối với nhà đầu tưtrên TTCK
Tuy nhiên song hành với những thành công đó, BSC luôn gặp những rủi rothường trực (như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động…), với nhiềubiến tướng ngày càng tinh vi và hậu quả để lại hết sức nặng nề Vì thế việc quản trịrủi ro hoạt động môi giới như thế nào thời điểm hiện tại và tương lai nhằm hạn chếnhững rủi ro đó đang là một yêu cầu bức thiết được đặt ra Đây cũng là một nhữngnội dung quan trọng quá trình tái cấu trúc CTCK Việt Nam khuôn khổ chiến lượcphát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2012-2020 Chính vì lý do đó, với quá trình
tìm hiểu của mình, em đã chọn đề tài “Quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại Công
ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” làm đối
tượng nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn đóng góp phầnnào đó giúp công tác quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại BSC nói riêng và hoạtđộng môi giới tại tất cả các CTCK trên thị trường nói chung ngày một được chútrọng và chuyên nghiệp hơn
2 Mục đích nghiên cứu
Về mặt lý luận, hệ thống hóa các lý luận cơ bản về các loại rủi ro trên thịtrường chứng khoán và quản trị rủi ro hoạt động môi giới chứng khoán của CTCK
Trang 9Về mặt thực tiễn, nhận diện rủi ro hoạt động Môi giới chứng khoán trên TTCKViệt Nam và tại CTCK Khảo sát quy trình QTRR hoạt động Môi giới của một số CTCK
ở Việt Nam từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tại CTCK
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro và QTRR hoạt động Môi giới của CTCK BSC.Phạm vi nghiên cứu: QTRR hoạt động Môi giới tại CTCK BSC giai đoạn từ2013-2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, thống kê trong suốt quá trình nghiêncứu luận văn
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có
Trang 10CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG
MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 RỦI RO HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Hoạt động môi giới chứng khoán
1.1.1.1 Khái niệm môi giới chứng khoán
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quy mô trao đổi hàng hoángày càng lớn với chủng loại ngày càng phong phú và phức tạp Đỉnh cao của nềnkinh tế thị trường là sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán, ở đó ngườimua và người bán trao đổi với nhau một loại hàng hoá đặc biệt, đó là các chứngkhoán hay còn gọi là các tài sản tài chính
Với tư cách là một thể chế bậc cao của nền kinh tế thị trường, một trong nhữngđặc trưng cơ bản của TTCK là hoạt động theo nguyên tắc trung gian Nguyên tắc nàyđòi hỏi việc giao dịch, mua bán hàng hóa trên thị trường phải thực hiện qua các tổchức, cá nhân làm trung gian, đó chính là CTCK và những người hành nghề môi giớichứng khoán Vì vậy, môi giới chứng khoán là một nghề độc quyền trong lịch sửđược pháp luật thừa nhận, bảo hộ và đã được quy định rõ trong luật chứng khoán.Môi giới chứng khoán được hiểu là hoạt động của công ty chứng khoán và củanhân viên môi giới trong sự tương quan chặt chẽ với nhau và với một đối tác chung
là khách hàng – NĐT, để tác động vào sự vận hành và phát triển của TTCK Theo
luật chứng khoán 2006 và 2010 định nghĩa: “Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng”.
Ở đây, chúng ta sẽ xem xét hoạt động môi giới là một giao dịch kinh doanhcủa một CTCK, trong đó CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thôngqua cơ chế giao dịch tại SGDCK hay trên thị trường OTC mà chính khách hàngphải chịu trách nhiệm về kết quả khi đưa ra quyết định giao dịch đó
1.1.1.2 Vai trò của hoạt động môi giới
Đối với nhà đầu tư:
Cung cấp thông tin,tư vấn và giảm thiểu phí giao dịch cho khách hàng:
Với vai trò trung gian của mình, các nhà môi giới đã giúp cho quá trình giaodịch trở nên đơn giản, giúp người mua và người bán (khách hàng nói chung) có nhu
Trang 11cầu tiến hành giao dịch với nhau một cách nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm chi phítối đa, thúc đẩy sự trao đổi - vòng quay của thị trường.
Thông qua các nhân viên môi giới, CTCK cung cấp cho khách hàng các báocáo nghiên cứu thị trường và các khuyến nghị đầu tư Việc thu thập và xử lý cácthông tin này đòi hỏi trang thiết bị và nguồn lực mà chỉ CTCK mới có đủ tiềm năngtài chính để trang trải Theo định kỳ, bộ phận phân tích, nghiên cứu của CTCK cungcấp cho các môi giới rất nhiều thông tin bao gồm các kết quả tổng hợp và phân tíchcủa chính công ty hay đặt mua từ các công ty khác kèm theo các khuyến nghị mua,bán các loại chứng khoán cụ thể Nhân viên môi giới dùng những nguồn thông tinnày để cung cấp cho khách hàng tùy theo yêu cầu và đòi hỏi riêng của các kháchhàng Bên cạnh đó, các nhân viên môi giới còn tiếp cận với các mạng thông tin tàichính đáng tin cậy một cách liên tục để tư vấn kịp thời cho khách hàng
Chính nhờ những thông tin được thu thập và xử lý hết sức công phu này màngười môi giới mới có đủ kiến thức để trở thành 1 nhà tư vấn riêng cho khách hàngcủa mình Thị trường càng phát triển, càng xuất hiện nhiều loại hàng hóa mới thì vaitrò tư vấn của người môi giới càng trở nên quan trọng Mặc dù trong luật Chứngkhoán ở Việt Nam, hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư là 2 nghiệp vụ riêng biệt,nhưng nếu xem xét trên một khía cạnh rộng hơn thì hoạt động môi giới có hàmlượng tư vấn đầu tư rất cao Và cái mà NĐT luôn muốn biết từ các nhà môi giới là:(1) Thời điểm họ nên mua vào hay bán ra một loại chứng khoán; (2) Thông tin cậpnhật mới nhất về thị trường
Vì thế, với trình độ và kinh nghiệm của mình, bằng cách phân tích tình hìnhchung của thị trường, về các chỉ số tài chính của công ty phát hành(P/E, ROE,ROA…), thông qua các biểu đồ kỹ thuật… nhân viên môi giới sẽ hỗ trợ các NĐTđưa ra quyết định đúng đắn, hợp lý - một tỷ lệ tham lam kết hợp với 1 tỷ lệ sợ hãinhất định ở từng thời điểm
Cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện các giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích của khách hàng
Người môi giới nhận lệnh của khách hàng và thực hiện lệnh giao dịch cho họthông qua một quá trình từ mở tài khoản tới xác nhận kết quả giao dịch Sau khigiao dịch thành công, người môi giới còn tiếp tục theo dõi tài khoản khách hàng và
Trang 12đưa ra những khuyến nghị giúp khách hàng có các quyết định đầu tư có lợi nhấttrong tương lai.
Đối với Công ty Chứng khoán:
Mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho công ty chứng khoán:
Với bản chất là tìm kiếm khách hàng và bán hàng trực tiếp, hoạt động môi giớichứng khoán là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chính cho bất kỳ công ty chứngkhoán nào
Đối với Thị trường Chứng khoán:
Góp phần phát triển các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường chứn khoán
Từ hoạt động môi giới cho khách hàng các nhà môi giới có thể nắm bắt đượcnhững nhu cầu, tâm lý, mong muốn của khách hàng để từ đó đưa ra các giải pháp,kiến nghị và đề ra các sản phẩm phù hợp để đáp ứng những nhu cầu dù nhỏ nhất của
đa dạng bộ phận khách hàng từ đó góp phần làm phong phú thêm các sản phẩm trênthị trường chứng khoán và ngày càng thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia thịtrường chứng khoán
Chính nhờ vai trò này ngoài các sản phẩm truyền thống của thị trường chứngkhoán như cổ phiếu, trái phiếu …đã tạo ra chứng khoán phái sinh, hợp đồng quyềnchọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai…góp phần thúc đẩy thị trường chứngkhoán phát triển
Góp phần hình thành văn hóa đầu tư
Trong nền kinh tế thì thu nhập của gia đình sau khi trang trải các nhu cầu cơbản của cuộc sống thì phần thu nhập còn lại được chi tiêu cho những mục đích phisản xuất khá cao trong khi nền kinh tế lại thiếu vốn trầm trọng Khi nhân viên môigiới tiếp cận được với những khách hàng này, họ mang theo những sản phẩm tàichính phù hợp với nhu cầu khách hàng từ đó giới thiệu và tư vấn những tiện ích củacác sản phẩm mang lại Lâu dần hoạt động này sẽ trở thành thói quen đầu tư của họ
vì họ nhận thấy không nên để đồng tiền của mình nhàn rỗi Cao hơn nữa là qua quátrình tham gia vào thị trường tài chính, họ hình thành kỹ năng phân tích, lựa chọn vàphối hợp những sản phẩm với nhau để giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận củabản thân Như vậy, hoạt động môi giới chứng khoán sẽ ngày càng thâm nhập vào
Trang 13cộng đồng xã hội, vào mọi tầng lớp dân cư và góp phần tạo nên “ văn hóa đầu tư”cho xã hội.
Cải thiện mội trường kinh doanh:
Hoạt động môi giới chứng khoán tạo ra môi trường pháp lý và tuân thủ phápluật Thị trường chứng khoán là lĩnh vực dễ nảy sinh những sung đột lợi ích giữacác chủ thể tham gia thị trường do đó hoạt động môi giới chứng khoán sẽ góp phầntạo dựng khung pháp lý cho các chủ thể Hoạt động môi giới chứng khoán sẽ đưapháp luật đến với nhà đầu tư đồng thời nó cũng phản ánh những bất cập trongkhuôn khổ luật chứng khoán để kịp thời có những điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợpvới thực tế đề ra
1.1.1.3 Quy trình môi giới tại CTCK
Quy trình môi giới của CTCK thường thông qua các bước chủ yếu thể hiện ở
sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình hoạt động môi giới tại CTCK
Bước 1: Mở tài khoản cho khách hàng (1)
Bước 2: Nhận lệnh của khách hàng (2)
Bước 3: Chuyển lệnh tới thị trường phù hợp để thực hiện lệnh (3)
Bước 4: Xác nhận kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng (4)
Bước 5: Thanh toán và giao hàng (5)
Bước 1 : Mở tài khoản cho khách hàng
CTCK hướng dẫn khách hàng mở tài khoản ( tài khoản giao dịch hoặc tàikhoản ký quỹ) Tài khoản ký quỹ được sử dụng cho các giao dịch ký quỹ còn tàikhoản giao dịch dùng cho các giao dịch thông thường
(3)(5)
Trang 14Nếu là lệnh bán, CTCK kiểm tra trong tài khoản khách hàng có tồn tại sốchứng khoán đó không trước khi thực hiện lệnh hoặc đề nghị phải ký quỹ một phần
số chứng khoán cần bán nhất định theo quy định của UBCKNN
Nếu là lệnh mua, công ty sẽ kiểm tra xem số tiền trên tài khoản của kháchhàng có đủ để thực hiện không, nếu không công ty sẽ đề nghị khách hàng mức tiền
ký quỹ nhất định trên tài khoản ký quỹ của khách hàng tại công ty (theo quy địnhmới nhất, tỷ lệ này bằng 70% trị giá mua theo lệnh, nhưng thường là 50% giá trịgiao dịch)
Bước 3 : Chuyển lệnh tới thị trường phù hợp để thực hiện lệnh
Trước đây, người đại diện của CTCK gửi tất cả các lệnh mua, bán của kháchhàng tới bộ phận thực hiện lệnh hoặc phòng giao dịch của công ty Tại đây, một thư
ký sẽ kiểm tra xem chứng khoán được mua bán ở thị trường nào ( tập trung,OTC…) Sau đó, người thư ký sẽ gửi lệnh đến thị trường đó để thực hiện
Ngày nay các CTCK có mạng lưới thông tin trực tiếp từ trụ sở chính tới cácphòng giao dịch và không cần có các đại diện sàn trên SGDCK (cơ chế thông sàn)
Do vậy, các lệnh mua, bán được chuyển trực tiếp từ CTCK tới SGDCK mà khôngcần chuyển qua phòng thực hiện lệnh như trước
Bước 4 : Xác nhận kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng
Sau khi lệnh đã được thực hiện (khớp), CTCK sẽ gữi cho khách hàng thông tin
về việc đã thực hiện được lệnh thông qua SMS hay một phiếu xác nhận đã thực hiệnxong lệnh
Bước 5 : Thanh toán và giao hàng:
Hoạt động này bao gồm việc đối chiếu giao dịch và bù trừ các kết quả giaodịch Ở các nước hiện nay, SGDCK sẽ tiến hành bù trừ trên cơ sở nội dung lệnh củacác CTCK chuyển vào hệ thống Những sai sót sẽ do CTCK tự chịu trách nhiệm vàsửa chữa Việc bù trừ các kết quả giao dịch kết thúc bằng việc in ra chứng từ thanhtoán Chứng từ sẽ được gửi cho CTCK Nó là cơ sở để thực hiện thanh toán và giaochứng khoán
Đến ngày thanh toán (T2), chứng khoán sẽ về tài khoản người mua và tiền sẽ
về tài khoản người bán thông qua hệ thống tài khoản của khách hàng tại CTCK
Trang 151.1.2 Rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK
1.1.2.1 Khái niệm về rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK
Khái niệm về rủi ro có thể tìm thấy ở rất nhiều nguồn khác nhau và theo nhiềutrường phái khác nhau:
Theo trường phái truyền thống:
Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố có liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.
Theo trường phái hiện đại:
Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực, nó có thể mang đến những tổn thất, mất mát vừa có thể mang đến những cơ hội.
Theo các tiêu chuẩn quốc tế của Hiệp hội Kiểm toán nộ bộ quốc tế (IIA) định
nghĩa: Rủi ro là khả năng một sự kiện có thể xảy ra và sẽ có ảnh hướng đến việc đạt được các mục tiêu Rủi ro được đánh giá dựa trên sự tác động và khả năng xảy ra 1.1.2.2 Phân loại rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK và mức độ ảnh hưởng
Môi giới là một nghiệp vụ cơ bản của các CTCK, nó có ảnh hưởng mật thiết đếnhình ảnh và uy tín của CTCK cũng như phần doanh thu đóng góp đáng kể mà nó manglại cho CTCK Tuy nhiên, hoạt động này luôn ẩn chứa nhiều rủi ro Trong phạm vinghiên cứu của bài khóa luận này, phần trên đã trình bày khái niệm tổng quát nhất vềrủi ro hoạt động môi giới chứng khoán, do đó, trong phần này chúng Ta sẽ làm rõnhững rủi ro theo từng quy trình nghiệp vụ môi giới:
Hoạt động mở tài khoản cho khách hàng và quản lý tài khoản:
Quy trình mở tài khoản và các bước công việc như sau:
Quản lý tài khoản của khách hàng
Nhận lệnh từ
khách hàng
Truyền lệnh của khách hàng tới Sở GDCK
Nhận kết quả giao dịch từ Sở GDCK
Thông báo kết quả giao dịch tới KH
Trang 16Các rủi ro phát sinh
Mở tài khoản cho khách hàng và Quản lý tài khoản:
Rủi ro có thể xảy ra do không kiểm tra kỹ các thông tin về khách hàng nên dễ dẫnđến các thông số về khách hàng là không chính xác, khách hàng có thể mạo danh ngườikhác đến mở tài khoản để trục lợi cá nhân và hậu quả có thể xảy ra khi các tranh chấppháp lý cho Công ty
Rủi ro từ việc không có các thống kê, đánh giá, phân tích về từng đối tượngkhách hàng do đó công tác tư vấn đầu tư ở bộ phận môi giới sẽ không thực sự hiệu quả,
có thể gây tổn thất cho khách hàng và ảnh hưởng đến uy tín của Công ty Cũng từ việckhông có đánh giá phân loại khách hàng chính xác cũng kéo theo việc gây ra rủi rothiệt hại cho công ty khi cho khách hàng sử dụng các dịch vụ hỗ trợ tài chính
Nhân viên giao dịch nhân phiếu lệnh, nhập sai về số tài khoản, giá, mã chứngkhoán, nhập lệnh mua thành lệnh bán, lệnh bán thành lệnh mua
Nhân viên duyệt lệnh do chủ quan không kiểm tra kỹ giữa phiếu lệnh gốc và lệnhnhập vào hệ thống dẫn đến sự sai sót không đáng có
Nhân viên đọc lệnh sai và đọc thừa, thiếu lệnh của khách hàng hoặc do sự hiểulầm về cách phát âm giữa nhân viên và khách hàng dẫn đến nhầm lệnh của khách hàng.Rủi ro do nhân viên giao dịch không nắm vững được các quy định, quy chế liênquan đến hoạt động giao dịch chứng khoán và các quy định của SGDCK; thái độ làmviệc không tập trung, thiếu cẩn trọng dẫn đến việc thực hiện các khâu nhập, hủy và sửagây ra rủi roc ho khách hàng và công ty
Rủi ro từ việc nhân viên giao dịch lạm dụng quyền hạn và nhiệm vụ của mình đểtranh lệnh của mình trước lệnh của khách hàng
Trang 17Nhân viên giao dịch lạm dụng tài khoản của khách hàng để kinh doanh chứngkhoán cho mình.
Do việc kiểm soát lệnh của khách hàng không chặt chẽ dẫn đến việc khách hàngđặt mua chứng khoán quá số tiền hoặc đặt bán chứng khoán quá số dư dẫn đến việc bánkhống chứng khoán ( điều này trái với những quy định của pháp luật)
Tư vấn sai cho khách hàng hoặc xúi giục khách hàng mua bán, kinh doanh chứngkhoán
Các rủi ro do việc thực hiện không đúng quy trình của Bộ phận và do sự thiếukiểm tra, kiểm soát giữa các bộ phận có liên quan trong công ty
Rủi ro từ hệ thống công nghệ thông tin:
Trong hoạt động giao dịch chứng khoán niêm yết thì việc xảy ra những sự cố từ
hệ thống công nghệ thông tin không thường xuyên nhưng khi xảy ra thì hậu quả của nó
là rất lớn
Những rủi ro này có thể xuất phát từ: Lỗi hệ thống phần mềm, lỗi đường truyềnlệnh tới màn hình nhập lệnh tại SGDCK, lỗi đường truyền giao dịch internet hay lỗi doviệc nhận kết quả đường truyền từ hai trung tâm giao dịch về hệ thống của công ty( bảng giá, nhận kết quả ) điều này không chỉ gây ảnh hưởng cho việc thực hiện giaodịch của khách hàng mà còn ảnh hưởng hoạt động nghiệp vụ của Bộ phận và ảnhhưởng đến uy tín của CTCK
Tất cả những nguyên nhân trên xảy ra đều gây ra những thiệt hại nhất định chohoạt động của kinh doanh dịch vụ khách hàng cũng như của Công ty Bên cạnh đó, nócòn gây ra nhiều khó khan trong việc kiểm soát, quản lý Trên cơ sở đó, viecj đưa raquy trình quản lý rủi ro là hết sức cần thiết không chỉ với bộ phận dịch vụ khách hàng
mà còn đói với cả hoạt động của CTCK
Hoạt động Tư vấn đầu tư Chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc CTCK cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phântích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán
Quy trình nghiệp vụ tư vấn đầu tư:
CTCK/ nhà tư vấn
nhận yêu cầu tư
vấn
Ký hợp đồng tư vấn đầu tư
Thực hiện hợp đồng
Thanh lý hợp đồng
Trang 18 Các rủi ro phát sinh:
- Cung cấp thông tin sai lệch hay không chính xác cho khách hàng;
- Dụ dỗ, chào mời khách hàng mua hay bán một loại chứng khoán nào đó;
- Đưa ra khuyến nghị không phù hợp;
- Không quản lý tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng;
- Không bảo mật thông tin khách hàng theo quy định;
Hoạt động Lưu ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoáncho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứngkhoán
Quy trinh nghiệp vụ lưu ký chứng khoán:
Các rủi ro phát sinh: Với những bước cụ thể của quy trình lưu ký ở trên đều
xuất hiện những rủi ro ảnh hưởng gây thiệt hại tới tài sản, hình ảnh của công ty Rủi rokhông chỉ xuất hiện tương ứng với từng bước của quy trình lưu ký CK, mà còn xuyênsuốt trong quá trình lưu ký chứng khoán
Rủi ro phát sinh khi tiếp nhận hồ sơ lưu ký chứng khoán:
- Những sai sót về thông tin trên phiếu gửi : họ tên, CMTND, số lượng, mã CK,
số tài khoản lưu ký của khách hàng tại CTCK
- Nhân viên lưu ký không kiểm tra chứng minh thư giữa số cổ đông và tài khoản
Do khách hàng làm lại chứng minh thư dẫn đến số chứng minh thư mà tổ chức pháthành gửi lên TTLKCK không đúng với sổ cổ đông TTLKCK không chấp nhận lưu kýchứng khoán cho khách hàng
- Thiếu giấy ủy quyền của người được ủy quyền khi khách hàng mang sổ củangười ủy quyền đến lưu ký
- Mất mát khi lưu hồ sơ cho khách hàng
(3)Thực hiện quyền sở hữu chứng khoán lưu ký
(4)Thu phí lưu
ký chứng khoán
(5)Lập báo cáo khi có yêu cầu
Trang 19- Mẫu biểu của phiếu gửi không đúng quy cách.
Rủi ro phát sinh khi tái lưu ký tại TTLKCK:
Nhân viên gửi thiếu hồ sơ lên TTLKCK Gây chậm quá trình lưu ký chứngkhoán Đối với KH tổ chức cần thêm giấy phép đăng ký kinh doanh và giấy ủy quyền.Khi mà người đại diện của các tổ chức không thể ký trực tiếp các phiếu gửi CK được.Cần phải kèm theo giấy ủy quyền hợp pháp cho một ai đó trong tổ chức ký Chú ýdanh sách sở hữu 2 liên có chữ ký của tổng giám đốc, đóng dấu xác nhận của công ty.Nhân viên lưu ký hạch toán vào phần mềm: sai số tài khoản, sai mã CK, sai sốlượng chứng khoán khi hạch toán vào hệ thống
Hạch toán CK vào hệ thống sai loại chứng khoán
Nhân viên lưu ký tái lưu ký chậm cho KH do không theo dõi chấp thuận lưu ký
CK của khách hàng từ TTLKCK ( Khi nhân viên lưu ký tiếp nhận trước hồ sơ lưu kýcho khách hàng, tại thời điểm đó TTLKCK chưa nhận lưu ký CK cho khách hàng).Mất mát hồ sơ tại TTLKCK
Khi mang hồ sơ đến TTLKCK trễ giờ
Rủi ro phát sinh khi thực hiện các quyền liên quan về chứng khoán sở hữu:
Hạch toán thiếu CK/ tiền cổ tức
Hạch toán 2 lần CK/ tiền cổ tức
Hạch toán nhầm tài khoản của khách hàng, nhầm mã CK;
Việc hạch toán T+2 tiền và CK cho khách hàng thực hiện đúng theo quy địnhthanh toán bù trừ Cụ thể việc hạch toán CK sẽ được tiến hành làm chiều sau khi Bộphận giao dịch đã kết thúc vcacs công việc của Bộ phận như đối chiếu kết quả khớplệnh với TTLKCK, tránh trường hợp bán khống chứng khoán
Thông báo không kịp thời khiến khách hàng bị mất quyền lợi đăng ký mua cổphiếu phát hành thềm
Chuyển nhượng quyền mua không kịp thời khiến khách hàng bị mất quyền lợimua cổ phiếu phát hành thêm;
Lập danh sách người sở hữu chứng khoán lưu ký thiếu Do không theo dõithường xuyên và đầy đủ các thông tin từ TTLKCK;
Chuyển dánh sách tới TTLKCK chậm hơn so với yêu cầu của TTLKCK;
Trang 20Việc chốt danh sách diễn ra có những sai sót như: chốt sai ngày, khiến nhữngngười không có CK cũng được hưởng quyền Những người có CK lại không đượchưởng quyền, sai số lượng giữa tự doanh và môi giới.
Hạch toán chậm cho khách hàng khi có giẩy báo nợ từ TTLKCK;
Mất mát chứng từ từ TTLKCK khi thành viên đã chuyển lên rồi
Hoạt động kế toán tài chính
Kế toán giao dịch khách hàng
Khách hàng nộp rút tiền hoặc chuyển tiền đi tại TK đã mở tại CTCK:
Quy trình nộp tiền mặt trên TK giao dịch tại CTCK:
Quy trình rút tiền mặt, chuyển khoản đi từ TK giao dịch tại CTCK:
Các rủi ro phát sinh:
- Khách hàng có thể điền sai số CMT, nhầm số TK khi nộp rút tiền;
- Nhầm số tiền, tên NH và người hưởng thụ;
Trang 21- Khi chuyển tiền đi theo yêu cầu KH không hạch toán ngay ( UNC) khách hàng
vẫn có thể đến CN, P.GD rút tiền tại quầy
Hoạt động ứng trước và cầm cố chứng khoán
Khách hàng ứng trước tiền bán chứng khoán:
- Kế toán in lại xác nhận kết quả giao dịch, chọn đủ số CK tương ứng với số tiền
cần ứng trước Tiến hành làm hợp đồng ứng trước cho khách hàng ký xác nhận tiếnhành hạch toán để đổ tiền vào trong TK Khách hàng
- Đến hạn thanh toán T+2, khi tiền bán CK về, kế toán tiến hành thu nợ ngay
trước khi giao dịch bắt đầu, vào đầu giờ sáng
Khách hàng cầm cố chứng khoán:
- Khách hàng vay cầm cố chứng khoán ( cầm cố CK): Nhân viên kế toán làm hợp
đồng cầm cố CK cho khách hàng; Phong tỏa chứng khoán cầm cố trên phần mềm,chuyển hồ sơ vay vốn cho ngân hàng cho vay phê duyệt phát vay; Hạch toán tiền nợvay cầm cố CK cho khách hàng khi nhận được hồ sơ phê duyệt của Ngân hàng
- Khách hàng thanh toán nợ vay: Làm hồ sơ thanh toán nợ cho khách hàng,
chuyển NH phê duyệt; Hạch toán thu nợ trên TK của khách hàng, giải tỏa CK cầm cốkhi đã nhận được phê duyệt của NH
Các rủi ro phát sinh:
- Khách hàng khi có nhu cầu vay vốn ít khi tìm hiểu kỹ các thông tin về cầm cố,
nắm bắt các thông tin sơ sài, không theo dõi tình hình lãi suất, các điều khoản trongcầm cố, thời gian vay do vậy thường xuyên có thắc mắc và không hợp tác khi đến kỳtrả nợ
- Khách hàng bán ngay CK cầm cố ngay trong ngày làm thủ tục vay vốn, do vậy
không tạo được hồ sơ cầm cố, các mã CK lệch so với hồ sơ gốc, dẫn tới NH sẽ khôngthực hiện giải ngân cho khách hàng
- Khách hàng thiếu chữ ký trong hồ sơ vay vốn.
- Nhân viên tính sai tỷ lệ cho vay các mã cầm cố của khách hàng, do đó dẫn đến
phát vay sai số tiền khách hàng được phép vay Khách hàng không hoàn lại số tiền đãphát vay thừa
- Hồ sơ chuyển chậm hoặc không chuyển sang Ngân hàng do thất lạc trong quá
trình lưu chuyển hồ sơ nên thời gian phát vay của Ngân hàng không trùng với thời gian
Trang 22phát vay tại CTCK gây ra chênh lệch trong sổ phụ Ngân hàng cũng như những chênhlệch do tính lãi khi tất toán hợp đồng cầm cố.
- Khách hàng không đủ điều kiện vay cầm cố ( do hết hạn mức cho vay, hoặc
thiếu giấy ủy quyền ký kết các hợp đồng cầm cố), Ngân hàng không phát vay nhưngnhân viên kế toán đã thực hiện phát vay trên phần mềm, khách hàng đã sử dụng tiềncho vay và không có khả năng hoàn lại nợ trong thời gian ngắn
- Trong quá trình luân chuyển hồ sơ, hồ sơ vay vốn của khách hàng bị thất lạc
hoặc fax sang ngân hàng không đầy đủ, ngân hàng không giải ngân hoặc giải ngânkhông đủ so với số dư nợ tại CTCK
- Hợp đồng được ký tại CTCK do không chuyển đến Ngân hàng để phát vay kịp
thời, hồ sơ được chuyển sang ngày hôm sau mới thực hiện giải ngân nhưng khách hàng
đã đặt lệnh bán chứng khoán, nhân viên kế toán không thực hiện được việc tạo hồ sơnhư đúng hợp đồng đã ký
- Ngân hàng thường không trả lại hoặc thời gian nhận lại các hợp đồng đã ký
thường kéo dài do quá trình lưu chuyển hồ sơ chậm, do vậy khách hàng thường xuyên
có thắc mắc về các điều khoản trong hợp đồng cầm cố
- Không thực hiện đặt lệnh cho khách hàng thiếu tiền mua CK nếu khách hàng
chưa làm hồ sơ cầm cố
- Đối với các khách hàng Vip, khách hàng thương xuyên của CTCK, nếu thiếu
tiền mua CK trong ngày khi chưa hoàn thiện hồ sơ có thể cho KH thiếu tiền ngày T vànhanh chóng hoàn thiện hồ sơ vay vốn để giải ngân trong thời gian sớm nhất, khôngphát vay khi khách hàng không có chữ ký
- Quá trình kiểm tra, kiểm soát cần thực hiện chặt chẽ hơn.
- Thường xuyên đối chiếu số dư với ngân hàng kịp thời phát hiện ra các Hợp
đồng hết hạn để thông báo cho khách hàng, các chênh lệch về số dư nợ, số dư CK cầmcố… đồng thời đối chiếu số dư CK cuối tháng với TTLKCK để sớm phát hiện ra
- Nhân viên không nhập vào phần mềm hồ sơ cầm cố sai dữ liệu về mã CK, số
lượng, thời gian cho vay nên không theo dõi được hợp đồng và thông báo cho kháchhàng khi đến hạn thanh toán
- Nhân viên kế toán không nắm được hạn mức cho vay còn lại của ngân hàng,
ngân hàng thông báo cắt hạn mức đột ngột, không thông báo kịp cho khách hàng
Trang 23- Nhân viên kế toán không chờ báo có của Ngân hàng mà phát vay trước cho
khách hàng gây lệch về thời gian phát vay – thời gian đáo hạn hợp đồng, các khoản lãisuất khách hàng phải trả
- Cả CTCK và Ngân hàng đều không theo dõi được tỷ lệ giảm giá của CK cầm
cố một cách kịp thời
- Khách hàng không hợp tác thanh toán tiền bổ sung hoặc CK để bố sung tài sản,
không liên hệ được với khách hàng trong khi thủ tục phát mại tài sản kéo dài, nếu CKgiảm giá nhanh sẽ không thực hiện được lệnh bán, CK bán không đủ trả cầm cố
- Khách hàng có nhu cầu gia hạn nợ nhưng hầu hết các ngân hàng đều không
thực hiện gia hạn nợ với các món vay cầm cố CK, do vậy khách hàng phải chủ độngnguồn trả nợ, đặc biệt khi thị trường xuống, tính thanh khoản của các mã CK khôngcao
- Chuyển hồ sơ giải tỏa cầm cố sang Ngân hàng chậm, thất lạc hồ sơ, Ngân hàng
không thực hiện thanh toán nợ cho khách hàng, khách hàng vẫn phải chịu lãi món vaycầm cố
- Không quản lý được khách hàng cầm cố khi thực hiện giải tỏa CK.
- Khách hàng bán CK cầm cố nhưng nhân viên không thu hoặc thu không đủ số
tiền nợ gốc đối với CK đó
- Trước ngày đến hạn CTCK không thông báo cho khách hàng để khách hàng
chuẩn bị trả khoản nợ dẫn đến chậm trả, gây khó khan cho CTCK
- Quá hạn nợ mà NH không cho gia hạn nợ nữa sẽ thực hiện đặt lệnh bán CK thế
chấp của khách hàng, khi đó khách hàng phải chịu nhiều thiệt thòi vì có thể số nợ củakhách hàng ít hơn rất nhiều so với giá trị CK cầm cố của khách hàng
- Sauk hi khách hàng đã trả hết cả gốc và lãi cho Ngân hàng nhưng CTCK không
giải tỏa CK cầm cố cho khách hàng
- Do thời gian thu nợ chênh lệch so với Ngân hàng, khách hàng thường xuyên
thắc mắc về lãi suất và biểu phí quản lý do không nhận được các thông báo tất toán nợ
từ phía Ngân hàng gây mất uy tín cho CTCK
- Nhân viên kế toán nhập nhầm các mã CK trong quá trình giải tỏa CK cầm cố
bằng thực hiện thông qua các giao dịch ngoại bảng, tính nhầm dư nợ vay còn lại của
Trang 24khách hàng do không tạo hợp đồng trên máy, phát vay và thu nợ thông qua giao dịchnội bảng, hạch toán thu nợ ghi sai nội dung, sai tài khoản đối ứng….
- Hoạt động đóng tài khoản, chuyển tiền và chuyển khoản sang CTCK khác:
- Các rủi ro phát sinh:
- Kế toán lập hồ sơ chuyển khoản tiền, CK cho khách hàng chậm trễ.
- Lập sai mã CK cần chuyển khoản hoặc mẫu biểu không đúng quy cách của
Trung tâm lưu ký chứng khoán
- Lập yêu cầu chuyển khoản CK nhầm SGDCK ( Hà Nội- TP HCM và ngược lại)
- Thất lạc hồ sơ của khách hàng trong quá trình lưu trữ tại CTCK hoặc trong quá
trình luân chuyển chứng từ đi TTLKCK
Rủi ro với nghiệp vụ liên quan tiền gửi Ngân hàng:
CTCK là một tổ chức tài chính trung gian kết nối giao dịch giữa các nhà đầu tưvới nhau thông tuqa việc mua bán CK, do đó các nghiệp vụ liên quan đến TGNHchiếm tỷ trọng lơn trong hạch toán kế toán tại CTCK Các nghiệp vụ kế toán liên quanđến tiền gửi NH bao gồm hoạt động liên quan đến tiền gửi NĐT và tiền gửi của CTCK.Theo quy định hiện hành thì việc quản lý tiền của NĐT sẽ được thực hiện bởi NHthương mại
Trong phần kế toán nội bộ chỉ áp dụng tiền gửi ngân hàng của CTCK Tuy nhiên,các nghiệp vụ không chỉ liên quan đến hoạt động nội bộ CTCK mà còn liên quan đến
KH, bao gồm: Thanh toán bằng chuyển khoản, nhận chuyển khoản đối với những hoạtđộng nội bộ CTCK; Hoạt động tự doanh của CTCK ( như mua bán CK, Thực hiệnquyền, Mua lô lẻ cho KH, Repo); Hỗ trợ thanh toán cho khách hàng ( ứng trước, hợpđồng mua quyền bán CK)
Sơ đồ thực hiện:
Thanh toán hoạt động nội bộ bằng hình thức chuyển khoản ( Báo nợ NH)
Yêu cầu thanh
toán
Kiểm soát trước khi thanh toán
Chuyển UNC thanh toán
Hạch toán
Trang 25Thanh toán hoạt động nội bộ bằng hình thức nhận chuyển khoản ( Báo có)
Mua bán CK niêm yết: Mở riêng tài khoản thanh toán bù trừ của CTCK tại NHchỉ định thanh toán
Mua bán chứng khoán OTC: Khi CTCK thực hiện mua – bán CK OTC cho tựdoanh, việc thanh toán được thực hiện qua thanh toán tiền mặt hoặc thanh toán bằngchuyển khoản
Rủi ro phát sinh:
- Hạch toán sai, hạch toán nhầm.
- Đối với rủi ro hỗ trợ khách hàng như ứng trước tiền bán CK, hợp đồng mua
quyền nhận tiền bán CK, cầm cố CK: Được thể hiện trong phần – Kế toán khách hàng– Đối với hoạt động đầu tư OTC: Nhân viên bán CK không sát với giá thị trường, ảnhhưởng đến giá vốn CTCK,hoặc tạm ứng thu gom cổ phiếu OTC trong thời gian dài dẫnđến trục lợi khi giá OTC có nhiều biến động liên tục gây thiệt hại cho công ty và ảnhhưởng đến hiệu quả sinh lời của đồng vốn
- CTCK không theo dõi sát khoản phải thu, dẫn đến thu thiếu hoặc thu sót của
KH, đến thời điểm thực hiện thanh toán bù trừ CTCK phải trích tiền tài khoản CTCK
để thực hiện thanh toán bù trừ của SGDCK, ảnh hưởng đến vốn lưu động của CTCK
và tính tuân thủ các quy định pháp lý có liên quan
Nhận được xác nhận chính
thức từ Ngân hàng ( Báo
có)
Kế toán hạch toán Kiểm soát
Kiểm tra báo cáo Tự
doanh về thanh toán bù
Yêu cầu thanh toán của Bộ
Kiểm soát lại
Trang 26- Các rủi ro liên quan đến sai sót khi chuyển tiền nhầm TK( đối với thanh toán
UNC), hạch toán sai, hạch toán nhầm Các rủi ro này đều có thể dẫn đến việc CTCK bịchiếm dụng vốn
- Các rủi ro liên quan đến đầu tư OTC xảy ra khi nhân viên kế toán không hiểu
rõ quy trình và các quy định về đầu tư, các quy trình về phê duyệt hạn mức đầu tư,thêm quyền ra quyết định về đầu tư và không quán xuyến, đôn đốc thường xuyên cáckhoản tạm ứng của nhân viên trong công ty dẫn đến việc thu thập chứng từ còn thiếusót và sơ hở
Rủi ro phát sinh: Hạch toán nhầm, không theo dõi đầy đủ dẫn đến tính và
trích tài khoản KH sai; Rủi ro do di chuyển TSCĐ và CCDC dẫn đến không theo dõiđược
Các khoản phải thu và công nợ phải trả:
- Các khoản phải thu của khách hàng:
Khoản phải thu của khách hàng phát sinh do quan hệ mua bán hàng hóa/ cungcấp dịch vụ với CTCK
Các điều khoản quy định liên quan đến các khoản phải thu cần được thể hiện rõtrong hợp đồng kinh tế hoặc các cam kết như: Thời hạn nợ cho phép; Điều kiện hưởngchiết khấu thanh toán( nếu có) khi trả tiền nhanh; Điều kiên phạt lãi suất thanh toánchậm so với thời hạn nợ cho phép
Mọi trường hợp cung cấp dịch vụ chưa thu được tiền mà không có hợp đồng, camkết dẫn đến nợ khó đòi hoặc tổn thất thì cá nhân quyết định xuất giao hàng, cung cấpdịch vụ phải chịu trách nhiệm bồi thường
Đối với các khoản công nợ phải thu bằng ngoại tệ, kế toán phải mở sổ theo dõichi tiết từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh, theo từng loại nguyên tệ đồng thời phải quyđổi ra VNĐ theo nguyên tắc: Khi phát sinh các khoản nợ phải thu bằng ngoại tệ, kếtoán phải quy đổi ra VNĐ theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên
NH do NHNN Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh; Khi thu các khoản nợ bằngngoại tệ kế toán cũng quy đổi theo tỷ giá thực tế, chênh lệch tỷ giá phát sinh giữa thờiđiểm thu tiền và thời điểm phát sinh nghiệp vụ được hạch toán vào báo cáo kết quảkinh doanh
Trang 27Rủi ro phát sinh: Các khoản phải trả được phản ánh thấp hơn thực tế do khôngkhi nhận kịp thời các khoản phải trả theo nguyên tắc đồn tích; Các khoản phải trả bịphản ánh nhầm lẫn do sai sót trong quá trình ghi sổ, theo dõi các khoản công nợ.
- Toàn bộ doanh thu phát sinh trong kỳ đều phải được thể hiện theo hóa đơn
chứng từ hợp lệ và phải được phản ánh đầy đủ vào sổ sách kế toán theo chế độ quyđịnh
- Bộ phận kế toán phải xác định rõ và hạch toán đúng doanh thu của từng hoạt
động để có căn cứ xác định chính xác các loại thuế phải nộp
- Doanh thu phát sinh bằng ngoại tệ được quy đổi ra VNĐ theo tỷ giá thực tế
phát sinh tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ
- Đánh giá tính hợp lý của việc ghi nhận doanh thu hoạt động kinh doanh cổ
phiếu không niêm yết trên cơ sở các bằng chứng chắc chắn về việc thu tiền
- Các khoản chi phí trong CTCK: Chi phí kinh doanh CK; Chi phí hoạt động tài
chính; Các khoản chi hợp lệ khác; Các khoản dịch vụ mua ngoài
Các rủi ro phát sinh:
- Các khoản chi không đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ, hợp pháp theo quy định
hiện hành
- Các khoản chi phí không phù hợp với doanh thu trong kỳ kế toán và không
được ghi nhận theo nguyên tắc kế toán dồn tích
- Các khoản chi phí không hợp lý cho hoạt động kinh doanh của CTCK.
- Chi phí hoạt động tự doanh CK ( giá vốn CK niêm yết) chưa được phản ảnh
hợp lý do chưa tính toán lại đầy đủ phần được hưởng sau khi thực hiện quyền( trườnghợp sau khi thực hiện quyền thông thường khoảng 2 tháng sau TTLKCK mới thôngbáo cho các thành viên lưu ký là các CTCK số lượng cổ phiếu thưởng để hạch toán,trong khi giá thực hiện đã được điều chỉnh ngay sau ngày chốt danh sách cổ đônghưởng quyền)
Tuân thủ Quy chế hoạt động:
Trang 28- Đầu tư của CTCK: Đầu tư vào cổ phiếu hoặc phần vốn góp của CTCK có sở
hữu trên 50% VĐL của CTCK; Cùng người liên quan đầu tư > 5% VĐL của CTCKkhác; Đầu tư > 15% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức không niêm yết;Đầu tư> 20% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức niêm yết; Đầu tư mua cổphần hoặc tham gia góp vốn vào một tổ chức khác > 20% tổng số tài sản
1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CTCK
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK
Quản trị rủi ro có rất nhiều nguồn gốc phát triển khác nhau và đã được sửdụng bởi rất nhiều chuyên gia trên thế giới Một trong những nguồn gốc đó từ Mỹtrong nhu cầu giảm bớt sự lệ thuộc vào các công ty bảo hiểm Việc áp dụng các biệnpháp quản trị rủi ro ngày càng trở nên phổ biến và có sự sắp xếp tốt hơn bởi chi phíbảo hiểm trong những năm 50 của thế kỷ trước là quá cao trong khi có sự giới hạncác hình thức bảo hiểm Các tổ chức, công ty tài chính nhận ra rằng, sự lệ thuộc vàocác công ty bảo hiểm là không cần thiết vì các công ty này không còn có thể đápứng đầy đủ trong việc bảo hiểm các tài sản và con người Lúc này, những ngườimua các hợp đồng bảo hiểm quan tâm hơn tới chất lượng của việc bảo vệ tài sản của
họ, quy chuẩn về sức khỏe, sự an toàn, những khoản nợ và việc giải quyết những hệlụy đó thế nào khi rủi ro thực sự xảy ra
Đến những năm 70, việc kiểm soát rủi ro trong các hoạt động tài chính phát
triển mạnh tại châu Âu, và khái niệm:“Tổng chi phí của sự rủi ro” trở nên quan
trọng Khi việc kiểm soát này được áp dụng chính thức, phổ biến, người ta nhậnthấy rằng có rất nhiều rủi ro mà các tổ chức tài chính phải đối mặt mà việc bảo hiểmcho rủi ro đó là vô ích Do đó, các công cụ và kỹ thuật quản trị rủi ro đã được pháttriển và áp dụng rộng rãi như 1 bộ môn khoa học để giải quyết những rủi ro đó.Đối với một hoạt động luôn song hành với rất nhiều rủi ro như hoạt động môigiới chứng khoán, việc áp dụng các biện pháp, kỹ thuật quản trị rủi ro là hết sức cầnthiết, tăng sự chủ động khi đối mặt với rủi ro, giúp giảm thiểu rủi ro xuống mứcthấp nhất có thể Có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu về quản trị rủi ro hoạt độngmôi giới, ở đây bài khóa luận sẽ đưa ra một khái niệm tổng quát nhất về hoạt động
này: Quản trị rủi ro trong hoạt động môi giới là một quá trình nhằm giúp bộ phận môi giới nói chung, các nhân viên môi giới nói riêng có thể nhận diện, định lượng
Trang 29và các biện pháp phòng tránh các rủi ro nhằm tăng hiệu quả của công việc, hạn chế khả năng thất bại ở mức thấp nhất và tối đa hóa lợi nhuận.
Trong các CTCK, quản trị rủi ro là vấn đề trọng tâm của hệ thống quản trịCTCK và quản trị chiến lược hiệu quả Nếu hệ thống quản trị rủi ro được thiết lập,
có cơ cấu phù hợp và được xác lập liên tục trong toàn hệ thống CTCK từ việc xácđịnh, đánh giá, ra quyết định đến việc phản hồi, tổng hợp thông tin về các cơ hộicũng như mối đe dọa ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu đề ra của CTCK Điềunày được gọi là quản trị rủi ro CTCK hay ERM ( Enterprise Risk Management)
1.2.2 Vai trò, mục tiêu của hoạt động quản trị rủi ro CTCK nói chung và hoạt động môi giới nói riêng
Đối với hầu hết các CTCK, Quản trị rủi ro xem xét đến những khía cạnh tíchcực và tiêu cực của rủi ro Nói cách khác, quản trị rủi ro được sử dụng để đánh giácác cơ hội có thể đem lại các lợi ích cho CTCK (tác động tích cực) cũng như quảntrị những nguy cơ có thể có tác động bất lợi đến CTCK (tác động tiêu cực) Điềunày có nghĩa là quản trị rủi ro có thể không chỉ được áp dụng theo một cách chungchung mà nó có thể được sử dụng từ việc đưa ra các chiến lược ban đầu, đến các dự
án và các quyết định đầu tư cho đến các quy trình và các hoạt động thực hiện
Giúp CTCK đánh giá chính xác các rủi ro
Xác định rủi ro là cách tiếp cận từ việc thiết lập các tiếp cận của các CTCKvới rủi ro và sự không chắc chắn có thể xảy đến với CTCK Điều này đòi hỏi mộtkiến thức về thị trường, môi trường pháp lý, xã hội, chính trị và văn hóa mà trong
đó rủi ro tồn tại, cũng như sự hiểu biết của các mục tiêu chiến lược và hoạt động, nóbao gồm kiến thức về những yếu tố quan trọng để thành công hoặc các mối đe dọa
và cơ hội đạt được các mục tiêu của CTCK Quản trị rủi ro CTCK được tiếp cậnđúng phương pháp sẽ đảm bảo rằng tất cả các hoạt động giá trị gia tăng trongCTCK đã được thẩm định và tất cả các rủi ro từ mọi hoạt động trên được xác định.Kết quả của phân tích rủi ro có thể được sử dụng để tạo ra một hồ sơ (có thểthiết lập hệ thống về rủi ro) rủi ro, cho phép đánh giá (nội dung và lĩnh vực gì) rủi
ro để có thể phát hiện sớm và kiểm soát rủi ro Các hoạt động phân tích rủi ro hỗ trợCTCK hoạt động hiệu quả đòi hỏi sự quan tâm của Lãnh đạo CTCK Điều này tạothuận lợi cho kiểm soát rủi ro tiềm ẩn của CTCK Sự biến động của phương pháp
Trang 30quản trị để thích ứng có sẵn rủi ro bao gồm: sự thao túng, xử lý, chuyển giao vàchấm dứt rủi ro Một CTCK có thể quyết định kinh doanh chắc chắn và đó cũng làmột nhu cầu để cải thiện môi trường kiểm soát.
Giúp CTCK đối phó với rủi ro trong các hoàn cảnh nguy nan
Mục tiêu ứng phó rủi ro bao gồm như là yếu tố chính của rủi ro, kiểm soát rủi
ro (hoặc giảm nhẹ rủi ro), đòi hỏi phải dự đoán xa hơn Ví dụ: việc phòng tránh rủi
ro, việc chuyển giao rủi ro của công ty bằng cách phân chia rủi ro và lợi ích củacông ty cho các đối tác khác và việc cuối cùng là tài trợ tài chính cho hoạt độngkiềm chế rủi ro Bất kỳ hệ thống xử lý rủi ro nào cũng cần phải xây dựng hệ thốngkiểm soát nội bộ hiệu quả Hiệu quả của kiểm soát nội bộ là mức độ rủi ro sẽ đượcloại bỏ hoặc giảm rủi ro nhờ các biện pháp đề xuất kiểm soát
Tuân thủ pháp luật và các quy định là một yêu cầu bắt buộc không phải là mộtkhả năng có tính lựa chọn của CTCK Một CTCK phải hiểu biết sâu sắc về phápluật và phải thực hiện một hệ thống kiểm soát tuân thủ pháp luật Một phương pháp
có bảo đảm các nguồn lực tài chính chống lại các tác động của rủi ro phải đưa ra cáccác rủi ro được lượng hóa dưới các tổn thất tài chính, và các phương án bảo hiểm dựphòng cho rủi ro
Giúp CTCK xây dựng hệ thống thông tin phản hồi
Hệ thống thông tin phản hồi để góp phần thực hiện những giám sát và đánhgiá hiệu suất truyền thông và tư vấn trên hệ thống thống tin quản trị rủi ro minhbạch và kịp thời Công việc giám sát và xem xét nguy cơ rủi ro phải đảm bảo rằngCTCK giám sát hiệu suất rủi ro và bài học từ kinh nghiệm từ những rủi ro và tổnthất trước đây Hệ thống thông tin phản hồi giúp việc phản hồi thông tin liên quanđến rủi ro và kịp thời đưa ra quyết định giúp CTCK vượt qua rủi ro và hạn chế cácnguy cơ trong dài hạn
Giúp CTCK xây dựng khuôn khổ quản lý rủi ro
Tùy thuộc vào bản chất của CTCK, chức năng quản lý rủi ro có thể từ mộtngười quản lý rủi ro một phần thời gian, một nhà quản trị rủi ro tốt nhất, một bộphận quản lý rủi ro quy mô đầy đủ Vai trò của chức năng kiểm toán nội bộ cũng sẽkhác nhau giữa các CTCK Xác định vai trò thích hợp nhất đối với kiểm toán nội
Trang 31bộ, CTCK cần phải đảm bảo sự độc lập và khách quan của kiểm toán nội bộ không
bị chi phối
1.2.3 Quy trình quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK
Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, sự biến đổi không ngừng củacác yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội… QTRR không ngừng biến đổi và có rất nhiều
mô hình quản trị rủi ro đã được xây dựng để áp dụng cho hoạt động môi giới tạiCTCK Những mô hình đó đã được tập hợp và chuyển hóa theo sơ đồ:
Sơ đồ 1.2: Quy trình quản trị rủi ro
Bước 1 : Nhận diện rủi ro
Hoạt động môi giới luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và chúng có những đặc điểm
tự nhiên riêng biệt, có sự liên kết, tác động qua lại lẫn nhau mà khi các mối liên kết
Nhận diện rủi ro
Xếp hạng rủi ro
Phản ứng với rủi ro:
Chịu đựng rủi ro Đối phó với rủi ro Chuyển giao rủi ro Chấm dứt rủi ro
Phản ứng với rủi ro:
Chịu đựng rủi ro Đối phó với rủi ro Chuyển giao rủi ro Chấm dứt rủi ro
Kế hoạch hóa các phản ứng và biến cố Kiểm soát các nguồn lực
Báo cáo việc thực hiện quản trị rủi ro
Xem xét lại hệ thống quản trị rủi để điều chỉnh cho phù hợp
Thông tin phản hồi
Thông tin phản hồi
Kinh nghiệm
phản hồi
Kinh nghiệm
phản hồi
Trang 32giữa các rủi ro này hình thành sẽ gây tổn thất khôn lường Vì thế, để phòng tránh rủi
ro thì ngay từ đầu bộ phận môi giới cần xác định các rủi ro có thể gặp phải, xác địnhbản chất và hoàn cảnh mà nó có thể xảy ra Ví dụ: Rủi ro giá cả, thanh khoản có tácđộng lớn nhất đến toàn hệ thống và kéo theo nhiều rủi ro khác, rủi ro đến từ phía thịtrường như lãi suất, tỷ giá, giá hàng hóa cơ bản ảnh hưởng đến danh mục đầu tư,các quyết định đầu tư của khách hàng để từ đó có biện pháp quản lý, tư vấn hợp lýhơn
Bước 2 : Xếp hạng rủi ro
Sau khi đã nhận diện được các rủi ro có thể gặp phải trong quá trình hoạtđộng, môi giới sẽ xếp hạng và định lượng rủi ro thông qua mức độ tác động, sự biếnđộng của những rủi ro đó để tổng kết thành những tập hợp riêng được bảo mật vàgiữ tại một hệ thống theo dõi thống nhất
Bước 3 : Phản ứng với rủi ro
Lập các biện pháp để sẵn sàng ứng phó với những rủi ro đặc biệt, thông qua đó
để đưa ra hướng giải quyết thích hợp khi các rủi ro đó xảy ra theo các cách thứcriêng biệt :
Chịu đựng rủi ro: với những rủi ro mà khả năng xảy ra thấp và mức độ ảnh
hưởng thấp đến quá trình hoạt động, bộ phận môi giới sẽ chấp nhận nó Tuy nhiên,cũng có thể chấp nhận những rủi ro có tác động mạnh hơn khi lợi nhuận tiềm năng
mà nó mang lại là lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu của hoạt động môi giới
Đối phó với rủi ro: đối với những rủi ro mà khả năng xảy ra cao nhưng mức
độ ảnh hưởng của nó thấp thì bộ phận môi giới sẽ thiết lập các biện pháp để tháo gỡ,đưa rủi ro đó về mức độ có thể chấp nhận được, giảm sự tác động của nó lên hoạtđộng môi giới
Chuyển giao rủi ro: đối với những rủi ro mà khả năng xảy ra thấp nhưng mức
độ ảnh hưởng là lớn thì bộ phận môi giới sẽ thực hiện chuyển giao rủi ro Kết hợpcác hợp đồng quyền chọn trong danh mục của khách hàng mà mình được ủy thác vàcác biện pháp bảo hiểm rủi ro (có sự tham gia của bên thứ 3) để đảm bảo rủi ro ởmột mức có thể kiểm soát và chấp nhận được
Chấm dứt rủi ro: đây là cách thức cuối cùng buộc phải áp dụng khi hoạt động
môi giới đối mặt với rủi ro có khả năng xảy ra cao mà mức độ ảnh hưởng lại lớn
Trang 33Khi đó, những hoạt động hay sản phẩm nào mà môi giới cung cấp cho khách hàngchứa đựng rủi ro như vậy sẽ bị loại bỏ ngay nhằm giảm thiểu rủi ro, tránh tổn thấtkhông đáng có
Bước 4 : Kiểm soát các nguồn lực
Sau khi đã lựa chọn được phản ứng thích hợp trước rủi ro hoạt động môi giới,việc tiếp theo sẽ là kiểm tra để chắc chắn rằng các nguồn lực sẵn sàng và đầy đủ đểtiến hành biện pháp đã được lựa chọn
Bước 5: Kế hoạch hóa các phản ứng và các biến cố xảy ra
Sau khi hoàn thành 4 bước trên, hoạt động môi giới thông qua những kế hoạchhoạt động tiếp theo nhằm duy trì sự liên tục trong hoạt động và những phản ứngthích hợp để đối phó với những rủi ro tương tự xảy ra sau này
Bước 6 : Báo cáo(ghi nhận) lại việc thực hiện quản trị rủi ro
Các báo cáo về rủi ro sẽ được thiết lập, lưu trữ để có thể tìm kiếm dễ dàng,thống kê lại và áp dụng cho những lần quản trị sau tốt hơn, giảm thiểu các bướckhông cần thiết, không phù hợp với quy mô cũng như mục tiêu hoạt động môi giới
Bước 7 : Xem xét lại hệ thống quản trị rủi ro để điều chỉnh cho phù hợp
Qua tất cả các bước trên, hệ thống quản trị rủi ro được kiểm tra lại 1 lần nữa,thêm vào đó những phương pháp mới để đối phó hay định lượng các rủi ro, cácchiến lược, các biên bản cụ thể, ứng phó với các rủi ro ở mức cao nhất có thể đểthực hiện quản trị rủi ro trong những lần sau tốt hơn
1.2.4 Các phương pháp quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK
Cho đến nay, các nhà kinh tế, các học giả bảo hiểm, song song với việc tìmhiểu các rủi ro, cũng đã đưa ra nhiều cách xử sự đối với rủi ro, nguy cơ và tổn thất
Từ đó, họ đưa ra một số biện pháp xử lý các rủi ro có thể xảy ra, cụ thể:
Tránh né rủi ro
Đây là cách xử sự hiển nhiên nhất bởi vì đương nhiên sẽ càng tốt nếu như người
ta tránh né được càng nhiều rủi ro, tổn thất Theo các nhà nghiên cứu, tránh né rủi rochính là việc thực hiện những lựa chọn tốt, lấy các quyết định thích nghi trong cuộcsống hằng ngày
Trên thực tế, chỉ có thể tránh né rủi ro trong CTCK khi có sự lựa chọn vàtrong đó việc chấp nhận rủi ro này, tránh né rủi ro kia là hợp lý Trong điều kiện
Trang 34CTCK, sự hợp lý (hay không hợp lý) của phương thức tránh né được quyết định bởigiá phí của sự lựa chọn đó trong sự so sánh với giá phí của các lựa chọn khác Khikhông thể áp dụng phương thức tránh né, người ta buộc phải tìm các phương thứckhác để giải quyết.
Gánh chịu rủi ro
Đây có vẻ như là một cách xử sự dễ dàng nhất để đón nhận sự không chắcchắn về một sự việc nào đó Tuy nhiên, không hẳn đơn giản như thế vì cũng có rấtnhiều lý do dẫn đến việc CTCK chấp nhận gánh chịu rủi ro:
Quyết định gánh chịu rủi ro khi không còn phương thức nào tốt hơn để giải quyết
Gánh chịu rủi ro cũng có thể do CTCK không lượng trước được rủi ro đó.Gánh chịu rủi ro do sức ỳ, sự thụ động đã trở thành quán lệ (thói quen khôngchỉ của một cá nhân mà của một nhóm người trong xã hội) Chấp nhận gánh chịumột rủi ro suy tính, một rủi ro đầu cơ Điều này dễ thấy trong lĩnh vực chứng khoánkhi mức độ rủi ro cao, khoản lời có thể mang lại lớn
Giảm thiểu nguy cơ - Giảm thiểu tổn thất
Nguy cơ là một điều kiện làm gia tăng khả năng tổn thất Không có nguy cơrủi ro vẫn tồn tại, có nguy cơ, khả năng rủi ro phát động cao hơn Do đó, giảm thiểunguy cơ chỉ có thể làm giảm khả năng xảy ra biến cố chứ không làm giảm mức độrủi ro hay triệt tiêu rủi ro
Một cách khái quát, giảm thiểu nguy cơ là triệt tiêu yếu tố tồn tại có thể làm giatăng khả năng tổn thất, làm cho rủi ro ổn định và gần với xác suất được dự đoán trước.Giảm thiểu tổn thất và giảm thiểu nguy cơ là 2 biện pháp có liên quan chặt chẽvới nhau Trong CTCK thì giảm thiểu nguy cơ chính là làm giảm các khả năng gây
ra thiệt hại cho công ty xuất phát từ yếu tố con người, kỹ thuật, quy trình quản trị…
Hoán chuyển rủi ro
Rủi ro không thể tránh né, nhưng nếu chấp nhận gánh chịu toàn bộ rủi ro thì sẽlà liều lĩnh Trong trường hợp này, người ta tìm cách chuyển một phần hoặc toàn
bộ sang đối tượng khác.
Kỹ thuật bảo hiểm sẽ giúp quy tụ được một số đông người, trong đó, sẽ chỉ cómột số ít người gặp rủi ro và bị tổn thất Họ sẽ được người bảo hiểm bồi thường và
số tiền bồi thường đó được lấy từ quỹ bảo hiểm do đám đông cùng tham gia đóng
Trang 35góp dưới hình thức Phí bảo hiểm Bằng cách này, rủi ro có thể sẽ được cả cộngđồng gánh chịu hay nói cách khác, nó được hoán chuyển từng phần nhỏ qua từngngười khác Các công ty chứng khoán hàng năm vẫn phải đóng một khoản tiền vàoquỹ hỗ trợ thanh toán của Ủy ban chứng khoán nhằm đàm bảo khả năng thanh toáncủa công ty khi có rủi ro xảy ra.
Giảm thiểu rủi ro
Tất cả các phương thức nói trên, ngoài bảo hiểm, đều không làm được điềunày Lập quỹ dự phòng rủi ro vì vậy không chỉ là một phương thức hoán chuyển rủi
ro mà còn là một phương thức giảm thiểu rủi ro Thật vậy, do tập trung được sốđông, kỹ thuật bảo hiểm có thể thống kê tính toán tương đối chính xác khả năng tổnthất trong tương lai Mức độ chính xác càng cao, mức độ bất trắc càng giảm làm chorủi ro cũng giảm theo
Như vậy, rủi ro luôn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Tùy thuộc vàođặc điểm của từng loại rủi ro mà người ta có cách thức xử lý riêng biệt Phán đoánđúng, sai, đầy đủ hay không, xử lý đúng đắn hay không là tùy thuộc vào khả năngcủa mỗi CTCK
1.2.5 Điều kiện quản trị rủi ro có hiệu quả hoạt động môi giới tại CTCK
Để quản trị hiệu quả các rủi ro hoạt động môi giới tại CTCK, trước hết phảinắm rõ được các loại rủi ro và bản chất của nó Các nhà kinh tế học, học giả bảohiểm dựa trên cơ sở các loại rủi ro hoạt động môi giới để đưa ra các cách thức quảntrị các loại rủi ro này Cụ thể:
Quản trị rủi ro thị trường
Bộ phận môi giới sử dụng các công cụ và các kỹ thuật quản trị rủi ro tronghoạt động của mình để đưa rủi ro thị trường về mức có thể chấp nhận được theo quy
mô cũng như khả năng chịu đựng rủi ro của riêng hoạt động môi giới và của toànCTCK Trên thế giới, sản phẩm phái sinh (quyền chọn, hợp đồng tương lai, hợpđồng hoán đổi…) đã được sử dụng rất hữu hiệu giúp các môi giới tư vấn, áp dụngcác phương pháp kết hợp trong việc giảm thiểu rủi ro cho danh mục đầu tư củakhách hàng mà mình đang được ủy thác, quản lý cũng như nhằm tăng khả năng sinhlợi chắc chắn hơn cho họ
Trang 36Bên cạnh các sản phẩm phái sinh, bộ phận môi giới sử dụng các mô hình kinh tếlượng để thiết lập cho mình một hệ thống đo lường rủi ro trên cơ sở danh mục đầu tưcủa khách hàng (ủy thác một phần hay toàn bộ) Chỉ số Var (Value at risk) là một trongnhững chỉ số được các nhà quản trị rủi ro, các nhà môi giới chuyên nghiệp trên thế giớichuyên dùng để định lượng các rủi ro thị trường tác động đến danh mục đầu tư củakhách hàn Sử dụng những con số ước lượng để tính toán rủi ro: Beta để tính rủi ro từ
sự biến động của TTCK, thời lượng (duration) để tính rủi ro từ sự tác động của lãi suất,Delta tính rủi ro từ tác động của các hợp đồng quyền chọn (options) tới giá của nhữngtài sản cơ bản… Mỗi công ty sẽ có phương pháp riêng để định lượng rủi ro này, giúpcho môi giới có thể ước lượng được mức độ rủi ro danh mục chứng khoán của kháchhàng mà mình đang quản lý, giúp đưa ra các tư vấn, khuyến nghị khách hàng cơcấu,sắp xếp lại danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro xuống mức tối đa mà kháchhàng có thể chịu đựng được
Quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng luôn là một hoạt động hết sức quan trọng trong nhữngnăm gần đây trong hoạt động môi giới tại CTCK Do đặc thù cung cấp các sảnphẩm, dịch vụ, các hợp đồng hợp tác đầu tư, giao dịch ký quỹ (margin) mà bản chất
là lách luật cấp tín dụng cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu về tài chính chokhách hàng và mặt khác cũng giúp thúc đẩy thị trường trong giai đoạn thị trường giálên Vì vậy, để hạn chế rủi ro này bộ phận môi giới đã áp dụng các biện pháp:
Xây dựng hợp đồng hợp tác với các điều khoản chặt chẽ, áp dụng các hạnmức tín dụng khác nhau tùy vào từng đối tượng khách hàng (dựa vào tiềm lực tàichính, lịch sử giao dịch của khách hàng…)
Áp dụng các chính sách khác nhau về tài sản đảm bảo giao dịch, thôngthường là chính các chứng khoán khách hàng mua khi sử dụng margin và cácchứng khoán khách hàng có sẵn trong tài khoản (cầm cố) CTCK sẽ yêu cầukhách hàng chấp nhận ký hợp đồng cam kết để luôn đảm bảo 1 tỷ lệ nhất định(Rtt-tỷ lệ ký quỹ thực tế) ở một ngưỡng nhất định, khi khách hàng không đảm bảo
tỷ lệ này nhân viên môi giới sẽ yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản đảm bảo(margin call) trong một khoảng thời gian nhất định hoặc bắt buộc giải ngân chứngkhoán trong tài khoản của khách hàng nhằm đề phòng trường hợp xấu xảy ra
Trang 37Luôn luôn theo dõi và đánh giá hạn ngạch giao dịch, đánh giá mức độ tínnhiệm, mức thua lỗ của từng khách hàng theo định kỳ quý hoặc năm để có mức điềuchỉnh cho phù hợp với tình hình chung Đặt mức an toàn cho từng cổ phiếu đángquan tâm nhất định mà môi giới cung cấp margin cho khách hàng với một mức caohay thấp hơn mức bình thường.
Thành lập ban chuyên biệt phụ trách kiểm soát tín dụng và các giao dịch kýquỹ, luôn có các biện pháp sẵn sàng ứng phó khi rủi ro xảy ra
Ngoài những biện pháp nhằm quản lý rủi ro đối với các sản phẩm mà môi giớicung cấp cho khách hàng như trên, các mô hình để định lượng rủi ro được sử dụng nhưVar, phân tích độ nhạy, stress-test… thông qua các biến điều kiện khác nhau có thểlượng hóa được những rủi ro tín dụng tiềm ẩn, giúp bộ phận môi giới tối thiểu rủi ro
Quản trị rủi ro hoạt động
Bộ phận môi giới của mỗi CTCK có các biện pháp riêng biệt nhằm giảm thiểurủi ro hoạt động trong hoạt động của mình:
Hệ thống cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin phù hợp với sự phát triển của thịtrường, giảm bớt sự rườm rà cho việc thu thập và xử lý dữ liệu của các nhân viênmôi giới Các nhân viên môi giới thường xuyên kiểm tra cơ sở dữ liệu của kháchhàng nhằm đảm bảo cho quá trình quản lý danh mục, tư vấn được tốt nhất, phát hiệnsai sót để báo cáo xử lý kịp thời
Phát triển đội ngũ nhân viên môi giới có chất lượng, đào tạo kiến thức đểhiểu rõ bản chất các sản phẩm của công ty mình khi cung cấp cho khách hàng Xâydựng hệ thống kiểm soát nội bộ mạnh mẽ để phân định rõ ràng trách nhiệm củariêng các nhân viên môi giới, phân cấp thẩm quyền rõ ràng, hợp lý
Thiết lập quy trình luân chuyển, giải quyết các hồ sơ, chứng từ một cách chặtchẽ, đồng thời áp dụng hệ thống kiểm tra tính chính xác của các lệnh mua bán đượctruyền đi
Có các kế hoạch phòng tránh bất trắc phân theo từng cấp độ khác nhau giúpnhân viên môi giới có thể chủ động phòng tránh và giải quyết những rủi ro có thểxảy ra trong quá trình làm việc
Trang 38Hiện nay, cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, một số CTCK trên thếgiới còn phát triển nhiều biện pháp để định lượng rủi ro hoạt động cho riêng bộ phậnmôi giới giống như khi định lượng rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng.
Quản trị rủi ro pháp lý
Do rủi ro pháp lý thường xuất phát từ các hợp đồng giao dịch hoặc các tranhchấp về quyền lợi nên khi tranh chấp xảy ra thường dẫn đến những vụ kiện tụng rấttốn chi phí do liên quan đến số lượng cổ phiếu hoặc tiền lớn Để hạn chế điều này,hoạt động môi giới luôn phải đặt ra các quy định:
Kiểm tra các văn bản pháp lý trước khi đưa ra tư vấn sử dụng và áp dụng.Đảm bảo sự chặt chẽ trong các hợp đồng cung cấp sản phẩm cho NĐT
Các giao dịch được thực hiện sau khi chắc chắn về tính đúng đắn của nó vàcác giấy tờ liên quan đến khách hàng có sự xác nhận tính chính xác và đầy đủ
Các hồ sơ luôn chính xác và các văn bản pháp lý thường xuyên được cậpnhật cho phù hợp với pháp luật hiện hành
Quản trị rủi ro đạo đức
Như đã trình bày ở trên, rủi ro đạo đức là rủi ro đáng quan tâm nhất trong hoạtđộng môi giới chứng khoán Nó trực tiếp liên quan đến hành vi của các nhân viênmôi giới đối với khách hàng, ảnh hưởng sâu sắc đến hình ảnh bộ phận môi giớicũng như toàn công ty Vì thế, bộ phận môi giới luôn đề cao việc này và đặt ra cácbiện pháp:
Xây dựng hệ thống văn hóa phù hợp cho bộ phận môi giới, tăng tính chuyênnghiệp và sự trung thực của nhân viên môi giới
Phát triển hệ thống kiểm soát đủ mạnh, phát hiện những hành vi sử dụng tàikhoản khách hàng để xoay vòng, trục lợi Kiểm soát các giao dịch, lệnh được truyền
đi từ các nhân viên môi giới thông qua hệ thống truyền lệnh riêng của họ để kịp thờiphát hiện và xử lý những hành vi đó
Nâng cao tính trung thực của nhân viên môi giới thông qua các chế độthưởng phạt rõ ràng, xử lý nghiêm sự dung túng cho hành vi sai trái gây thiệt hạicho khách hàng và công ty
Ngoài ra, một số công ty lớn còn thực hiện phân cấp quản lý trong bộ phậnmôi giới, kiểm tra chéo các nhân viên, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu
Trang 39Tuy nhiên, không phải CTCK nào cũng có thể thực hiện quản trị rủi ro hoạt độngmôi giới chứng khoán và thực hiện có hiệu quả Điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó, yếu tố quan trọng nhất là quy mô vốn và chất lượng nguồn nhân lực, đógọi là điều kiện quản trị rủi ro Bài khóa luận đưa ra hai nhân tố ảnh hưởng lớn nhấtđến quá trình quản trị rủi ro hoạt động môi giới tại các CTCK, bao gồm:
Quy mô vốn của CTCK
Quy mô vốn của CTCK là nhân tố có tính chất quyết định hàng đầu đối vớikhông chỉ hoạt động quản trị rủi ro Một CTCK không thể xây dựng được bộ phậnquản trị rủi ro nếu như họ không đủ nguồn lực cho các hoạt động cơ bản khác Quy
mô vốn tác động tới hoạt động quản trị rủi ro của một CTCK thông qua hai yếu tố:
(1) Cơ cấu tổ chức của CTCK: Tuy thấy được nguy cơ tiềm ẩn rủi ro từ hoạt
động môi giới trong công ty mình là rất lớn nhưng không phải CTCK nào cũng cómột bộ phận chuyên trách riêng hay một phòng ban riêng về quản trị rủi ro
Do quy mô thị trường còn nhỏ, đa phần các CTCK nhỏ không đủ vốn để đápứng chi phí cho hoạt động này nên nhiều CTCK đã chuyển giao nhiệm vụ quản trịrủi ro này sang cho chính các nhân viên môi giới Tuy nhiên một số CTCK cóphòng ban chuyên trách về quản trị rủi ro và có nhóm quản trị viên về hoạt độngmôi giới này luôn có những biện pháp phòng ngừa rủi ro tốt hơn, chủ động hơn,hình thành một hệ thống quản trị rủi ro chuyên nghiệp, tạo điều kiện cho nhân viênmôi giới hoàn thành tốt hơn công việc của mình, tư vấn và quản lý danh mục đầu tưcho khách hàng đạt hiệu quả cao hơn
(2) Kết cấu hạ tầng, công nghệ: Đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật công nghệ tại
CTCK là rất quan trọng, tuy nhiên không phải CTCK nào cũng đủ nguồn lực đẻ đầu
tư thỏa đáng Dữ liệu để phân tích, lưu trữ về giao dịch khách hàng, hệ thống truyềnlệnh, hệ thống back-up dữ liệu hoàn chỉnh, cần thiết để tránh những rủi ro xảy ra chohoạt động môi giới Khi xây dựng một cấu trúc hệ thống hoàn chỉnh và luôn có cácphương án dự phòng tốt thì việc quản trị rủi ro sẽ được tăng cường, các phương ánkhắc phục rủi ro sẽ chủ động hơn.VD: hệ thống kiểm tra lệnh được môi giới truyền đi
có sự xác nhận tối thiểu là 2 lần của nhân viên môi giới, dữ liệu dự phòng luôn sẵnsàng và được quản lý riêng biệt trên một hệ thống máy chủ riêng, trạng thái sẵn sàngkhôi phục lại hệ thống nhanh nhất khi rủi ro xảy ra…
Trang 40Trong các CTCK, quản trị rủi ro là vấn đề trọng tâm của hệ thống quản trịCTCK và quản trị chiến lược hiệu quả Nếu hệ thống quản trị rủi ro được thiết lập,
có cơ cấu phù hợp và được xác lập liên tục trong toàn hệ thống CTCK từ việc xácđịnh, đánh giá, ra quyết định đến việc phản hồi, tổng hợp thông tin về các cơ hộicũng như mối đe dọa ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu đề ra của CTCK Điềunày được gọi là quản trị rủi ro CTCK hay ERM
Trong các CTCK, quản trị rủi ro là vấn đề trọng tâm của hệ thống quản trịCTCK và quản trị chiến lược hiệu quả Nếu hệ thống quản trị rủi ro được thiết lập,
có cơ cấu phù hợp và được xác lập liên tục trong toàn hệ thống CTCK từ việc xácđịnh, đánh giá, ra quyết định đến việc phản hồi, tổng hợp thông tin về các cơ hộicũng như mối đe dọa ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu đề ra của CTCK Điềunày được gọi là quản trị rủi ro CTCK hay ERM
Đội ngũ nhân viên môi giới
Nhân viên môi giới có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quản trị rủi ro hoạtđộng môi giới CTCK nào chú trọng đến việc tuyển chọn nhân viên môi giới, đào tạotốt đội ngũ môi giới thì rủi ro xảy ra sẽ được giảm bớt, giảm thiểu các chi phí khắcphục rủi ro, nâng cao uy tín và hình ảnh cho công ty Rủi ro về mặt đạo đức sẽ đượcgiảm thiểu tối đa nếu mỗi nhân viên môi giới đảm bảo hai yếu tố quan trọng sau:
- Tính chính trực và các giá trị đạo đức: Sự hữu hiệu của hệ thống QTRR
trước tiên phụ thuộc vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức củanhững người có liên quan đến quá trình QTRR Để đáp ứng yêu cầu này, các nhàquản lý cấp cao phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xửđúng đắn để ngăn cản không cho các thành viên có các hành vi thiếu đạo đức Mộtcách khác để nâng cao tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức là phải loạitrừ hoặc giảm thiểu những sức ép hoặc điều kiện có thể dẫn đến nhân viên có thể cónhững hành vi thiếu trung thực Ví dụ, gian lận trong các báo cáo có thể xuất phát từviệc nhân viên bị ép buộc phải thực hiện các mục tiêu phi thực tế của nhà quản lý.Hành động không đúng của nhà quản lý có thể phát sinh khi quyền lợi của nhà quản
lý lại gắn chặt với số liệu trên báo cáo
- Đảm bảo về năng lực: Là đảm bảo cho nhân viên có được những kỹ năng và
hiểu biết cần thiết để thực hiện được nhiệm vụ của mình, nếu không họ sẽ không