1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tạo nguyên liệu in vitro và bước đầu khảo sát khả năng tạo rễ tơ cây bạch hoa xà (Plumbago zeylanica L.)

9 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 5,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu nhân giống in vitro cây bạch hoa xà (Plumbago zeylanica L.) từ đoạn thân tạo nguồn nguyên liệu cho nuôi cấy in vitro và chuyển gen, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, thời gian khử trùng 20 phút, 10% dung dịch javel là điều kiện tối ưu cho tạo mẫu in vitro (41,29%), môi trường MS có bổ sung 1,5 mg/L BA và 0,1 mg/L IBA tạo được chồi tối ưu (4,67 chồi/mẫu) sau 4 tuần nuôi cấy, chồi in vitro phát triển thành cây tốt nhất ở môi trường MS có bổ sung 0,1 mg/L IBA. Hai chủng vi khuẩn Agrobacterium rhizogen 11325 và 15834 được sử dụng trong công thức chuyển gen tạo rễ tơ, kết quả bước đầu đã chọn lọc 5 dòng rễ được cho là thể chuyển gen.

Trang 1

TẠO NGUYÊN LIỆU IN VITRO VÀ BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT KHẢ NĂNG

TẠO RỄ TƠ CÂY BẠCH HOA XÀ (Plumbago zeylanica L.)

Bùi Đình Thạch*, Nguyễn Minh Hiếu, Phạm Thị Phương Uyên,

Ngô Kế Sương, Nguyễn Hữu Hổ

Viện Sinh học nhiệt đới, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, (*)thachden78@yahoo.com

TÓM TẮT: Với mục tiêu nhân giống in vitro cây bạch hoa xà (Plumbago zeylanica L.) từ đoạn thân tạo

nguồn nguyên liệu cho nuôi cấy in vitro và chuyển gen, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, thời

gian khử trùng 20 phút, 10% dung dịch javel là điều kiện tối ưu cho tạo mẫu in vitro (41,29%), môi trường

MS có bổ sung 1,5 mg/L BA và 0,1 mg/L IBA tạo được chồi tối ưu (4,67 chồi/mẫu) sau 4 tuần nuôi cấy,

chồi in vitro phát triển thành cây tốt nhất ở môi trường MS có bổ sung 0,1 mg/L IBA Hai chủng vi khuẩn

Agrobacterium rhizogen 11325 và 15834 được sử dụng trong công thức chuyển gen tạo rễ tơ, kết quả

bước đầu đã chọn lọc 5 dòng rễ được cho là thể chuyển gen

Từ khóa: Agrobacterium rhizogen, Plumbago zeylanica, in vitro, nuôi cấy

MỞ ĐẦU

Cây bạch hoa xà, có tên khoa học là

Plumbago zeylanica L., thuộc họ

Plumbaginaceae, là một cây dược liệu có nguồn

gốc từ vùng Tây Bắc châu Á [2], được phân bố

ở một số vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như

Úc, châu Á và châu Phi [19]

Theo y học cổ truyền, cây Bạch hoa xà được

sử dụng điều trị một số bệnh về da như bị vết

thương, chàm, bệnh ghẻ, bệnh phong [1] Nhiều

nghiên cứu cho thấy nhiều bộ phận như rễ, lá và

cành của cây được sử dụng như nguồn dược liệu

Rễ cây chứa một acrid crystalline gọi là

plumbagin, một naphtoquinone màu vàng được

sử dụng như dược chất ở Ấn Độ từ khoảng 750

năm trước công nguyên dùng kháng ký sinh, bổ

tim, bảo vệ gan và bảo vệ thần kinh Ngoài ra,

nhiều hoạt chất khác nhau được ghi nhận trong rễ

cây này, bao gồm phenolic acids, tannins,

anthocyanin có hoạt tính kháng khuẩn [13]

Nhiều nghiên cứu cho thấy, plumbagin được

chiết tách từ cây có khả năng kháng ung thư

[12], kháng khuẩn [4, 5], kháng sốt rét [8], ức

chế hoạt động phân chia tế bào [3], kháng đột

biến, kháng côn trùng [8] và làm giảm

cholesterol tổng số [12]

Cây bạch hoa xà sinh trưởng chậm trong điều

kiện tự nhiên, các rễ của cây dùng để thu nhận

plumbagin cần nhiều năm mới cho hàm lượng

hoạt chất cao [7] Ở Việt Nam, do chưa có qui

hoạch tổng thể vùng trồng thu nguyên liệu, vì

vậy, việc khai thác rễ tự nhiên dùng làm nguồn dược liệu chế biến sản phẩm tiêu tốn nhiều thời gian, làm cạn kiệt lượng cây phân bố ngoài tự nhiên

Trong bài báo này, chúng tôi trình bày kết

quả nghiên cứu tạo nguyên liệu cây in vitro và

bước đầu khảo sát khả năng tạo rễ tơ cây bạch

hoa xà (Plumbago zeylanica) nhờ vi khuẩn

Agrobacterium rhizogenes trên cơ sở dùng mô

nguyên liệu in vitro đã tạo được hướng mục đích

dài hạn là nuôi nhân quy mô lớn sinh khối rễ tơ bằng phương pháp công nghệ sinh học, góp phần đáp ứng nguồn nguyên liệu dùng chế biến sản phẩm sử sụng trong lĩnh vực y dược

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Vật liệu

Cây bạch hoa xà (Plumbago zeylanica) sinh

trưởng trong điều kiện tự nhiên ở tỉnh Phú Yên được lấy mẫu đọan thân để khử trùng; sử dụng 2

chủng vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes

ATCC (American Type Culture Collection)

15934 và ATCC 11325 [dạng hoang dại (wild

type), đều chứa plasmid pRi mang các gen rol (root loci) như rolB và rolC trên vùng T-DNA]

được cung cấp bởi Phòng Công nghệ gen, Viện Sinh học nhiệt đới

Phương pháp

Khử trùng mẫu cấy

Trang 2

Đoạn thân (dài khoảng 1,5 cm) chứa chồi

ngủ được rửa dưới vòi nước máy trong 10-15

phút, sau đó tiến hành rửa sạch bề mặt bằng

nước xà phòng loãng và rửa lại bằng nước cất

vô trùng Tiếp theo, mẫu được khử trùng bằng

dung dịch javel thương mại nồng độ 10% (v/v)

trong thời gian 20 phút Mẫu được rửa lại bằng

nước khử ion vô trùng, loại bỏ phần mô chết

trắng và cấy mẫu lên môi trường MS

(Murashige và Skoog, 1962) [10] đặc

Khảo sát sự tăng sinh chồi nách

Các đoạn thân mang chồi nách 4 tuần tuổi

(chồi cao khoảng 0,5 cm) được nuôi cấy trên

môi trường MS có bổ sung BA 1,0-2,5 mg/L và

IBA 0,1-0,5 mg/L pH môi trường được điều

chỉnh về 5,8 trước khi hấp khử trùng ở nhiệt độ

121oC, áp suất 1atm trong thời gian 30 phút

Các mẫu được nuôi trong điều kiện chiếu sáng

10 h/ngày ở nhiệt độ 22 ± 2oC

Khảo sát phát triển cây

Mẫu cấy dùng cho thí nghiệm là những

chồi in vitro có chiều cao khoảng 1,5 cm,

được nuôi cấy trên môi trường MS có bổ

sung IBA nồng độ 0,1-0,35 mg/L, pH 5,8;

điều kiện khử trùng môi trường và điều kiện

nuôi như trên

Khảo sát sự tạo rễ bất định

Nghiên cứu này nhằm mục đích tạo nguồn

nguyên liệu rễ bất định dùng nuôi cấy so sánh

với rễ tơ

Đoạn thân (dài khoảng 1,5 cm) và lá cây in

vitro (có cuống) được nuôi cấy trên môi trường

MS bổ sung chất điều hòa sinh trưởng thực vật

NAA (0,1-1,5 mg/L) và IBA (0,1-1,5 mg/L) pH

5,8; điều kiện khử trùng môi trường và điều

kiện nuôi như trên

Khảo sát khả năng tạo rễ tơ

Vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes ATCC

15834 và ATCC 11325 bảo quản ở -80oC được

hoạt hoá bởi quá trình nuôi trải trên môi trường

LB (đặc) trong 2 ngày ở 25oC và điều kiện tối

Vi khuẩn, qua cấy chuyển vào môi trường lỏng

LB và nuôi lắc 280 vòng/phút ở 25oC trong 24

giờ, được dùng để xử lý chuyển gen tạo rễ tơ

Mẫu lá (có cuống) của cây in vitro được gây

nhiễm (infection) trong 15 phút với từng chủng

vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes nói trên

(hai lô thí nghiệm khác nhau) Thấm khô nhẹ dịch vi khuẩn thừa ở mẫu lá và nuôi chung (co-cultivation) mô với vi khuẩn trong 3 ngày Sau nuôi chung, tiến hành rửa loại bỏ vi khuẩn bằng kháng sinh cefotaxime (500 g/ml) Mẫu sau khi rửa được nuôi trên môi trường MS đặc có bổ sung cefotaxime (nồng độ như trên) Theo dõi sự hình thành rễ tơ sau 2-4 tuần nuôi ở

25oC và điều kiện tối, ghi nhận hình thái mẫu rễ

tơ và tách dòng nuôi cấy rễ tơ trong môi trường

MS lỏng không bổ sung chất điều hòa sinh trưởng sau khi rễ phát triển đạt chiều dài khoảng

1 cm

Xử lý thống kê

Các thí nghiệm được thiết kế theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần, số liệu được xử lý bằng phần mềm Statgraphics Centurion XV theo phương pháp Duncan multiple Range Test (Duncan, 1995) ở mức ý nghĩa 5%

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Khảo sát sự tăng sinh chồi nách

Cytokinin là nhóm các chất điều hòa sinh trưởng thực vật, có một trong các hoạt tính sinh

lý là kích thích sự phát triển chồi nách Đặc biệt, khi tương tác với auxin ở nồng độ thích hợp, cytokinin sẽ thúc đẩy phân chia tế bào ở mô phân sinh đỉnh, nâng cao tỷ lệ tạo chồi, tạo số lượng chồi hình thành nhiều hơn so với không

bổ sung hai nhóm chất này

Khi không bổ sung/bổ sung ít cytokinin, chồi tăng trưởng chủ yếu theo chiều cao, không được kích thích tạo nhiều chồi bên Không phải nồng độ cytokinin và auxin cao quyết định sự tạo chồi mà chính tỷ lệ thích hợp giữa cytokinin

và auxin đã làm tăng khả năng tạo chồi (hình 1; bảng 1) Nồng độ BA 1,5 mg/L kết hợp IBA 0,1 mg/L là tổ hợp tạo chồi tốt nhất trong các nghiệm thức (4,76 chồi/mẫu) và kết quả nhận được ở nghiên cứu này của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Verma et al (2002) [18], qua nghiên cứu khả năng tạo chồi trực tiếp

từ chồi bên cây bạch hoa xà với số chồi trung bình là 3,5 trên môi trường MS bổ sung 2 mg/L

BA và 0,1 mg/L IBA

Trang 3

A Nghiệm thức đối chứng

sau 4 tuần nuôi cấy

B MS+ 1,5 mg/L BA + 0,1mg/L IBA

sau 4 tuần nuôi cấy

C MS +1,0 mg/L BA + (0,1-0,5) mg/L IBA D MS + 1,5 mg/L BA + (0,1-0,5) mg/L IBA

E MS + 2,0 mg/L BA + (0,1-0,5) mg/L IBA F MS + 2,5 mg/L BA+ (0,1-0,5) mg/L IBA

Hình 1 Tạo chồi bạch hoa xà từ chồi bên trên các môi trường khác nhau sau 4 tuần nuôi cấy

A Đối chứng; B Môi trường MS+ 1,5 mg/L BA + 0,1 mg/L IBA; C Môi trường MS +1,0 mg/L BA + (0,1-0,5) mg/L IBA; D Môi trường MS + 1,5 mg/L BA + (0,1-(0,1-0,5) mg/L IBA; E Môi trường MS + 2,0 mg/L BA + (0,1-0,5) mg/L IBA; F Môi trường MS + 2,5 mg/L BA+ (0,1-0,5) mg/L IBA Các chữ cái a, b, c, d, trên hình 1 tương ứng môi trường A1, A2, A3, ở bảng 1.

a

g

h

i

j

k

o

r

q

s

Trang 4

Bảng 1 Kết quả khảo sát ảnh hưởng nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng BA và IBA đến khả

năng tạo chồi từ chồi bên in vitro của cây bạch hoa xà

Môi

trường

hiệu

BA (mg/L)

IBA (mg/L)

Tỷ lệ tạo chồi (%)

Số chồi trung bình/mẫu

Chiều cao trung bình của chồi (cm)

Các chữ cái khác nhau (a, b, c, ) chỉ sự khác biệt có ý nghĩa ở mức thống kê, α = 0,05

Khảo sát sự phát triển cây

Các chồi phát triển tốt được cắt ngang và

cấy thẳng đứng trên môi trường MS có bổ sung

IBA với các nồng độ khác nhau (bảng 2) để

đánh giá khả năng tạo rễ Kết quả cho thấy, ở tất

cả các chồi rễ đều phát triển trên môi trường

MS có bổ sung IBA sau 2 tuần nuôi cấy Môi

trường E1 (0,1 mg/L IBA) là môi trường thích

hợp cho sự phát triển cây với số rễ trung bình 11,33; chiều dài rễ trung bình 2,27 và số lá trung bình 6,67 (bảng 2) Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Verma et al (2002), Wei et al (2006) [18, 20] qua nghiên cứu khả năng tạo rễ từ chồi cây Bạch hoa xà trên môi trường MS bổ sung 0,1 mg/L IBA - tốt nhất cho sự tạo rễ và tăng trưởng cây

Hình 2 Ảnh hưởng IBA lên sự phát triển cây sau 2 tuần nuôi cấy

a

b

c d

f

e

g

Trang 5

Bảng 2 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật IBA lên sự phát triển cây bạch hoa xà từ

chồi in vitro sau 2 tuần nuôi cấy

Môi

trường

Ký hiệu

Nồng độ IBA(mg/L)

Tỷ lệ tạo

rễ (%)

Số rễ trung bình/mẫu

Chiều dài

rễ (cm)

Số lá trung bình/mẫu

Các chữ cái khác nhau (a, b, c, ) chỉ sự khác biệt có ý nghĩa ở mức α = 0,05

Khảo sát sự tạo rễ bất định

Kết quả nghiên cứu cảm ứng tạo rễ bất định

từ lá và đoạn thân trên môi trường MS có bổ

sung nồng độ khác nhau của các chất điều hòa sinh trưởng IBA và NAA được trình bày ở bảng 3

Bảng 3 Ảnh hưởng các chất điều hòa sinh trưởng IBA và NAA đến khả năng tạo rễ bất định từ lá

và đoạn thân sau 4 tuần nuôi cấy

Hàm lượng (mg/L) Trọng lượng rễ TB/nghiệm thức (g TLT)

Các chữ cái khác nhau (a, b, c, ) chỉ sự khác biệt có ý nghĩa ở mức α = 0,05

Trang 6

Hình 3 Ảnh hưởng các chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng tạo rễ bất định từ lá và đoạn thân

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các

công thức đều kích thích tạo rễ bất định sau 4

tuần nuôi cấy Tuy nhiên, tổ hợp nồng độ IBA

0,5 mg/L và NAA 0,1 mg/L có tác động tối ưu

đến sự hình thành rễ bất định ở lá với trọng

lượng tươi rễ trung bình đạt 3,02 g; IBA 0,1

mg/L phối hợp NAA 0,1 mg/L có tác động tối

ưu cho sự tạo rễ từ đoạn thân với trọng lượng

tươi rễ trung bình đạt 1,78 g (bảng 3 và hình 8)

Như vậy, kết quả nhận được cho thấy sự hình

thành rễ được kích thích mạnh khi có sự kết hợp

của IBA và NAA trong môi trường nuôi cấy;

kết quả này khá phù hợp với kết quả nghiên cứu

của Sivanesan & Jeong (2009) [16] khi cho rằng

sung 1,0 mg/L IBA và 0,5 mg/L NAA Lá là bộ phận cho kết quả tạo rễ bất định tốt hơn so với đoạn thân

Khảo sát tạo rễ tơ

Hai tuần sau nuôi chung, chúng tôi nhận thấy

có sự hình thành rễ tơ ở một số mẫu lá (hình 4)

Tuy chưa thực hiện phản ứng PCR các gen rol để

khẳng định là rễ chuyển gen nhưng dựa vào tần

số tạo rễ cao (công bố ở bài báo khác), dựa vào quan sát hình thái rễ qua kính hiển vi (rễ có rất nhiều lông hút) và sự tăng sinh rất nhanh với tính

ổn định cao của chúng trong môi trường MS lỏng không bổ sung chất điều hòa sinh trưởng so với

Trang 7

dòng rễ tạo được là các dòng rễ tơ (2 dòng qua

dùng chủng vi khuẩn ATCC 11325 và 3 dòng

qua dùng chủng vi khuẩn ATCC 15834) (hình 5,

6, 7) Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả

nghiên cứu của Verma et al (2002) [18] khi kết luận sinh khối tươi của rễ tơ/rễ chuyển gen cao gấp 2,5 lần so với rễ đối chứng

Hình 4 Sự hình thành rễ tơ từ mảnh lá

a Rễ tơ từ mảnh lá ở giai đoạn 14 ngày sau nuôi

chung với Agrobacterium rhizogenes ATCC 15834

(vị trí mũi tên), b Đối chứng (ĐC)

Hình 5 Rễ tơ từ mảnh lá chụp dưới kính hiển vi

(vị trí mũi tên) qua nuôi chung với

Agrobacterium rhizogenes ATCC 11325

Hình 6 Đoạn rễ tơ (chụp qua kính hiển vi, do

Agrobacterium rhizogenes ATCC 15834) nuôi

trên môi trường MS không bổ sung chất điều

hòa sinh trưởng

Hình 7 Rễ tơ (do Agrobacterium rhizogenes

ATCC 15834) nuôi trong môi trường MS lỏng lắc không bổ sung chất điều hòa sinh trưởng sau

30 ngày

KẾT LUẬN

Trên đối tượng cây dược liệu bạch hoa xà

(Plumbago zeylanica L.), qua thực hiện một số

nghiên cứu về nuôi cấy mô in vitro bao gồm nuôi

cấy đoạn thân mang chồi ngủ, nuôi cấy tăng sinh

chồi, tăng trưởng cây và nuôi cấy tạo rễ bất định

dùng môi trường khoáng cơ bản MS có bổ sung

một số loại chất điều hòa sinh trưởng (BA, IBA,

NAA) thích hợp với nồng độ thích hợp ở từng

giai đoạn nuôi cấy khác nhau; nghiên cứu đã xây

dựng được nguồn nguyên liệu cây in vitro có

sinh trưởng tốt dùng cho nghiên cứu tạo rễ tơ

nhờ vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes ở giai

đoạn tiếp theo

Đã tạo được 5 dòng rễ tơ qua xử lý gây nhiễm và nuôi chung mẫu lá với 2 chủng vi

khuẩn Agrobacterium rhizogenes ATCC 11325

và ATCC 15834 Các dòng rễ tơ này mang nhiều lông hút, có khả năng tăng sinh khối nhanh và ổn định khi được nuôi lắc (ở điều kiện tối) trong môi trường MS không bổ sung chất điều hòa sinh trưởng

Lời cảm ơn: Các tác giả chân thành cảm ơn Phòng thí nghiệm trọng điểm phía Nam về công

Trang 8

nghệ tế bào thực vật đã tạo điều kiện thuận lợi

về trang thiết bị để thực hiện nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abebe D., Ayehu A., 1993 Medicinal plants

and enigmatic health practices of northern

Ethiopia BSPE, Addis Ababa

2 Aditi G., Anjali G., Singh J., 1999 New

naphtoquinones from Plumbago zeylanica

Pharm Biol., 37: 321-323

3 Bhargava S K., 1994 Effects of plumbagin

on reproductive function of male dog

Indian J Exp Biol., 22: 153-156

4 Didery N., Dubrevil L., Pinkas M., 1994

Activity of anthraquinonic and

naphtoquinonic compounds on oral bacteria

Die Pharm., 49: 681-683

5 Duraga R., Sridhar P., Polasa H., 1990

Effect of plumbagin on antibiotic resistance

in bacteria Indian J Med Res., 91: 18-20

6 Idayat T., Gbadamosi, Egunyomi A., 2010

Micropropagation of Plumbago zeylanica L

(Plumbaginaceae) in Ibadan, Southwestern,

Nigeria J Med Plant Res., 4(4): 293-297

7 Kitanow G M., Pashankov P P., 1994

Quantitative investigation on the dynamics of

plumbagin in Plumbago europea L roots and

herb by HPLC Pharmazie, 49: 462

8 Kubo I., Uchida M., Klocke J K., 1983 An

insect ecolysis inhibitor from the African

medicinal plant, Plumbago capsensis

(Plumbaginaceae) Agric Biol Chem., 47:

911-913

9 Mohana K., Purushothoman K K., 1980

Plumbagin: a study of its anticancer,

antimicrobial and antifungal properties

Indian J Exp Biol., 18: 876-888

10 Murashige T., Skoog F., 1962 A revised

medium for rapid growth and bioassays with

tobacco tissue cultures Physiol Plant., 15:

473-479

11 Parimala R., Sachdanandam P., 1983 Effect

of plumbagin on some glucose metabolizing

J Ethnopharmacol., 37: 85-91

12 Ram A., 1996 Effect of Plumbago

Zeylanica in hyperlipidaemic rabbits and its

modification by vitamin E Indian J Pharmacol., 28:161-166

13 Rang D D., Dung N X., 1996 Chemical

constituents of Plumbago zeylanica J of Chemicals (Vietnam), 34: 67-70

14 Satheeshkumar K., Jose B., Soniya E V and Seeni S., 2009 Isolation of morphovariants

through plant regeneration in Agrobacterium

rhizogenes induced hairy root cultures of Plumbago rosea L Indian J Biotechnol., 8:

435-441

15 Sivanesan I., Jeong B R., 2009 Induction and establishment of adventitious and hairy

root cultures of Plumbago zeylanica L Afr

J Biotechnol., 8(20): 5294-5300

16 Sivanesan I., Jeong B R., 2009

Micropropagation of Plumbago zeylanica L

Afr J Biotechnol., 8(16): 3761-3768

17 Sivanesan, 2007 Shoot regeneration and somaclonal variation from leaf callus cultures

of Plumbago zeylanica Linn Asian J Plant

Sci., 6(1): 83-86

18 Verma P C., Singh D., Rahman L U.,

Gupta M M and Banerjee S., 2002 In

vitro-studies in Plumbago zeylanica: rapid

micropropagation and establishment of higher plumbagin yielding hairy root cultures J Plant Physiol., 159: 547-552

19 Vijver L M, Looter A P., 1971 The

constituents of the roots of Plumbago

auriculata and P zeylanica responsible for

antimicrobial activity Plant Med., 20: 8-13

20 Wei X., Gou X., Yuan T and Russell S D.,

2006 A highly efficient in vitro plant regeneration system and Agrobacterium-mediated transformation in Plumbago

zeylanica Plant Cell Rep., 25: 513-521

Trang 9

CREATION OF IN VITRO MATERIALS AND INITIAL STUDY

OF CREATING HAIRY ROOT FROM Plumbago zeylanica L

Bui Dinh Thach, Nguyen Minh Hieu, Pham Thi Phuong Uyen,

Ngo Ke Suong, Nguyen Huu Ho

Institute of Tropical Biology, VAST

SUMMARY

Plumbago zeylanica L is a medicinal plant that contains high levels of the active ingredient plumbgin

With the goal of creating raw materials in vitro, 20-minute disinfection time, 10% solution is the optimum

level to create templates in vitro (41.29%), MS medium supplemented with 1.5 mg/L BA and 0.1 mg L IBA create optimal shoots (4.67 shoots/sample) after 4 weeks of culture In vitro shoots developed into the best tree in each MS supplemented with 0.1 mg / L IBA Two strains of Agrobacterium rhizogen ATCC-15834 and ATCC-11325 used for transgenic stimulation ofhairy roots from in vitro leaves The initial results have

been selected for hairy root 5 lines

Keywords: Agrobacterium rhizogen, Plumbago zeylanica, hairy root, in vitro

Ngày nhận bài: 21-6-2012

Ngày đăng: 14/01/2020, 15:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w