1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN Luận điểm của C.Mác: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội”. Ý nghĩa phương pháp luận trong xây dựng, phát triển c

20 1,2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 36,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của tiểu luận Nghiên cứu làm rõ những vấn đề tư tưởng về con người trong lịch sử triết học trước Mác; tư tưởng của C.Mác về bản chất con người từ đó rút ra ý nghĩa, p

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn chủ đề tiểu luận

Con người là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các môn khoa học, đặc biệt là các khoa học xã hội và nhân văn Khác với những môn khoa học khác, triết học nghiên cứu con người ở góc độ chung nhất, khái quát nhất Con người

là chủ thể sáng tạo của mọi sáng tạo, của phát triển và tiến bộ Vì vậy, hơn bao giờ hết, việc nghiên cứu con người hoặc chăm lo lợi ích con người phát huy yếu

tố con người có ý nghĩa lớn lao trong sự đổi mới toàn diện nước ta

Luận điểm của Mác về con người viết trong tác phẩm “Luận cương về

Phoiơbắc” (1845) “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người

là tổng hoà những mối quan hệ xã hội” là định nghĩa về con người chứa đựng

tính nhân đạo cao cả, cho đến nay nó còn nguyên giá trị về lí luận và tư tưởng, soi sáng về phương pháp luận để chúng ta nghiên cứu về con người -vấn đề trọng tâm của mọi khoa học, để đi tới mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người và giải phóng nhân loại Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới hướng mục tiêu vào chiến lược con người ở nước ta, việc nghiên cứu bản chất con người trong vấn đề giáo dục nhân cách có ý nghĩa thời sự, cấp bách

nên tôi chọn Luận điểm của C.Mác: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội” Ý

nghĩa phương pháp luận trong xây dựng, phát triển con người hiện nay

làm chủ đề tiểu luận của mình

2 Mục đích nghiên cứu của tiểu luận

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề tư tưởng về con người trong lịch sử triết học trước Mác; tư tưởng của C.Mác về bản chất con người từ đó rút ra ý nghĩa, phương pháp luận trong xây dựng, phát triển con người Việt Nam hiện nay

Trang 2

NỘI DUNG

I TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC

1.1 Tư tưởng con người trong lịch sử triết học phương Đông

a) Vấn đề con người trong triết học Trung Hoa cổ đại

Các nhà tư tưởng của triết học Trung Hoa cổ đại hầu như đều tập trung bàn đến con người Họ không tách con người ra khỏi thế giới; xem con người

là một phần của tự nhiên, hoà đồng với tự nhiên, chú ý và nhấn mạnh đến mặt

xã hội nhân sinh của con người

Khi bàn đến con người, Khổng Tử cho rằng: “người là cái đích của trời đất, trước hết là sự giao hợp của âm dương, là sự hội tụ của quỷ thần, là khí tinh tú của ngũ hành” Còn Lão Tử cho rằng: Con người và vật chất là do

“Đạo” sinh ra Trong mối quan hệ con người và xã hội thì Lão Tử lại xây dựng học thuyết con người vô vi, bất tranh, thụ động trước mọi thế lực thù địch

Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc còn có Mặc Tử với thuyết “Kiêm ái” Ông là người đầu tiên đã lấy lao động làm cái để phân biệt sự khác nhau giữa con người và con vật, đồng thời ông cũng là người đầu tiên chủ trương xây dựng một hình tượng con người với đầy đủ các mối quan hệ kinh tế lẫn quan

hệ tinh thần trong đời sống xã hội Dù còn nhiều ảo tưởng và duy tâm, song học thuyết về con người của Mặc Tử có nhiều tiến bộ

Có thể nói, triết học Trung Hoa cổ đại chú ý đến con người xã hội hơn con người tự nhiên, con người đạo đức hơn con người trí tuệ Vấn đề con người được bàn đến ở đây chủ yếu đều thiên về mặt đời sống tinh thần Tuy

có nhiều mặt tiến bộ, song nó không thoát ly khỏi đường lối triết học duy tâm,

do đó không đem lại cách giải thích đúng cho con người

b) Vấn đề con người trong triết học Ấn Độ cổ đại

Trang 3

Trong triết học Ấn Độ cổ đại, vấn đề con người được thể hiện rõ ở hệ thống không chính thống, trong đó Phật giáo là một khuynh hướng nổi tiếng của Ấn Độ Phật giáo có cái nhìn duy vật về con người, cho con người là nguyên nhân chính của họ Phật giáo cũng thấy được sức mạnh của con người, con người tự chịu trách nhiệm về mình, tự giải thoát cho mình chứ không nhờ một lực lượng nào khác ở bên ngoài bản thân con người, đồng thời luôn đề cao con người, hướng con người tới cuộc sống thiện đúng như bản tính vốn có của nó Tuy nhiên, khi giải thích nguồn gốc cá nhân của con người, triết học Phật giáo chưa nhận thấy nguồn gốc của con người là thoát thai từ động vật Phật giáo không thừa nhận con người là một thực tại khách quan vì nó là “vô thường”, “vô ngã” là “giả tượng”

1.2 Tư tưởng về con người trong triết học phương Tây

a) Vấn đề con người trong triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại

Các đại biểu đầu tiên của chủ nghĩa duy vật cổ đại đã xem xét con người ở tính tồn tại hiện thực của nó Bản chất con người như một nhân tố cấu thành tồn tại nói chung, là một phần của tự nhiên Nói cách khác, con người là một vũ trụ thu nhỏ lại, là bản sao vũ trụ lớn, là sự phản ánh của vũ trụ lớn Cũng như mọi vật khác, con người đều bắt nguồn từ một bản nguyên vật chất xác định như: nước (theo Ta-lét) hoặc không khí (theo A-naximen) hoặc lửa (theo Hêracơlít) hay một dạng Apeuron (như Anaximăngđrơ)

Tuy các quan niệm trên rất thơ ngây, nhưng đã nhấn mạnh nguồn gốc con người là một dạng vật chất cụ thể chứ không phải do thần thánh sinh ra Những quan niệm này đã đặt nền móng cho sự phát triển của các tư tưởng duy vật trong triết học sau này

b) Vấn đề con người trong triết học thời kì Phục Hưng và cận đại

Vấn đề con người trong triết học thời Phục Hưng và cận đại trở thành trung tâm của các triết học Đối lập với thế giới quan tôn giáo hạ thấp con người, coi con người là một sinh vật thụ động chỉ biết thờ phụng chúa và cầu

Trang 4

mong được chúa rửa tội, triết học thời kỳ này chứng minh sức mạnh của con người, đấu tranh cho sự giải phóng con người và những tư tưởng nhân đạo được phát triển Đại biểu cho thời kỳ khai sáng là triết gia Nicôlai Ku-dan Mặc dù có những điểm tích cực, song yếu tố duy vật xen kẽ yếu tố duy tâm,

xu hướng vô thần biểu hiện dưới cái vỏ phiếm thần là một đặc điểm nổi bật trong triết học thời kỳ này nói chung, tư tưởng về con người nói riêng Thời cận đại tư tưởng triết học hướng về đề cao quyền tự nhiên của con người, bản chất sâu xa của con người (bản nguyên) Đại biểu tiêu biểu đó là Hốp-xơ, Xpi-nô-da; Đề-các…

Tóm lại, triết học thời kỳ Phục Hưng và cận đại là một bước phát triển mới về tư tưởng con người Ở đây, con người được giải thích như là một hiện tượng sinh học và chúng là tuyệt tác của tạo hoá Con người được xem xét trong mối quan hệ với đời sống hiện thực, đề cao con người với tư cách là một cá nhân tích cực, trong đó con người được hoàn thiện cả về mặt thể xác

và thể lực, mặt trí tuệ và mặt nhân đạo của con người được đề cao Tuy nhiên, những quan niệm về con người ở đây chúng ta đều thấy nét đặc trưng khái quát của nó là tính chất máy móc, siêu hình

c) Vấn đề con người trong triết học cổ điển Đức

Có thể nói, triết học cổ điển Đức là một bước tiến mới về chất so với các tư tưởng triết học trước đó Triết học đã đề cao vai trò tích cực của hoạt động con người, coi con người là một thực thể hoạt động, là chủ thể đồng thời

là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình Ở đây diễn ra cuộc đấu tranh trong chủ nghĩa duy vật (đại biểu là Phoiơbắc) và chủ nghĩa duy tâm (đại biểu là Hêghen), trong phương pháp biện chứng (đại biểu là Hêghen) và phương pháp siêu hình (đại biểu là Phoiơbắc) Theo Hêghen, con người là sản phẩm và là giai đoạn phát triển cao nhất của “ý niệm tuyệt đối”, con người là

sự tha hoá “ý niệm” Hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người là công cụ để “tinh thần tuyệt đối” nhận thức chính bản thân mình và trở về với

Trang 5

bản thân mình Như vậy, ông đã thấy mối quan hệ giữa con người và xã hội Ngược lại, Phoiơbắc cho rằng con người như một sinh vật có cảm giác, biết tư duy, có ham muốn, có ước mơ, là một bộ phận của giới tự nhiên và xét theo bản chất của nó là tình thương Con người mà ông quan niệm là một cá nhân trừu tượng, mang tính chất sinh - lí thụ động, bị tách khỏi những điều kiện kinh tế - lịch sử, ngoài các quan hệ giai cấp, Phoiơbắc chưa thấy rõ mặt xã hội của con người

Nhìn chung, tư tưởng về con người trong lịch sử triết học trước Mác đã nêu trên đây nổi lên tính phiến diện hoặc sai lầm nhưng đã biểu hiện được qui luật khách quan Triết học phân tâm học của Phơ rớt (1856 - 1939) nhìn nhận con người như một cá thể sinh vật đối lập với xã hội và coi sức mạnh của con người là sức mạnh của bản năng vô thức, trong đó cái đam mê tình dục giữ vai trò chủ đạo Bên cạnh đó, một số nhà Triết học tư sản hiện đại và chủ nghĩa sinh học xã hội đã đưa ra quan niệm của mình về con người Các-náp, một đại diện của trường phái vật lý trong triết học đã cho rằng: “Con người về nguyên tắc không phân biệt với tự nhiên, đó là một khách thể vật lý” Uy-Sơn, người theo thuyết học - xã hội đã nhấn mạnh: “Ngọn nguồn cái bản chất của con người là cái sinh vật” Theo ông thì 70% những đặc tính được xây dựng nên ở con người là do khả năng bẩm sinh, còn 30% là do xã hội G.Spen-ser

đã tuyệt đối hoá tầm quan trọng đặc biệt yếu tố sinh học trong bản chất con người Ông cho rằng: “Hành vi của con người về nguyên tắc không có gì khác với hành vi con vật Tiền đề của hành vi đạo đức có trong mỗi động vật” Còn Kiếc-cô-gơ, ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh, người Đan Mạch lại cho: “Bản chất của con người là một thứ phù du” Nhà triết học Đức Nitxơ định nghĩa:

“Bản chất của con người là bạo hành và sáng tạo” Còn C.herrick lại quan niệm: “Tất cả những gì của con người do bẩm sinh mà có thì không bị thay đổi do các điều kiện xã hội”

Trang 6

Tất cả những quan điểm đó đều nhấn mạnh yếu tố sinh học mà bỏ qua hoặc chưa chú ý đến mặt xã hội, môi trường hoàn cảnh tác động đến việc hình thành con người, đó là tính phiến diện phi Mácxít Toàn bộ tư tưởng về con người của các nhà triết học phi Mácxít vẫn nổi lên tính phiến diện khi nghiên cứu con người Kế thừa có chọn lọc và bổ sung, phát triển các tư tưởng triết học của các nhà tiền bối, triết học C.Mác ra đời đã khắc phục được những hạn chế trên, đồng thời đưa ra một tư tưởng mới về con người

II TƯ TƯỞNG CỦA MÁC VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

2.1 Tính hiện thực của bản chất con người.

Sở dĩ, khi bàn đến con người, C.Mác đã đặt trong tính hiện thực bởi vì: trong triết học cổ điển Đức, con người được xem xét một cách sai lệch Hê-ghen

đã quan niệm duy tâm về con người, cho con người là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần thế giới”, còn Phoiơbắc lại tách con người ra khỏi đời sống xã hội, qui tính sinh vật vào bản chất con người Để chống lại các quan điểm sai lầm đó, C.Mác đã xem xét con người trong tính hiện thực của nó Mặt khác, trong triết học C.Mác, vấn đề thực tiễn là điểm xuất phát có tính chất nền tảng

Trong hoạt động thực tiễn, bằng trí tuệ thiên tài của mình, C.Mác đã từng bước chuyển từ chủ nghĩa duy tâm của Hêghen sang chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc Ông đã kế thừa có chọn lọc những giá trị tinh tuý của nền triết học trước đó và giữ lấy “nhân hợp lí” của sự phát triển trong dòng chảy liên tục của triết học Đồng thời, Mác đã vượt qua những hạn chế của các nhà triết học trước Mác hoặc cùng thời, phát hiện phương pháp nghiên cứu hiện thực mới, làm cơ sở phương pháp luận, không chỉ riêng Mác xít mà còn cho cả các ngành khoa học cơ bản Phát hiện lớn của Mác đó là thấy được con người trong hoạt động thực tiễn, thông qua thực tiễn con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời làm biến đổi chính bản thân mình Nói cách khác, con người có khả năng cải tạo thế giới và cải tạo mình thông qua hoạt động thực

Trang 7

tiễn Hoài bão lí tưởng của Mác là vì con người và sự nghiệp giải phóng giai cấp, xã hội, giải phóng cho mỗi người lao động khỏi áp bức, bóc lột bất công

Trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” Mác viết: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự

do của tất cả mọi người” Đó là tư tưởng nhất quán, là sợi chỉ đỏ, xuyên suốt

triết học Mác

Trong “Luận cương về Phoiơbắc” C.Mác đã nhấn mạnh đến vai trò của thực tiễn: “Các nhà triết học trước kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau song vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới” Và cũng trong tác phẩm này,

Mác đã khẳng định về bản chất con người: “Bản chất con người không phải

là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người tổng hoà các mối quan hệ xã hội” Với định nghĩa này,

Mác đã đưa ra phạm trù “con người thực tiễn”, không phải là cái nhìn trừu tượng mà là cụ thể - cảm tính, được đặt vào trong hoạt động sản xuất thực tiễn, xem xét trong mối quan hệ không tách rời với tự nhiên, xã hội Con người là một sinh vật, cũng có nghĩa con người là một bộ phận của tự nhiên, gắn bó với quá trình hình thành và phát triển của tự nhiên Song đó là một thực thể tự nhiên luôn hoạt động và chứa đựng trong mình những khả năng to lớn về sự phát triển

Theo Mác thì con người là kết quả của lịch sử phát triển vật chất - giới

tự nhiên Trong “Bản thảo kinh tế - triết học” - 1844 C.Mác viết: “Con người

là một sinh vật có “tính loài” giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người

Vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên” Con người muốn phát triển

và tham gia vào các hoạt động xã hội, trước hết phải tồn tại, phải được thoả mãn các tiền đề về tự nhiên như một cá thể sinh vật - xã hội Điều tất yếu đó vốn có từ xa xưa trong lịch sử, vẫn tồn tại tự nhiên nhưng bị che khuất bởi tất

cả những giải thích tôn giáo thần bí của các thế lực thống trị mà thực chất là

Trang 8

sự trốn chạy khỏi hiện thực Chỉ khi nào giải quyết được thoả đáng những tiền

đề tự nhiên con người mới có cuộc sống và yên tâm bước vào địa hạt của hoạt động sáng tạo Ở đây, tính biện chứng thể hiện: trong quá trình tồn tại, con người đã không ngừng sáng tạo, hoạt động thực tiễn của con người càng đi sâu bao nhiêu, càng sáng tạo bao nhiêu thì nó càng xuất hiện những tiền đề bản năng ban đầu, đem vào cho con người bản chất người hơn bấy nhiêu Trong đó, đáng chú ý nhất là hoạt động sản xuất vật chất và những lợi ích của vật chất mà nó thu được trong hoạt động sản xuất vật chất đó

Khi nghiên cứu con người, Mác đã không hề phủ nhận tự nhiên, không

hề gạt bỏ cái sinh vật của con người Theo Mác, nếu nghiên cứu con người và giải quyết các vấn đề con người thì sẽ chỉ là ảo tưởng và duy tâm Trong “Hệ

tư tưởng Đức” - 1848, Mác đã viết: “Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì tự nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống Vì vậy, điều đầu tiên cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy trong mỗi quan hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra trong họ với phần còn lại của

tự nhiên” Tự nhiên là một phần cơ thể con người, là môi trường, là điều kiện

để con người tồn tại và phát triển Con người tìm trong tự nhiên những điều kiện sống và những yếu tố vật chất cho sự sinh tồn của mình Trong quá trình phát triển, con người không ngừng tác động vào giới tự nhiên, cải biến nó theo những nhu cầu sáng tạo của mình và đã tạo ra một “tự nhiên thứ hai.” Trong “Biện chứng của tự nhiên”, Ăngghen khẳng định “chỉ có con người mới đạt được tới chỗ in cái dấu ấn của mình lên giới tự nhiên”

Con người là một sinh vật đặc biệt phát triển tới đỉnh cao của sự tiến hoá, sinh vật - xã hội Hoàn toàn khác với giới sinh vật thuần tuý mà ở đó bản năng thống trị, con người đã vượt qua giới hạn bản năng ban đầu, biết tư duy sáng tạo, biết hoạt động lao động để đảm bảo cho sự tồn tại của chính bản thân mình Chính trong quá trình lao động, con người đã thể hiện hoạt động sáng tạo của mình và đã để lại dấu ấn ngày càng nhiều trong thế giới hiện thực Con

Trang 9

người là chủ thể đã tạo ra mọi giá trị vật chất của thế giới Nhưng kết quả lao động sáng tạo của con người “chỉ có thể biến mất đi cùng với sự diệt vong của trái đất” Qua quá trình sáng tạo và làm biến đổi tự nhiên, con người đã tìm thấy được mình, tìm thấy sức mạnh để cải tạo xã hội và dung nạp vào nó ngày càng nhiều hơn những giá trị chung của văn hoá nhân loại Trong tác phẩm “Tư

bản - phê phán khoa kinh tế chính trị” 1859, Mác đã chỉ ra “lao động trước hết

là quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó” Chính thông qua hoạt động

thực tiễn, lao động sản xuất, con người đã hình thành nên tính xã hội trong bản thân, con người thực sự trở thành người, đồng thời mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đã chuyển sang mối quan hệ giữa con người với con người

Ăngghen viết: “Trên một định nghĩa nhất định nào đó, chúng ta phải nói rằng

“lao động sáng tạo ra bản thân con người” Nhờ lao động loài người đã trải qua những biến đổi về mặt sinh học, đồng thời xét đến cùng, lao động đã hình thành nên bản chất con người và qui định phẩm chất xã hội đặc biệt của con người trong những điều kiện lịch sử cụ thể”.

Thiên tài của Mác là đã vượt qua được những hạn chế trong lịch sử, khắc phục, loại bỏ được những thiếu sót, những yếu tố sai lầm của các quan niệm Triết học trước kia về bản chất con người, nhận thức đúng đắn và khoa học về bản chất con người Mác không chỉ đưa ra những dấu hiệu bản chất để phân biệt con người với thế giới loài vật mà còn vạch ra cái bản chất cụ thể xác định của con người, đặt con người vào trọng tâm của quá trình nhận thức

và cải tạo thế giới Con người cũng là một thực thể xã hội, vì con người có ngôn ngữ, có tư duy, biết lao động và có những mối quan hệ giao tiếp trong đời sống, điều đó con vật không thể có được Đó là bản chất xã hội của con

Trang 10

người Dĩ nhiên khi sinh ra, con người cần có những tiền đề để tồn tại, đó là tiền đề vật chất Chỉ có thông qua hoạt động xã hội, mà chủ yếu là lao động sản xuất, tiền đề đó mới được đáp ứng Vì vậy, qua lao động sản xuất, con người mới tạo ra của cải vật chất để nuôi sống mình, cải tạo thế giới, đồng thời làm biến đổi mặt sinh vật của con người, làm cho mặt sinh vật được

“người hoá” Như vậy, lao động sản xuất như là một chuẩn mực để phân biệt con người với con vật Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác và

Ăngghen viết: “Bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế

là con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” Và

trong “Bản thảo kinh tế - Triết học” 1844, C Mác khẳng định: “Con người có một hoạt động sinh sống có ý thức Đó không phải là cái có tính quyết định

mà với nó con người trực tiếp hoà làm một Như vậy, hoạt động xã hội của con người chủ yếu là lao động sản xuất, hoạt động cải tạo thế giới đã làm thành “người hoá” Chính toàn bộ sự hoạt động ấy đã làm cho những nhu cầu sinh vật ở con người trở thành nhu cầu xã hội”

Trong quá trình tiến hoá của tự nhiên nói chung và của bản thân giới động vật nói riêng, nhờ có lao động và ngôn ngữ, con người đã thể hiện được bước nhảy vọt căn bản về chất Đó là chuyển từ động vật với sự thống trị của bản năng thành động vật xã hội có ý nghĩa Là con người, tuy nhiên, khi mới tách khỏi thế giới động vật thì con người “còn là nửa động vật, thô lỗ, còn bất lực trước những lực lượng của chính mình; vì vậy họ cũng nghèo như động vật và cũng không hơn động vật mấy về sức sản xuất” Lao động là nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự chuyển hoá từ vượn thành con người Lao động sản xuất còn là tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, của lịch sử Quyết định luận mà Mác đã chỉ ra là: con người muốn sống được, trước hết phải được thoả mãn những nhu cầu tất yếu như: ăn, ở , mặc, đi lại theo đó thì hành vi lịch sử đầu tiên của con người là lao động sản xuất ra những tư

Ngày đăng: 14/01/2020, 14:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w