Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định; thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lân, là người giỏi văn th
Trang 1CHỦ ĐỀ HOẠT ĐỘNG THÁNG 11
Trang 2Em hiểu thế nào là “tôn sư trọng đạo”?
Từ “Tôn Sư” là như thế nào? Nó nói lên sự kính trọng, tình yêu thương, sự quí mến
thầy, Cô
Vì sao phải: Trọng Đạo? Muốn học đạo thì phải trọng đạo Có trọng đạo rồi mới học được đạo, mở mang được tâm hồn, trí tuệ
Có Trọng Đạo, con người mới trở nên tốt đẹp, giúp ích cho xã hội, đất nước ngày
càng thịnh vượng
Tôn sư trọng đạo có những biểu hiện nào?
Trang 31 B Ụ I P H Ấ N
Trò chơi ô chữ
Trang 4Theo em thế nào là truyền thống hiếu học?
Theo em hiếu học có những biểu hiện cụ thể nào?
Theo em hiểu học có giới hạn tuổi không? Tại sao?
- Theo em học sinh phải học như thế nào mới
là hiếu học?
Trang 5Người có nhiều lời sấm dự đoán các
sự kiện và được gọi là trạng Trình?
Ông sinh năm Tân Hợi đời vua
Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22
(1491), tại thôn Cổ Am huyện Vĩnh Lại,
Hải Dương, nay là huyện Vĩnh Bảo,
Hải Phòng Sinh trưởng trong một danh gia
vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm
Quận công Nguyễn Văn Định; thân mẫu là
bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư
Nhữ Văn Lân, là người giỏi văn thơ và am
hiểu lý số
Nguyễn Bỉnh Khiêm
ĐÁP ÁN
Trang 6•Ông khôi ngô, tuấn tú, tư chất khác thường, một tuổi ông đã
nói sõi, lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ nào.
•Lớn lên ông theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch
Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá) Ông sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.
•Thời bấy giờ trong nước biến loạn, ông không muốn xuất đầu,
lộ diện, đành ở ẩn một nơi Năm Đại Chính thứ sáu (1535) đời vua Mạc Đăng Doanh lúc 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên Vua Mạc cất ông lên làm Tả Thị lang Đông các Học sĩ
Vì ông đỗ Trạng nguyên và được phong tước Trình Tuyền hầu
nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.
•Làm quan được bảy năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần
nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542
•Cùng với Tôn Trung Sơn và Victor Hugo, ông được nhận là
một trong 3 vị Thánh của đạo Cao Đài
Trang 7Lương Thế Vinh khi còn bé đã biết lấy nước đổ vào giếng
để nhặt quả bóng bưởi và sau này với nhiều đóng góp
trong toán học ông đã được người ta gọi tên là gì?
Lương Thế Vinh (tên chữ Cảnh Nghị, tên hiệu Thụy Hiên; 1442–?) là một nhà toán học, Phật học, nhà thơ người Việt Ông
đỗ trạng nguyên dưới triều Lê Thánh Tông và làm quan tại viện Hàn Lâm Ông là một trong 28 nhà thơ của hội Tao Đàn do vua
Lê Thánh Tông lập năm 1495
Lương Thế Vinh sinh ra tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam Hạ (nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) Từ nhỏ Lương Thế Vinh đã nổi tiếng về khả năng học mau thuộc, nhanh hiểu, và khả năng sáng tạo trong các trò chơi như đá bóng, thả diều, câu cá, bẫy chim
Trạng Lường ĐÁP ÁN
Trang 8 Về toán học, Lương Thế Vinh đã để lại
Đại thành Toán pháp
Khải minh Toán học
Về lịch sử hát chèo:
Hỷ phường Phổ lục
Về Phật học:
Thiền môn Khoa giáo (còn gọi là Thích điển Giáo
khoa)
Bài tựa sách Nam Tông Tự Pháp Đồ (sách lịch sử
đạo Phật Việt Nam do thiền sư Thường Chiếu, tịch năm 1203, viết ra)
Trang 9Người từng bắt đom đóm cho vào quả
trứng để làm đèn sáng học mỗi đêm?
• Mạc Đĩnh Chi (chữ Hán : 莫莫莫 ; 1280 - 1346) tự Tiết Phu
莫莫 , làm quan đời Trần Anh Tông Ông được mệnh danh là
lưỡng quốc Trạng nguyên do vừa là trạng nguyên của Việt Nam và cũng được phong làm trạng nguyên Trung Quốc
khi sang sứ.
• Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, xã Nam Tân ,
huyện Nam Sách , tỉnh Hải Dương Ông có tướng mạo xấu
xí nhưng trí tuệ thông minh.
• Năm 1304 đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long
thứ 12, triều đình mở khoa thi lấy 44 người đỗ
Thái học sinh ( tiến sĩ ) Mạc Đĩnh Chi đỗ đầu, chiếm học vị
trạng nguyên Ông được cử giữ việc coi sóc thư khố của
nhà vua, rồi chức Tả bộc xạ ( Thượng thư ) Đặc biệt hai
lần đi sứ Trung Quốc , ông đã dùng tài năng và phẩm chất thông minh của mình khiến người nước ngoài phải khâm
phục
Mạc Đĩnh
Chi
ĐÁP ÁN
Trang 10Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất ở nước ta?
Nguyễn Hiền (1234 - ?) đỗ trạng nguyên khi 13 tuổi
Ông là người làng Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường (nay là xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định)
Nguyễn Hiền
ĐÁP ÁN
Trang 11• Dưới triều Trần, đời vua Trần Thái Tông khoa thi năm Đinh Mùi (1247) có sự kiện lạ, làm cả
triều đình và bàn dân thiên hạ kinh ngạc, đó là Nguyễn Hiền đoạt học vị trạng nguyên khi mới 13 tuổi, trở thành trạng nguyên trẻ nhất trong
lịch sử Việt Nam Cùng năm đó có Lê Văn Hưu 17 tuổi đỗ Bảng nhãn và Đặng Ma La 14 tuổi đỗ
Thám hoa Đây cũng là khoa thi đầu tiên trong lịch
sử đặt ra danh vị Tam khôi
• Có lần Nguyễn Hiền đã gỡ bí cho cả triều đình, vua Trần giao cho ông chức Thượng thư bộ công (đứng đầu một bộ phụ trách việc xây dựng các công trình lớn) Sau khi ông mất, để tỏ lòng tôn kính một nhân tài mệnh yểu, vua cho đổi tên huyện Thượng Hiền
đổi thành Thượng Nguyên để kiêng tên húy của ông
Trang 12Người có công giúp vua cân voi,
xây tường, có tài về kiến trúc?
Lê Quý Đôn là con trai cả của ông Lê Trọng Thứ Thân sinh của Lê Quý Đôn đậu tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (1721) và làm quan đến chức
làm quan đến chức Hình bộ Hình bộ Thượng thư Thượng thư,
được phong tước
được phong tước hầu hầu.
Thuở nhỏ, ông có tên là Danh Phương, đến năm 1743 sau khi đỗ giải nguyên trường Sơn-Nam thì đổi thành Quý Đôn,
Lê Qúy Đôn
ĐÁP ÁN
Trang 13• Khi còn bé, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng là thần đồng Nhiều sách chép tiểu sử của ông có ghi: năm tuổi đã đọc được nhiều bài Kinh Thi, mười tuổi đã học sử Năm 13 tuổi (1739), theo cha lên kinh đô học, đến năm 18 tuổi, ông đậu giải nguyên kỳ thi Hương
trường thi Sơn Nam Sau đó, dự thi Hội không đỗ, ông về quê nhà dạy học và viết sách
• Năm 1752, Lê Quý Đôn được 27 tuổi, ông đỗ đầu
thi Hội và khi vào thi Đình ông cũng đậu đầu Bảng Nhãn tức Tam Nguyên (Khoá này không lấy
Trạng nguyên) Sau khi thi đỗ, Lê Quý Đôn được bổ nhiệm chức Thụ Thư ở Viện Hàn Lâm Năm 1754, ông được bổ làm Hàn lâm thừa chỉ rồi sung Toản tu Quốc sử quán
Trang 14• Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ,
bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn có thể kể
ra như sau:
lục; Bắc sử thông lục; Kiến văn tiểu lục
hoạt, phi trí bất hưng."
Trang 15thuc.caokha@gmail.com