Cây râu mèo (Orthosiphon aristatus) là một cây thuốc được sử dụng rộng rãi trong y học dân gian Việt Nam và nhiều nước trên thế giới như là một thuốc lợi tiểu. Cây nghể (Polygonum tomentosum) là một loài cây mọc hoang dại, gặp ở nhiều nơi ở Việt Nam nhưng việc sử dụng làm thuốc ở trong nước cũng như trên thế giới vẫn còn hạn chế. Trong báo cáo này, tác dụng bảo vệ gan của cao chiết ethyl acetat cây nghể và râu mèo chống lại carbon tetrachlorid (CCl4) gây độc trên gan trong mô hình gây tổn thương gan chuột mãn tính trong thời gian 8 tuần được nghiên cứu và so sánh khả năng bảo vệ gan của các cao chiết ehyl acetat với silymarin, hợp chất có khả năng bảo vệ gan chống lại nhiều loại chất độc hiệu quả. Kết quả thử nghiệm cho thấy ở cùng liều thử nghiệm là 16 mg/kg, cao chiết ethyl acetat cây râu mèo có khả năng làm giảm 55% hoạt tính ALT trong huyết tương so với nhóm chứng độc, tương đương khả năng làm giảm hoạt tính ALT của silymarin trong khi khả năng làm giảm hoạt tính ALT huyết tương của cao chiết ethyl acetat cây Nghể là làm giảm 65% hoạt tính ALT so với nhóm chứng độc, có khả năng làm giảm hoạt tính ALT cao hơn silymarin. Từ các kết quả thu được, có thể kết luận là cao chiết ethyl acetat của cây Nghể và Râu mèo có tác dụng tốt trong việc bảo vệ gan chống lại CCl4 gây độc tính mãn và có nhiều triển vọng trong việc sử dụng điều trị các bệnh về viêm gan cấp và mãn tính, phòng ngừa bệnh xơ gan.
Trang 1TÁC DỤNG BẢO VỆ GAN CỦA CAO CHIẾT ETHYL ACETATE
TỪ CÂY NGHỂ LÔNG DÀY (Polygonum tomentosum Willd.) VÀ RÂU MÈO (Orthosiphon aristatus (Blume) Miq.) TRÊN MÔ HÌNH GAN CHUỘT BỊ GÂY ĐỘC
MÃN TÍNH BẰNG CARBON TETRACHLORIDE Nguyễn Ngọc Hồng 1* , Huỳnh Ngọc Thụy 2
(1)
Đại học Kỹ thuật công nghệ tp Hồ Chí Minh, (*)nguyengochong2003@gmail.com
(2) Đại học Y Dược tp Hồ Chí Minh
TÓM TẮT: Cây râu mèo (Orthosiphon aristatus) là một cây thuốc được sử dụng rộng rãi trong y học dân
gian Việt Nam và nhiều nước trên thế giới như là một thuốc lợi tiểu Cây nghể (Polygonum tomentosum) là
một loài cây mọc hoang dại, gặp ở nhiều nơi ở Việt Nam nhưng việc sử dụng làm thuốc ở trong nước cũng như trên thế giới vẫn còn hạn chế Trong báo cáo này, tác dụng bảo vệ gan của cao chiết ethyl acetat cây nghể và râu mèo chống lại carbon tetrachlorid (CCl4) gây độc trên gan trong mô hình gây tổn thương gan chuột mãn tính trong thời gian 8 tuần được nghiên cứu và so sánh khả năng bảo vệ gan của các cao chiết ehyl acetat với silymarin, hợp chất có khả năng bảo vệ gan chống lại nhiều loại chất độc hiệu quả Kết quả thử nghiệm cho thấy ở cùng liều thử nghiệm là 16 mg/kg, cao chiết ethyl acetat cây râu mèo có khả năng làm giảm 55% hoạt tính ALT trong huyết tương so với nhóm chứng độc, tương đương khả năng làm giảm hoạt tính ALT của silymarin trong khi khả năng làm giảm hoạt tính ALT huyết tương của cao chiết ethyl acetat cây Nghể là làm giảm 65% hoạt tính ALT so với nhóm chứng độc, có khả năng làm giảm hoạt tính ALT cao hơn silymarin Từ các kết quả thu được, có thể kết luận là cao chiết ethyl acetat của cây Nghể và Râu mèo có tác dụng tốt trong việc bảo vệ gan chống lại CCl4 gây độc tính mãn và có nhiều triển vọng trong việc sử dụng điều trị các bệnh về viêm gan cấp và mãn tính, phòng ngừa bệnh xơ gan
Từ khóa: Orthosiphon aristatus, Polygonum tomentosum ALT, cao chiết ethyl acetat, CCl4, bảo vệ gan
MỞ ĐẦU
Gan là một cơ quan quan trọng về mặt
chuyển hóa các chất của cơ thể Một trong
những chức năng rất quan trọng của gan là tham
gia vào quá trình giải độc các chất nội sinh và
ngoại sinh Trong các trường hợp bệnh lý hay
sự quá tải các chất độc trong gan, các tế bào gan
sẽ bị hủy hoại, dẫn đến các tổn thương trên gan,
dần dần làm các tổn thương không hồi phục như
xơ gan, làm gan mất chức năng giải độc [13]
Bệnh gan là một trong những bệnh phổ biến
trong cộng đồng Có nhiều loại bệnh gan trong
đó thường gặp là những tổn thương gan gây ra
bệnh viêm gan dẫn đến xơ gan và ung thư gan,
cuối cùng là gây tử vong, với nguyên nhân chủ
yếu là do virút và nhiễm độc
Carbon tetrachloride (CCl4)là một chất gây
độc cho gan đã được biết từ lâu Chất này gây
bệnh viêm gan cấp tính và mãn tính, cũng như
gây ra bệnh ung thư gan CCl4 được dùng phổ
biến làm chất thử nghiệm để gây tổn thương gan
trên mô hình động vật CCl4 gây nên sự xơ hóa
gan và làm thay đổi các chỉ số sinh hóa của gan,
tính do virút [11, 16] Khi tế bào bị tổn thương, enzyme transaminase như alanine aminotransferase (ALT) tiết ra môi trường làm cho hoạt độ ALT đo được trong môi trường tăng Tiến hành đo hoạt lực enzyme này để đánh giá mức độ thương tổn của tế bào gan
Cây râu mèo (Orthosiphon aristatus) thuộc
họ Hoa môi (Lamiaceae), là cây thuốc được sử dụng rộng rãi trong y học dân gian Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, được dùng như là một thuốc lợi tiểu, điều trị viêm thận, sỏi thận, sỏi mật, tê thấp, đau nhức, bệnh Goutte [7, 15] và điều trị bệnh tiểu đường [14]
Cây nghể lông dày (Polygonum tomentosum) thuộc họ Rau răm (Polygonaceae),
là một loài cây cỏ nhiệt đới, mọc hoang dại ở nhiều vùng trong nước Trong dân gian, chồi non của cây nghể lông dày được dùng làm rau; ngoài ra, còn làm thuốc có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, bổ, lọc máu và chữa ho [4] Tuy nhiên, việc nghiên cứu sử dụng cây nghể lông dày làm thuốc vẫn còn hạn chế
Trong các nghiên cứu gần đây của chúng tôi
Trang 2và cây nghể lông dày có tác dụng chống oxy
hóa mạnh cũng như có tác dụng bảo vệ gan trên
mô hình tế bào gan chuột bị tách rời và trên mô
hình chuột bị gây độc cấp tính [9, 10] Để đánh
giá khả năng bảo vệ gan khi gan bị gây độc mãn
tính, cũng như so sánh khả năng bảo vệ gan của
các cao chiết ethyl acetate với silymarin hướng
đến việc nghiên cứu thuốc chữa bệnh gan cho
người, chúng tôi sử dụng mô hình gan chuột bị
nhiễm độc CCl4 mãn tính trong thời gian 8 tuần
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Hóa chất
CCl4 (Merck), dimethyl sulfoxide (Merck),
silymarin (Sigma) và kit thử alanine
aminotransferase (Diagnosticum) Các hóa chất
khác đạt tiêu chuẩn phân tích
Vật liệu
Phần trên mặt đất của cây râu mèo được thu
mua tại Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Cây
nghể lông dày được thu hái ở Long An Mẫu
được xác định bằng việc khảo sát đặc điểm hình
thái thực vật học dựa trên quan sát cây tươi
Dược liệu được rửa sạch, phơi trong bóng râm
đến khô, xay nhỏ làm nguyên liệu cho quá trình
chiết thu cao
Chuột nhắt (chủng Swiss albino) được mua
từ Viện Vaccin và Sinh phẩm Nha Trang,
được nuôi và thử tại phòng thí nghiệm Dược lý,
Khoa Dược, Trường Đại học Y Dược thành phố
Hồ Chí Minh
Phương pháp
Chuẩn bị mẫu thử: Hai loại nguyên liệu râu
mèo và nghể lông dày được chiết bằng phương
pháp ngấm kiệt với cồn 90% Dịch chiết sau khi
ngấm kiệt được thu hồi dung môi dưới áp suất
giảm thành dịch chiết đậm đặc Dịch chiết đậm
đặc cồn - nước này được phân tách thành các
phân đoạn bằng phương pháp chiết phân bố
lỏng - lỏng với các dung môi có độ phân cực
tăng dần là chloroform, ethyl acetate và
n-butanol để thu được các phân đoạn cao chiết
tương ứng Phân đoạn cao chiết ethyl acetate có
hoạt tính chống oxy hóa và bảo vệ tế bào gan
chống lại chất độc trên mô hình ex vivo tốt nhất
nên cao chiết ethyl acetate này được dùng để
thử nghiệm hoạt tính bảo vệ gan in vivo khi gan
bị gây độc mãn tính với CCl4
Khảo sát nồng độ CCl 4 thích hợp để gây độc gan chuột: Chuột được chia thành 6 nhóm, mỗi
nhóm có 6 con Cho chuột nhịn ăn 18 giờ rồi cho các nhóm chuột uống 0,2 ml dung dịch CCl4 (pha với dầu oliu) tương ứng với các nồng độ: 100%, 50%, 30%, 25%, 20% và 10% Sau khi uống CCl4, chuột được ăn uống bình thường Quan sát và theo dõi ghi nhận hành vi, biểu hiện
và sự sống chết của chuột trong các nhóm ngay sau khi gây độc và sau 24 giờ
Thử nghiệm tác dụng bảo vệ gan của cao chiết râu mèo và nghể lông dày trên mô hình gan chuột bị nhiễm độc CCl4 mãn tính: Được
thực hiện theo phương pháp của Rana và Avadhoot (1992) [12], nhưng có một số sự thay đổi, chuột đực có trọng lượng từ 20-25 g được chia thành 5 nhóm, mỗi nhóm có 8 con chuột Nhóm 1 là nhóm chứng trắng dùng để làm chuẩn so sánh, nhóm này được cho uống 0,2 ml dầu oliu, sau 1 giờ, chuột được uống thêm 0,4
ml nước có 1% DMSO (tỉ lệ DMSO phụ thuộc vào tỉ lệ DMSO được dùng để hòa tan cao chiết); nhóm 2 là nhóm chứng độc được uống 0,2 ml CCl4 pha trong dầu oliu (ở nồng độ thích hợp), sau 1 giờ chuột được uống thêm 0,4 ml nước có 1% DMSO; nhóm 3 là nhóm thử được uống 0,2 ml CCl4 trong dầu oliu, sau 1 giờ chuột được uống 0,4 ml dung dịch cao chiết ethyl acetate của nghể lông dày trong 1% DMSO với liều 16 mg/kg; nhóm 4 là nhóm thử được uống 0,2 ml CCl4 trong dầu oliu, sau 1 giờ chuột được uống 0,4 ml dung dịch cao chiết ethyl acetate của râu mèo trong 1% DMSO với liều 16 mg/kg; và nhóm 5 là nhóm chứng thuốc được uống 0,2 ml CCl4 trong dầu oliu và chuột được uống 0,4 ml silymarin (16 mg/kg) trong 1% DMSO sau 1 giờ Quá trình thử nghiệm trên các nhóm chuột được thực hiện 2 ngày/tuần trong thời gian 8 tuần
Ngoài thời gian uống CCl4 và thuốc thử (cao chiết của 2 cây và silymarin), các con chuột được ăn uống bình thường 24 giờ sau khi uống liều CCl4 cuối cùng (sau 8 tuần), lấy máu ở đuôi chuột của để đo hoạt tính enzyme ALT
Thử nghiệm độc tính cấp diễn: Thử nghiệm
Trang 3xác định độc tính cấp diễn theo phương pháp Bộ
Y tế Việt Nam ban hành [1, 6] Cao chiết ethyl
actetate của từng cây được pha ở nồng độ cao
nhất có thể pha loãng nhằm khảo sát độc tính
cấp Chuột được chia thành 2 nhóm tương tự
nhau, mỗi con ở cùng nhóm sẽ nhận cùng một
liều khảo sát Sự đánh giá dựa vào phản ứng
sống hay chết của chuột trong mỗi nhóm Sau
khi cho chuột uống thuốc với liều duy nhất
trong ngày, quan sát hành vi, thể trạng của
chuột sau 24, 36 và 48 giờ Ghi nhận giờ xuất
hiện các triệu chứng bất thường Nếu có chuột
chết thì xét nghiệm đại thể chủ yếu gan, thận,
tim, phổi
Đánh giá kết quả: Đo hoạt tính của enzyme
ALT theo phương pháp đo của nhà sản xuất
(Diagnosticum)
Phương pháp xử lí số liệu: Các số liệu trong
các thử nghiệm được tính dựa trên trung bình
các lần lặp lại, được xử lý bằng phần mềm Statgraphics Plus V.3.0 Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn So sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức bằng chương trình ANOVA
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Khảo sát nồng độ CCl4 thích hợp để gây độc gan chuột
Để khảo sát nồng độ CCl4 thích hợp để gây
độc trên gan cho mô hình in vivo, chuột được chia
thành 6 nhóm (mỗi nhóm 6 con) ứng với các nồng
độ CCl4 (pha với dầu oliu) như sau: 100%, 50%, 30%, 25%, 20% và 10% Sau khi cho các nhóm chuột uống CCl4 (V = 0,2 ml) với các nồng độ khác nhau như trên, tương ứng với các liều dùng được trình bày trong bảng 1, 24 giờ sau khi gây độc cho chuột, kết quả ghi nhận được chỉ ra trong bảng 1
Bảng 1 Kết quả gây độc của CCl4 trên các nhóm chuột thử nghiệm sau 24h
Nhóm chuột uống CCl4
Với các nồng độ (%)
Nhóm chuột uống CCl4 với các liều (ml/kg) Tỉ lệ sống (%)
Kết quả trên cho thấy, ở liều 10 ml/kg, 5
ml/kg và 3 ml/kg, không đạt yêu cầu về tỷ lệ
sống của chuột, còn ở liều 2 ml/kg (164 ± 18
U/L) và 1 ml/kg (119 ± 20 U/L), tỷ lệ sống tốt
nhưng độc tính thể hiện không mạnh Riêng lô
bị gây độc bởi CCl4 25% tương ứng với liều 2,5
ml/kg (207 ± 12 U/L) thì vừa đạt yêu cầu về tỷ
lệ sống vừa thể hiện rõ độc tính như: ngay sau
khi gây độc, chuột có biểu hiện mắt lờ đờ, mệt
lả, thở dốc; 24 giờ sau khi gây độc, không có
con nào chết
Vì vậy, thử nghiệm in vivo gây độc gan
bằng CCl4 mãn tính sử dụng chứng độc có nồng
độ CCl4 là 25%
Khảo sát độc tính của cao chiết cây nghể lông
dày và râu mèo
có thể pha loãng, tương ứng với liều 500 mg/kg thể trọng chuột nhằm khảo sát độc tính cấp của chất thử nghiệm Chuột được chia thành 2 nhóm
và được uống cao chiết ethyl acetate từ cây nghể lông dày và râu mèo Quan sát hành vi của chuột ngay sau khi uống các cao chiết với liều 500 mg/kg cho thấy, chuột hơi lờ đờ nhưng dễ dàng lấy lại sự linh hoạt, 48 giờ sau khi được uống các cao chiết, chuột hoàn toàn khỏe mạnh, di chuyển tốt và linh hoạt, không có dấu hiệu tổn thương Như vậy, qua thử nghiệm độc cấp tính của cao chiết ethyl acetate từ cây nghể lông dày và râu mèo cho thấy, các cao chiết an toàn cho chuột, không thể hiện độc tính ở liều thử nghiệm
Thử nghiệm tác dụng bảo vệ gan của cao chiết ethyl acetate râu mèo và nghể lông dày trên mô hình gan chuột bị nhiễm độc CCl4 mãn tính
Trang 4Nhóm độc sau khi bị gây độc mãn tính trong
8 tuần cho kết quả hoạt tính enzyme gan tăng
66,9% so với nhóm chứng trắng Kết quả thử
nghiệm cho thấy, cao chiết ethyl acetate từ cây
râu mèo có khả năng làm giảm 55% nồng độ
ALT so với nhóm chứng độc, cao chiết ethyl
acetate từ cây nghể lông dày có khả năng làm
giảm 65% nồng độ ALT so với nhóm chứng độc
Hiệu quả bảo vệ gan của các cao chiết ethyl
acetate từ cây nghể lông dày và râu mèo được
so sánh với silymarin, silymarin là một hỗn hợp gồm các flavonolignan được tách từ cây cúc gai
(Silybum marianum), được sử dụng làm thuốc
bảo vệ gan (phối hợp điều trị bệnh nhân bị viêm gan mãn tính và bệnh xơ gan), có tác dụng chống lại nhiều loại chất độc có hại cho gan, trong đó có CCl4 [2, 8]
0 50 100
150
200
250
300
Hình 1 Tác động của các cao chiết ethyl acetate từ cây nghể lông dày và râu mèo và chất chuẩn
silymarin lên hoạt tính ALT huyết tương của chuột bị gây ngộ độc mãn tính bằng CCl4 Nhóm chứng trắng, chuột được uống dầu oliu (nhóm 1): 31,9 ± 9,1 a U/l; nhóm chứng độc, chuột bị xử lý độc mãn tính với CCl4 (nhóm 2): 213,4 ± 28,2 a U/l; nhóm thử cao chiết cây nghể lông dày, chuột bị xử lý độc với
CCl4 sau đó được uống cao chiết ethyl acetate của cây nghể lông dày (nhóm 3): 74,8 ± 17,7 a U/l; nhóm thử cao chiết cây râu mèo, chuột bị xử lý độc với CCl4 sau đó được uống cao chiết ethyl acetate của cây râu mèo (nhóm 4): 92,4 ± 7,2 a U/l; nhóm chứng thuốc silymarin, chuột bị xử lý độc với CCl4 sau đó được uống chất chuẩn silymarin (nhóm 5): 95,7 ± 25,8 a U/l Kết quả trắc nghiệm phân hạng ở mức ý nghĩa 0,01 Các kết quả
có cùng chữ cái thì sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Hoạt tính làm giảm enzyme ALT trong
huyết tương của cao chiết ethyl acetate râu mèo
tương đương với silymarin (silymarin làm giảm
nồng độ ALT so với nhóm chứng độc là 55%),
trong khi hoạt tính làm giảm ALT của cao chiết
ethyl acetate cây nghể lông dày tốt hơn
silymarin khi sử dụng cùng liều là 16 mg/kg
Liều dùng 16 mg/kg được sử dụng trong nghiên
cứu này là do việc nghiên cứu hoạt tính bảo vệ
gan trong mô hình gây độc cấp tính trên gan
chuột cho kết quả là các cao chiết có tác dụng
tốt hơn cả khi dùng liều thử nghiệm là 16 mg/kg
[9, 10] Kết quả hình ảnh tổng thể của gan trong
các nhóm chuột sau thời gian thử nghiệm 8 tuần
(dùng CCl4 gây độc và được chữa trị bằng việc
dùng cao chiết ethyl acetate và silymarin) được
trình bày trong hình 2 Hình 2 cho thấy, các
nhóm chuột được dùng cao chiết ethyl acetate của cây nghể lông dày và cây râu mèo (nhóm 3
và nhóm 4) và nhóm chuột dùng silymarin (nhóm 5) có màng phía ngoài bóng, không có lỗ nhỏ hay nổi sần, mô gan với các tế bào gan nhỏ, trơn láng và có màu đỏ đậm gần giống với hình thái mô gan của nhóm chứng trắng (nhóm 1), trong khi gan của nhóm chứng độc (nhóm 2) có màu sắc gan đỏ nâu có màng phía ngoài khô,
mô gan hơi nổi sần và có một số những đốm trắng dạng sợi là dấu hiệu của mô hóa xơ Kết quả đo hoạt tính enzyme ALT trong huyết tương chuột và hình ảnh tổng thể của gan trong nhóm 3 và nhóm 4 cho thấy, cao chiết ethyl acetate từ cây nghể lông dày và râu mèo
có tác dụng bảo vệ gan chống lại chất độc khá tốt Hiệu quả bảo vệ gan của các cao chiết là do
Trang 5các cao chiết ethyl acetate có tác dụng loại các
gốc tự do được sinh ra bởi CCl4 nên có kết quả
làm giảm tác dụng độc của CCl4 in vivo Hoạt
tính bảo vệ gan của cao chiết cây nghể lông dày
tốt hơn so với silymarin ở điều kiện thực
nghiệm trên chuột với liều dùng là 16 mg/kg (vì
có tác dụng làm giảm hoạt tính enzyme ALT cao
hơn silymarin) Hoạt tính bảo vệ gan của silymarin thấp hơn so với cao chiết cây nghể lông dày có thể là do liều dùng silymarin trên chuột chưa hợp lý cho việc chữa trị tổn thương trên gan chuột (có thể là liều 16 mg/kg là cao hơn liều tối ưu để chữa tổn thương trên gan)
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5
Hình 2 Hình ảnh tổng thể của gan chuột trong các nhóm thử nghiệm sau thời gian 8 tuần
(hình chụp gan nằm trên cơ thể chuột khi mổ ổ bụng chuột)
KẾT LUẬN
Như vậy, trong mô hình gây độc gan mãn
tính bằng CCl4 trên cơ thể chuột, các cao chiết
ethyl acetate từ cây nghể lông dày và râu mèo
có hiệu quả bảo vệ gan chống lại chất độc CCl4
Kết quả này đã mở ra một hướng mới cho việc
nghiên cứu tác dụng chống viêm gan mãn tính
và ức chế xơ gan của cây cây nghể lông dày và
cây râu mèo, từ đó ứng dụng vào việc bào chế
thuốc chữa bệnh cho con người
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế, 1996 Hướng dẫn nghiên cứu, đánh
giá tính an toàn và hiệu lực thuốc Y học cổ
truyền, Hà Nội
2 Corrigan D., Duke J A., Wright J., 2000
Principles and Practice of Phytotherapy,
Churchill Livingstone
3 Dianzani M U., Muzia G., Biocca M E.,
Canuto R A., 1991 Lipid peroxidation in
fatty liver induced by caffeine in rats
International journal of tissue reactions,13:
79-85
4 Đại học quốc gia Hà Nội, Trung tâm Khoa
học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, 2003
Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Trang 317
5 Đại học quốc gia Hà Nội, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2005 Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập III Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
6 Đỗ Trung Đàm, 2003 Phương pháp nghiên cứu độc tính cấp của thuốc Nxb Y học
7 Englert J and Harnischfeger G., 1992 Diuretic action of aqueous Orthosiphon extract in rats Planta Medica, 58: 237-238
8 Flora Kenneth, M D., Hahn Martin, Rosen Hugo, M D., Benner Kent M D., 1998
Milk Thistle (Silybum marianum) for the
Therapy of Liver Disease The American Journal of Gastroenterology, 93(2): 139-143
9 Tran Hung, Nguyen Ngoc Hong, Huynh Ngọc Thuy, Ho Huynh Thuy Duong, 2010 Antioxidant and hepatoprotective effects of
Polygonum tomemtosum on damage liver
mice induced by carbon tetrachloride Tạp chí Dược liệu, 2: 99-105
10 Tran Hung, Nguyen Ngoc Hong, Huynh Ngọc Thuy, Ho Huynh Thuy Duong, 2010 Antioxidant and hepatoprotective effects of
Orthosiphon aristatus on damage liver mice
induced by carbon tetrachloride, Tạp chí
Trang 6Dược liệu, 3: 157-163
11 Kumar V., Cotran R S., Robbins S L.,
1992 Cell injury and adaptation; 5th ed
Bangalore India: Prime Books Publ, 3-24
12 Rana A C and Avadhoot Y., 1992.,
Experimental evaluation of hepatoprotective
activity of Gymnema sylvestre and Curcuma
zedoaria Fitoterapia, 63: 60-63
polyherbal formulation in vivo in rats
Indian Drugs, 36: 628-631
14 Sriplang K., Adisakwattana S., Rungsipipat
A., Yibchok-Anun S., 2007 Effects of
Orthosiphon stamineus aqueous extract on
plasma glucose concentration and lipid profile in normal and streptozotocin-induced diabetic rats Journal Ethnopharmacology, 109(3): 510-514
15 Viện Dược liệu, 2004 Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 2 Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội
16 Vogels B A., Karlsen O T., Mass M A., Boveé W M., Chamuleau R A., 1997 L-ornithine vs L-L-ornithine-L-aspartate as a treatment for hyperammonemia-induced encephalopathy in rats Journal of Hepatology, 26(1): 174-178
HEPATOPROTECTIVE EFFECTS OF ETHYL ACETATE EXTRACTS
OF Polygonum tomentosum Willd AND Orthosiphon aristatus (Blume.) Miq
AGAINST CARBON TETRACHLORIDE INDUCED CHRONIC TOXICITY
Nguyen Ngoc Hong 1 , Huynh Ngoc Thuy 2
(1)
Ho Chi Minh city University of Technology (2)
University of Medicine and Pharmacy, Ho Chi Minh city
SUMMARY
Orthosiphon aristatus Blume is a medicinal herb useful as a diuretic agent, used popularly in Vietnam
and in the world Polygonum tomentosum Willd is a perennial herb growing in marshy areas, along ditches
and field margins in Vietnam, but the efficacy of this herb in treatment of diseases remains unknown The
purpose of the present study was to examine the ethyl acetate extracts of O aristatus and P tomentosum
against chronic carbon tetrachloride (CCl4) induced liver damage for 8 weeks The hepatoprotective effects of these extracts were found comparable to that of silymarin, a hepatoprotective agent against hepatotoxicity of
various chemicals At the dose of 16 mg/kg, ethyl acetate extract of O aristatus showed protective effect
against CCl4 damage on liver with ALT activity was decreased 55% compared to toxic group, which was
equivalently compared with silymarin at the same dose Ethyl acetate extract of P tomentosum reduced 65%
ALT activity in serum of chronic CCl4 induced hepatotocity in mice, this result revealed that ethyl acetate
extract of Polygonum tomentosum had a better hepatoprotective activity than silymarin at the dose of 16 mg/kg The results of the present study indicate that P tomentosum and O aristatus are potential sources of
natural hepatoprotection
Keywords: Orthosiphon aristatus, Polygonum tomentosum, ALT, CCl4, hepatoprotective effect, ethyl
acetat extract
Ngày nhận bài: 21-6-2012