1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nghiên cứu thu nhận, nuôi cấy và đánh giá một số đặc điểm hình thái quần thể tế bào gốc phôi bò Việt Nam

8 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 797,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tế bào gốc phôi bò hiện nay được phân lập và nuôi cấy ở giai đoạn phôi nang từ 7-9 ngày hoặc giai đoạn phôi từ 12-14 ngày. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu phân lập và nuôi cấy tế bào gốc phôi bò ở giai đoạn phôi dâu và phôi nang. Kết quả 9 phôi dâu và 3 phôi nang giai đoạn sớm đã được thử nghiệm nuôi cấy phôi nguyên cho thiết lập tế bào gốc phôi. Tuy nhiên, các blastomere trong 9 phôi dâu không thể bám vào lớp tế bào nuôi dưỡng và phát triển, chỉ có 1 trong 3 phôi nang giai đoạn sớm bám được vào lớp tế bào nuôi dưỡng và phát triển thành quần thể tế bào gốc phôi bò. Quần thể tế bào gốc phôi bò sơ cấp được cấy chuyền 2 lần. Ở lần cấy chuyền thứ nhất, 6 quần thể tế bào gốc phôi được quan sát thấy và kích thước các quần thể này dao động từ 50-100 µm. Chỉ có 2 trong 6 quần thể tế bào ở lần cấy chuyển thứ nhất duy trì được hình thái của quần thể tế bào gốc phôi. Ở lần cấy chuyền thứ hai, 5 quần thể tế bào gốc phôi được quan sát và kích thước các quần thể này dao động từ 70-140 µm. Các quần thể tế bào gốc phôi bò trên đều có đường bao quanh rõ tuy nhiên bề mặt của các quần thể này không trơn bóng như quần thể tế bào gốc phôi chuột. Cả 5 quần thể tế bào gốc phôi bò ở lần cấy chuyền thứ 2 bị thoái hoá chỉ sau một tuần nuôi cấy. Tế bào gốc phôi bò được thử nghiệm biệt hoá in vitro và chúng có khả năng biệt hoá thành thể phôi. Đây là một đặc điểm quan trọng cho thấy tế bào gốc phôi bò thu được có tính đa tiềm năng.

Trang 1

NGHIÊN CỨU THU NHẬN, NUÔI CẤY VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM

HÌNH THÁI QUẦN THỂ TẾ BÀO GỐC PHÔI BÒ VIỆT NAM

Lê Thành Long * , Đoàn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Hồng Vân, Hoàng Nghĩa Sơn

Viện Sinh học nhiệt đới, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, (*)lelong2510@gmail.com

TÓM TẮT: Tế bào gốc phôi bò hiện nay được phân lập và nuôi cấy ở giai đoạn phôi nang từ 7-9 ngày

hoặc giai đoạn phôi từ 12-14 ngày Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu phân lập và nuôi cấy tế bào gốc phôi bò ở giai đoạn phôi dâu và phôi nang Kết quả 9 phôi dâu và 3 phôi nang giai đoạn sớm đã được thử nghiệm nuôi cấy phôi nguyên cho thiết lập tế bào gốc phôi Tuy nhiên, các blastomere trong 9 phôi dâu không thể bám vào lớp tế bào nuôi dưỡng và phát triển, chỉ có 1 trong 3 phôi nang giai đoạn sớm bám được vào lớp tế bào nuôi dưỡng và phát triển thành quần thể tế bào gốc phôi bò Quần thể tế bào gốc phôi

bò sơ cấp được cấy chuyền 2 lần Ở lần cấy chuyền thứ nhất, 6 quần thể tế bào gốc phôi được quan sát thấy và kích thước các quần thể này dao động từ 50-100 µm Chỉ có 2 trong 6 quần thể tế bào ở lần cấy chuyển thứ nhất duy trì được hình thái của quần thể tế bào gốc phôi Ở lần cấy chuyền thứ hai, 5 quần thể

tế bào gốc phôi được quan sát và kích thước các quần thể này dao động từ 70-140 µm Các quần thể tế bào gốc phôi bò trên đều có đường bao quanh rõ tuy nhiên bề mặt của các quần thể này không trơn bóng như quần thể tế bào gốc phôi chuột Cả 5 quần thể tế bào gốc phôi bò ở lần cấy chuyền thứ 2 bị thoái hoá chỉ sau một tuần nuôi cấy Tế bào gốc phôi bò được thử nghiệm biệt hoá in vitro và chúng có khả năng biệt hoá thành thể phôi Đây là một đặc điểm quan trọng cho thấy tế bào gốc phôi bò thu được có tính đa tiềm năng

Từ khóa: Phôi bò, đa tiềm năng, nuôi cấy phôi nguyên, tế bào gốc phôi

MỞ ĐẦU

Tế bào gốc phôi (embryonic stem cells -

ESCs) là những tế bào đa tiềm năng thường

được thu nhận từ phôi nang (blastocyst) giai

đoạn tiền làm tổ (pre-implantation) Chúng có

khả năng tự làm mới (re-newal) để tạo thành

một số lượng lớn tế bào mà không thay đổi đặc

tính đa tiềm năng và có khả năng biệt hóa thành

các loại tế bào khác nhau trong cơ thể [5]

Chúng biểu hiện các makers hay các đặc tính

chuyên biệt bao gồm các kháng nguyên đặc

hiệu cho giai đoạn phôi, sự hoạt động của các

enzyme như alkaline phosphatase và telomerase

cũng như gene đặc trưng cho tính đa tiềm năng

như Oct4 và Nanog [1] Hơn nữa, chúng có khả

năng biệt hoá in vivo thành khối u quái

(teratomas), các khối u này chứa các tế bào có

đặc điểm giống như các tế bào trong ba lớp

mầm phôi: nội bì, trung bì, ngoại bì và chúng có

khả năng biệt hóa in vitro trực tiếp thành 200

loại tế bào khác nhau trong cơ thể trưởng thành

[12] Các dòng tế bào gốc phôi đã được phân

lập thành công từ phôi nang của chuột, khỉ và

người, hơn nữa việc thu nhận còn có thể được

thực hiện từ phôi ở giai đoạn trước khi compact

[4, 3, 18] Hầu hết những cố gắng phân lập và

nuôi cấy tế bào gốc phôi bò được thực hiện ở phôi nang giai đoạn ngày 7-9 [172,11, 9] hoặc

có thể phân lập từ phôi giai đoạn ngày thứ

12-14 [6] Tuy nhiên, thời gian tối ưu cho viêc phát triển phôi giai đoạn tiền làm tổ để thu nhận tế bào gốc phôi vẫn còn chưa biết rõ Những cố gắng thu nhận tế bào gốc phôi bò từ hợp tử và phôi phân chia giai đoạn sớm hầu hết đều thất bại [18, 8], trong đó chỉ có một dòng tế bào tế bào gốc phôi bò duy nhất được tăng sinh từ phôi giai đoạn hai tế bào, được nuôi cấy hơn 3 năm [8] Trong khi đó, phôi bò giai đoạn phôi dâu được sử dụng cho việc phân lập tế bào gốc phôi

có hiệu quả hình thành các quần thể từ 60-70% [17,18] Cho đến nay, các dòng tế bào gốc phôi

bò vẫn chưa được thiết lập một cách bền vững

và một số đặc điểm hình thái của quần thể tế bào gốc phôi bò chưa được đánh giá một cách đầy đủ Do đó, trong công trình này, chúng tôi bước đầu nghiên cứu phân lập và nuôi cấy tế bào gốc phôi bò Việt Nam ở một số giai đoạn khác nhau, đồng thời đánh giá khả năng tăng sinh cũng như đặc điểm hình thái của một số quần thể tế bào gốc phôi bò

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 2

Nuôi chín trứng bò

Trứng bò được thu nhận từ lò mổ sau đó

được chuyển về phòng thí nghiệm Phức hợp

trứng-cumulus (Cumulus - Oocyte complex)

được thu nhận bằng phương pháp chọc hút

Phức hợp trứng-cumulus được nuôi trong môi

trường TCM199 (Sigma) bổ sung 20% FBS

(Gibco), 1% Pen/Strep (Gibco), 2 µg/ml

β-estradiol (Sigma), 10IU FSH (Sigma) và 10IU

LH (Sigma) ở 38,5oC, 5% CO2 trong vòng

22-24 giờ

Thụ tinh in vitro trứng bò

Trứng sau khi được nuôi chín sẽ được sử

dụng cho thụ tinh in vitro Tinh trùng được

swim-up trong môi trường TALP-HEPES (chứa

2 mM sodium pyruvate, 1% pen/strep và

3mg/ml BSA) trong 1 giờ ở 38,5oC Trứng được

thụ tinh với tinh trùng trong vi giọt thụ tinh với

mật độ 1 × 106 tinh trùng/ml Quá trình thụ tinh

được diễn ra ở 38,5oC, 5% CO2 trong 8 giờ Sau

đó trứng thụ tinh sẽ được loại bỏ tinh trùng và

được nuôi cấy trong môi trường nuôi phôi sofa

ở 38,5oC, 5% CO2

Chuẩn bị lớp tế bào nuôi dưỡng

Tế bào nuôi dưỡng (nuôi dưỡng cells) được

sử dụng trong nghiên cứu này là nguyên bào sợi

phôi chuột được phân lập và nuôi cấy từ thai

chuột nhắt trắng 12,5-13,5E Nguyên bào sợi

phôi chuột ở lần cấy chuyển thứ 2 sẽ được sử

dụng làm tế bào nuôi dưỡng Nguyên bào sợi

phôi chuột được bất hoạt bằng mitomycin C 10

µg/ml trong vòng 2,5 giờ Sau đó nguyên bào

sợi phôi chuột được rửa lại bằng môi trường

nuôi cấy tế bào gốc phôi 2 lần mỗi lần 10 phút

Loại bỏ màng zona

Trong nghiên cứu này, chúng tôi thử

nghiệm loại bỏ màng zona của phôi bò bằng hai

yếu tố là enzyme pronase (Sigma) và acid

tyrode pH 2,5 (Gibco) Phôi bò giai đoạn 8-16

tế bào sẽ được dùng cho khảo sát nồng độ

enzyme pronase cũng như acid tyrode trong

việc loại bỏ màng zona

Nuôi cấy phôi nguyên

Phôi bò giai đoạn morula và giai đoạn

blastocyst sớm được xử lý loại bỏ màng zona

Phôi đã loại bỏ màng zona được chuyển lên đĩa

chứa tế bào nuôi dưỡng bị bất hoạt bởi mitomycin C Phôi nguyên sẽ được nuôi cấy trong môi trường tế bào gốc phôi Knock-out DMEM (Gibco) chứa 20% Knock-out Serum Replacement (Gibco), 1% pen/strep (Gibco), 200

µM mercaptoethanol (Sigma), 1% L-glutamine (Gibco), 1000 IU/ml LIF, 1% Non-essencial amino acid (Gibco), 1% nucleoside (0,73 g/L cytidine, 0,85 g/L guanosine, 0,73 g/L Uridine, 0,8 g/L adenosine, 0,24 g/L thymidine)

Cấy chuyền tế bào gốc phôi bò

Quần thể tế bào gốc phôi được thu nhận bằng ống mao quản, sau đó được chuyển vào đĩa 96 giếng chứa Trypsin-EDTA 0,25% (Gibco) Khi tách rời hoàn toàn, các tế bào sẽ được chuyển vào đĩa nuôi mới chửa lớp tế bào nuôi dưỡng bị bất hoạt bởi mitomycin C Tế bào được nuôi trong môi trường nuôi tế bào gốc phôi ở 38,5oC, 5% CO2

Thử nghiệm biệt hoá in vitro

Quần thể tế bào gốc phôi được tách bằng Trypsin-EDTA 0,25% thành tế bào đơn, sau đó các tế bào này được nuôi cấy trong đĩa petri với môi trường nuôi cấy tế bào gốc phôi không chứa LIF Thể phôi có cấu trúc hình cầu sẽ xuất hiện sau 1-2 tuần nuôi cấy

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Đánh giá hiệu quả loại bò màng zona bằng pronase và acid tyrode

Trong việc tạo phôi bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, chỉ những phôi không có

sự phân mảnh được chọn lọc cho quá trình nuôi phôi Những phôi bị phân mảnh bị loại bỏ Quá trình phân mảnh của phôi là một đặc điểm hình thái của quá trình apoptosis và quá trình này ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của phôi cũng như việc thiết lập các dòng tế bào gốc phôi

Để nuôi cấy tế bào gốc phôi, việc loại bỏ màng zona rất quan trọng cho việc thu nhận phôi ở các giai đoạn khác nhau [15] Các cách phổ biết nhất hiện nay để loại bỏ màng zona của phôi là sử dụng acid tyrode, sử dụng enzyme hoặc sử dụng hệ thống hỗ trợ laser Tuy nhiên, ở đối tượng gia súc đặc biệt là ở bò, phương pháp phổ biến nhất để loại bỏ màng zona là sử dụng enzyme pronase

Trang 3

Trong bài báo này, enzyme pronase được sử

dụng ở các nồng độ khác nhau để kiểm tra khả

năng loại bỏ màng zona của phôi bò Chúng tôi

sử phôi phôi bò ở giai đoạn 8 tế bào đến 16 tế

bào để kiểm tra khả năng này của enzyme

pronase Kết quả xử lý loại bỏ màng được trình

bày trong bảng 1

Kết quả xử lý cho thấy, ở nồng độ 10

mg/ml, màng zona của phôi bò bị loại bỏ nhanh

chỉ sau 1 phút Tuy nhiên, màng zona chỉ bị loại

bỏ một nửa đủ để phôi thoát ra ngoài Quá trình

loại bỏ màng zona ở nồng độ 10 mg/ml diễn ra

nhanh nhưng nó lại ảnh hưởng lớn tới các tế bào

phôi bên trong Cấu trúc phôi bị thay đổi mạnh,

liên kết giữa các tế bào phôi bị cắt và các tế bào

phôi này rất dễ rời nhau (hình 1A, 1A1) Ở nồng

độ 0,5 mg/ml, màng zona của phôi bị loại bỏ

hoàn toàn sau 7 phút Quá trình loại bỏ này diễn

ra lâu, phôi có hiện tượng bị biến dạng (hình

1C, 1C1) Điều đó cho thấy, ở nồng độ này,

enzyme pronase cũng tác động lớn tới các tế

bào phôi bên trong vì thời gian xử lý lâu,

pronase cắt đứt các liên kết giữa các tế bào

phôi, làm tách rời các tế bào phôi và phôi bị

biến dạng Ở nồng độ 5 mg/ml, màng zona của

phôi bò bị loại bỏ sau 3 phút, phôi gần như vẫn

giữ nguyên được cấu trúc và hình dạng giống

như trước khi xử lý (hình 1B, 1B1) Các tế bào

phôi gần như không tách rời nhau Điều đó cho

thấy, nồng độ pronase 5 mg/ml là thích hợp nhất

cho việc loại bỏ màng zona, thời gian xử lý ở

nồng độ này ngắn mà phôi gần như không bị

thay đổi cấu trúc, hình dạng, tế bào phôi không

bị tách rời, đây là những điều kiện rất quan

trong cho việc phân lập và nuôi cấy tế bào gốc

phôi bò

Acid tyrode pH 2,5 (Gibco) được sử dụng

rất phổ biến trong việc loại bỏ màng zona của

trứng, phôi chuột hay heo và trong việc thu

nhận và nuôi cấy tế bào gốc phôi từ hai đối tượng này, acid tyrode là hóa chất được sử dụng phổ biến nhất [13] Trong nghiên cứu này, acid tyrode cũng được sử dụng để thử nghiệm loại

bỏ màng zona của phôi bò Tuy nhiên, sau khi

xử lý với acid tyrode 30 phút, cấu trúc và hình thái màng zona gần như không biến đổi (hình 1D, 1D1) Điều đó cho thấy, acid tyrode không hiệu quả trong việc loại bỏ màng zona của phôi

bò Hơn nữa, thời gian sử lý với acid tyrode rất lâu nên nó có thể ảnh hưởng tới chất lượng và

sự phát triển của phôi bò

Hình 1 Quá trình xử lý loại bỏ màng zona của

phôi [A, A1] phôi bò trước và sau khi xử lý với pronase

10 mg/ml; [B, B1] phôi bò trước và sau khi xử lý với pronase 5 mg/ml; [C, C1] phôi bò trước và sau khi xử lý với pronase 0,5 mg/ml; [D, D1] phôi bò trước và sau khi xử lý với acid tyrode pH 2,5

Bảng 1 Kết quả loại màng zona bằng pronase and acid tyrode

Tác nhân loại màng Số phôi dùng cho

loại màng zona Số phôi được loại màng zona

Trang 4

Nuôi cấy sơ cấp tế bào gốc phôi bò

Quá trình phân lập và nuôi cấy được thực

hiện với phôi dâu và phôi nang giai đoạn sớm

Phôi được xử lý với pronase 5 mg/ml để loại bỏ

màng zona Sau đó, phôi được rửa nhiều lần

bằng môi trường nuôi cấy tế bào gốc phôi và

được chuyển lên đĩa nuôi cấy có chứa tế bào

nuôi dưỡng đã bất hoạt bằng mitomycin C để

nuôi cấy sơ cấp Trong nuôi cấy sơ cấp, nhân tố

ức chế bệnh bạch cầu (LIF-leukemia inhibitory

factor) được sử dụng ở nồng độ 1.000 IU/ml

môi trường nuôi cấy Nồng độ LIF này được sử

dụng để bước đầu đánh giá khả năng phát triển

của quần thể tế bào gốc phôi bò trong quá trình

nuôi cấy sơ cấp cũng như sự tăng sinh của tế

bào gốc phôi bò sau các lần cấy chuyền khác

nhau Kết quả nuôi cấy phôi nguyên cho thấy,

các blastomere của phôi dâu không thể bám và

tăng sinh trên lớp tế bào nuôi dưỡng (bảng 2)

Ba phôi nang giai đoạn sớm được nuôi cấy trên

lớp tế bào nuôi dưỡng Tuy nhiên, các tế bào

trong 2 phôi đầu tiên không thể bám vào lớp

nuôi dưỡng và bị thoái hóa sau 1 tuần nuôi cấy

Chỉ có 1 quần thể tế bào từ phôi thứ ba bám

được vào lớp tế bào nuôi dưỡng và phát triển

thành quần thể tế bào gốc phôi bò sau 3 tuần

nuôi cấy Quần thể tế bào gốc phôi bò này có

đường bao quanh rõ nhưng hình thái quần thể

hơi gồ ghề, không trơn nhẵn như quần thể tế

bào gốc phôi chuột Sau 3 tuần nuôi cấy, quần

thể tế bào gốc phôi bò này được thu nhận và các

tế bào được tách rời thành tế bào đơn cho cấy

chuyền Các tế bào này được chuyển lên lớp tế

bào nuôi dưỡng mới để nuôi cấy Quá trình này

được thực hiện để đánh giá khả năng tăng sinh

của quần thể tế bào gốc phôi bò

Đánh giá khả năng tăng sinh của tế bào gốc phôi bò bằng cấy chuyền

Các tế bào gốc phôi bò được nuôi cấy trên lớp tế bào nuôi dưỡng và phát triển trong môi trường chứa LIF 1.000 IU/ml Sau 48 giờ nuôi cấy, sáu quần thể tế bào gốc phôi bò hình thành

và phát triển trên lớp tế bào nuôi dưỡng Quần thể tế bào gốc phôi bò trên phát triển mạnh, số lượng tế bào tăng nhanh Tuy nhiên, một số tế bào vùng ngoài của quần thể tế bào gốc phôi bò biệt hoá và mọc lan trên bề mặt đĩa nuôi cấy cũng như mọc chồng lên lớp tế bào nuôi dưỡng Hình thái các quần thể tế bào gốc phôi bò ở lần cấy chuyền thứ nhất cũng không trơn nhẵn như hình thái của quần thể tế bào gốc chuột, tuy nhiên, các quần thể trên đều có đường bao quanh rất rõ Đó là một đặc điểm phân biệt quần thể tế bào gốc phôi với các cụm tế bào do nhiều

tế bào kết cụm lại với nhau [7] Kích thước của các quần thể tế bào gốc phôi bò này dao động từ

30 µm cho tới 60 µm (hình 2) Kích thước các quần thể tế bào gốc phôi ở lần cấy chuyền thứ nhất này không đồng đều Điều đó chứng tỏ số lượng tế bào gốc phôi trong mỗi quần thể khác nhau, do đó, khả năng tăng sinh của các tế bào gốc phôi bò trong quần thể tế bào nuôi cấy sơ cấp khác nhau

Các quần thể này tiếp túc tăng sinh và phát triển sau 96 giờ nuôi cấy Kích thước của các quần thể tế bào gốc phôi bò tiếp tục tăng Kích thước các quần thể dao động từ 50 µm cho tới

100 µm Kết quả này cho thấy, các tế bào gốc phôi trong các quần thể tế bào gốc phôi ở lần cấy chuyền thứ nhất vẫn còn khả năng tăng sinh mạnh

Hình 2 Sự phát triển của các quẩn thể tế bào gốc phôi bò trên lớp tế bào nuôi dưỡng ở lần cấy

chuyển thứ nhất sau 48 giờ nuôi cấy Thang chia độ 100 µm

Trang 5

Sau 1 tuần nuôi cấy, các quần thể 1, 2, 3, 5

của lần cấy chuyền thứ nhất bị thoái hoá

Hình thái của các quần thể này chuyển từ dạng

ụ (hill) sang dạng phẳng (flat), điều đó chứng tỏ

các tế bào trong các quần thể này đã biệt hóa

Chỉ còn lại quần thể số 4 và quần thể số 6

duy trì được hình thái giống quần thể tế bào gốc phôi

Quần thể số 4 được sử dụng cho cấy chuyền

và quần thể số 6 được sử dụng cho thử nghiệm khả năng biệt hoá của tế bào gốc phôi bò

Bảng 2 Khả năng tăng sinh của tế bào gốc phôi bò

Giai đoạn phôi Số phôi sử dụng nuôi

cấy tế bào gốc

Số phôi bám

Số quần thể cấy chuyền lần 1

Số quần thể cấy chuyền lần 2

Tế bào gốc phôi bò của quần thể thứ 4 được

thu nhận và cấy chuyền qua đĩa mới chứa lớp tế

bào nuôi dưỡng bị bất hoạt mitomycin C

Tế bào gốc phôi ở lần cấy chuyền thứ hai này

cũng được nuôi cấy và tăng sinh trên lớp tế bào

nuôi dưỡng được bất hoạt bởi mitomycin C và

môi trường chứa 1.000 IU/ml LIF Sau 96 giờ

nuôi cấy, năm quần thể tế bào gốc phôi bò ở lần

cấy chuyền thứ hai này hình thành và phát triển

Kích thước của các quần thể này dao động từ

70 µm cho tới 140 µm (hình 3) Nếu so với các

quần thể tế bào gốc phôi bò ở lần cấy chuyền

thứ nhất, các quần thể tế bào gốc phôi bò ở

lần cấy chuyền thứ hai này có kích thước lớn

hơn Tuy nhiên, về mặt hình thái, các quần thể

tế bào gốc ở lần cấy chuyền thứ hai này không đồng đều như các quần thể ở lần cấy chuyền thứ nhất Tuy vẫn có đường bao quanh

rõ, nhưng hình thái của các quần thể tế bào gốc

ở lần cấy chuyền thứ hai này gồ ghề hơn nhiều

và nhiều quần thể có hình thái biến dạng không còn tròn đều Quần thể tế bào gốc số 2 và

số 5 ở lần cấy chuyền thứ 2 này có bề mặt gồ ghề nhất, điều đó cho thấy các tế bào gốc trên

bề mặt cũng như tế bào xung quanh của quần thể này đã bắt đầu biệt hóa và không còn giữ được đặc tính tăng sinh mạnh của tế bào gốc phôi nữa

Hình 3 Sự phát triển của các quần thể tế bào gốc phôi bò trên lớp tế bào nuôi dưỡng ở lần cấy

chuyền thứ hai sau 96 giờ nuôi cấy Thang chia độ 100 µm

Cả năm quần thể tế bào gốc phôi bò ở lần

cấy chuyền thứ 2 đều bị thoái hóa sau 1 tuần

nuôi cấy Môi trường được sử dụng cho nuôi

cấy các quần thể tế bào gốc nói trên là môi

trường nuôi cấy tế bào gốc phôi chuột chứa

1.000 IU/ml LIF Ở bò, LIF được dòng hóa và

sử dụng trong nuôi cấy, tuy nhiên, nó chưa được

thương mại hóa Do đó, hầu hết các nhà nghiên cứu sử dụng LIF người (hLIF) để bổ sung vào môi trường nuôi cấy cho phôi bò và các quần thể tế bào gốc phôi bò vì chúng có trình tự tương đồng cao với trình tự LIF người Mặc dù vậy, việc sử dụng LIF người có thể ảnh hưởng lớn tới quá trình nuôi cấy tế bào gốc phôi bò đặc

Trang 6

biệt là việc duy trì khả năng tự làm mới cũng

như tính đa tiềm năng của các quần thể tế bào

gốc phôi bò

Những nghiên cứu trước đây cho thấy rằng,

việc thiết lập tế bào gốc phôi bò có thể được

thực hiện bằng môi trường nuôi cấy không chứa

LIF [8] Hơn nữa, trong quá trình nuôi cấy phôi

bò, hLIF không làm gia tăng [16] hay giảm

cũng như không có tác động lên ICM trong phôi

nang của bò [10] Việc tăng sinh các quần thể tế

bào từ phôi bào không phụ thuộc vào việc bổ

sung LIF [20] Dựa vào các kết quả trên, LIF

dường như không đóng vai trò quan trọng trong

việc duy trì tính đa tiềm năng của tế bào gốc

phôi bò

Tuy nhiều nghiên cứu khác lại cho rằng LIF

cần thiết cho quá trình tăng sinh và duy trì tính

đa tiềm năng của tế bào gốc phôi bò [11], không

những vậy, LIF còn cần cho quá trình nuôi cấy

tế bào gốc phôi bò được phân lập từ phôi thụ

tinh trong ống nghiệm, phôi nhân bản vô tính

hay phôi trinh sản [7] LIF không chỉ

cần thiết cho việc duy trì khả năng tự làm mới,

nó còn cần thiết cho sự biểu hiện của các marker đa tiềm năng ở tế bào gốc phôi bò (Oct4, Nanog, SSEA1) cũng như duy trì đặc điểm hình thái đặc trưng của quần thể tế bào gốc phôi [15]

Các nghiên cứu về ảnh hưởng của LIF lên quá trình nuôi cấy tế bào gốc phôi bò cho thấy, cần phải có những sự khảo sát kĩ hơn về tác động của LIF lên sự tăng sinh của các tế bào gốc phôi bò Đặc biệt là nồng độ LIF cần cho nuôi cấy tế bào gốc phôi bò vì LIF ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng sinh và khả năng tự làm mới của tế bào gốc phôi bò, mà hình thái của các quần thể tế bào gốc phôi bò là đặc điểm đầu tiên để đánh giá

Thử nghiệm khả năng biệt hóa in vitro

Tế bào gốc phôi có khả năng biệt hoá thành nhiều loại tế bào khác nhau trong ba lớp mầm phôi, bao gồm nội phôi bì, trung phôi bì và ngoại phôi bì Khả năng biệt hóa này đều diễn

ra trong điều kiện in vitro và in vivo [19, 5, 14]

Hình 4 Sự hình thành thể phôi Các tế bào gốc phôi được tách rời và nuôi cấy

trên đĩa petri chứa môi trường không chứa LIF Hai thể phôi xuất hiện sau 2 tuần nuôi cấy

Các thể phôi có cấu trúc hình cầu (mũi tên trắng)

Quần thể tế bào gốc thứ 6 ở lần cấy chuyền

thứ nhất được thu nhận và tách thành tế bào đơn

trong đĩa 96 giếng chứa Trypsin-EDTA 0,25%

Sau đó, tế bào được chuyển qua các đĩa petri

chứa môi trường nuôi tế bào gốc phôi bò nhưng

không chứa nhân tố ức bạch cầu (LIF) Sau hai

tuần nuôi cấy, các thể phôi hình thành Các thể

phôi này có cấu trúc hình cầu, và được hình

thành do sự tăng sinh và biệt hoá từ các tế bào

gốc phôi bò Tuy nhiên, các thể phôi này có

kích thước khác nhau điều đó chứng tỏ sự tăng sinh cũng như khả năng biệt hoá của tế bào gốc phôi bò từ quần thể thu nhận là không đồng nhất Điều đó chứng tỏ, các tế bào trong quần thể được thu nhận có tính đa tiềm năng thông qua việc biệt hóa thành các thể phôi trong điều

kiện nuôi cấy in vitro

KẾT LUẬN

Bước đầu chúng tôi đã phân lập và nuôi cấy

Trang 7

thành công quần thể tế bào gốc phôi bò Các

quần thể này biểu hiện một số đặc điểm của

quần thể tế bào gốc phôi và khả năng tăng sinh

qua các lần cấy chuyền

Lời cảm ơn: Chúng tôi chân thành cảm ơn Sở

Khoa học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh

đã hỗ trợ kinh phí cho chúng tôi thực hiện đề tài

này

TÀI LIỆU THAM KHÀO

1 Byrne J A., S M Mitalipov and D P

Wofl, 2006 Current progress with primate

Embryonic stem cell Curr Stem Cell Res

Ther., 1: 127-138

2 Cibelli J B., S.L Stice, P.J Golueke, J J

Kane and J Jerry, 1998 Transgenic bovine

chimeric offspring produced from somatic

cell-derived stemlike cells Nat Biotechnol.,

16: 642-646

3 Delhaise F., V Bralion, N Schuurbiers and

F Dessy, 1996 Establishment of an

embryonic stem cell line from 8-cell stage

mouse embryos Eur J Morphol., 34:

237-243

4 Eistetter H R., 1988 A mouse pluripotent

embryonal stem cell line stage-specifically

regulates expression of homeo-box

containing DNA sequences during

differentiation in vitro Eur J Cell Biol.,

45: 315-321

5 Evans M., Kaufman M H., 1981

Establishment in culture of pluripotential

cells from mouse embryos Nature, 292:

154-156

6 Gjorret J O and P Maddox-Hyttel, 2005

Attemps towards derivation and

establishment of bovine embryonic stem

cell-like cultures Reprod Fertil Dev., 17:

113-124

7 Wang Li, Duan Enkui, Sung Li-ying, Jeong

Byeong-Seon, Yang Xiangzhong, X Cindy

Tian, 2005 Generation and Characterization

of Pluripotent Stem Cells from Cloned

Bovine Embryos Biology of Reproduction,

73: 149-155

8 Mitalipova M., Beyhan Z., First N L.,

2001 Pluripotency of Bovine Embryonic

Cell Line Derived from Precompacting Embryos Cloning, 3: 59-67

9 Munoz M., A Rodriguez, C De Frutos, J

N Caamano, C Diez, N Facal, E Gomez,

2008 Convetional pluripotence markers are unspecific for bovine embryonic derived cell-lines Theriogenology, 69: 1159-1164

10 Rodrigues J L., Oliveira A T., Lopes R F., 2006 Gene expression and developmental competence of bovineembryos produced in vitro with different serum concentrations Reprod Domest Anim., 41(2): 129-136

11 Saito S., Sawai K., Ugai H, Moriyasu S., Minamihashi A., Yamamoto Y., Hirayama H., Kageyama S., Pan J., Murata T., Kobayashi Y., Obata Y., Yokoyama K K.,

2003 Generation of cloned calves and transgenic chimeric embryos from bovine embryonic stem-like cells Biochemical and Biophysical Research Communications, 309: 104-113

12 Savatier P., S Huang, L Szekely, K G Wiman, J Samarut, 1994 Constracting patterns of retinoblastoma protein expression in mouse embryonic stem cells and embryonic fibroblasts Oncogene, 9: 809-818

13 Sayaka W., Takafusa H., Rinako S., Yuko S., Hong-Thuy Bui, Eiji M and Teruhiko W., 2007 Efficient Establishment of Mouse Embryonic Stem Cell Lines from Single Blastomeres and Polar Bodies Stem Cells, 25: 986-993

14 Shamblott M J., Axelman J., Wang S., Bugg E M., Littlefield J W., Donovan P J., Blumenthal P D., Huggins G R., Gearhart

J D., 1998 Derivation of pluripotent stem cells from cultured human primordial germ cells Proc Natl Acad Sci USA,

95:13726-13731

15 Shanbo Cao, Fang Wang, Zhisheng Chen, Zhong Liu, Cheng Mei, Haojia Wu, Junjiu Huang, Chao Li, Lingjun Zhou, Lin Liu,

2009 Isolation and Culture of Primary Bovine Embryonic Stem Cell Colonies by a Novel Method Journal of Experimental Zoology, 311A: 368-376

Trang 8

16 Sirisathien S., Brackett B G., 2003

Influence of postmortem delay in aspiration

of oocytes on production of bovine

blastocysts in vitro Vet Rec., 153(11):

334-335

17 Stice S L., N Strelchenko, C L Keefer, L

Matthews, 1996 Pluripotent bovine

embryonic stem cell lines direct embryonic

developmet following nuclear transfer Biol

Reprod., 54: 100-110

18 Strelchenko N., 1996 Bovine pluripotent

stem cells Theriogenology, 45: 131-140

19 Thomson J A., Itskovitz-Eldor J., Shapiro

S S., Waknitz M A., Swiergiel J J., Marshall V S., Jones J M., 1998 Embryonic stem cell lines derived from human blastocysts Science, 282:

1145-1147

20 Vejlsted M., Du Y., Vajta G., Maddox-Hyttel P., 2006 Post-hatching development

of the porcine andbovineembryo defining criteria for expected development in vivo and in vitro Theriogenology, 65(1): 153-165

ISOLATION AND CULTURE OF BOVINE EMBRYONIC STEM-LIKE CELLS

USING WHOLE ZONA-FREE EMBRYO CULTRUE

Le Thanh Long, Doan Thi Hong Hanh, Nguyen Thi Hong Van, Hoang Nghia Son

Institute of Tropical Biology, VAST

SUMMARY

Zona membranes of bovine embryos were dissolved using 5 mg/ml pronase to collect zona-free embryos Whole embryo culture was applied for bovine embryonic stem cell establishment Bovine embryonic stem cells were isolated and cultured from bovine morula stage embryos and blastocyst stage embryos Nine morula stage embryos were cultured on mouse embryonic fibroblast inactivated by 10 µg/ml mitomycin C However, there was no attachment or proliferation of morula blastomere on the feeder cell layer Whole blastocyst stage embryo culture were also used to establish embryonic stem cells One blastocyst stage embryo attached to feeder cell layer and proliferated to embryonic stem-like cell colony in three weeks The primary bovine embryonic-like colony were collected and passaged to passage one Six embryonic-like colonies were formed on feeder layer in passage one The colonies’ diameter of passage one is from 50µm to

100 µm Four colonies were degenerated Colony 4 and 6 proliferated continuously in one week Colony 4 was picked up and passaged to passage 2 Five embryonic-like colonies were formed on the feeder layer in passage two The colonies’ diameter of passage two was from 70 µm to 140 µm However, all embryonic-like colonies of passage two degenerated in one week These colonies of passage one and two had embryonic-like morphology, and were surrounded by clear boundaries This characteristic is very important to distinguish embryonic-like colonies from feeder cell cluster Colony 6 of passage one was treated to Trysin-EDTA and culture in petri dish with embryonic stem cell medium without leukemia inhibitory factor Some embryoid bodies were formed in two weeks This result supported the pluripotent property of these embryonic stem-like cells

Keywords: bovine embryo, embryonic-like colony, embryonic stem cells, pluripotency, whole emrbyo

culture

Ngày nhận bài: 21-6-2012

Ngày đăng: 14/01/2020, 02:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w