1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các vùng biển việt nam chế độ pháp lý và việc phân định

233 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 233
Dung lượng 40,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghièn cứu "Các vùng biển Việt Nam: C hế độ pháp lý và việc phân định" là hết sức cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn cao nhằm xác định ranh giới, chế độ pháp lý các vùng biển Việt Na

Trang 2

T r n n g p h ụ bìii

Lòi ca m đ o a n

M ụ c lục

D a n h II1IIC ó c ký h iệ u , các c h ữ viết tĩít

M ở ( l ầ u 5

CHƯ Ơ N G 1: C ơ sờ lý lu ậ n vể c h ế độ p h á p lv và p h â n đ ịn h các v ù n g biến .10

1.1 Khái quát về các nguyên lắc điều chinh của pháp luậi quốc tố và pháp luật quốc g i a 10

1.2 Lịch sử phát triển của luđt biến và các nguyên tắc cơ bàn của cồng ước ỉ 982 23

1.3 Dường c a sỏ và c h ế đỏ pháp lý các vùng biên theo Côn*: ước 1 9 8 2 36

1.4 Phân định các vùng biển chổng lấn giữa các quốc g i a 60

C H Ư Ơ N G 2: P h á p lu ậ t hiện h à n h cùa Việt N a m vể c h ế đ ộ p h á p lý và th ự c t r ạ n g p h â n đ ịn h các v ù n g b i ể n 93

2 1 BCÍi cảnh chung của Bicn Đ ô n tì 93

2.2 Đường cơ sở thẳng 1982 và c h ế độ pháp lý các vùng biển Việc N a m 97

2.3 Thực trạng phân định biển giữa Việi Nam với các nước 116

C H Ư Ơ N G 3: P h ư ơ n g h ư ó ĩ i g , g i ả i p h á p h o à n t h i ệ n c h ế đ ộ p h á p lý v à p h à n đ ị n h c á c v ù n g b i ể n Việt N a m 137

3 ] Các nguyên tắc cơ ban hoàn thiện c h ế dộ pháp lý và phân đinh các vùng biển Việl N a m 137

3.2 Phương hướng sửa đỏi hộ thống đường cơ sở và hoàn thiện chế độ pháp lý các vùng biển Việt N a m 140

3.3 Giài pháp phàn định các vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam với các nước liên quan 157

K ết ỉu ụ n và kiến n g h ị 174

D a n h m ụ c còng t r ì n h c ù a tá c g i ả 178

T à i liệu th a m k h à o „ Í79 P h ụ l ụ c 188

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

N hà xưất bản

W TO:

Tổ chức Thương m ại T h ế giói

Trang 4

M ỏ ĐẦU

Việt Nam là một quốc gia có lợi thế vé biển với một bờ biển trải dài khoảng 3.260 km trên ba hướng: Đông, Nam và Tây Nam Trung bình cứ 100 krrr diện tích đất liền lại có 1 km bờ biển, tỷ lộ này thuộc vào loại cao so với tỷ lệ trung bình của thế giới (600 km2 đất liền mới có một km bờ biển) Biển có một vai trò đặc biệt quan trọng và gắn bó mật thiết với đời sống kinh tế, chính trị xã hội đối với mọi miền của Việt Nam.

Trong xu thế chung phát triển của luật biển quốc tế, Việt Nam íà một trong những nước đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 Công ước này đã có hiệu lực bắt đầu từ ngày 16 tháng 11 năm 1994 Theo tinh thần của Công ước và đổng thời phù hợp với Tuyên bố vể lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ngày 12/5/1977 và Tuyên bố về

đ ư ờ n g cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12/11/1982, Việt Nam có các vùng biển và thềm lục địa rộng gấp mấy lần diện tích đất liền với các loại tài nguyên đa dạng và phong phú Với diện tích và vị trí địa lý thuận lợi về biển, biển của Việt Nam vừa là điều kiên để liên kết kinh tế giữa các vùng, các miền trong nước, lại vừa là cửa ngõ thông thương của nước ta với nhiều khu vực khác trên thế giới Mật khác, tầm quan trọng, vị trí địa lý thuận lại và tài nguyên giầu có của Biển Đông cũng là những nguyên nhân gây ra những tranh chấp phức tạp quyết liệt về chủ quyển và các quyền lợi quốc gia trên biển giữa các quốc gia xung quanh Biển Đóng.

Là quốc gia đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, việc quy định chế độ pháp lý các vùng biển của mình phù hợp với quy định của Công ước vừa là quyền lợi và vừa là nghĩa vụ của Việt Nam Các nước xung quanh Biển Đỏng đều đã đưa ra yêu sách các vùng biển của mình và hầu hết những yêu sách này đều chổng lấn lén nhau Tuyên bố ngày 12/5/1977 cùa Chính phủ Việt Nam mới chỉ tuyên bố một cách nguyên tắc về các vùng biển Việt Nam nhưng chưa

Trang 5

vạch rõ giới hạn các vùng biển đó [2,tr.8-10J Hệ thống các văn bản pháp quy về chế

độ pháp lý các vùng biến Việt Nam còn tản mát, chổng chéo và còn nhiều sơ hở nên gây khó khăn cho việc khai thác, sử dụng, quản lý và bảo vệ các vùng biển Ngoài tranh chấp về chủ quyển rất phức tạp với Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và với Trung Quốc, Đài Loan, Ma-lai-xia, Phi-ỉip-pin trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam còn cần phải giải quyết phản địn h các vùng biển với In-đò-nê-xia, Ma-lai-xia, Thái Lan (vùng 3 bên) và Cam-pu-chỉa Cho đến nay Việt Nam mới giải quyết phân định được với Thái Lan trong vịnh Thái Lan nãm 1997 và với Trung Quốc trong vịnh Bắc

Bộ năm 2000 [5], [33].

Việc quy định ranh giới, chế độ pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyển và quyền tài phán quốc gia và phân định biển là một quá trình rất phức tạp Nó đòi hỏi phải nghiên cứu rất kỹ các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế, thực tiễn quốc tế và các hoàn cảnh hữu quan Đề tài nghièn cứu "Các vùng biển Việt Nam: C hế độ pháp lý và việc phân định" là hết sức cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn cao nhằm xác định ranh giới, chế độ pháp lý các vùng biển Việt Nam và cơ sở pháp

lý phân định biển giữa Việt Nam với các nước liên quan phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế trong đó có Còng ước của Liên hợp quốc về Luật biển nám 1982, góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc khai thác, sử dụng và bảo vệ các vùng biển Việt Nam.

2 Tình h ìn h nghiên cứu đ ề tài

Nghiên cứu lý luận chung về nhà nước và pháp luật nói chung và vấn đề xác định ranh giới và chế độ pháp lý các vùng biển nói riêng được nhiều nhà học giả trên thế giới và ở Việt Nam quan tâm Trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề này như: “Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật”[26] và

“Một số vấn để cơ bản về luật quốc tế” [25] của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; “Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật” của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội [17]; “Giáo trình Luật quốc tế ” của Trường Đại học Luật Hà Nội[20]; các công trình nghiên cứu về Luật biển của cô Giáo sư Nguyễn Ngọc Minh; "Vùng biển và quyền làm chủ" (Vũ Phi Hoàng, NXB Quân đội Nhãn dân -

6

Trang 6

Hà Nội 1978)[Ỉ2], "Luật Biển'1 (Phạm Giảng - NXB Pháp lý, Hà Nội 1983) [16],

"Thềm lục địa - Những vấn để pháp íý quốc tế” (Phạm Ngọc Chi - NXB Pháp lý, Hà Nội 1990)[8] Gần đây có hai luận án phó tiến sỹ là luận án của Phó tiến sỹ Trần Công Trục: "Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với các vùng biển của nước CHXHCN Việt Nam"[30] và luận án của Phó tiến sỹ Hoàng Trọng Lập: 'Tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa"[18] cũng có đề cập tới bối cảnh tranh chấp trên các vùng biển và hai quần đảo trên Biển Đông nhung không đi sàu vào nghiên cứu chế độ pháp lý các vùng biển Việt Nam và vấn đề phán định Tiến sỹ Nguyễn Hổng Thao đã bảo vệ luận án tiến sỹ luật quốc tế tại Pháp với đề tài "Việt Nam đang đối mặt với vấn đề mở rộng biển"[l 14], Tác giả đã nghiên cứu về các vấn

để khó khăn mà Việt Nam gặp phải trước tình hình tranh chấp rất phức tạp trên Biển Đông, đặc biệt là tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Ban Biên giới của Chính phủ thực hiện để tài nghiên cứu cấp nhà nước với mã

số KT03-19 "Cơ sờ khoa học cho việc phân định các vùng biển của Việt N am ” năm

1992 [3] và đề tài "Cơ sở khoa học cho việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa Việt Nam" (Vụ Biển phối hợp với Phân viện Hải dương học tại Hà Nội, 1994) [4] Hai đề tài này chỉ đề cập tới khía cạnh khoa học tự nhiên, các hoàn cảnh tự nhiên trong Biển Đông tác động tới việc phân định biển giữa Việt Nam với các nước

và cơ sở khoa học tự nhiên cho viộc xác định ranh giói ngoài thềm lục địa Việt Nam.

Đề tài "Cơ sở khoa học cho việc xác định biên giới và ranh giới chủ quyền của nước Việt Nam trên biển theo Công ước về Luật biển năm 1982", Mã số KHCN-06-

05, Đại học quốc gia Hà Nội, 1999[9], đưa ra các khái niêm chung nhất về việc phân định các vùng biển theo Công ước 1982 và tập trung vào việc nghiên cứu đề xuất việc bổ sung sửa đổi hệ thống đường cơ sở thẳng Việt Nam.

Mặc đù trên thế giới cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu để cập tói cơ sở pháp lý của công tác hoạch định các vùng biển và thềm lục địa (thí dụ như tác giả Gerard J Tajia với cuốn sách "The legal determination of international maritime boundaries", Nhà xuất bản Kỉuwer Law and Taxation Publishers - 1990 [67]; tác giả Epsey Cooke Farrell "The Socialist Republic of Vietnam and the Law of the Sea”, Martinus Nijhoff Publishers, 1998 [62]; Victor Prescot, Mark Valencia ) nhưng các

Trang 7

công trình này chưa trực tiếp đề cập sâu tới chế độ pháp lý các vùng biển Việt Nam

và phản định các vùng biển chổng íấn siữa Việt Nam với các nước trong khu vực Như vậy, đề tài này sẽ ỉà công trình nghiên cứu chuyên sâu vể ranh giới, chế

độ pháp lý các vùng biển Việt Nam và cơ sở pháp lý để phân định các vùng biển chổng lấn giữa Việc Nam với các nước có kế thừa và tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước khác.

- Nghiên cứ u cơ sở lý luận về việc điều chỉnh chế đ ộ pháp lý c á c v ù n g biển và phân định biển bằng các quy phạm pháp luật quốc tế và quốc gia;

- Trên cơ sở các quy phạm pháp luật quốc tế và quốc gia phân tích, đánh giá pháp luật hiện hành của Việt Nam về chế độ pháp lý các vùng biển Việt Nam và thực trạng các vùng biển chổng lấn giữa Việt Nam với các nước có liên quan;

- Xuất phát từ đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và trên cơ sở lý luận về việc điều chỉnh của các quy phạm pháp luật quốc tế và quốc gia, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện chế độ pháp lý và phân định

c á c v ù n g b iể n V i ệ t N a m

Phương pháp ỉuận để nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp tiếp cận hê thống, phương pháp so sánh đối chiếu và phương pháp xã hội học cụ thể.

- Luận án đưa ra được phương án bổ sang và sửa đổi hệ thống đ ư ờ n g cơ sở thẳng hoàn chỉnh khép kín ven bờ lục địa Việt Nam.

' Luân án đưa ra được ranh giới các vùng biển Việt Nam được tính toán trên

cơ sở hệ thống đường cơ sở mới đề xuất và phương hướng hoàn thiện chế độ pháp lý các vùng biển này.

- Luận án đưa ra được các giải pháp phân định cụ thể các vùng biển chồng lấn eiữa Việt Nam với các nước có liên quan.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tién của luận án

- Lý luận về việc điều chỉnh chế độ pháp lý và phàn định các vùng biển bằng

8

Trang 8

các quy phạm pháp luậl quốc tê' và quốc uia !à cơ sỏ dể xác định phươnu hướng, liiái pháp hoàn thiện hệ thốne pháp luậl về biển của Việt Nam, eiái quyẽì các iranh chấp nẩy sinh Iren bien uiửa Việt Nam với các nước có liên quan.

- V iệ c phân tích các cơ sở p h áp lý vạch dườriii cơ sở và x á c d ịn h c á c vùnu biển

c ù a V iệ t N a m có the ih a m k h áo dể n a h i ê n cứ u, đ ề x u ấ t s ử a dổi, b ổ suns h ệ th ố n « đườniỉ c ơ sờ ih ẳ n g c ủ a V iệ i N a m tu y ê n b ố n g à y 1 2 /1 1 /1 9 8 2 c h o phù h ợ p với C ó n e ƯỚC c ủ a L iê n h ợ p q u ố c về L u ậ t biển n ă m 1982 m à V iệ t N a m đ ã p hê c h u ẩ n đổnH thời vẫn h á o v ệ đư ợc q u y ề n lựí q u ố c tíia c ủ a V iệt N a m trôn biển

- Việc phân lích các cơ sớ pháp lý xác định ranh aiới vù chế độ pháp lý các vùn«! biển Việt Nam có ý nahĩa rất thực tiển dế các nhà hoach định chính sách và pháp luậi của Việi Nam tham kháo khi nähien cứu phạm vi và chế độ pháp lý các

cơ sử pháp [ý vững chắc cho công tác khai thác, sử dụns, quản lý và bảo vệ biển của

- N g o à i ra, luận án c ó thế là m ộ t tài liệu th a m k h ả o tốt c h o c ô n g tá c n g h iê n cứu k h o a h ọ c p h á p lý, p h ụ c vụ cho c ô n s lác q u á n lý b iể n c ủ a các Bộ, n g à n h v à các

d ịa p h ư ơ n g , là m tài liệu a iả n g d ậ y tại c á c trư ờ n g đ ạ i học

M eo ài p h ần M ở đầu, lài liệu th a m k h ả o , p h ụ lục (các h ìn h vẽ), L u ậ n á n g ồ m 3

c h ư ơ n a , m ỗ i c h ư ơ n u d ề u có tiểu k ết v à c u ố i c ù n g là p h ầ n k ế t luận c h u n g c ủ a c ả

L u ậ n án v à c á c k iế n ntíhị

Trang 9

CHƯƠNG 1

CO SỞ LÝ LUẬN VỂ CHÊ ĐỘ PHÁP LÝ VÀ PHẢN ĐỊNH

CÁC VÙNG BIỂN

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC NGUYÊN TẮC ĐlỀU CHỈNH CỦA PHÁP

1.1.1 Một sô khái niệm cơ bản về điều chỉnh cùa pháp luật quốc tế và phá|> luật quốc gia

Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nèu

rõ: “Nước Cộng ỉioà x ã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách htìà bình, hữu

nghị, m ơ rộng giao lưu và hợp tác với (ất cá các nước trên th ế giói, không phân biệt

c h ế độ chính trị và x ã hội khác nhau, trên cơ sở tòn trọng độc lập chủ quvển vờ

toàn vẹn lãỉìh thố' của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đắni> và các bên củng cố lọi; íâng cường tình đoàn kết hữu nghị vù quan hệ hợp tác vói các nước xã hội chủ nghĩa và các nước lúng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung cùa nhân dân th ế giới vì hơà bình, độc lập cláỉì tộc , dán chủ và liến bộ xã hội". Rõ ràng chúng ta đã xác định đúng tính chất của thời đại xu hướng phái trien tất yếũ của nhàn loại và đồ ra chính sách đối ngoại nhất quán, Việt Nam [uôn luôn mong muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới - đó là phương châm hành động của chúng ta trong việc thực hiện chính sách đối ngoại Đáng ta đã chi rõ: chúng ta phải mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thú sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân lộc VỚI sức mạnh của thời đại động viên mọi nguổn lực bên trong là chính, đổng thời khai thác tốt nhũng điéu kiện mới Irong quan hệ đối ngoại, tạo môi trường quốc tế thuận lợi và tranh thủ những nhàn tố tích cưc phục vụ công cuộc xây dựng và báo vệ đất nước Việc mớ rộng quan hệ đối ngoại phải trên cơ sở giữ vững độc lập lự chủ, giữ gìn phát huy ban sắc dân tộc và truyền thống tốt đẹp của dân tộc[21, tr.15].

Q u a n h ệ q u ố c tế k h ỏ n g p hải là cái gì đ ó bất h iế n , m à luôn luôn thav đổi

1 0

Trang 10

Quan hệ quốc tế thay đổi cùng với những thay đổi diễn ra trong tương quan lực lượng trên thế giới Các quan hệ quốc tế ớ mỗi giai đoạn phát triển đểu được điều chỉnh bằng các nguyên tắc, quy phạm của pháp luật quốc tế Do vậy, các nguyên tác

và quy phạm pháp luật quốc tế luôn luôn thay đổi Lịch sử phát triển của các quan

hệ quốc tế và của pháp luật quốc tế đã chứng minh điểu đó Nếu chỉ tính từ đầu thế

kỷ XX đến nay chúng ta đã thấy rõ bức tranh toàn cảnh của quan hệ quốc tế và của pháp luật quốc tế Trước Cách mạng tháng Mười Nga trong quan hệ quốc tế thịnh hành sự bất công và bao lực Chủ nghĩa đế quốc làm mưa, ỉàm gió Chúng tự cho minh quyền định đoạt số phận của các dân tộc trên thế giới, tự cho mình có quyển phân chia thế giới phục vụ lợi ích của các tập đoàn tư bản độc quyền nhà nước Pháp luật quốc tế trước Cách mạng tháng Mười ỉà pháp luật của kẻ mạnh, của sự bất công Các nước châu Á, châu Phi và cháu Mỹ-Latin được coi là các nước ngoại biên và là đối tượng của sự thôn tính thuộc địa của các nước tư bản chủ nghĩa Trong những điều kiện như vậy thì làm sao có thể nói vẻ sự công bằng, bình đẳng trong quan hệ quốc tế, làm sao có thể nói về các nguyên tắc và quy phạm công bằng của pháp luật quốc tế? Cách mạng tháng Mười vĩ đại đã mờ ra kỷ nguyên mới, chân trời mới cho các dủn tộc bị áp bức trên toàn thế giới, đã đặt nền móng cho một trật tư pháp luật quốc tê' mới Sau chiến tranh thế giới lần thứ Hai, thế giới đã chuyển sang giai đoạn phát triển mới Tương quan lực lượng trên thế giới dã thay đổi về chất Hiến chương Liên Hợp Quốc đã được thông qua, đã đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển của quan hệ quốc tế và của pháp luật quốc tế Pháp luật quốc tế không còn là pháp luật của kẻ mạnh nữa (điều đó, về thực chất nằm ngoài ý muốn của các nước phương Tây) Sau chiến tranh thế giới lần thứ Hai phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nước châu Á, chàu Phi và châu Mỹ-Latin đã thực sự trở thành yếu tố' tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của pháp luật quốc tế và của quan hệ quốc

tế Cách mạng Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung đó của nhân loại Từ một nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Chủ tịch Hổ Chí Minh đã thực hiện thành công cách mạng dân tộ c -d â n chủ, đánh đuổi thực dân, xoá bỏ chế độ phong kiến, xây dựng một Nhà nước kiểu mới - Nhà nước cồng - nóng đầu tiên ở Đóng - Nam châu Á Quan hệ quốc tế của nước

Trang 11

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã mang môt sắc thái mới.

Như vậy, có thể nói, quan hộ quốc tế mới đương nhiên dẫn đến việc hình thành các nguyên tác và quy phạm mới của pháp luật quốc tế Mặt khác, các nguyên tắc và quy phạm mới của pháp luật quốc tế cũng sẽ đẫn đến sự xác lập các quan hộ quốc tế mới Mối quan hệ giữa quan hộ quốc tế và pháp luật quốc tế là mối quan hệ biện chứng, có sự gắn bó với nhau chặt chẽ, tác động qua lại với nhau Quan hệ quốc

tế ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, tức là không chỉ bao gồm các quan hệ trực tiếp giữa các quốc gia với nhau mà còn bao gổm mối quan hệ giữa các quốc gia với các

tổ chức quốc tế, quan hệ giữa các tổ chức quốc tế với nhau Sự tham gia của các tổ chức quốc tế vào các quan hệ quốc tế không làm ảnh hưởng, thay đổi tính chất liên quốc gia của các quan hệ quốc tế Suy cho cùng thì bản thân các tổ chức quốc tế là diễn đàn hợp tác của các quốc gia, nhiệm vụ cơ bản của các tổ chức quốc tế là thúc đẩy sự hợp lác giữa các quốc gia Trong đời sống quốc tế hiện nay quan hệ giữa các quốc gia trên các lĩnh vực khác nhau có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, và mọi

sự hợp tác đều phải phục vụ một mục tiêu chung: vì hoà bình, an ninh thế giới, vì sự tiến bộ xã hội, vì tự do và hạnh phúc của tấĩ cả các dân tộc.

Hệ thống luật pháp quốc gia điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong phạm

vi nội bộ quốc gia bao gồm các quan hệ xã hội về chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, côns nghệ, quốc phòng, an ninh; các quan hệ xã hội giữa Nhà nước

và công dân; các quan hệ phát sinh trong việc xây dựng, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Pháp luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định phát sinh trong sinh hoạt quốc tế như quan hệ chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá v.v giữa các quốc gia, giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế liên chính phủ Những quan hệ chính trị và khía cạnh chính trị của quan hệ kinh tế, khoa học - kỹ thuật, vãn hoá v.v nêu trên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật quốc tế hiện đại.

Trong sinh hoạt quốc tế còn phát sinh các mối quan hệ dân sự mà các bên tham gia là các thể nhân, pháp nhân, thậm chí cả quốc gia, tổ chức liên chính phủ Những quan hệ xã hội này thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế Như vậy pháp luật quốc tế không điều chỉnh tất cả các mối quan hệ phát sinh trong sinh hoạt

12

Trang 12

quốc tế mà chí điều chỉnh quan hệ chính trị hoặc khía cạnh chính trị của quan hệ kinh tế, khoa học - kỹ thuật và văn hoá giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế liên chính phủ[20, tr 15].

Chủ í h ể pháp luật là (hể nhân và pháp nhân nhất định được pháp luật cống

nhận có quyền năng chủ thể Mỗi ngành pháp luật đều có đặc trưng của mình về chủ thể Đạc trưng đó hình thành trên cơ sơ tính chất và đặc điểm các mối quan hệ xã hội do ngành pháp luật đó điều chỉnh.

Chủ thể pháp luật quốc gia là những cá nhân, tổ chức có khả năng trở thành các bên tham gia quan hộ pháp luật, có được những quyền và nghĩa vụ pháp lý trên

cơ sở những quy phạm pháp luật[17, tr.394].

Quan hệ quốc tế là quan hệ giữa các quốc gia nên chủ thể của pháp luật quốc

tế hiện đại chủ yếu phải là quốc gia Những quan hộ giữa các quốc gia ngày nav dù

đó ỉà quan hệ chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật hay văn hoá, đều ỉà quan hệ dựa trên cơ sở tõn ưọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng giữa các quốc gia Mỗi quốc gia,

dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển đều là mỗi thực thể độc lập, có chủ quyển và bình đẳng với mọi quốc gia khác trong quan hệ quốc

tế Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập mà đại diện là các mặt trận giải phóng dân tộc cũng là chủ thể của pháp luật quốc tế hiên đại nhưng là chủ thể đặc biệt, là quốc gia độc lập đang trong quá trình hình thành Các tổ chức quốc tế liên chính phủ

do các quốc gia thoả thuận thành lập phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế hiện đại cũng là chủ thể của pháp luật quốc tế hiện đại nhưng chỉ là chủ thể hạn chế Các tổ chức quốc tế liên chính phủ không phải là quốc gia hay đứng trên quốc gia mà chỉ có một số quyền hạn chế do các quốc gia thành viên thoả thuận quy định[20, tr.lố].

Thể nhân và pháp nhân không thể là chủ thể của luật quốc tế hiện đại, không thể xếp ngang hàng với các quốc gia - các thực thể độc lập, có chủ quyền Đó chính

là điểm khác với tư pháp quốc tế Chủ thể của tư pháp quốc tế gồm thể nhàn và pháp nhân Quốc gia chỉ là chủ thể đặc biệt của tư pháp quốc tế[20, tr.16].

Nhu vậy có thể định nghĩa một cách tổng quát: “Chủ thể luật quốc tế là những thực thể đang tham gia (hoặc có khả năng tham gia) vào quan hệ quốc tế một

Trang 13

cách độc lập, có đầv đủ quyền và nghía vụ quốc tế cũng như thực hiện mội cách độc lập các quvền và nghĩa vụ quốc tế đó trên cơ sở các quy phạm luật quốc tế” [24, tr.30-31].

Nguồn của pháp luật là hình thức biểu hiện của các nguyên tắc và quy phạm

pháp luật Các nguyên tắc và quy phạm của pháp luật quốc gia cũng như của pháp luật quốc tế tổn tại dưới hai hình thức: thành vãn và không thành vãn Nguồn thành văn của pháp iuật quốc gia là các vãn bản quy phạm pháp luật đo các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành mà trong đó Hiến pháp ỉà nguồn chủ yếu và quan trọng nhất Nguổn thành văn của luật quốc tế là các điều ước quốc tế ký kết giữa hai hay nhiều chủ thể pháp luật quốc tế Điều ước quốc tế không phải ỉà nguồn cùa pháp luật quốc gia[20, tr.17).

Nguồn khống thành văn của pháp luật quốc gia là những tập quán được chính quốc gia thừa nhận và bảo đảm thi hành trong nội bộ quốc gia Nguồn không thành văn của pháp luật quốc tế là những tập quán quốc tế được các quốc gia cùng thừa nhận một cách rộng rãi và áp dụng làu dài trong thực tiễn quan hệ quốc tế.

V ề bản chất, pháp luật quốc gia thể hiện và bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm

quyền của quốc gia đó trên cơ sở tưcmg quan lực lượng của cuộc đấu tranh giai cấp trong nội bộ quốc gia ờ từng giai đoạn phát triển kinh t ế - x ã hội Moi khi có sự Ihay đổi ỉớn về các mặt của đời sống xã hội, về tương quan lực lượng trong cuộc đấu tranh giai cấp thì nội dung của pháp luật quốc gia, cách thể hiện và bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền cũng có sự thay đổi tương ứng[20, tr.2 1 ]-

Pháp luật quốc tế hiện đại thể hiện sự thoả hiệp về lợi ích của các quốc gia tham gia quan hệ quốc tế, trẽn cơ sở tương quan íực lượng giữa các quốc gia, giữa các giai cấp cầm quyền của các quốc gia trong quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau Pháp luật quốc tế còn thể hiện xu thế phát triển và kết qủa đấu tranh chung của các lực lượng vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trong từng giai đoạn phát triển của xã hội quốc tế hiện đại[20, tr.21 ].

V ề bảo đảm thi hành, trong phạm vi quốc gia, các nguyên tắc và quỵ phạm

pháp ỉuật do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đặt ra hoặc chấp nhận những tập quán nhất định, ràng buộc mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội và được quốc gia

Trang 14

đảm bảo thi hành Luật quốc tế là tổng hợp các nguyôn tắc và quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ chính trị, kinh tế, văn hoá giữa các quốc gia, giữa các quốc gia với các tổ chức liên chính phủ Các nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế đo các quốc gia thoả thuận xây dựng bằng cách ký kết các điều ước quốc tế hoặc cùng chấp nhận áp dụng những tập quán nhất định đã hình thành trong quan hệ giữa các quốc gia Nói một cách khác, để điều chỉnh quan hệ quốc tế, không có một cơ quan nào đứng trên các quốc gia để đặt ra pháp luật để bắt các quốc gia phải tuân theo Các quốc gia, chủ thể chủ yếu của luật quốc tế hiện đại, là các thực thể độc lập, có chủ quyền, bình đẳng với nhau trong quan hệ quốc tế Do vậy cũng không một quốc gia nào có quyền đặt ra pháp luật bắt các quốc gia khác phải tuân theo Các quốc gia tham gia thoả thuận các xây dựng các nguyên tắc và quy phạm pháp ỉuật quốc tế có trách nhiệm thoả thuận quy định các biện pháp cưỡng chế cần phải được áp dụng[20, tr.21].

pháp luật quốc gia

Trong khoa học pháp lỷ quốc tế một trong những vấn để quan trọng luôn được đề cập tới là vấn đề về mối quan hệ qua lại giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, hay còn gọi là mối tương quan giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Vấn đề này ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với các cơ quan của các quốc gia và ở mức độ nhất định là đối với cá nhân Thực tế cho thấy rằng hiện nay ở nước

ta cũng như nhiều nước trên thế giới các công trình nghiên cứu về luật quốc tế còn quá ít so với luật quốc gia và việc đào tạo các luật gia chuyên ngành luật quốc tế cũng ít hơn rất nhiều so với việc đào tạo các chuyên ngành luật quốc gia Đối khi người ta nói đến pháp luật quốc tế chỉ thuần tuý dưới góc độ chính trị mà chưa thấy hết hiệu quả của pháp luật quốc tế Chính vì lý do đó mà hiệu quả của sự điều chỉnh pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia không được như mong muốn Trong những điều kiện hiện nay khi giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, sự tuỳ thuộc vào nhau giữa các quốc gia ngày càng nhiều thì việc xác định mối tương qua giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ngày càng có ý nghĩa quan trọng.

Bản thân mối quan hộ qua lại mật thiết giữa các quan hệ trong mỗi quốc gia

Trang 15

do pháp luật quốc gia điều chỉnh và các quan hệ quốc tế, quan hệ giữa các quốc gia

do pháp luật quốc tế điều chính Pháp luật quốc tế được đề cập ở đây bao gồm cả pháp luật quốc tế chung, mang tính toàn cầu và pháp luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia trong mỗi khu vực địa lý nhất định đều có mối quan hệ mật thiết với pháp luật của mỗi quốc gia Chẳng hạn, các điểu ước quốc tế được ký kết trong phạm vi Liên hợp quốc đương nhiên có tác động nhiều đến pháp luật quốc gia của các nước thành viên; các cam kết trong khuôn khổ ASEAN tất yếu sẽ tác động trực tiếp đến pháp luật của các quốc gia Đông Nam Á, trons đó có Việt Nam Việc cam kết tham gia xây dựng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA và thực hiện CEPT đương nhiên dẫn tới việc sửa đổi pháp luật về thuế quan của Việt Nam Khi chúng ta tham gia WTO thì tất yếu phải sửa đổi pháp luật cho phù hợp Việc tự

do hoá thương mại có liên quan nhiều tới pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Khi th ế giới đã nối chung mạng Internet thì ranh giới giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ngày càng m ờ nhạt Nói như vậy không có nghĩa là đến một ngày nào

đó pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia sẽ hoàn toàn thống nhất với nhau, sẽ là

m ột nhất thể, sẽ không có sự phân biệt Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia vẫn tồn tại như hai hệ thống với những đặc điểm riêng và có mối liên hệ qua lại với nhau.

Mối tương quan giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia thể hiện ở các

mặt sau:

M ột là, pháp luật quốc tế tác đ ộ n g tới sự phát triển của pháp luật quốc gia.

Hai lả, pháp luật q u ố c gia thúc đẩy q u á trình phát triển của pháp luật q u ố c tế.

Ba là, pháp luật quốc gia là phương tiện chuyển tải pháp luật quốc tế, là điều

kiện bảo đảm thực hiện pháp ỉuật quốc tế.

Pháp luật quốc tế không có hiệu lực thi hành trực tiếp trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia Luật quốc tế muốn được thi hành trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, có hiệu lực đối với thể nhân và pháp nhân của các quốc gia cần phải được chuyển hoá vào pháp luật quốc gia.

Hiến pháp Việt Nam và Pháp lệnh về ký kết và thực hiện Điều ưóc quốc tế nãm 1998 khỏng có quy định cụ thể, rõ ràng về việc chuyển hoá điều luật quốc tế

16

Trang 16

vào nội luật Việt Nam nhưng đã khẳng định nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nghiêm chỉnh tuân thủ điều ước quốc tế mà mình ký kết hoặc tham gia, đổng thời đòi hỏi các bên ký kết hoặc tham gia khác cũng phải nghiêm chỉnh tuân thủ điều ước quốc tế đã ký hoặc cùng tham gia với Việt Nam[19] Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện các điều ước quốc tế của Việt Nam đã có hai phương thức là phương thức đưa vào nội luật một số điều ước như điều ước khuyến khích, bảo hộ đầu tư, tránh đánh thuế hai lần qua áp dụng trực tiếp (thừa nhận trực tiếp của điều ước quốc tế)

và phương thức ban hành vãn bán để nội luật hoá (như chuyển hoá một số điều ước

về quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao - ỉãnh sự trong pháp lệnh v ề quyền ưu đãi, miền trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam ngày 23/8/1993)[27, tr.92].

1.1.3 Thực tiễn mối quan hệ giữa luật biển quốc tế và luật biển Việt Nam Luật biển quốc tế và luật biển quốc gia có mối quan hệ biện chứng và được thể hiện rất rỗ trong suốt quá trình phát triển của hai hệ thống luật này Thực tiễn quốc gia trong việc khai thác và bảo vệ biển đã yêu cầu quốc gia phải định ra hệ thống luật pháp của mình nhằm bảo vệ các quyền lợi quốc gia và điều chỉnh các mối quan hệ trên biển Chính luật pháp quốc gia về biển đã tạo ra các thực tiên quốc tế

và giúp hình thành và phát triển luật biển quốc tế thống qua quá trình đàm phán, soạn thảo, thông qua các văn bản luật quốc tế về biển Sau khi được các quốc gia thành viên ký kết, phé chuẩn hoặc íham gia, luật biển quốc tế có hiệu ỉực bắt buộc đối với các quốc gia này và đồng thời nó cũng có giá trị là luật tập quán đối với các quốc gia không phải là thành viên tham gia Đến luợt mình, các quốc gia tham gia các công ước quốc tế về biển có trách nhiệm thi hành và điều chỉnh hệ thống luật pháp q u ố c gia c ủ a mình cho phù hợp VỚI các c ô n g ước q u ố c t ế mà mình đ ã tham gia Đối với các quốc gia không tham gia công ước nhưne cũng tham khảo các quy định của công ước để xây dựng luật quốc gia của mình và đàm phán giải quyết các tranh chấp với các quốc gia có liên quan Mối quan hệ biện chứng này có thể được diễn giải bàng sơ đồ sau:

Trang 17

Mối quan hệ biộn chứng, ràng buộc giữa luật biển quốc tế và luật biển quốc gia được thể hiện rõ ràng qua việc luật quốc gia ảnh huởng tới sự hình thành và phát triển của luật biển quốc tế và ngược lại, luật biển quốc tế thường xuyên thúc đẩy sự phất triển và hoàn thiện luật biển quốc gia Hơn thế nữa do bản chất quốc tế rất đặc thù của biển mà luật biển quốc tế hiện đại cụ thể là Công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982 và luật quốc gia không chỉ dừns lại ở chỗ tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau phát triển mà chúng còn tạo điếu kiện đảm bảo cho nhau trong quá trình thực hiện.

Ngày nay việc các quốc gia mở rộng phạm vi các vùng biển và quy định chế

độ pháp lý các vùng biển đều có thể đụng chạm tới quyển lợi của các quốc gia khác

Do vậy, việc xây dựng và thực hiện tốt các quy phạm của luật biển quốc tế cụ thể là Cồng ước 1982 là điều kiện đảm bảo có hiệu quả các quy phạm tương ứng của luật pháp quốc gia và ngược lại Nói một cách khác, luât của các quốc gia ven biổn nói chung, của Việt Nam nói riêng chỉ có thể thực thi được khi nó được xây dựng phù hợp với các quy phạm pháp ỉý quốc tế được thừa nhận Khi quốc gia ven biển cố tình

áp đặt các quy phạm pháp lý quốc gia trái với các quy phạm pháp lý và thực tiễn quốc tế chung sẽ không được các quốc gia khác thừa nhận và tón trọng Việc làm như vậy có thể gãy ảnh hưởng tới quan hệ ngoại giao giữa quốc gia ven biển với các quốc gia có liên quan và cộng đồng quốc tế nói chung Ví dụ trong việc quy định đường cơ sở thảng dùng để tính chiều rộng lãnh hải, quốc gia ven biển càn cứ vào hoàn cảnh địa lý cụ thể của mình, vận dụng luật pháp và thực tiễn quốc tế để đưa ra

hệ thốn» đường cơ sở thẳng quốc gia Đường cơ sở này nếu phù hợp với các quy phạm và thông lệ quốc tế chung sẽ được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tồn trọng, ngược lại nó sẽ bị các quốc gia khác phản đối, không thừa nhận và rất khó đảm bảo thi hành đối với các tàu thuyền và phương tiện của các quốc gia này Tương tự như

18

Trang 18

vậy, việc xây dựng chế độ pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền, quvền chủ quvền

và quyền tài phán quốc gia cũng cần phải phù hợp với quy định của luật pháp quốc

tế mà cụ thể là Cống ước 1982 dù quốc gia đó có không phải là thành viên của Công ước vì chỉ như vậy mới được quốc tế thừa nhận và có hiệu lực thực thí trên thực tế Việc đàm phán phân định các vùng biển chồng lấn và giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các quốc gia lại càng cần phải dựa trên quy phạm pháp lý quốc tế được thừa nhận chung thì mới có thể đi tới giải pháp cống bằng và được quốc tế thừa nhận.

Luật quốc gia cũng có vai trò quan trọng đối với quá trình phân định và giải quyết các tranh chấp trên biển ỏ 4 khía cạnh sau:

Luật quốc gia quy định ranh giới và chế độ pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyển, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia Tuy nhiên, các quy định cùa luật quốc gia này phải phù hợp với các quy phạm chung của luật pháp và thực liễn quốc tế thì mới có giá trị pháp lý trong quan hộ quốc tế.

Sự tham gia của quốc gia vào các công ước và điều ước quốc tế Khi quốc gia là thành viên của công ước và điều ước quốc tế nào thì công uớc hoặc điều ước quốc tế đó có hiệu lực ràng buộc Và khi các bên tranh chấp đều là thành viên của công ước chung nào đó thì các quy phạm pháp lý có liên quan của công ước đó sẽ là căn cứ pháp ỉý chung để phán định các vùng biển và giải quyết các tranh chấp nẩy sinh trên biển.

Lập trường pháp lý đuợc thể hiện trong luật quốc gia và trong đàm phán phân định và giải quyết tranh chấp với các quốc gia liên quan phải nhất quán trong mọi trường hợp và với các quốc gia khác nhau Thí dụ lập trường pháp lý phàn định biển và giải quyết các tranh chấp trên biển đã được Nhà nước Việt Nam khẳng định qua các tuyên bố của Quốc hội, của Chính phủ được thể hiện một cách nhất quán ờ tất cả các diễn đàn đàm phán với các nước liên quan.

Luật quốc gia quy định thủ tục pháp lý và Ihẩm quỵền ký kết và phê chuẩn hiệp định, hiệp ước phân định biển hay các thoả thuận giải quyết tranh chấp khác.

Thực tiễn cho thấy sự giao Lhoa, đan chéo nhau giữa luật biển quốc gia và luật

Trang 19

biển quốc tế là không thể thiếu được trong suốt quá trình phát triển và nó được thực hiện liên tục qua các hoạt động quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước có liên quan và các tổ chức quốc tế.

Sự đóng góp của luật pháp quốc gia vé' biển của Việt Nam đối với ỉuật biển quốc t ế

Có thể nói Việt Nam là môt quốc gia có sự tham gia rất muộn mằn so với các quốc gia phát triển khác nhưng cũng đã thể hiện vai trò ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển của ỉuật biển quốc tế Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam đã

cố gắng đưa vào luật biển quốc tế những ảnh hưởng và hướng điều chỉnh theo luật pháp quốc gia để bảo vệ lợi ích tối đa của mình trên biển Năm 1958, Việt Nam Cộng hoà đã tham gia Hội nghị lần thứ nhất của Liên hợp quốc về Luật biển tại Giơnevơ với danh nghĩa là một quốc gia ven biển[29, tr.27] Tại Hội nghị này Việt Nam cùng với các quốc gia khác có cùng quyền lợi tập trung đấu tranh m ở rộng vùng đánh cá và íhềm lục địa thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia

Do các quan điểm của mình không được chấp nhận nén Việt Nam Cộng hoà đã không ký kết các công ước về luật biển năm 1958[29, tr.28] Song song với việc tích cực tham gia trong Hội nghị lần thứ nhất của Liên hợp quốc về luật biển năm 1958, theo xu thế phát triển chung của luật biển quốc tế Việt Nam Cộng hoà cũng đã đưa

ra các quy định bảo vệ quyền lọi quốc gia trên biển bàng các tuyên bố về bảo vệ lãnh hải năm 1965, Luật dầu khí nãm 1970 và Nghị định phân lô dầu khí năm

1971 [28, tr.28-29] Đường phân lô dầu khí nãm 1971 của Việt Nam Cộng hoà dựa trên đường cách đều là phương pháp rất phổ biến trong thực tiễn quốc tế và là được phương pháp phân định được ghi nhận trong các công ước 1958 để các quốc gia giải quyết phân định các vùng biển chổng lấn.

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng đã giành sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề bào vệ các vùng biển của mình nhưng do đang phải tập trung vào công cuộc đấu tranh giải phóng thống nhất đất nước nén chưa đưa ra được các luật hoặc quy định cụ thể về biển Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ra tuyên bố ngày 12/5/1977 về các vùng biển của Việt Nam phù hợp với xu hướng phát triển chung của luật biển quốc tế và quan điểm này của Việt Nam

20

Trang 20

được thể hiện rõ trong quá trình tham gia vào Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc

về luật biển bắt đầu từ ngày 2/7/1976 và góp phần hình thành Cóng ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 Tại Hội nghị này Việt Nam ủng hộ quan điểm thiết lập lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyển kinh tế 200 hải lý và thềm địa pháp lý dựa trên sự kéo dài tự nhiên của thềm lục địa không vượt quá giới hạn tối đa 350 hải lý[29, tr.31] Về phân định các vùng biển chổng lấn giữa các quốc gia Việt Nam cũng tham gia nhóm 29 ủng hộ nguyên tắc công bằng trong phân định Những đóng góp trên của Việt Nam sau đó đều được chứa đựng trong các điều khoản của Công ước

1982 về chế độ pháp lý và phân định các vùng biển.

Tác động của luật biển quốc t ế đối với luật pháp quốc gia về biển của Việt Nam và giải quyết mối quan hệ giữa ỉuật quốc t ế vả luật quốc gia trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam.

Mặc dù không tham gia các công ước năm 1958 nhưng trước khi Công ước

1982 ra đời, Viêt Nam đã vận dụng các quy định của luật biển quốc tế để quy định

hệ thống luật pháp quốc gia của mình Ngoài Tuvẻn bố của Chính phủ năm 1977 về các vùng biển của Việt Nam, Việt Nam còn có hàng loạt các quy định về biển khác như Nghị định 30/CP ngày 29/1/1980 điều chỉnh các hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trong các vùng biển Việt Nam, Nghị định 31/CP ngày 29/1/1980 điều chỉnh các hoạt động nghề cá của tàu thuyên nước ngoài trong các vùng biển của Việt Nam

và Tuyên bố ngày 12/11/1982 vể hệ thống đường cơ sở thẳng của Việt Nam ngay trước khi Việt Nam ký kết Công ước 1982 vào ngày 10/12/1982 Sau khi phê chuẩn Công ước 1982 vào ngày 23/6/1994, Việt Nam có nghĩa vụ thi hành Công ước một cách trực tiếp hoặc thông qua hệ thống luật pháp quốc gia về biển của mình.

Quy định về chế độ pháp lý các vùng biển của Việt Nam là những quy định cơ bản rất quan trọng liên quan trực tiếp tói chù quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển nên cần được cụ thể hoá bằng hình thức Bộ Luật biển hoặc Pháp lệnh của Việt Nam để từ đó các văn bản pháp quy về biển khác của Việt Nam quy định chi tiết điều chỉnh các mối quan hệ cụ thể trên biển Các quy dịnh khác của Cổng ước không mâu thuẫn với luật pháp quốc gia của Việt Nam và chưa được quy định hoặc không cẩn thiết phải chi tiếí hoá trong luật của Việt Nam

Trang 21

thì không cần thiết phải chuyển hoá mà có thể được áp dụng một cách trực tiếp.

Về việc phân định các vùng biển và giải quyết các iranh chấp, bất đồng trên biển, quan điểm cơ bản của Việt Nam đã được Quốc hội công bố tháng 6/1994 khi

phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 là: " giải quyết các bất

đồng liên quan 'đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình, trên tinh thăn bình dẳng, hiểu biết và lớn irọng lẩn nhau, tôn trọng pháp ỉuật quốc tế, đặc biệi là Công ước của Liên hợp quốc vê Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyển tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền về kinh t ế và thềm lục địa " [44].

Lạp trường nhất quán của Việt Nam về phân định các vùng biển còn được thể hiện rõ ràng trong đàm phán phân định với các nước có liên quan là căn cứ vào luật pháp và thực tiễn quốc tế mà cụ thể là Cồng ước 1982, hoàn cảnh địa lý cụ thể của khu vực phân định để đàm phán giải quyết đi tới một giải pháp phân định công bằng.

Nói tóm lại, luật biển quốc t ế và ìuật biển quốc gia có mối quan hệ rất biện

chứng với nhau, thúc đẩy nhau phát triển và hoàn thiện Luật quốc t ế dược hình thành, phái triển từ thực tiễn, luật pháp quốc gia rồi sau đỏ lại được đảm bảo thực thi qua hệ thống luật và các hoạt động thực tiễn của quốc gia.

Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển nãm 1982, trong thời gian tới đây Việt Nam cần cụ thể hoá một số quy phạm quan trọng của Công ước này trong Bộ luật biển của Việt Nam Công ước 1982 là một văn bản pháp

lý tổng hợp điều chỉnh rất nhiều mối quan hệ trên biển giữa các quốc gia Việt Nam

đã ký kết và phê chuẩn Công ước này mà không có bất ký sự bảo lưu nào nên đương nhiên có nghĩa vụ phải thi hành Công ước nhưng không nhất thiết phải chuyển hoá toàn bộ các quy định của Công ước này vào hệ thốne luật pháp Việt Nam Hiện nay

hệ thống luật pháp về biển của Việt Nam còn chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, một số quy định còn chưa phù hợp với quy định của Công ước Việt Nam cẩn có sự vận dụng sáng tạo những quy định của Công ước để sửa đổi, bổ sung hệ thống luật pháp

về biển của Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn và hoàn cảnh cụ thể nhưng đổng thời cũng khõng được mâu thuẫn với các quy định của Công ước.

22

Trang 22

1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIEN c ủ a l u ậ t b i ê n v à c á c n g u y ê n t ắ c

Cơ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC 1982

quốc tế và luật quốc gia về biển

Từ xưa tới nay người ta vẫn quen gọi hành tinh của chúng ta íà trái đát nhưng

thực ra 71 % bề mặt trái đất là biển cả và 29% diện tích đất còn lại chỉ là những

vùng đảo giữa biển cả mênh mông- Nói như vậy mới hình dung hết được vai trò

quan trọng của biển đối với cuộc sống và sự phát triển của loài người Tuy con người

không thể cư trú được ngoài biển khơi nhưng biển và đại đương lại là nơi bắt nguồn

của sự sống và cũng là nơi tạo điều kiện thuận ỉợi cho cuộc sống và sự phát triển của

loài người.

Biển và đại dương là nguồn tài nguyên vô tận đã từng nuôi sống loài người từ

trước tới nay và nhất là trong thời gian hiện nay khi tài nguvên trên đất đã gần cạn

kiệt thì tương lai phát triển của loài người lại càng phụ thuộc nhiều hơn vào việc

khai thác các tài nguyên của biển phục vụ cho cuộc sống của loài người Ngày nay,

với sự phát triển nhanh chóng của nền khoa học hiện đại, cống nghệ khai thác và sử

đụng các tài nguyên của biển có những bước tiến bộ nhẩy vọt, ta lại càng thấy rõ

tầm quan trọng của biển đối với đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của loài người

Các nhà khoa học dự đoán rằng trong một tương lai không xa con người có thể khai

thác được tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên của biển như đã từng khai thác được

trên đất liền Biển chứa đựng một nguồn tài nguyên sinh vật không bao giờ cạn nếu

loài người biết cách khai thác và bảo vệ nó Theo thống kê của các nhà sinh vật học

trên thế giới, trong biển hiện có khoảng 18 vạn loại động vật và 2 vạn loại thực vật

khác nhau [7, tr 15] Nhiều loại sinh vật biển có thể dùng làm thực phẩm, thuốc men

và nguyên liệu công nghiệp với giá trị kinh tế cao Ước tính rằng sức sản xuất

nguyên khai của biển trên toàn thế giới là 500 tỷ tấn hải sản một nãm, sản lượng

hàng năm của các loại cá biển trên thế giới ước chừng khoảng 600 triệu tấn Nếu chỉ

khai thác một nửa sàn ỉượng đó thì mỗi năm loài người có thể thu được 300 triệu tấn

hải sản Hiên nay sản lượng đánh bắt trên toàn thế giới mới chỉ vào khoảng 80 triệu

Trang 23

tấn và như vậy tiềm năng khai thác hải sản cho phép ngoài biển còn rất lớn so với khả năng đánh bát và tiêu thụ [7, tr 16-17].

Biển chứa đựng tất cả các loại khoáng sản hiện có trên đất liền với một trữ lượng khổng lồ Loại khoáng sản đầu tiên phải kể đến là dầu mỏ và khí thiên nhiên

đang được khai thác mạnh mẽ ở khắp mọi nơi trên thế giới với một quy mô lớn

Theo tính toán của các chuyên gia địa chất, diện tích các vùng trầm lích có triển vọng chứa dầu khí trên thế giới là 77,463 triệu km2, trong đó diên tích ở ngoài biển

là 26,395 triệukm 2, chiếm 34% Năm 1984, Viện nghiên cứu dầu mỏ cùa Pháp ước tính trữ lượng dầu mỏ của thế giới đã được thảm dò là 95 tỷ tấn, trong đó trữ ỉượng dầu ở các vùng biển chiếm 26%; trữ lượng khí thiên nhiên là 98.484 tỉ m \ trong đó

trữ lượng khí ở cắc vùng biển chiếm 23% [7, tr.17] Ngoài đầu mỏ và khí đốt, các

loai khoáng sản khác như sắt, lưu huỳnh, silic cũng đang được nghiên cứu và khai thác Tuy nhiên, các loại khoáng sản không phải dầu khi này còn chưa được khai thác rộng rãi do nhu cầu tiêu thụ còn thấp và giá thành khai thác cao hơn nhiều so với việc khai thác chúng trên đất liền.

Ngoài các dạng tài nguyên kể trên, biển còn cung cấp cho con người nguổn tài nguyên khổng lồ khác ỉà nước biển và các năng lượng biển do các quá trình hoạt động và tính chất [ý hoá của nước biển sản sinh ra như thuỷ triều, sóng, chênh lệch nhiệt độ của nước biển

Biển và các hải đảo còn cung cấp một loại tài nguyên vô hình phong phú đó

là tiềm năng du lịch biển Thực tiễn cho thấy nhiều nước trên thế giới đã phát triển ngành du lịch biển của mình như một ngành kinh tế chủ chốt mang lại nhiều lợi nhuận cho nền kinh tế quốc dân.

Biển có một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển chính trị và kinh

tế của thế giới Biển íà một khâu quan trọng trong cơ cấu địa ]ý - chính trị - kinh tế thế giới, là con đường giao lưu thỏng suốt về kinh tế, chính trị trên trái đất Với sự phát triển lớn về sản xuất, biển lại càng tỏ rõ vai trò quan trọng của mình là đường thông thương khồng thế thiếu được và là một yếu tố quan trọng đảm bảo cho nền sản xuất đó phát triển không ngừng Từ lâu nền kinh tế thế giới đã vượt qua giai đoạn kinh tế tự nhiên, hoạt động sản xuất của các nước có liên quan chặt chẽ với

24

Trang 24

nhau Quá trình sản xuấl luôn gắn kết các yếu tố sản xuất lại với nhau mà những yếu

tố này lại nằm ở các khu vực địa lý khác nhau của thế giới Để phát triển một nển công nghiệp hiện đại cần phải có một mối quan hệ rộng giữa các nước và giữa các châu lục Đặc điểm đặc trưng của một nền công nghiệp hiện đại là có sức sản xuất lớn trên một địa bàn tập trung hẹp, nên cần có tuyến đường vận tải thuận tiện để chuyên chở nguyên vật liệu và các sản phẩm trong khu vực rộng lớn Với sự phát triển ngày càng cao của nền công nghiệp hiện đạị, tập trung và với một thị trường liêu thụ sản phẩm rộng lớn, các khu vực trên thế giới cần phải gắn kết chặt chẽ với nhau bằng các tuyến đường giao thông vận tải thuận lợi và liên tục Các khu vực này lại bị ngăn cắt bởi biển cả nên con đường giao thông thuận tiện và rẻ nhất vẫn là tuyến đường giao thồng bằng đường biển Vặn chuyển hàng hoá và nguyên vật liệu bằng đường biển có tính ưu việt hơn hẳn so với các phương thức vận chuyển khác:

có thể vận chuyển liên tục tới tất cả các nơi trên thế giới vì các biển trên thế giới đều nối liền được với nhau, giá chi phí vận tải thấp và thích hợp cho việc vận tải các loại hàng hoá cồng kềiìh Như vậy, trong sự phát triển kinh tế, chính trị của thế giới hiện đại, và các mối quan hệ đều có tính chất toàn cầu, biển đã trở thành con đường thòng thương không thể thiếu được trong sự phát triển chính trị, kinh tế thế giới.

B iển c à n g n g à y c à n g c ó m ộ t vai trò q u a n tr ọ n g s ố n g c ò n c á c q u ố c g ia ven biển, đổng Ihời nó cũng chứa đựng các mầm mốne tranh chấp giữa các quốc gia có

bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau Các quốc gia có biển ngày càng ý thức được tầm quan trọng của các vùng biển đối sự phát triển của dân tộc mình nên tìm mọi biện pháp dể mở rộng các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền tài phán quốc gia Điều này tất yếu sẽ dẫn tới các tranh chấp nẩy sinh giữa các quốc gia, nó đòi hỏi phải có một cơ chế pháp lý nhất định để giải quyết các tranh chấp này Song song với việc phát triển các nguyên tắc pháp lý quốc tế, các quốc gia có liên quan cũng chủ động đàm phán giải quyết tạo thành các tiền lệ, các thực tiễn quốc tế quan trọng góp phẩn vào việc phát triển luật biển quốc tế.

1.2.2 L ị c h s ử p h á t t r i ể n c ủ a l u ậ t b iê n

Trong lịch sử, các quốc gia ven biển thực hiện một số quyền tài phán quốc gia của mình trên các cảng và các vùng biển gần chủ yếu là để kiểm soát tầu thuyền ra

Trang 25

vào cảng, các hoạt động buổn bán, ngăn ngừa cướp biển, buón ỉậu và đảm bảo an ninh quốc gia Khi đó phần lớn không gian biển và đại dương nằm bên ngoài vành đai hẹp đó là các vùng biển tự do Chỉ tới khi có sự tranh chấp về khu vực truyền đạo giữa hai cường quốc hàng hải là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào thế kỷ 15 thì mới bắt đầu xuất hiện mộỉ văn kiện phân chia vùng biển đầu tiên, đó là sắc chỉ "Inter Coetera" của Giáo hoàng Alexandre VI ngày 4/5/1493 Giáo hoàng đã vạch một đường phàn chia quyền tài phán trên biển của Tây Ban Nha và Bổ Đào Nha theo đường kình tuyến cách đảo Cap Vert 100 liên [46, tr.65] Thực tế đấy cũng chỉ ỉà một đường chia khu vực ảnh hưởng truyền đạo của hai quốc gia này mà thôi.

Đến nãm 1609, Hugo Grotius, một luật gia người Hà Lan, đã viết cuốn "Mare Liberum" để biện minh cho các quyền tự do trên biển Grotius cho rằng quyết định của Giáo hoàng chỉ nhằm để giải quyết tranh chấp nội bộ giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha và không ảnh hưởng gì tới những người khác trên thế giới [77, tr.5] Quan điểm này của Grotius được các quốc gia tư bản mới hoan nghênh vì nó tạo ra sức mạnh pháp lý để cạnh tranh với các đế quốc già nua đang thống trị trên mặt các đại dương Khi đó quan điểm một vành đai lãnh hải hẹp thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển có chiều rộng bằng tầm bắn của súng đại bác và trong nhiều trường hợp được xác định là 3 hải ỉý đã được thừa nhận một cách rộng rãi Ngoài vành đai lãnh hải đó là biển cả, là các vùng biển tự do cho mọi quốc gia trên thế giới Tự do biển

cả được thừa nhận và được xác định như một tập quán quốc tế, bao gồm quyền tự do hàng hải, tự do bay, tự do đánh bẳt cá và đặt đường ống và cáp ngầm.

Vấn đề ranh giới ngoài lãnh hải và quyền đánh cá của quốc gia ven biển trong vùng tiếp giáp được đưa ra thảo luận tại Hội nghị Pháp điển noá Luậi quốc tế Lahay

do Hội quốc liên (League of Nations) triệu tập từ ngày 13/3 đến ngày 12/4/1930 Mặc dù không có công ước nào dược thông qua nhưng Hội nghị cũng đã công nhận các quốc gia có một lãnh hải ít nhất 3 hải lý và một vùng tiếp giáp lãnh hải [56,

Trang 26

biển nằm ngoài lãnh hải trong vịnh Paria Thoả thuận này thừa nhận các yêu sách của nhau với điều kiện không bén nào được vượt quá đường biên giới Cơ sở pháp lý biện minh cho hành động này là quyền phát hiện, chiếm hữu có hiệu lực và sự mặc nhiên đồng ý của các quốc gia khác Sau khi ký kết Thoả thuận này vùng đáy biển của vịnh Paria nằm bên phía Anh đã được "sáp nhập vào Thuộc địa Trinidad và Tobago vì mục đích hành chính" [76, tr.5].

Vấn đề quyền tài phán của các quốc gia ven biển đối với các tài nguyên trên thềm lục địa và quyền đánh cá trên các vùng biển nẳm ngoài ỉãnh hải ngày càng

đã ra hai tuyên bố Một tuvên bố liên quan đến thềm lục địa nằm tiếp liền với lãnh hải, coi đó là "sự mở rộng từ đất liền của quốc gia ven biển", và tài nguyên thiên nhiên của nó "là đối tượng kiểm soát và quvền tài phán quốc gia của Mỹ" [76, tr.6] Tuyên bố thứ hai liên quan tới việc thiết lập các vùng bảo tồn nghề cá ở một số khu vực tiếp liền với lãnh hải Ở những vùng này các công dân Mỹ có đặc quyền hoặc cùng với công dàn của các quốc gia khác tham gia đánh bắt cá [76, tr.6] Cả hai tuyên bố này đều có SỊT ảnh hưởng nhất định tới quá trình phát triển của luật tập quán quốc tế Tuyên bố đầu tiên góp phần làm điểm xuất phát khái niệm thềm lục địa pháp lý Tuyên bõ' thứ hai dản tới viẽc hình thành khái niêm vùng đánh cá đặc quyền và vùng đặc quyền kính tế.

Tuyên bố về thềm lục địa còn nói rằng "Trong trường hợp thềm lục địa mở rộng tới bờ biển của quốc gia khác hoặc bị chia xẻ với một quốc gia kề cận thì đường biên giới sẽ được Mỹ và quốc gia có liên quan xác định phù hợp với các nguyên tắc công bằng" [76, tr.6].

Tinh thần Tuyên bố của Truman về thềm lục địa tiếp tục được thể hiện trong các thực tiễn quốc tế, không những góp phần vào việc phát triển khái niệm thềm lục địa mà còn bắt đầu đẳt ra các quy tắc phân định thềm lục địa được thể hiện rất rõ trong phán quyết của Toà Pháp lý Quốc tế trong vụ Thềm lục địa Biển Bắc năm 1969.

Luật biển được Ưỷ ban Luật Quốc tế thảo luận một cách rất tích cực từ năm

1949 đến nàm 1956 và hàng loạt các điều của Luật biển đã được đưa ra Các điều cơ

Trang 27

bản của Luật biển này đã được đưa ra xem xét tại Hội nghị Luật biển lần thứ nhất cuả Liên hợp quốc từ ngày 24 đến 27/4/1958 Hội nghị này đã thông qua được 4 Công ước:

Công ước về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp;

Cống ước về Biển cả;

Công ước về dánh cá và bảo tồn tài nguyên nguyên sinh vật của biển cả;

Công ước về Thém lục địa [76, tr.8].

Cùng với các Cống ước này Hội nghị còn thông qua một Biên bản Tạm thời liên quan tới việc Giải quyết các tranh chấp theo cơ chế bắt buộc Các Công ước và Biên bản này có hiệu Ịực giữa các năm 1962 và 1966.

Vân đề xác định chính xác ranh giới ngoài của lãnh hải và các quyền đánh cá độc quyền của quốc gia ven biển chưa được giải quyết tại Hội nghị 1958 lại tiếp tục được đưa ra thảo luận tại Hội nghị Luật biển cửa Liên hợp quốc lần thứ hai vào tháng 3, tháng 4 năm 1960 nhưng không đạt được kết quả.

Cóng ước nãm 1958 chưa giải quyết được vấn đề khai thác tài nguyên khoáng sản của đáy biển sâu Việc phát hiện các sợi đa kim có thể khai thác thương mại từ đáy biển như niken, đồng, cô ban, măng gan và việc sử dụng đáy biển cho mục đích quán sự ngày càng được gia tàng đã dẫn tới nhu cầu phải quy định rằng các tài nguyên đáy biển quốc tế nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia là thuộc "di sản chung của loài người" và đáy biển quốc tế chỉ được sử dụng cho mục đích hoà bình.

Sau nhiều năm đàm phán, dự thảo Công ước của Lién hợp quốc về Luât biển

1982 mới được hoàn thành và mở ra cho các quốc gia ký kết và phê chuẩn từ ngày 10/12/1982 và cuối cùng đã có hiệu lực vào tháng 12/1994.

Công ước của Liên họp quốc về Luật Biển 1982 là một vân bản tổng hợp bao gồm 320 điều và 9 phụ lục Công ước đề cập tới tất cả các khía cạnh của luật biển bao gồm cả 4 công ước nãm 1958 Điều 311 của Cổng ước 1982 cũng quy định rằng

"Giữa các quốc gia thành viên, Công ước có giá trị hơn các Cõng ước Geneva ngày

29 tháng 4 nãm 1958 về luật biển".

Nói một cách vắn tắt, Công ước đã thiết lập lãnh hải 12 hải lý, vùng tiếp giáp

28

Trang 28

24 hải lý, vùng đặc quyền về kinh tế 200 hải lý, ranh giới ngoài chính xác của thềm ỉục địa, quyền quá cảnh qua các eo biển quốc tế, chế độ quốc gia quần đảo, chế độ các đảo, chế độ biển cả, bảo vệ quyển lợi của các quốc gia không có biển và các quốc gia bất lợi về địa lý, vấn đè phân định các vùng biển w „ Công ước cũng quy định cơ chế khai thác tài nguyên đáy biển quốc tế, di sản chung của loài người Công ước cũng đề cập tới việc bảo tồn và bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, phát triển và chuyển giao công nghệ biển Công ước còn chứa đựng các điều khoản liên quan tới việc giải quyết các tranh chấp bao gồm cả việc thành lập Toà án Quốc tế về Luật biển.

Như vậy, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 sau khi có hiệu lực

đã trở thành khuôn khổ pháp lý bắt buộc đối với đại đa số các quốc gia trên thế giới

là thành viên của Công ước và đồng thời đối với các quốc gia khác nó cũng có giá trị như một luật tập quán Tuy nhiên, Công ước không thể đề cập tới tất cả các khía cạnh luật pháp trong hoạt động thực tiễn của các quốc gia, nó càng không phải là nguồn luật duy nhất để các quốc gia hoạch định các vùng biển của minh và giải quyết phân định các vùng biển chồng lấn với các quốc gia khác Trong việc đơn phương quy định các vùng biển của mình và phân định các vùng biển chồng lấn, các quốc gia còn vận dụng các luật pháp quốc gia, các thực tiễn quốc tế, án lệ quốc tế và các thoả thuận song phương và da phương khác Chế độ pháp lý các vùng biển và việc giải quyết phân định các vùng biển chồng lấn sẽ được phân tích trong các phần sau của chương này.

Nguyên tắc đất thống trị biển là sự thể hiện cụ thể của học thuyết Res nuỉiius

cho phép quốc gia ven biển mở rộng quyền ỉực quốc gia ra biển Trong lịch sử các quốc gia ven biển đã từng đưa ra các yêu sách mở rộng chủ quyền của mình ra các vùng biển dược gọi là vùng lãnh hải tiếp liền với bờ biển của mình dựa trên các nhu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng Năm 1945, Tổng thống Mỹ Truman tuyên bô' xác lập thềm lục địa của Mỹ dựa trên cơ sở thuyết kéo dài tự nhiên của lục địa ra biển.

Trang 29

Như vậy đã từ lâu người ta đã dựa trên cơ sở chủ quyền đối với một vùng đất trên đất liền để yêu sách mở rộng chủ quyền và các quyền tbuôc chủ quyền quốc gia ra các vùng biển tiếp liền với bờ biển của mình Nhưng cho tới năm 1969, lần đầu tiên khái niệm "Đất thống trị biển" mới được Toà án Pháp lý Quốc tế đưa ra trong phán quyết Thềm lục địa Biển Bắc Điều này có nehĩa là đất mang lại cho các quốc gia ven biển chủ quyền đối với một vùng lãnh hải tiếp liền với đất và quyền chủ quyền đối với vùng thềm lục địa kéo dài từ đất Khi hình thành khái niệm mới về vùng đặc quyền kinh tế, các quốc gia lại tiếp tục có thém các quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với vùne nước này.

Điều 2 của Công ước 1982 đã quy định "Chủ quyền của quốc gia ven biển

được m ở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thuỷ của mình Như vậy chính lãnh thổ

đất liền là điều kiện tiên quyết để mở rộng chủ quyền ra lãnh hải, một vùng biển trước kia được coi là biển cả Công ước cũng quy định việc m ở rộng các quyền chủ quyển và quyền tài phán quốc gia ra các vùng biển khác thuộc chế độ pháp lý vùng đặc quyển kinh tế và thềm lục địa Tất cả các quyền này cũng đều xuất ohát từ chủ quyền trên đất liền cùa quốc gia ven biển.

Theo quy định của Cống ước, bề rộng của các vùng biển được tính từ đất liền (đường cơ sở thỏng thường hay đường cơ sở thảng) theo tiêu chuẩn khoảng cách dối với lãnh hải và vùng đạc quyền kinh tế Đối với thềm lục địa, sự kéo dài tự nhiên của đất liền là nguyên tắc xác định chiều rộng thềm lục địa Nguyên tắc "Đất thống trị biển" không có nghĩa là quốc gia nào có diện tích đất liền lớn hơn thì sẽ có các vùng biển rộng hơn Diện tích các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia phụ thuộc vào chính bề mặt hướng ra biển, chiều dài bờ biển của quốc gia đó, vào hoàn cảnh đặc thù của khu vực biển, vào yếu tố kéo dài íự nhiên của lục địa (đối với thềm lục địa kéo dài quá 200 hải lý).

Nguyên tắc "Đất thống trị biển" còn được thể hiện qua việc quy định quốc gia quần đảo trong Công ước Chính chủ quyền quốc gia trên các đảo là cơ sở để các quốc gia quần đảo có quyền mở rông chủ quyền quốc gia của mình ra các vùng nước giữa các đảo này [23, điều 46-49].

Trong phân định biển, nguvên tắc "Đất thống trị biển" được thể hiện qua yêu

30

Trang 30

cầu phàn định khống được sửa chữa lại tư nhiên Các quốc gia đều được hưởng phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ của mình ra biển Điéu này còn thể hiện trong phương pháp kiểm định tính cổng bằng trong phân định bằng cách tính tỷ lệ giữa chiều dài đường bờ biển hướng ra khu vực biển phân định và khu vực biển được phán định cho quốc gia đó.

Thẩm quyền của quốc gia ven biển càng xa đất liền càng giảm dần Trong vùng nội thuỷ quốc gia ven biển có chủ quyền tuyệt đối, hoàn toàn như trên đất liền nhưng đến lãnh hải đã eiảm đi một chút do phải cho phép tầu nước ngoài được qua lại vồ hại Đến vung đặc quyền kinh tế và thém lục địa quốc gia ven biển chỉ còn lại một số quyển chủ quyền đối với tài nguyên và quyền tài phán riêng biệt Chủ quyền của quốc gia không còn nữa khi ra đến biển cả và đáy biển, nơi được điều chỉnh bởi một nguyên tấc khác: nguyên tắc "Tự do biển cả" và "Di sản chung của loài người".

1.2.3.2 Nguyên tắc tự do biển cả

Theo điều 87 của Công ước 1982, "Biển cả được đ ể ngỏ cho tất cả các quốc

gia, dù có biển hay không có biển", đồng thời điều 89 cũng quy định "không một quốc gia nào có th ể đòi đặí một cách hợp pháp một bộ phận nào đó của biển cả thuộc vào chủ quyền cùa mình".

Trên biển cả, mọi quốc gia đều được hưởng các quyền tự đo biển cả và mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền tự do biển cả phải tính tới lợi ích của việc thực hiện quyền tự do biển cả của các quốc gia khác [22, điều 86-90], Với sự phát triển của luật biển quốc tế, các quốc gia ven biển có quyền mở rộng các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của mình nén các vùng biển thuộc chế độ tự do biển cả bị thu hẹp lại cả về không gian và nội dung của nguyên tác ’’Tự do biển cả" Quyển tự do biển cả được quy định trong điều 87 bao gồm:

Tự do hàng hải;

Tự do hàng không;

Tự do đạt dây cáp và ống dẫn ngầm với điều kiện tuân thủ phần V I ;

Tự đo xây dựng các đảo nhân tạo và các thiết bị khác được pháp luật quốc

Trang 31

tế cho phép, với điều kiện tuân thủ phần VI ;

Tự do đánh bắt hải sản, trong các điều kiện đã được nẽu ở mục 2;

Tự do nghiên cứu khoa học, với điều kiện tuân thủ các phần VI và XIII Một số quyền Tự do biển cả còn được áp dụng một phần trong các vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển Trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm Ịục địa, các quốc gia khác được hưởng quyền tự do hàng hải và tự do hàng không, quyền tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm "phù hợp với các quy định khác của Còng ước" [23, điều 58,78] Trong lãnh hải các quốc gia khác được huởng quyên qua lại

vô hại Như vậy hiệu lực của nguyên tắc "Tự do biển cả" ngày càng giảm dần khi đi

từ biển cả vào đất liền và bị cạnh tranh bởi nguyên tắc "Đất thống trị biển".

1.2.3.3 Nguyên tắc di sản chung của loài ngưòỉ

Như trên đã nói, việc phát hiện các sợi đa kim có thể khai thác thương mại từ đáy biển như niken, đồng, C.Ô ban, măng gan và việc sử dụng đáy biển cho mục đích quán sự ngày càng được gia tăng đã đẫn tới nhu cầu phải quy định rằng các tài nguyên đáy biển quốc tế nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia là thuộc "di sản chung của loài người1' Đề xuất của Malta tại Đại hội đổng liên hợp quốc năm

1967 về 'Tuyên b ố và hiệp ước Hên quan tới việc sử dụng vì mục đích hoà bình đáy

biển và đại dương nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia hiện tại và liên quan tới việc sử dụng các nguồn tài nguyên của chủng vì lợi ích của loài người"[75, tr.7]

đã đồng thời loại bỏ quvền sở hữu quốc gia và việc sử dụng tự do vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia Chính vì vậy mà Đại hội đổng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết tuyên bỏ' các nguyên tắc liên quan tới tài nguyên đáy biển và Nghị quyết triệu tập Hội nghị lán thứ 3 của Liên hợp quốc về Luật Biển vào năm 1973 nhằm xem xét lại luật biển và thiết ỉập một cơ chế quốc chế điều chỉnh việc khai thác các tài nguyên của đáy biển Khái niệm "di sản chung của loài người" đã xác định toàn bộ tài nguyên của đáy biển là tài sản không thể phân chia thuộc quvền sở hữu chung của toàn thể cộng đổng quốc tế Khái niệm này có lợi cho các quốc gia đang phát triển, tạo điều kiện cho họ tham gia vào việc quản lý

và sử dụng các nguồn tài nguyên của vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm

32

Trang 32

ngoài quyền tài phán quốc gia mà trước đó chỉ các quốc gia công nghiệp phái triển

ur do khai thác Một trong những.nguyên nhân chủ yếu mà các cường quốc đứng dầu là Mỹ không muốn tham gia Công ước 1982 ]à do phần XI của Công ước về chế

độ pháp lý và phương thức quản iý Vùng đã hạn chế các quyền lợi của các cường quốc này, bảo vệ lợi ích chung của toàn thể nhân loại Để Công ước thực sự đi vào cuộc sống với sự tham gia đẩy đủ của các quốc gia trên thế giới, Liên hợp quốc đã đạt được thêm một thoả thuận ngày 29 tháng 7 năm 1994 quy định rõ hơn về việc quản lý và khai thác vùng, điều hoà lợi ích chung giữa các cường quốc có khả năng tham gia khai thác vùng với các quốc gia kém phát triển khác Cơ quan quyền lực thay mặt toàn thể loài người sẽ quản lý, khai thác và phân phối công bằng nguồn tài nguyên chung của nhân loại trong Vùng[23, điéu 133-191].

1.2.3.4 Nguyên tắc công bằng

Nguyên tắc công bằng được thể hiện trong Công ước 1982 ở 4 khiá cạnh chủ yếu như sau:

Quyền của các quốc gia không có biển và bất lợi về địa lý

Nguyên tắc cồng bằng được thực hiện thông qua quy định của Công ước không phân biệt đối xử dựa trên vị trí và hoàn cảnh địa lý của các quốc gia Các quốc gia có biển hay không có biển đều có quyển sử dụng biển cả như nhau và mọi quốc gia đều có nghĩa vụ không làm điều gì phương hại đến quyền sử dụng biển cả

cửa các quốc gia khác Điều 87 của Công ước 1982 quy định "Biển cả được đ ể ngỏ

cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển" và điều 90 quy định "Mọi quốc gia dù có biển hay không có biển đều có quyền cho các tàu thuyền treo cờ của mình đi trên biển cà".

Quyền tự do đi ra biển là hệ quả logic của nguyên tắc tự do biển cả Để thực hiện quyền này, Công ước 1958 quy định các quốc gia có biển có nghĩa vụ đảm bảo cho các quốc gia không có biển quyền đi qua lãnh thổ của họ để ra biển trên cơ sở

có đi có lai Điều 125 của Công ước 1982 quv định rõ hơn: "Các quốc gia không có

biển có quyền đi ra biển và đi từ biển vào đ ể sử dụng các quyển được trù định trong Công ước, k ể cả các quyền Hên quan đến tự do do trên biển cả và liền quan đến di

Trang 33

sđn chung của loài người Vì mục đích ấy, các quô'c gia dó được hưởng quyền tự do quá cảnh qua lãnh th ổ của các quốc gia quá cảnh bằng mọi phương tiện vận chuyển"

Các quốc gia không có biển thực hiện quyền đi ra biển của mình thông qua những thoả thuận trực tiếp, phân khu vực hay khu vực với quốc gia láng giềng có biển (trong Cống ước được gọi là quốc gia quá cảnh) Để tránh sự lo ngại của các quốc gia quá cảnh về việc chủ quyền của họ có thể bị phương hại, khoản 3, điều 125

của Công ước còn quy định ''quốc gia quá cảnh có quyền định ra tất cả mọi biện

pháp cần thiết đ ể đảm bảo rằng, các quyển và các điều kiện thuận lợi được quy định trong phần này vì lợi ích của các quốc gia không có biển, không hề đụng chạm đến các lợi ích chính đáng của quốc gia quá cảnh".

Về mặt kinh tế, điều 69 và 70 của Cống ước cũng dành cho các quốc gia

không có biển và các quốc gia bất lợi vể địa ỉý "quyền tham gia, theo một th ể thức

công bằng, khai thác mội phẩn thích hợp s ố dư các tài nguyên sinh vật của các vùng đặc quyền kinh t ế của các quốc gia ven biển trong vùng một phần khu vực hoặc khu vực, cố tính đến các đặc điểm kinh t ế và địa lý thích đáng của tất cả các quốc gia hữu quan ".

Công bằng trong sử dụng biển cả

Điều 2 của Công ước 1958 về biển cả quy định tất cả các quốc gia được thực hiện quyền tự do biển cả có tính tới các quyền lợi hợp lý của các quốc gia khác trên biển cả phù hợp với nçuyên tấc công bằng trong sử dụng biển cả Điẻu 87 của Công ước 1982 cũng quy định mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền tự do này phải tính (ới lợi ích sử dụng biển cả hợp lý của các quốc gia khác cũng như các quyền được Công ước thừa nhận liên quan tới các hoạt động Irong Vùng.

Công bàng trong sử dụng biển cả còn được đảm bảo bằng nguyên tắc không đặt biển cả dưới chủ quyền riêng biệt của bất kỳ quốc gia nào Nguyên tắc này bác

bỏ mọi yêu sách về chủ quyền đối với biển cả cũng như đối với Vùng - di sản chung của loài người Trên biển cả, các quốc gia đều có quyền bình đẳng như nhau trong việc sử dụng biển cả vào mục đích hoà bình, không làm phương hại đến lợi ích của quốc gia khác theo quy định của Cống ước Ngoài quyền tự do biển cả, các quốc gia

34

Trang 34

còn íhực hiện các quyền và nghĩa vụ cảnh sát chung Irèn biển cả, hợp tác trấn áp các hành vi bất hợp pháp vì mục đích bảo vệ quyền lợi quốc gia và quyền lợi chung của nhân loại[23, điều 94].

Công bằng trong quản lý, khai thác và phán chia tài nguyên của Vùng

Điều 136 của Công ước 1982 khẳng định "Vùng và tài nguyên của nó là di sản

chung của loài người", tất cả các quốc gia dù có biển hay không có biển đều được sử

dụng vào mục đích hoà bình, không phân biệt đối xử Điều 140 cùa Công ước cũng quy định: Các hoạt động trong vùng được tiến hành là vì lợi ích của toàn thể loài người, có biển hay không có biển, và có lưu ý đặc biệt tới các íợi ích và nhu cầu của các quốc gia đang phát triển và của các dân tộc chưa giành được một nền độc lập đầy đủ hay một chế độ tự trị khác được Liên hợp quốc thừa nhận theo đúng Nghị quyết 1514 (XV) và các nghị quyết tương ứng khác của Đại hội đồng.

Cổng bằng trong phân định các vùng biển

Nguyên tấc cóng bằng là nguyên tắc còng bằng trong phán định các vùng biển giữa các quốc gia có liên quan Công bằng trong phân định yêu cầu không được sửa chữa lại tự nhiên vốn có để đảm bảo cho mỗi quốc gia ven biển được hưởng các vùng biển mà họ đáng được hưởng một cách cống bằng có tính tới mọi hoàn cảnh có liôn quan tới khu vực phân định Nguyên tắc công bằng được phát triển qua các phán quyết của các Toà và thực tiễn phân định giữa các quốc gia Nguyên tắc này đã được ghi nhận rõ ràng trong các điều 74 và 83 của Công ước 1982 về phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Sự phát triển và bản chất của nguyên tắc công bằng

sẽ được đề cập kỹ hơn ở phần sau của chương này.

Trang 35

1.3 ĐƯỜNG C ơ SỞ VÀ CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ CÁC VÙNG BIEN t h e o

CÔ N G Ư Ổ C 1982

1.3.1 K hái niệm chung về ché độ pháp lý các vùng biển

Theo Công ước 1982, các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và

quyền tài phán quốc gia bao gồm nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền

kinh tế và thềm lục địa (xem hình 1.3) Mỗi một vùng biển đểu có một chế độ pháp

lý riêng được điều chỉnh bằng luật pháp quốc gia trên cơ sở phù hợp với luật quốc tế,

nhất là các điều ước quốc tế, các hiệp định đa phương hoặc song phương mà quốc

gia đó tham gia Trong nội thuỷ, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn đầy đủ

và tuyệt đối như trên đất ỉiền Quốc gia ven biển có chủ quyền đối với lãnh hải

nhưng chủ quyền này bị hạn chế bởi quyền qua lại vô hại của các tàu thuyền nước

ngoài Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có thẩm quyền tiến hành các

hoạt động kiểm soát để ngăn ngừa các vi phạm về hải quan, thuế khoá, y tế và nhập

cư Trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, quốc gia ven biển có quyền chủ

quyền đôl với các tài nguyên thiên nhiên và quyền tài phán quốc gia đối với các hoạt

động khai thác, sử dụng các tài nguyên và các công trình do Công ước quy định Để

xác định được giới hạn, phạm vi các vùng biển thuộc các chế độ pháp lý khác nhau

việc đầu tiên các quốc gia ven biển phải làm là xác định hệ thống đường cơ sở dùng

để tính chiều rộng lãnh hải Mậc dù về mặt thuật ngữ phải nói đầy đủ rằng "đường

cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải" nhưng thực chất ranh giới tất cả các vùng

biển đều được xác định từ đường cơ sở này,

1.3.2 Đ ư ờ n g c ơ sở

Việc ấn định chiều rộng lãnh hải có xu hướng dịch chuyển biên giới quốc gia

trên biển ra xa về hướng biển Nó phụ thuộc rất nhiều vào việc vạch đường cơ sở

dùng để tính chiều rộng lãnh hải, đường ranh giới trong của lãnh hải Theo thực tiễn

và pháp luật quốc tế có hai phương pháp chính để vạch đường cơ sở dùng để tính

chiều rộng lãnh hải:

a Đưỏ7ỉg cơ sỏ thông (hường:

36

Trang 36

Cả hai Công ước 1958 và 1982 đều mô tả ngấn nước triều thấp nhất ỉà đường

cơ sở "thông thường" Hiệp ước đầu tiên nói đến đường cơ sở là Hiêp ước Anh - Pháp 1839 về đánh cá[88, tr.36] Ngấn nước thủy triều thấp nhất tạo thành đường cơ

sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Phương pháp ngấn nước thuỷ triều thấp nhất được công nhận vào năm 1930 tại Hội nghị pháp điển hóa luật quốc tế La Haye, và được ghi nhận trong điều 5 của Công ước Giơnevơ nãm 1958 về lành hải và vùng tiếp giáp Nó có ưu điểm phản ánh đúng đuờng bờ biển của các nước và hạn chế bớt sự mở rộng các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia[88, tr.36].

Điều 5 Công ước 1982 vẫn duy trì phương pháp này: "Trừ khi có quỵ định trái

ngược của Công ước, đưcmg cơ sở thông thường dùng đ ể tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, như được th ể hiện trên các hái đồ tỷ lệ lớn đ ã được quốc gia ven biển chính thức công nhận" Đối với các đảo cấu tạo bằng

san hô hoặc các đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh, phương pháp đường cơ sở thông thường cũng được áp dụng (điều 6) Tuy nhiên, phương pháp này rất khó áp dụng đối với các bờ biển khúc khuỷu, phức tạp.

Trang 37

số nước cũng có thể sử dụng những đường cơ sở thẳng như vậy để tạo ra lợi thế trong đàm phán phân định biên giới biển với các nước láng giềng[85, tr.38].

Phán quyết nãm 1951 của Toà án pháp lý quốc tế trong vụ ngư trường Anh -

Na Uy đã đưa ra một phương pháp mới xác định đường cơ sở thẳng Trước đại chiến thế giới ỉần thứ nhất, tàu thuyền đánh cá Anh thường hay vào vùng nước của Na Uy đánh bắt cá gây ra nhiều xô xát với dân địa phương Sau nhiều đụng độ Anh quyết định đâm đơn kiện tại Toà án pháp lý quốc tế Họ phản đối phương pháp mà Na Ưy

đã dùng để hoạch định đường cơ sở lãnh hải Trên thực tế Na Uy đã không sử dụng phương pháp ngấn nước thuỷ triều thấp nhất để xác định đường cơ sở lãnh hải của mình mà lại áp dụng từ nãm 1869 phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền một số các điểm thích hợp chọn dọc theo bờ biển Bằng phương pháp này, lãnh hải của Nauy đã mở rộng ra biển Toà án pháp lý quốc tế đã xử cho Na Uy thắng cuộc, công nhận tính hợp lý của đường cơ sở thẳng Na Uy áp dụng cho vùng bờ biển bị khoét sáu và lồi lõm, có các chuỗi đảo chạy qua, một khi đường này không tách xa xu thế chung của bờ biển Toà cũng chỉ ra rằng hệ thống đường cơ sở thẳng của Na Uy đã nhận được sự công nhận mặc nhiên và Anh dã không có phản đối gì trong suốt 60 năm trời Các tiêu chuẩn của đường cơ sở thẳng Nauy, qua phán quyết của Toà đã trở thành các tiêu chuẩn chung được luật pháp quốc tế thừa nhận và được điển chế hoá trong điều 4 Công ước Giơnevơ năm 1958 về ỉãnh hải và vùng tiếp giáp, và điểu

7 Công ước 1982[88, tr.38].

Điều 7 Công ước 1982 quỵ định:

u \ Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc íheo bờ biển, phương pháp đường cơ sỏ thẳng nối liền các điểm thích hợp có th ể được sử dụng đ ể k ẻ đường cơ sở dùng đ ể tính chiều rộng lãnh hải.

2 Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và những đặc

điểm tự nhiên khác, các điểm thích hợp có th ể được lựa chọn dọc theo ngấn nước triều thấp nhất nhô ra xa nhấí và, ngay cả trong ìrường hợp về sau, ngấn nước triều thấp nhất có chuyển dịch vào phía trong bờ, các đường cơ sà dã được vạch ra vẫn

cố hiệu ìực cho tới khi các quốc gia ven biển sửa đổi theo đúng Công ước".

38

Trang 38

Như vậv có 3 loại bờ biển được áp dụng các đường cơ sở thẳng Loại thứ nhất

là những bờ biển "bị khoét sâu và lồi lốm'' và loại thứ hai là "có một chuỗi đảo nằm

sát ngay và chạy dọc theo bờ biển" Các khái niệm và ngôn từ này được rút ra từ

các phán quyết của Toà án quốc tế trong vụ ngư trường Anh - Na Uy và các báo cáo của Ưỷ ban Luật quốc tế năm 1956 và trong Công ước nàm 1958[87, tr.40].

Loại thứ ba được xuất hiện trong các cuộc đàm phán dẫn tới Công ước năm

1958 Hiện nay có nhiều nước có quyền vạch ra các đường cơ sở theo ngấn nước triều Ihấp nhất nhô ra xa nhất của các bờ biển châu thổ "rất không ổn định" Như vậy, nếu đường bờ biển rút vào trong, đường cơ sở thẳng vẫn có thể gắn vào biển và các yêu sách về biển sẽ tiếp tục được tính từ các đường cơ sỏ' này.

Điều 7 của Công ước đật ra 5 nguyên tắc chung quy định việc xây dựng các đường cơ sở thẳng dọc theo bờ biển có điều kiện thích hợp Một là, đường cơ sở này không được tách rời hướng chung của đường bờ biển Tiêu chuẩn này bị Toà án quốc tế cho rằng "thiếu sự chính xác toán học" [87, tr.41].

Các học giả đã phát hiện ra rằng, ngoài một số ngoại lệ nhỏ, đường cơ sở của Nauy không tách rời khỏi hướng chung của đường bờ biển quá 15°[71, tr.37] Trên thực tế, nhiều nhà địa lý đã lợi dụng việc sử dụng các chiều dài khác nhau để xác định hướng chung của đường bò' biổn sao có lợi nhất cho mình.

Nguvên tắc thứ hai ỉà các vùng nước nằm về phía đất liền của đường cơ sở thẳng có thể gắn đủ chặt với lãnh thổ đất liền nên có thể hưởng chế độ nội thuỷ Toà

án quốc tế nhận xét rằng khái niệm đó dùng làm cơ sở cho việc khép kín các vịnh, nhưng đã lập luận rằng nó có thể áp dụng rộng rãi hơn cho các đường bờ biển có địa hình không bình thường của Bắc Na Uy[90, tr.ỉ 13].

Nguyên tắc thứ ba là cấm sử dụng các bãi cạn lúc nổi lúc chìm làm những điểm cơ sở để vạch đường cơ sở thẳng trừ khi trên đó có ngọn hải đăng hay một cống trình tương tự và được quốc tế thừa nhận sử dụng cho một mục đích nhất định Tiêu chuẩn này đã được đáp ứng trong trường hợp của Na Uy mà trong đó có hai điểm cơ sở trên đường 1935 là những bãi cạn lúc nổi lúc chìm đã được Toà chấp nhận Rất đáng tiếc là tiêu chuẩn này đã tạo ra sơ hở để người ta lợi dụng khai thác một cách triệt để Hiện nay đă có nhiều nước công bố đường cơ sở của mình có sử

Trang 39

dụng một số bãi cạn lúc nổi lúc chim, và qua một vài năm đã tuvên bố rằng việc không có phê phán hoặc phê phán ở mức độ thấp tạo ra bằng chứng về sự thừa nhận quốc tế chung.

Khi các đường cơ sở thẳng được coi là thích họp, nước ven biển có thể tính đến các lợi ích kinh tế iâu dài Các nguyên tắc vạch đường cơ sở thẳng vẫn có tính

mơ hồ nên không có bằng chứng là có nước nào đã xác định bất cứ một đoạn cơ sở thẳng nào theo đúng các nguyên tắc này Nguyên tắc cuối cùng là không được vạch đường cơ sở thẳng cắt lãnh hải của một nước khác tách khỏi biển cả hay vùng đặc quyền kinh tế Đây là một nguyên tắc duy nhất không có tính mơ hồ.

Thực tiễn quốc tế cho thấy các quốc gia trên thế giới đã vận dụng các điều khoản của Công ước để vạch ra các đường cơ sở cũng rất khác nhau Đa số các nước đều cố biện m inh cho cách vạch đường cơ sở thẳng có lợi cho mình nhất với lý do về hoàn cảnh địa lý, sự hiện diện của các đáo mà đa số các trường họp nếu xét một cách thật tỷ mỷ thì đều không tuân thủ một cách nghiêm chỉnh quy định của Công ước Có nãm loại vi phạm chung các quy tắc được nêu ra tại điều 7 Loại vi phạm đầu tiên là vạch toàn bộ hay một số đoạn đường cơ sở thẳng ở các bờ biển phẳng chứ không phải là lồi lõm sâu như các nước Anbani ú c , Miến điện, Colombie, Cu Ba, Iceland, Ireland, Ý, Mauritania, Xênêgan và Thuỵ Điển đã làm Nhiều khi các

hải ra xa bờ biển nhiều nhưng chúng có tác dụng làm suy yếu hiệu lực của điều 7 Một phần đường cơ sờ thẳng của Colombie ờ Thái Bình Dương được công bố ngày 13/6/1984 gồm hai phần chính phân cách bởi Cabo Corrientes, ở phía Bắc, bờ biển

có vách đá thẳng đứng trong khi ở phía Nam là vùng đồng bằng hẹp với các chuỗi rừng ngập m ặn[51, tr.45-47] Một đoạn ngắn gổm các rạn đá san hô nối hai đoạn gần Cabo Corrienties Đường bờ biển có một số đoạn lượn nhẹ vào trong vịnh như vịnh Golf de Cupica và phần lõm này được Cabo Corrientes và Punta Charambira bao ngoài song không có đoạn nào được coi là lõm sâu vào trong đất liền Do vậy, ranh giới ngoài của lãnh hải nếu được đo từ đường cơ sơ thông thường cũng sẽ không có hình dạng phức tạp.

Sự vi phạm chung thứ hai đối với điều 7 xẩy ra khi người ta vạch đường cơ sở

40

Trang 40

thẳng để nối các đảo có thể coi như viền ngoài bờ biển Nhìn chung, các đảo trong các trường hợp như vậy đều có số lượng ít hay cách bờ quá xa để được coi là một chuỗi đảo nằm sát ngay bờ biển Những đường cơ sở thẳng không thích hợp đó đã được vạch theo từng phần hay toàn bộ các bờ biển của Colombia, Ecuador, Pháp, Guinea, Iceland, Ý, Malta và cả Việt Nam

Sự vi phạm chung thứ 3 đối với điều 7 ngày càng trở nén phổ biến là việc định

vị các điểm cơ sở ở ngoài biển chứ không phải là ở trên hay phía trên ngấn nước thấp Có 3 tình huống xẩy ra các hành động không thể biện minh nổi Đầu tiên là một số nước ở cạnh nhau đã tạo ra những điểm cơ sở chung cho các đường cơ sở thẳng của họ Thí dụ một điểm mút phía Bắc đường cơ sở của Phần Lan công bố ngày 18/8/1956 nàm trên một đường thẳng nối một đảo nhỏ của Phần Lan và một đảo nhỏ của Thuỵ Điển ở đầu vịnh Bothnia Vị trí chính xác của điểm cơ sở chung

đó nằm ở giao điểm đường trung tuyến giữa hai nước và đường nối hai đảo nói trên Những cuộc dàn xếp tương tự đã được tiến hành giữa Thuỵ Điển và Na Uy, Đan Mạch và Tây Đức[88, tr.278] Tình huống thứ 2 là một số nước đã định vị điểm mút của một đường cơ sở thẳng theo như cách vừa nói nhưng không tham khảo các nước láng giềng Thí dụ Chile đã kết thúc đường cơ sở của mình ở phía Nam tại một điểm trong Eo biển Beagle do Toà án trọng tài phân xử về vụ tranh chấp về các đảo giữa Chile và Argentina xác định[85, tr.203] Ngày 21/7/1973 Iran đã công bô' các đường

cơ sở thẳng ở vịnh Pecxich/Arabi và vịnh Oman Điểm mút phía Tây được ấn định ở điểm giữa cửa sông Shatt AI Arab, tạo ra biên giới tranh chấp với Irẳc, và điểm mút biên giới phía Đ ông được xác định ở phía Đông điểm giữa một đường khép kín vịnh

Gw atar chia nhau với Pakistan Tình huống thứ 3 là một số nước đã ấn định các

điểm chuyển hướng hay điểm kết thúc của các đường cơ sở thẳng trên biển ở những

khu vực không liên quan tới nước láng giềng Tháng 4/1974, Bangladesh đã công bố

m ột đường cơ sở thẳng dài 221 hài lý {xem hình vẽ 1.2) Đường đó được xác định bằng 8 điểm, tất cả đều nằm ngoài biển, do đó đường biên giới đã đi sát đường đằng

sâu 10 sải (tức 18,3m) trừ phía ngoài Cox’s Bazar ồ đó đường đẳng sâu nói trên di

chuyển mạnh theo hướng Bắc châu thổ sông Gange Bản công bố đáng chú ý đó được biện minh trên cơ sở đây là một vùng rất nông có hình thái bờ biển iuồn thay

Ngày đăng: 13/01/2020, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w