Hình thức thuê tài chính máy bay đã có từ thế kỷ 19 ở các nước tư bản phát triển như Anh , Mỹ, Pháp, Đức và Nhật bản…Về bản chất kinh tế đó là những giao dịch và sự liên kết giữa các ngâ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN XUÂN TIẾN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN GIAO DỊCH THUÊ TÀI CHÍNH MÁY BAY TRONG
Trang 2NGUYỄN XUÂN TIẾN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN GIAO DỊCH THUÊ TÀI CHÍNH MÁY BAY TRONG LĨNH VỰC HÀNG
KHÔNG DÂN DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 50512
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SĨ HOÀNG NGỌC GIAO KHOA LUẬT - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
HÀ NỘI - 2005
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2 Chương 1:
PHÁP LUẬT VÀ THÔNG LỆ QUỐC TẾ VỀ THUÊ TÀI CHÍNH MÁY BAY TRONG LĨNH VỰC HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG 3
1.1 Thuê tài chính và thuê tài chính máy bay 3 1.2 Các điều ước quốc tế liên quan đến thuê tài chính máy bay 4 1.3 Các điều ước quốc tế trong ngành hàng không dân dụng có nội dung dung hỗ trợ cho hoạt động thuê tài chính máy bay .6 1.4 Thông lệ quốc tế về thuê tài chính máy bay trong lĩnh vực hàng không dân dụng 7
Chương 3:
CÁC VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG GIAO DỊCH THUÊ TÀI CHÍNH MÁY BAY VÀ
HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM 14
3.1 Các vấn đề cần lưu ý trong giao dịch thuê tài chính máy bay 14 3.2 Hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thuê tài chính và thuê tài chính máy bay trong lĩnh vực hàng không dân dụng 18
KẾT LUẬN 22
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc của đất nước trong tiến trình hội nhập nền kinh tế quốc tế, ngành hàng không là một trong những mũi nhọn kinh tế đột phá của Việt Nam trong việc vươn ra kinh doanh trên thị trường quốc tế
Tuy nhiên kinh doanh vận tải hàng không là một ngành có rất nhiều đặc thù riêng Vì vậy các qui định về hàng không của hầu hết các nước trên thế giới đều có những tiêu chuẩn pháp lý hết sức chặt chẽ Ngay cả trong khía cạnh kinh doanh, thuê , mua máy bay vì đây là một tài sản rất lớn có liên quan đến nhiều vấn đề pháp lý quốc
tế và các quốc gia tham gia giao dịch đó
Đối với ngành hàng không Việt Nam tính từ thời điểm ra đời của Tổng công ty Hàng không Việt Nam ( Vietnam Airlines) năm 1995 theo Nghị định số 04 của Thủ tướng Chính phủ 1995 về việc thành lập Tổng công ty hàng không Việt Nam là một tổng công ty 91, thì việc tham gia các hoạt động kinh doanh, cạnh tranh với các hãng khác trên thị trường quốc tế đã bắt đầu hình thành một cách rõ rệt với tư cách là một tập đoàn kinh tế mũi nhọn của đất nước trong lĩnh vực hàng không
Với sự chuyển đổi từ một Hãng hàng không được quản lý theo chế độ kinh tế tập trung ( nằm trong bộ Quốc phòng) sang nền kinh tế thị trường, Hàng không Việt Nam
đã nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh và điều kiện mới Trong đó phải tính đến việc thuê mua máy bay thế hệ mới hiện đại của các nước tư bản để thay thế các máy bay cũ của Liên Xô trước đây Với nguồn ngân sách ít ỏi của nhà nước, việc đầu tư vào đội máy bay không có cách nào tốt hơn là hình thức thuê tài chính máy bay
Hình thức thuê tài chính máy bay đã có từ thế kỷ 19 ở các nước tư bản phát triển như Anh , Mỹ, Pháp, Đức và Nhật bản…Về bản chất kinh tế đó là những giao dịch và
sự liên kết giữa các ngân hàng (người có vốn và tập trung được vốn nhàn rỗi từ nhân dân) với các nhà đầu tư (các công ty chứng khoán), các nhà sản xuất máy bay và các hãng hàng không để giúp các hãng hàng không không có đủ vốn mua máy bay đưa vào khai thác thương mại Mặt khác vì máy bay là một tài sản rất lớn và mang tính rủi
ro cao nên nếu chỉ một công ty đầu tư toàn bộ số tiền mình có vào một máy bay thì sẽ nhiều rủi ro hơn là việc chia sẻ cũng từng đó số tiền vào nhiều máy bay cùng với nhiều công ty khác Cũng chính vì lý do đó nên các qui định về pháp lý để ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi của các bên là rất phức tạp đòi hỏi phải có các qui định vừa chặt chẽ vừa hợp lý bảo đảm cho việc khai thác thương mại máy bay một cách hiệu quả nhất đồng thời đảm bảo được quyền lợi của tất cả các bên tham gia giao dịch Ngày nay hình thức này phát triển rất cao và hoàn thiện với nhiều qui định pháp lý rất chặt chẽ nhất là đối với các vấn đề cơ chế chia sẻ rủi ro, chia lợi nhuận, bảo hiểm…
Đối với Việt Nam thì hình thức thuê tài chính máy bay thực sự mới bắt đầu từ năm 1995 còn trước đó chúng ta chỉ đi thuê máy bay dưới các hình thức thuê khác Do vậy bản thân các qui định về vấn đề này phần thì thiếu phần thì có nhiều bất cập chưa tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng cho các doanh nghiệp tham gia Nhất là vấn đề các thủ tục pháp lý về đấu thầu, dự án đầu tư, thẩm tra, thẩm định, việc thực thi các qui
Trang 5định theo tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế, các qui định về an toàn, khai thác, kỹ thuật, bảo dưỡng máy bay …
Vì những lý do trên việc nghiên cứu các khía cạnh pháp lý trong giao dịch thuê tài chính máy bay trong lĩnh vực hàng không dân dụng thực sự là cần thiết nhằm hoàn thiện và phát triển các qui định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Giao dịch thuê tài chính máy bay là một hoạt động liên quan đến rất nhiều các lĩnh vực thương mại và pháp lý Đã có một số bài viết đơn lẻ được đăng trên các trang web và các tạp chí chuyên ngành nhưng chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu các kiến thức
cơ bản về pháp luật thuê tài chính
Thuê tài chính máy bay và các yếu tố pháp lý của giao dịch này hiện nay vẫn là một vấn đề chưa được thực sự tìm hiểu và nghiên cứu sâu, toàn diện
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
- Mục đích:
Đánh giá các qui định của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về thuê tài chính máy bay và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật Việt nam về vấn đề này
- Nhiệm vụ:
+ Tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật và thông lệ quốc tế về thuê tài chính máy bay (chủ yếu là các công ước về lĩnh vực thuê tài chính máy bay và một số công ước
có liên quan trong ngành hàng không dân dụng quốc tế)
+ Đánh giá pháp luật Việt Nam về thuê tài chính và thuê tài chính máy bay + Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt nam về thuê tài chính máy bay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề pháp lý trong giao dịch thuê tài chính, thuê tài chính máy bay trong lĩnh vực hàng không dân dụng
- Phạm vi nghiên cứu tập trung vào pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế (các điều ước quốc tế đa phương về thuê tài chính máy bay trong lĩnh vực hàng không dân dụng) và các văn bản pháp luật có liên quan Trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp hoàn thiện pháp luật nước ta về vấn đề này
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
- Phương pháp được sử dụng trong luận văn là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, qui nạp, so sánh , đối chiếu dựa trên các văn bản pháp luật trong nước và quốc tế cũng như các nguồn tư liệu sách, báo, bài viết, các giáo trình của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến thuê tài chính và thuê tài chính máy bay
6 Những đóng góp mới của đề tài:
- Về lý luận:
Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện về các nội dung pháp lý trong giao dịch thuê tài chính máy bay Trên cơ sở các văn bản pháp luật quốc tế và luật quốc gia có liên quan đề tài nghiên cứu, tìm ra những hạn chế và bất cập của pháp luật nước ta và
Trang 6đưa ra các biện pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế Từ đó đóng góp vào việc phát triển pháp luật trong ngành hàng không dân dụng phục tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành hàng không dân dụng nói riêng
và của nước ta nói chung
- Về thực tiễn:
Đề tài góp phần làm sáng tỏ thông lệ quốc tế và thực tiễn thuê tài chính máy bay
ở Việt Nam thông qua các giao dịch thuê tài chính máy bay của Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam và đưa ra những biện pháp, hình thức, kinh nghiệm thực tế của các nước nhằm vận dụng vào việc thực hiện các giao dịch thuê tài chính máy bay của Việt nam trong tương lai
7 Kết cấu của luận văn:
Luận văn được bố cục gồm: Phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận
Chương 1: Pháp luật và thông lệ quốc tế về thuê tài chính máy bay trong lĩnh
vực hàng không dân dụng
Chương 2: Pháp luật và thực tiễn của Việt Nam về thuê tài chính và thuê tài
chính máy bay trong lĩnh vực hàng không dân dụng
Chương 3: Các vấn đề cần lưu ý trong giao dịch thuê tài chính máy bay và
hướng hoàn thiện pháp luật Việt nam
CHƯƠNG 1 PHÁP LUẬT VÀ THÔNG LỆ QUỐC TẾ VỀ THUÊ TÀI CHÍNH MÁY BAY
TRONG LĨNH VỰC HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG:
1.1 Thuê tài chính và thuê tài chính máy bay:
1.1.1 Thuê tài chính:
Khái niệm này xuất phát từ nguyên nghĩa tiếng Anh “ Finance Lease” là Thuê tài chính hay còn gọi là thuê vốn “ Capital Lease” Về bản chất đây là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn mà theo phương thức này, người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản đó Người thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã được thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn Khi kết thúc hợp đồng thuê, bên đi thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện thỏa thuận khi ký kết hợp đồng
Đứng dưới góc độ của bên đi thuê thì thuê tài chính được xem như là mua một thiết bị bằng một khoản vay được bảo đảm và tài sản được đem ra làm bảo đảm chính
là tài sản được cho thuê Các điều khoản của hợp đồng cho thuê có thể đem so sánh với các ràng buộc mà một ngân hàng sẽ đưa ra khi họ chấp thuận một khoản vay có bảo đảm Như vậy, thuê tài chính được xem là một loại hình tài trợ giúp các doanh nghiệp
dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn
1.1.2 Thuê tài chính máy bay:
Trong lĩnh vực hàng không dân dụng thì hoạt động thuê tài chính máy bay cũng
đã phát triển từ rất sớm Có thể nói rằng bản thân nghiệp vụ thuê tài chính nói chung đã
là một hoạt động đặc thù mang tính pháp lý rất riêng biệt Nhưng nói đến thuê tài chính máy bay thì chúng ta thấy rõ ngay tính đặc thù pháp lý cao hơn nữa Về khái niệm
Trang 7Thuê tài chính máy bay cơ bản cũng là hoạt động tín dụng trung và dài hạn như đã nói
ở trên nhưng áp dụng cho các tàu bay dân dụng khai thác với mục đích thương mại như qui định của điều 3 Công ước Chicago 1944 về hàng không quốc tế và một phần không đáng kể động cơ máy bay ( khi không được gắn liền với máy bay)
1.2 Các điều ƣớc quốc tế liên quan đến thuê tài chính máy bay:
1.2.1 Công ƣớc về công nhận quốc tế các quyền đối với tầu bay, ký tại Geneva ngày 19 tháng 6 năm 1948:
Lý do để ký kết công ước này là nhu cầu xuất khẩu tầu bay dưới mọi hình thức cần phải được bảo đảm về mặt pháp lý Các quốc gia thành viên cần phải cam kết về pháp lý các quyền đối với tầu bay Tuy Công ước chỉ có 23 điều nhưng Công ước đã điều chỉnh được vấn đề cơ bản và cấp thiết là các quyền pháp lý đối với tầu bay trong
đó có các quyền theo hợp đồng thuê tài chính máy bay
Ngay tại điều 1.1 của Công ước đã qui định đối tượng của Công ước là các quyền pháp lý đối với tầu bay:
“ Các quốc gia kết ước cam kết công nhận:
a Quyền sở hữu tầu bay,
b Quyền thụ đắc tầu bay thông qua việc mua sắm gắn liền với quyền chiếm hữu tầu bay,
c Quyền chiếm hữu tầu bay trên cơ sở hợp đồng thuê có thời hạn từ sáu tháng trở lên,
d Thế chấp, cầm cố và các quyền tương tự đối với tầu bay được thiết lập trên cơ
sở thỏa thuận như là một sự bảo đảm cho việc thanh toán một khoản nợ ”
[23]
Như vậy giao dịch thuê tài chính máy bay nằm trong đối tượng điều chỉnh của công ước Geneva 1948 Các quyền giữa các bên tham gia giao dịch thuê tài chính máy bay sẽ được các quốc gia thành viên công ước công nhận và bảo vệ Các quyền này bao gồm quyền sở hữu tầu bay, quyền nhận các khoản tiền thuê máy bay của bên cho thuê như là một khoản nợ có bảo đảm mà bên đi thuê phải thanh toán theo hợp đồng thuê và quyền chiếm hữu tầu bay trên thực tế của người đi thuê theo hợp đồng thuê máy bay trung và dài hạn (từ 6 tháng trở lên)
Trong Công ước này chúng ta thấy một nguyên tắc cơ bản xuyên suốt đó là việc
áp dụng luật của quốc gia đăng ký tầu bay thông qua các điều kiện công nhận, trừ một
số ngoại lệ được qui định tại công ước
Công ước Geneva 1948 đã bước đầu tạo ra cơ sở pháp lý trong hoạt động thuê tài chính máy bay Công ước Geneva 1948 qui định các quốc gia kết ước đều phải có trách nhiệm đảm bảo các quyền pháp lý đối với tầu bay bằng chính pháp luật của quốc gia đó Như vậy để đáp ứng được các qui định trên, các quốc gia kết ước buộc phải thiết lập ra hàng loạt qui định của pháp luật trong nước, các cơ quan đăng ký các quyền cùng với các trình tự, thủ tục đăng ký các quyền pháp lý đối với máy bay và phương
thức giải quyết khi có các tranh chấp xảy ra
Trang 81.2.2 Công ƣớc Cap Town 2001 về quyền lợi quốc tế đối với trang thiết bị
di động và Nghị định thƣ của công ƣớc Cap Town 2001 qui định riêng cho trang thiết bị tầu bay, ký tại Cap Town (Nam Phi) ngày 16 tháng 11 năm 2001:
Đứng trước các thay đổi to lớn trong lĩnh vực hàng không dân dụng, việc tài trợ
và cho thuê dựa trên tài sản là những phương pháp lựa chọn tài trợ tốt nhất để mua và
sử dụng máy bay Hình thức tài trợ thuê tài chính máy bay đã đặt ra vấn đề trách nhiệm của các quốc gia trong việc công nhận và thực thi các quyền pháp lý đối với máy bay, đặc biệt là các quyền liên quan tới khả năng nhanh chóng thực hiện các quyền theo hợp đồng Tuy vậy hiện nay luật pháp của các nước thường không phù hợp với các nguyên tắc nhấn mạnh đến việc tài trợ và cho thuê dựa trên tài sản Các rủi ro tiềm ẩn của một khuôn khổ pháp lý quốc gia không đầy đủ trong lĩnh vực này là rất lớn
Các vấn đề nêu trên cần phải được đề cập đến trong các văn bản pháp lý quốc tế
Đó là lý do công ước Cap Town ra đời năm 2001 và là văn bản pháp lý quốc tế đầy đủ nhất về thuê tài chính máy bay Công ước là một văn bản hợp nhất được hình thành từ hai tài liệu là Công ước cơ bản chung và Nghị định thư cụ thể đối với trang thiết bị máy bay
Khái niệm “ Quyền lợi quốc tế – International interests” trong Công ước Cap Town 2001 chính là các quyền pháp lý và lợi ích thương mại của các bên tham gia các giao dịch thương mại trong kinh doanh quốc tế cũng như lĩnh vực hàng không dân dụng đối với trang thiết bị di động nói chung và máy bay nói riêng được thừa nhận bằng việc các quốc gia thành viên thực thi các cam kết quốc tế theo qui định của Công ước Cap Town 2001
1.2.2.1 Đối tƣợng và phạm vi áp dụng của Công ƣớc Cap Town 2001:
Công ước Cap Town 2001 được soạn thảo trong lĩnh vực thương mại và hàng không dân dụng, liên quan đến trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc hình thành, thực thi tính ưu tiên của các quyền lợi về an ninh, cho thuê đối với trang thiết bị
di động trong đó có máy bay Công ước cũng có các qui định về phá sản nhằm bảo vệ các quyền về hợp đồng trong trường hợp bị giải thể Điều 2 qui định các loại trang thiết
bị là đối tượng áp dụng của Công ước Cap Town 2001:
“ Các trang thiết bị theo công ước bao gồm:
a khung tầu bay, động cơ tầu bay và trực thăng;
b xe lửa và
c các tài sản trên không” [ 24]
1.2.2.2 Nội dung của Công ƣớc Cap Town 2001:
Nội dung chính của công ước Cap Town 2001 là:
Thứ nhất, thiết lập một tiêu chuẩn thống nhất để tạo ra một “quyền lợi pháp lý quốc tế” như thỏa thuận về an ninh, thỏa thuận về giữ quyền sở hữu hay thỏa thuận về cho thuê được nêu cụ thể đối với thiết bị máy bay
Thứ hai là một quyền ưu tiên trước hết cho việc nộp hồ sơ và thông báo đăng ký trang thiết bị di động (máy bay) cho Cơ quan đăng ký quốc tế (cơ quan này do bản thân công ước Cap Town 2001 thành lập), được áp dụng Như vậy Cơ quan đăng ký quốc tế
Trang 9của Công ước Cap Town rõ ràng là thống nhất và đồng bộ hơn nhiều so với các Cơ quan đăng ký của từng quốc gia theo qui định của Công ước Geneva 1948
Thứ ba là việc bồi thường vi phạm hợp đồng áp dụng cho các chủ nợ; quyền chiếm hữu yên ổn cũng được áp dụng cho người đi thuê (Bên cho thuê, bên cho vay không được can thiệp vào quyền sử dụng và khai thác máy bay của người đi thuê) Đây
là một nội dung mới rất có ý nghĩa được Công ước Cap Town 2001 đề cập
Thứ tư là các qui định về các hệ thống pháp luật có quyền tài phán Các qui định
về thẩm quyền xét xử các tranh chấp phát sinh từ giao dịch cho thuê tài chính máy bay được mở rộng để tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn các cơ quan giải quyết tranh chấp cho các bên tham gia giao dịch thuê tài chính máy bay
1.3 Các điều ƣớc quốc tế trong ngành hàng không dân dụng có nội dung hỗ trợ cho hoạt động thuê tài chính máy bay:
1.3.1 Hệ thống các điều ƣớc quốc tế về an ninh hàng không:
1.3.1.1 Công ƣớc về các hành vi phạm tội và một số hành vi khác thực hiện trên tầu bay, ký tại Tokyo ngày 14 tháng 9 năm 1963:
Công ước Tokyo 1963 có 26 điều và 7 chương qui định về quyền tài phán, quyền hạn và trách nhiệm của các quốc gia thành viên đối với các hành vi phạm tội và một số hành vi khác thực hiện trên tầu bay, quyền hạn của người chỉ huy tầu bay, các hành vi chiếm giữ tầu bay bất hợp pháp Việt Nam tham gia công ước này vào ngày 10 tháng 10 năm 1979 Phạm vi áp dụng của công ước là các hành vi vi phạm pháp luật hình sự và các hành vi chưa phải là phạm tội nhưng có thể gây nguy hiểm tới an toàn của máy bay hay tài sản, người trên máy bay
1.3.1.2 Công ƣớc nhằm ngăn chặn việc chiếm giữ bất hợp pháp tầu bay, ký tại La Hay ngày 16 tháng 12 năm 1970
Công ước La Hay 1970 có 14 điều qui định về quyền tài phán tổng hợp đối với các hành vi chiếm đoạt máy bay bất hợp pháp, qui tắc dẫn độ hoặc trừng phạt Việt Nam tham gia công ước này vào ngày 17 tháng 9 năm 1979 Trong công ước này để khắc phục nhược điểm của công ước Tokyo nói trên thẩm quyền tài phán đối với các hành vi gây nguy hiểm với máy bay đã được điều chỉnh mở rộng nhất là đối với các máy bay được cho thuê dưới hình thức thuê tài chính
1.3.1.3 Công ƣớc nhằm ngăn chặn những hành vi bất hợp pháp chống lại
an toàn hoạt động hàng không dân dụng, ký tại Montreal ngày 23 tháng 9 năm
1971
Công ước Montreal 1971 có 16 điều qui định chủ yếu về việc mở rộng khái niệm
“hành vi can thiệp bất hợp pháp” Việt Nam tham gia công ước này vào ngày 17 tháng
9 năm 1979 Việc mở rộng ở đây tập trung vào các qui định về các hành vi bất hợp pháp đối với an toàn của cả hoạt động hàng không dân dụng chứ không chỉ đối với tầu bay Như vậy không chỉ các hành vi vi phạm khi máy bay đang bay mà cả những hành
vi phá hoại khác làm cho máy bay mất khả năng bay cũng là đối tượng áp dụng của công ước
1.3.2 Hệ thống điều ƣớc về trách nhiệm ngoài hợp đồng (Công ƣớc Roma 1952):
Trang 10Trong lĩnh vực này có công ước về thiệt hại do tầu bay nước ngoài gây ra đối với người thứ ba ở mặt đất (Công ước Roma năm 1952) qui định về chủ thể trách nhiệm gây thiệt hại, các điều kiện trách nhiệm của người khai thác, căn cứ miễn trừ trách nhiệm và mức giới hạn trách nhiệm Ngoài ra còn có Nghị định thư sửa đổi Công ước Roma 1952 về thiệt hại do tầu bay nước ngoài gây ra đối với người thứ ba ở mặt đất (Nghị định thư Montreal năm 1978)
Đối với các bên tham gia giao dịch cho thuê tài chính máy bay thì điều kiện tiên quyết là khi ký kết hợp đồng, máy bay luôn phải được bảo hiểm để đảm bảo lợi ích cho tất cả các bên Một hợp đồng cho thuê tài chính máy bay không thể thiếu các điều khoản về trách nhiệm bảo hiểm và trách nhiệm đền bù thiệt hại ngoài hợp đồng của các bên tham gia giao dịch
1.3.3 Công ước Chicago về hàng không dân dụng năm 1944 (Convention on International Civil Aviation, signed at Chicago on 7 th December 1944):
Mục tiêu của Công ước Chicago 1944 là qui định một số nguyên tắc và thỏa thuận để ngành hàng không dân dụng quốc tế phát triển an toàn và trật tự, thiết lập các dịch vụ vận chuyển hàng không dân dụng quốc tế trên cơ sở bình đẳng, kinh tế và chính đáng Có 52 nước đã tham gia ký kết công ước này tại Chicago Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tham gia công ước này Tính đến năm 1994 số thành viên của Công ước Chicago 1944 đã là 183 nước Hiện nay có gần 200 quốc gia là thành viên Công ước Chicago 1944 Việt Nam tham gia Công ước này vào ngày 13 tháng 3 năm 1980
Công ước Chicago 1944 còn có một số phụ lục có liên quan nhằm bảo đảm an toàn đối với đối tượng là các máy bay cho thuê tài chính như:
-Phụ lục 12: Tìm kiếm cứu nguy
-Phụ lục 13: Điều tra tai nạn máy bay
-Phụ lục 17: An toàn-An ninh hàng không chống lại các hành động can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng quốc tế
1.4 Thông lệ quốc tế về thuê tài chính máy bay trong lĩnh vực hàng không dân dụng:
1.4.1.Các hình thức tài trợ thuê và thuê tài chính máy bay:
- Thuê tài chính (Finance Lease)
- Thuê mua ( Hire Purchase)
- Thuê khô (Dry Lease)
- Thuê ướt (Wet Lease)
1.4.2 Một số cấu trúc điển hình của giao dịch thuê tài chính máy bay:
1.4.2.1 Vay có bảo đảm với công ty cho thuê nước ngoài:
Cấu trúc này là điển hình và tiêu biểu cho tài trợ xuất khảu tín dụng đối với hoạt động thuê tài chính máy bay Nó được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và các nước Châu Âu với một công ty cho thuê là chủ sở hữu máy bay được thành lập tại nước ngoài Công ty cho thuê này là công ty con của một công ty tín thác nước ngoài Tâm điểm là Công ty cho thuê đồng thời chính là người chủ sở hữu máy bay Theo thông lệ công ty cho thuê này là công ty cho thuê tài chính có mục đích đặc biệt (Special Purpose Company-
Trang 11SPC) Nghĩa là công ty cho thuê này được thành lập ra chỉ để cho thuê tài chính một chiếc máy bay đó thôi Ngoài ra công ty này không được phép có bất cứ hoạt động nào khác ngoại trừ trách nhiệm thanh toán tiền vay trả cho Bên cho vay Công ty SPC này được thành lập ở nhiều quốc đảo như Cayman Island hoặc Seychelles hayVirgin Islands là những nơi có chính sách pháp luật rất cởi mở tạo mọi điều kiện cho các công
ty đến đặt trụ sở và hoạt động Các quốc đảo này không tập trung vào thu thuế từ hoạt động kinh doanh của các công ty mà chỉ thu thông qua các nguồn như quản lý phí, cho thuê trụ sở, ăn ở và sinh hoạt Một đặc điểm về pháp lý ở những nước này là công ty SPC có thể chỉ có vốn là 1 USD vẫn có thể thành lập và hoạt động Tuy nhiên công ty
mẹ - là chủ sở hữu 100% của SPC - sẽ là người bảo lãnh và hoàn toàn chịu mọi rủi ro cho công ty cho thuê SPC
1.4.2.2 Thuê tài chính dựa trên thuế:
Cấu trúc thuê tài chính này thường được các công ty của Nhật áp dụng Về cơ bản nó cũng giống như cấu trúc nói ở trên nhưng cũng có một số khác biệt Điểm khác biệt rõ ràng nhất là Công ty cho thuê mẹ và công ty SPC không được thành lập ở nước ngoài mà là một công ty cho thuê của Nhật bản Hình thức này gọi là thuê tài chính máy bay dựa trên thuế vì nó hoàn toàn dựa trên các lợi ích về thuế của công ty SPC và Công ty mẹ giàn xếp giao dịch Các công ty này hoàn toàn là pháp nhân trong nước (công ty của Nhật) và được hưởng thuần túy các khoản lợi ích về thuế thu nhập công ty khi cho thuê tài sản từ việc giảm thuế khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Công ty cho thuê SPC không được thành lập ở các quốc đảo do vậy không có các chính sách ưu đãi của nước sở tại như cấu trúc công ty cho thuê SPC tại nước ngoài ở trên Do vậy cấu trúc “dựa trên thuế” là hoàn toàn dựa vào ưu thế của việc giảm thuế chứ không có thêm các lợi ích khác nữa của người Nhật hay người ta còn gọi cấu trúc này là “ Thuê mua của Nhật (Japanese Lease)”
1.4.3 Một số tổ chức hỗ trợ tín dụng xuất khẩu trong hoạt động thuê tài chính máy bay của các nước:
Các tổ chức này được cung cấp tín dụng hoặc được bảo lãnh hay bảo hiểm bởi Chính phủ của một quốc gia để thúc đẩy và xúc tiến các hoạt động xuất khẩu (trong đó
có máy bay) của các quốc gia đó Các quốc gia sẽ chỉ định tổ chức nào là cơ quan hỗ trợ tín dụng của Chính phủ nhưng thường là các tổ chức tín dụng và ngân hàng lớn có
uy tín và tiềm lực về tài chính như ở Mỹ hay các cơ quan chuyên môn như ở Châu Âu Các qui định riêng được các tổ chức hỗ trợ tín dụng xuất khẩu thiết lập để tài trợ cho các loại máy bay thân rộng, hiện đại và có giá trị lớn
Một số cơ quan tiêu biểu là ngân hàng xuất nhập khẩu (EXIMBANK) của Hoa
kỳ, Phòng tín dụng xuât khẩu (ECGD) của Anh, cơ quan tín dụng xuất khẩu (COFACE) của Pháp và cơ quan hỗ trợ tín dụng xuất khẩu (HERMES) của Đức là những nước có ngành công nghiệp sản xuất máy bay hiện đại và tiên tiến trên thế giới Ngoài ra còn một số tổ chức hỗ trợ xuất khẩu tín dụng của các nước khác như EDC của Canada hay PROEX của Brazil
Trang 12CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM VỀ THUÊ TÀI CHÍNH
VÀ THUÊ TÀI CHÍNH MÁY BAY TRONG LĨNH VỰC HÀNG KHÔNG
DÂN DỤNG
2.1 Pháp luật Việt Nam về thuê tài chính và thuê tài chính máy bay trong lĩnh vực hàng không dân dụng:
2.1.1 Pháp luật về thuê tài chính:
2.1.1.1 Nghị định số 64-CP của Chính phủ ngày 9 tháng 10 năm 1995 ban hành Qui chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam vàThông tư số 03/TT-NH5 hướng dẫn thực hiện Nghị định 64 CP ngày 9/10/1995:
- Khái niệm và chủ thể tham gia:
Theo điều 1 Qui chế, khái niệm cho thuê tài chính là:
“ một hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc - thiết bị và các động sản khác Bên cho thuê cam kết mua máy móc – thiết bị và động sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê”
[8]
Bản thân định nghĩa này cũng chưa bao hàm hết toàn bộ hoạt động cho thuê tài chính, chưa đầy đủ các điều kiện của giao dịch thuê tài chính qui định ngay tại điều 3 của Qui chế
Định nghĩa bên đi thuê :” là doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam ” (điều 2) đã thu hẹp phạm vi của các doanh nghiệp đi thuê tài sản Với qui
định này thì các doanh nghiệp đi thuê tài sản chỉ là doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật của Việt Nam còn các doanh nghiệp thành lập theo pháp luật nước ngoài không thuộc đối tượng này (không phải là người đi thuê tài sản) Như vậy vô hình chung các doanh nghiệp trong nước sẽ không có cơ hội để cho thuê, cho thuê lại máy móc – thiết bị cho các doanh nghiệp nước ngoài
Về định nghĩa tài sản thuê: “là máy móc – thiết bị và các động sản khác đạt tiêu chuẩn kỹ thuật tiên tiến, có giá trị sử dụng hữu ích trên một năm được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu” (điều 2) Qui định này dường như chưa thích hợp với thực tiễn
và thông lệ quốc tế Vì một số loại tài sản có tính đặc thù như máy bay hoặc tàu thủy ở nước ta
Có thể nhận định rằng Qui chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 64-CP của Chính phủ ngày 9 tháng 10 năm 1995 tuy còn nhiều qui định chưa thật chính xác và đầy đủ nhưng
nó đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lập pháp của hoạt động thuê tài chính Lần đầu tiên hoạt động cho thuê tài chính được các qui định của pháp luật điều chỉnh
Trang 13Đây cũng là cơ sở để trải nghiệm, so sánh các qui định với thực tế đời sống để rút ra các kinh nhgiệm, đúc kết nhằm hoàn thiện hơn các qui định của pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính
2.1.1.2 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004:
Pháp luật về cho thuê tài chính tại Việt Nam được ghi nhận ở mức cao nhất là các qui định trong Luật Các tổ chức tín dụng ban hành năm 1997 Trong Luật này thì thuê tài chính được coi là một hình thức hoạt động tín dụng
Định nghĩa về cho thuê tài chính được qui định trong điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng 1999:
” Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê Trong thời hạn cho thuê các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng”[6]
Về cơ bản nó giống với định nghĩa về cho thuê tài chính tại Nghị định 64-CP ngày 9/10/95 Có hai điểm khác biệt tạo ra sự ưu việt hơn nhưng cũng có điểm lại có
vẻ như lạc hậu Trước hết định nghĩa đã xác định đối tượng cho thuê tài chính là “tài sản” Đây là một tiến bộ vì khái niệm tài sản bao trùm hai khái niệm bất động sản và động sản Nó mở rộng hơn đối tượng của hoạt động cho thuê tài chính không chỉ là máy móc thiết bị mà còn là các tài sản khác theo qui định của Luạt Dân sự Nhưng nó
có một điểm thụt lùi là qui định bên cho thuê là “tổ chức tín dụng”.Một điều quan trọng là các qui định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng cho thuê tài chính cũng được Luật các tổ chức tín dụng 1997 ghi nhận Các quyền và nghĩa vụ này cũng chỉ dừng ở mức độ nguyên tắc chung nhất là cơ sở để các bên xác lập hợp đồng chứ chưa được cụ thể và chi tiết (điều 62 và 63 Luật các tổ chức tín dụng)
2.1.1.3 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính và thông tư 08/2001/TT-NHNN hướng dẫn Nghị định 16/NĐ-CP:
Đây là văn bản pháp luật nhằm cụ thể hóa qui định của Luật các tổ chức tín dụng
và thay thế cho Nghị định 64/CP - 1995 Hoạt động cho thuê tài chính được qui định một cách chính thức chứ không phải là các qui định tạm thời Về cơ bản Nghị định 16/CP - 2001 được xây dựng trên cơ sở các qui định của Nghị định 64/CP – 1995 cùng với một số sửa đổi và bổ sung đầy đủ và hoàn thiện hơn Qui định về hoạt động cho thuê tài chính đã được hoàn thiện hơn với đầy đủ các điều kiện của một giao dịch thuê tài chính
Một qui định mới nữa là các hoạt động của công ty cho thuê tài chính ra nước ngoài cũng được Nghị định 16/CP - 2001 điều chỉnh và áp dụng theo các tập quán quốc tế Hoạt động cho thuê tài chính trên lãnh thổ Việt Nam phải thông qua các công
ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam Điều 1 mục 4 Nghị định 16 CP năm 2001 qui định: