Quy định về việc VKS phê chuẩn một số quyết định của CQĐT trong giai đoạn điều tra đã tạo ra một cơ chế vừa có sự phân định rõ ràng trách nhiệm, nhiệm vụ của CQĐT và VKS vừa đảm bảo tính
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO THỊ DIỆP
PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO THỊ DIỆP
PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÊ CHUẨN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 11
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA 11
1.1.1 Khái niệm phê chuẩn 11
1.1.2 Mục đích ý nghĩa của việc phê chuẩn trong tố tụng hình sự 16
1.2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ PHÊ CHUẨN TRONG LỊCH SỬ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY 18
1.2.1 Giai đoạn 1945-1960 18
1.2.2 Giai đoạn 1960 – 1988 21
1.2.3 Giai đoạn 1988 – 2003 23
1.3 VÀI NÉT VỀ THỦ TỤC PHÊ CHUẨN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 25
1.3.1 Hoa Kỳ 25
1.3.2 Cộng hoà Pháp 26
1.3.3 Cộng hoà liên bang Đức 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 33
2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CẦN CÓ SỰ PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 33
2.1.1 Thủ tục phê chuẩn các lệnh bắt của Cơ quan điều tra 35
2.1.2 Thủ tục phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn khác 44
2.1.3 Thủ tục phê chuẩn khởi tố bị can 51
2.1.4 Thủ tục phê chuẩn việc khám xét, thu giữ điện tín, bưu kiện, bưu phẩm 56
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 58
2.2.1 Những kết quả đạt được 58
2.2.2 Những hạn chế, thiếu sót 61
2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG NÀY 62
2.3.1 Nguyên nhân chủ quan 62
Trang 42.3.2 Nguyên nhân khách quan 64
2.3 CÁC YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ XU HƯỚNG ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 66
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 70
3.1 GIẢI PHÁP VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 70
3.2 GIẢI PHÁP VỀ CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT VÀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA 75
3.2.1 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các Viện kiểm sát 75
3.2.2 Giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra 76
3.2.3 Tăng cường tính độc lập của Viện kiểm sát 80
3.3 GIẢI PHÁP VỀ HOÀN THIỆN CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT 81
3.3.1 Hướng dẫn cụ thể một số quy định của BLTTHS để thực hiện nghiêm chỉnh thống nhất 81
3.3.2 Sửa đổi bổ sung một số quy định của BLTTHS liên quan đến thủ tục phê chuẩn của VKS 84
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) ra đời đã đánh dấu một bước tiến đáng kể trong lịch sử công tác lập pháp nói chung và đặc biệt là trong lịch sử công tác xây dựng pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng BLTTHS đã được sửa đổi một cách tương đối toàn diện Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 theo hướng tăng cường trách nhiệm và quyền hạn cho Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) đặc biệt là trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự và cụ thể hoá các trách nhiệm và quyền hạn này một cách rõ nét hơn
so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 VKSND hay còn được gọi là Viện kiểm sát (VKS) vẫn giữ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các
cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự Đồng thời, BLTTHS cũng đã quy định cụ thể hơn và chặt chẽ hơn về vai trò của VKS trong việc phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra (CQĐT) trong
tố tụng hình sự đó là “ quyết định phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT trong trường hợp không phê chuẩn thì phải nêu rõ lý do”[điều 112; 4] Chính sự cụ thể hoá này cũng thể hiện rõ nét hơn trách nhiệm của VKS đối với các trường hợp oan, sai trong tố tụng hình sự đặc biệt
là sau khi có Nghị quyết 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội 11 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Theo quy định tại các văn bản này, nếu phát sinh vấn đề oan, sai trong tố tụng hình sự thì: đối với các quyết định tố tụng của CQĐT
mà VKSND đã phê chuẩn thì trách nhiệm bồi thường oan, sai thuộc về VKSND và ngược lại, các quyết định của CQĐT mà không được VKSND phê chuẩn thì trách nhiệm bồi thường oan, sai (nếu có) thuộc về CQĐT
Quy định về việc VKS phê chuẩn một số quyết định của CQĐT trong giai đoạn điều tra đã tạo ra một cơ chế vừa có sự phân định rõ ràng trách nhiệm, nhiệm vụ của CQĐT và VKS vừa đảm bảo tính phối hợp, chế ước giữa hai cơ quan này nhằm đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án hình sự được thực hiện đúng pháp luật
Trải qua gần năm năm thực hiện BLTTHS, các quy định của Bộ luật này và các văn bản hướng dẫn về thủ tục phê chuẩn và hoạt động phê chuẩn của VKSND đối với một số quyết định của CQĐT vẫn còn những khó khăn,
Trang 8vướng mắc dẫn đến những ảnh hưởng đáng kể tới việc giải quyết các vụ án hình sự cả về mặt thời gian, tiến độ cũng như chất lượng Mặc dù các báo cáo
sơ kết, tổng kết của các VKS, CQĐT thường chưa quan tâm một cách đúng mức đến nội dung này, song trong công tác bồi thường oan, sai trong tố tụng hình sự thì đây lại là nội dung gây nhiều tranh cãi vì nhiều lý do trong đó có một lý do là hoạt động này có liên quan đến việc xem xét xem cơ quan nào, chủ thể nào phải chịu trách nhiệm đối với những oan, sai đó
Bên cạnh đó, với sự ra đời của Nghị quyết số 48/NQ-TƯ ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết
số 49/NQ-TƯ ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020, với mục đích xây dựng một nhà nước dân chủ, kỷ cương, công bằng, nhiều vấn đề cũng đã được đặt
ra với các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực tư pháp Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng mà liên ngành tư pháp cần quan tâm đến đó là xem xét rà soát lại các quy định của pháp luật tố tụng hình sự để tiến tới sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự một cách đồng bộ đáp ứng nhu cầu của thực tiễn và thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực này Để thực hiện được nhiệm vụ to lớn này, một trong những hoạt động cần phải được tiến hành đó là xem xét, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm trong vấn đề phê chuẩn của VKS đối với các quyết định của CQĐT và làm rõ những nguyên nhân của tình trạng này để có những điều chỉnh cho phù hợp trong lần sửa đổi tiếp theo (hiện đang trong quá trình triển khai) theo chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách hoạt động tư pháp trong thời gian tới
Đó chính là các lý do để học viên chọn đề tài “Phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân đối với các quyết định của Cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học Luật chuyên ngành Luật hình sự tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc phê chuẩn của VKS đối với các quyết định phải có sự phê chuẩn
Trang 9của VKS của CQĐT trong tố tụng hình sự là một chế định thể hiện sự chế ước
rõ nét trong mối quan hệ giữa hai cơ quan này Song cho tới thời điểm này, việc tổng kết, đánh giá các ưu điểm, nhược điểm của các quy định về vấn đề này trong BLTTHS và các văn bản hướng dẫn cũng như các vấn đề hạn chế, vướng mắc trong hoạt động thực tiễn vẫn chưa được thực hiện trên phạm vi toàn ngành kiểm sát nhân dân Tuy nhiên, đây cũng là nội dung được Đảng, Chính phủ và đặc biệt là lãnh đạo các cơ quan Nội chính quan tâm vì nó thể hiện rõ nét sự phân định trách nhiệm giữa CQĐT và VKS trong việc giải quyết vụ án hình sự Hiện vẫn chưa có đề tài khoa học nào chọn đây làm đối tượng nghiên cứu, số lượng bài viết đề cập đến nội dung này cũng rất ít ỏi Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu đề tài này chắc chắn sẽ gặp không ít khó khăn song đây là vấn đề cần được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn
3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục phê chuẩn của VKS đối với các quyết định của CQĐT cần có sự phê chuẩn của VKS trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: Các quy định của BLTTHS về các quyết định tố tụng của CQĐT phải
có sự phê chuẩn của VKS, quyền hạn và trách nhiệm của CQĐT, VKS trong việc thực hiện thủ tục phê chuẩn này; tình hình thực hiện các quy định này trong thực tiễn từ năm 2003 cho đến nay; trên cơ sở đó phát hiện ra những ưu điểm và hạn chế của pháp luật về thủ tục phê chuẩn của VKS đối với các quyết định của CQĐT trong tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay cũng như những vướng mắc trong việc thực hiện các quy định
đó, trách nhiệm của các bên trong việc tháo gỡ các vướng mắc; các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phê chuẩn của VKS đối với các quyết định của CQĐT trong tố tụng hình sự phải có sự phê chuẩn của VKS
Luận văn có nghiên cứu, đánh giá và bình luận về các quy định của pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới về thủ tục phê chuẩn đối với các quyết định tương ứng
Luận văn cũng có sử dụng nguồn dữ liệu thực tế là các số liệu về hoạt động phê chuẩn của các VKS theo báo cáo của VKSND tối cao trong các năm
2005, 2006, 2007 là ba năm thực hiện BLTTHS để phân tích, nghiên cứu Năm 2005 cũng là năm đầu tiên VKSND sửa đổi hệ thống các chỉ mục thống
Trang 10kê và triển khai công tác thống kê tội phạm, thống kê hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 trên toàn bộ các VKSND khắp cả nước
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
4.1 Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và khảo sát, đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về thủ tục phê chuẩn của VKSND đối với các quyết định của CQĐT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự, qua đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phê chuẩn của VKSND đối với các quyết định của CQĐT
4.2 Nhiệm vụ của luận văn
Từ mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ:
- Khái quát, hệ thống lại một số vấn đề chung về phê chuẩn trong tố tụng hình sự trong lịch sử lập pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và phân tích các quy định về phê chuẩn của một số quốc gia trên thế giới
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật về phê chuẩn trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và việc thực thi các quy định đó
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phê chuẩn trong tố tụng hình sự Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin
về nhà nước và pháp luật, những quan điểm mang tính lý luận về nhà nước và pháp luật trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác xít, như: phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, đặc biệt là phương pháp trừu tượng khoa học
6 Điểm mới khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục phê chuẩn của VKS đối với các quyết định của CQĐT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo quy định của
Trang 11pháp luật Việt Nam và so sánh với các quy định tương ứng của pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác trên thế giới
Luận văn cũng thống kê, hệ thống lại toàn bộ số lượng các quyết định
đã được phê chuẩn/không phê chuẩn của trong vòng ba năm 2005-2007 cũng như các vướng mắc, tồn tại trong việc áp dụng các quy định này trong thực tế
Thông qua việc đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định về thủ tục này trong luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay, luận văn cố gắng làm rõ phương hướng xây dựng các quy định về thủ tục này trong luật tố tụng hình
sự phù hợp với thực tiễn Việt Nam một cách khoa học, lô gic và hợp lý, phân công, phân cấp hợp lý giữa các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam và đặc biệt là đáp ứng được những đòi hỏi cấp bách hiện nay của cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong lĩnh vực tư pháp cũng như việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÊ CHUẨN TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ PHÊ CHUẨN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA
1.1.1 Khái niệm phê chuẩn
Phê chuẩn là một từ gốc Hán Việt, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 1998 thì: “Phê chuẩn”
có nghĩa là xét duyệt, đồng ý cho thi hành [Tr 750; 44]
Theo Từ điển luật học Nhà xuất bản Từ điển bách khoa-Tư pháp 2006
thì phê chuẩn là: Xét duyệt để cho phép sử dụng hoặc thực hiện một văn bản,
công việc, vấn đề hay lĩnh vực nào đó
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 2003, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa:
Phê chuẩn là: Việc thực hiện quyền lực của cá nhân hoặc tổ chức có
thẩm quyền (thường là cấp trên) chấp thuận một hay nhiều đề nghị, yêu cầu của cấp phụ thuộc (thường là cấp dưới) được ghi vào văn bản có ký tên hoặc ký tên và đóng dấu, cho phép cấp phụ thuộc được thực hiện yêu cầu, đề nghị đó
Phê chuẩn thường xuất hiện trong quá trình giải quyết những công việc chung của các cơ quan nhà nước, khi cấp phụ thuộc (tổ chức cá nhân) có một
số yêu cầu về công việc cần thiết mà điều kiện tiên quyết để thực hiện yêu cầu
đó là sự chấp thuận của cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền, khi đó cấp phụ thuộc phải làm một văn bản như: tờ trình, đơn đề nghị, bản yêu cầu, dự thảo
đề án, hiệp ước gửi cho cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền Trong văn bản cấp phụ thuộc nêu rõ yêu cầu, lý do, nội dung, mục đích và các điều kiện thực hiện Sau khi xem xét các văn bản đó, nếu thấy không trái với pháp luật
và thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền phê vào văn bản đó yêu cầu của mình, có ký tên hoặc ký tên, đóng dấu cho phép hoặc không cho phép cấp phụ thuộc được thực hiện Có thủ tục phê chuẩn toàn bộ hoặc chỉ phê chuẩn một hay một số yêu cầu đề nghị nào đó trong văn bản yêu cầu của cấp phụ thuộc Phê chuẩn có giá trị pháp lý nếu các yêu cầu, đề nghị nếu các yêu cầu, đề nghị của cấp phụ thuộc được cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền chấp thuận nằm trong các quy định của
Trang 13pháp luật hiện hành [Tr 459-460; 40]
Nhìn chung, các khái niêm về thuật ngữ “phê chuẩn” trên đây đều đề cập đến mối quan hệ quyền lực nhà nước giữa cơ quan có thẩm quyền giám sát, thẩm tra với cơ quan có thẩm quyền thi hành những hoạt động nhất định
do pháp luật quy định phải chịu sự giám sát, thẩm tra thông qua thủ tục phê chuẩn
Phê chuẩn trong tố tụng hình sự:
Nhìn lại lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới chúng ta thấy rằng thời
kỳ khi nhà nước mới ra đời, bộ máy nhà nước còn giản đơn và hệ thống pháp luật mới được hình thành thì các chức năng trong tố tụng hình sự chưa được tách bạch rõ ràng, có thể do một cơ quan, thậm chí một quan chức thực hiện trong suốt quá trình tố tụng Chẳng hạn trong nhà nước Chủ nô hoặc Phong kiến thì việc điều tra, truy tố, xét xử và cả thi hành án thông thường chỉ do một quan án đảm nhiệm Càng về sau, cùng với sự phát triển, hoàn thiện của
bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật, việc phân định chức năng giữa các cơ quan nhà nước ngày càng khoa học hơn Luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như luật tố tụng hình sự hiện đại của các nước trên thế giới ngày càng có xu hướng chuyên môn hoá cao hơn, phân định chức năng rõ ràng và khoa học hơn Đó là việc giao cho mỗi cơ quan thực hiện một chức năng khác nhau; các
cơ quan khác nhau thực hiện chức năng điều tra khám phá tội phạm, buộc tội
và xét xử sẽ là tiền đề để hoạt động tố tụng hình sự khách quan hơn, đạt hiệu quả cao hơn Chức năng của CQĐT là điều tra thu thập chứng cứ làm rõ có tội phạm hay không có tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội (khám phá tội phạm); chức năng của cơ quan thực hành quyền công tố là buộc tội và yêu cầu trừng phạt người phạm tội; chức năng của Toà án là xét xử
Trong luật tố tụng hình sự có chủ thể tiến hành tố tụng được độc lập thực hiện các hoạt động tố tụng, nhưng có những chủ thể khi thực hiện một số hoạt động lại cần phải được sự phê chuẩn của chủ thể khác Điều này xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể trong tố tụng là khác nhau Luật
tố tụng hình sự hiện đại có các chủ thể là các cơ quan được tiến hành tố tụng gồm có CQĐT, cơ quan công tố/ VKS và cơ quan xét xử /Toà án thực hiện các chức năng tương ứng là điều tra, truy tố và xét xử
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, khái niệm cơ quan điều tra là một khái niệm tương đối rộng Theo quy định tại Điều 110
Trang 14BLTTHS và điều 1 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (từ đây được viết tắt là PLTCĐTHS), Cơ quan điều tra gồm có:
- Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân:
+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh); Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện);
+ Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh)
- Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân:
+ Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương; Cơ quan điều tra hình sự khu vực;
+ Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương
- Cơ quan điều tra trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao:
+ Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
+ Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
[Điều 110; 4], [Điều 1; 22]
Ngoài các cơ quan điều tra (chuyên trách) này, pháp luật tố tụng hình
sự hiện hành còn có quy định trong một số trường hợp, một số cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra là Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này trong tố tụng hình sự đã được quy định rõ tại các điều 19-25 PLTCĐTHS Về bản chất, các hoạt động này chính là các hoạt động trong giai đoạn điều tra Song
do yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để đảm bảo hoạt động điều tra truy tố xét xử được tiến hành nhanh chóng, kịp thời nên các cơ quan này mới được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong các vụ án đơn giản, tội phạm ít nghiêm trọng, hoặc các hoạt động điều tra ban đầu trong các vụ án nghiêm trọng trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến chức trách, nhiệm vụ của các cơ quan này
Nếu như trong Cơ quan điều tra có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ
Trang 15quan điều tra và Điều tra viên (ĐTV) được coi là các chủ thể là người tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự thì trong các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, hoạt động điều tra này chủ yếu
do Thủ trưởng, Phó thủ trưởng các cơ quan này tiến hành [điều 19-25; 22]
Bên cạnh đó, ngoài các chủ thể đã được đề cập ở trên, để đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, trong trường hợp khẩn cấp, một số chủ thể cũng được quyền áp dụng một số biện pháp ngăn chặn nhằm ngăn cản không cho kẻ phạm tội bỏ trốn hoặc tẩu thoát Đó là “người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.” [điểm c khoản 2 Điều 81, khoản 2 Điều 86; 4] Tuy vậy, thẩm quyền của các chủ thể này chủ yếu cũng chỉ dừng lại trong phạm vi áp dụng một số biện pháp ngăn chặn có hiệu lực trong thời gian ngắn và các hoạt động đó cũng chỉ xảy ra trong giai đoạn điều tra Và một số các hoạt động được thực hiện bởi các chủ thể này cũng được coi là đối tượng phê chuẩn của Viện Kiểm sát như lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ hình sự Tuy nhiên, các chủ thể này chỉ được tiến hành một số rất ít các hoạt động và chủ yếu chỉ trong tình huống khẩn cấp Ngay khi trở về lãnh thổ Việt Nam, hoạt động điều tra cũng như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong các vụ án hình sự này phải được chuyển giao ngay cho Cơ quan điều tra (chuyên trách) có thẩm quyền điều tra
vụ án đó theo quy định của pháp luật (nội dung này sẽ được làm rõ thêm ở phần 2.1.1 và 2.1.2 Chương 2 Luận văn này) Do vậy, về bản chất, việc áp dụng các lệnh, quyết định này của người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi các phương tiện đã rời khỏi ga không phải là các hoạt động thuộc thẩm quyền của các chủ thể này mà chỉ là các hoạt động nhân danh Cơ quan điều tra nhằm đảm bảo việc bắt, giữ nghi phạm để xử lý theo pháp luật và tránh trường hợp những người đó lẩn trốn hoặc tiếp tục phạm tội trên các phương tiện này
Căn cứ vào các nội dung đã được đề cập ở trên, chúng ta có thể thấy rằng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành, khái niệm Cơ quan điều tra có thể được hiểu theo hai cách: theo nghĩa hẹp, đó là các Cơ quan điều tra (chuyên trách) là các cơ quan được tổ chức, thành lập để chuyên thực hiện nhiệm vụ điều tra các tội phạm hình sự trong phạm vi nhiệm
vụ của mình và theo nghĩa rộng thì cơ quan điều tra là các chủ thể được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động (toàn bộ hoặc một phần) điều tra các vụ án hình sự bao gồm cả các Cơ quan điều tra (chuyên trách) và các cơ quan được
Trang 16giao tiến hành một số hoạt động điều tra ( như là Hải quan, Kiểm lâm, ) và các chủ thể có thẩm quyền ra một số lệnh, q uyết định các tình huống khẩn cấp (người chỉ huy tàu bay, tàu biển ) Kể từ đây, tác giả luận văn sẽ sử dụng khái niệm Cơ quan điều tra (CQĐT) theo nghĩa thứ hai này
Đối với hoạt động công tố, ở Việt Nam, VKSND chính là cơ quan được giao chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, tức là được giao nhiệm vụ nhân danh nhà nước, nhân danh công quyền chống lại hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất, đó là tội phạm, thực hiện quyền buộc tội và yêu cầu trừng phạt người phạm tội Với chức năng thực hành
quyền công tố, VKS có trách nhiệm “bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải
được xử lý kịp thời không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”
[khoản 3 Điều 23; 4] Mỗi khi tội phạm xảy ra đều phát sinh quyền công tố cũng như nhu cầu thực hiện quyền công tố để kịp thời xử lý tội phạm Hoạt động thực hành quyền công tố càng được thực hiện sớm, thì càng có khả năng đạt hiệu quả cao hơn Chính vì vậy, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian tới” đã xác định “hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi
tố vụ án”
Buộc tội là một quá trình diễn ra trong suốt quá trình chứng minh tội phạm, chứng minh người thực hiện hành vi phạm tội Để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi phải có một lực lượng chuyên môn về điều tra với sức mạnh vật chất có khả năng cưỡng chế để thu thập toàn diện chứng cứ xác định tội phạm, người phạm tội hoặc để xác định người vô tội trong giai đoạn điều tra Những hoạt động điều tra này chủ yếu do CQĐT và các ĐTV thực hiện
Tuy nhiên quyền buộc tội phải do cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố tức VKS thực hiện Theo chức năng của mình, VKS có quyền
và trách nhiệm quyết định cuối cùng về những vấn đề liên quan đến việc buộc tội một chủ thể nào đó trong giai đoạn điều tra; kiểm soát được việc phát hiện, điều tra tội phạm và xử lý VKS và CQĐT là các cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng khác nhau, phải được phân định nhiệm vụ, quyền hạn có tính độc lập tương đối nhằm đảm bảo từng cơ quan thực hiện đúng vầ đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình Tuy vậy, luật tố tụng hình sự không thể chia tách, cắt khúc quyền lực tư pháp để từ đó làm suy giảm khả năng đấu tranh phòng chống tội phạm Mối quan hệ giữa VKS và CQĐT là mối quan hệ vừa chế
Trang 17ƣớc, vừa phối hợp Đó chính là cội nguồn xuất phát của việc quy định quyền phê chuẩn của VKS đối với một số quyết định, hành vi của CQĐT
Từ các phân tích ở trên, có thể đi đến khái niệm về thuật ngữ “Phê chuẩn” trong tố tụng hình sự nhƣ sau:
Phê chuẩn trong tố tụng hình sự là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền xác nhận tính hợp pháp của các quyết định, lệnh, hành vi của CQĐT
Về phạm vi thời gian, hoạt động của CQĐT chỉ diễn ra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, do vậy hoạt động phê chuẩn của VKS đối với các quyết định, lệnh của CQĐT cũng chỉ diễn ra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Căn cứ pháp lý: từ khi có Bộ luật tố tụng hình sự các năm 1988 và
2003, trong các điều luật quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra đều ghi nhận một trong những nghiệm vụ, quyền hạn của VKS đó là phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của CQĐT Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra tập trung chủ yếu ở Điều 141 và không phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố hay khi kiểm sát điều tra Còn BLTTHS hiện hành thì quán triệt tinh thần thực hành quyền công tố từ khi khởi tố vụ án và phân định rõ nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi thực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra Điều 112 của Bộ luật này quy định về nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, trong đó tại khoản 4 quy định VKS quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của CQĐT
1.1.2 Mục đích ý nghĩa của việc phê chuẩn trong tố tụng hình sự
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành, chỉ
có VKS có quyền phê chuẩn và ngƣợc lại việc phê chuẩn này cũng chỉ áp dụng đối với một số hoạt động (quyết định, lệnh đƣợc gọi chung là quyết định) của CQĐT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của CQĐT là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Phê chuẩn hay không phê chuẩn của VKS là hoạt động thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý với quyết định, hành vi của CQĐT sau khi nghiên cứu quyết định, hành vi đó
và các tài liệu có liên quan Nếu VKS quyết định phê chuẩn có nghĩa là VKS
Trang 18nhận thấy quyết định, hành vi của CQĐT là hợp pháp và cần thiết; ngược lại không phê chuẩn nghĩa là VKS nhận thấy quyết định, hành vi của CQĐT không đảm bảo tính hợp pháp hoặc không cần thiết Hậu quả pháp lý của việc phê chuẩn là xác nhận tính hợp pháp và làm phát sinh hiệu lực thi hành hoặc làm cho quyết định, hành vi của CQĐT tiếp tục có hiệu lực thi hành (nếu đã được thi hành) Ngược lại nếu VKS không phê chuẩn thì nếu đối với quyết định chưa được thi hành thì nó sẽ không có hiệu lực pháp lý và không được phép thi hành trên thực tế; đối với quyết định, hành vi mà CQĐT đã thực hiện rồi thì phải chấm dứt ngay việc thi hành và khắc phục những hậu quả mà việc thi hành quyết định, hành vi đó đã gây ra trên thực tế
Theo quy định của BLTTHS, các quyết định của CQĐT cần có sự phê chuẩn của VKS bao gồm: Lệnh bắt bị can để tạm giam (Điều 80), việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81), Quyết định gia hạn tạm giữ (Điều 87), Lệnh tạm giam bị can (Điều 88), Lệnh khám xét (Điều 141), Quyết định khởi tố bị can (Điều 126) Có thể thấy rất rõ là điểm chung lớn nhất của các quyết định này là chúng đều là các hoạt động mang tính cưỡng chế, khi thi hành chúng đồng nghĩa với việc hạn chế hoặc là tiền đề để hạn chế đáng kể các quyền, tự do đối với công dân Như vậy mục đích của việc phê chuẩn trong tố tụng hình sự là nhằm kiểm soát chặt chẽ các hoạt động mang tính chất cưỡng chế bất lợi về quyền tự do đối với công dân của CQĐT; đảm bảo việc áp dụng các biện pháp này là hợp pháp và cần thiết Thông qua việc phê chuẩn VKS có thể ngăn chặn những hành động xâm phạm các quyền của công dân không được pháp luật cho phép; ngăn ngừa sự lạm quyền, lạm dụng các biện pháp cưỡng chế của CQĐT
Trong tố tụng hình sự thì Toà án và VKS cũng có thẩm quyền ban hành các quyết định mang tính cưỡng chế đối với bị can, bị cáo như tạm giam, VKS có quyền khởi tố bị can Quyết định của Toà án và của VKS không cần phải có sự phê chuẩn của cơ quan khác mà có hiệu lực thi hành ngay Tuy nhiên điều khác biệt ở đây là Toà án và VKS không thể tự mình thi hành việc bắt giam mà phải yêu cầu lực lượng công an thực hiện Quy định như vậy không có nghĩa là Toà án và VKS có đặc quyền lớn hơn so với CQĐT trong
tố tụng hình sự, mà mỗi cơ quan tiến hành tố tụng đều có chức năng, nhiệm
vụ riêng, đồng thời có cơ cấu tổ chức bộ máy phù hợp để thực hiện chức năng nhiệm vụ đó Điều đó giải thích lý do tại sao một số quyết định của CQĐT
Trang 19cần phải có sự phê chuẩn và đồng thời quyền phê chuẩn các quyết định của CQĐT chỉ được quy định cho VKS Bởi vì, như đã phân tích ở phần trên, VKS là cơ quan được giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến việc buộc tội từ giai đoạn khởi tố, điều tra đến khi đưa ra xét xử trước Toà án Hoạt động buộc tội của VKS luôn gắn liền và đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ với hoạt động điều tra của CQĐT, do đó VKS là cơ quan biết rõ nhất sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt, khám xét hay không; có quyền quyết định khởi tố bị can hay không
Thủ tục phê chuẩn là sự thể hiện quyền giám sát của VKS và mối quan hệ vừa chế ước, vừa phối hợp giữa VKS và CQĐT trong tố tụng hình sự Hoạt động phê chuẩn có ý nghĩa không nhỏ trong việc bảo đảm cho hoạt động điều tra hình sự với nhiều biện pháp cưỡng chế thường xuyên được áp dụng diễn ra trong phạm vi pháp luật cho phép Với bộ máy có khả năng cưỡng chế mạnh mẽ, nếu CQĐT có thể tự mình ra quyết định cưỡng chế rồi thực hiện quyết định cưỡng chế đó mà không chịu sự chi phối, giám sát của cơ quan nào khác thì nguy cơ dẫn đến lạm dụng biện pháp cưỡng chế sẽ luôn thường trực
và là mối đe doạ khôn lường cho việc bảo đảm các quyền tự do của công dân
Với nhiệm vụ của mình, VKS chỉ được phép phê chuẩn các quyết định của CQĐT khi xét thấy quyết định đó đáp ứng đủ các điều kiện là phù hợp với quy định của pháp luật và cần thiết cho việc điều tra giải quyết vụ án cụ thể đó Nếu thực hiện tốt việc phê chuẩn, sẽ góp phần làm cho hoạt động điều tra diễn ra khách quan hơn, xác định chính xác tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, phòng ngừa và hạn chế oan, sai xảy ra trong hoạt động tố tụng hình sự
1.2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ PHÊ CHUẨN TRONG LỊCH SỬ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
1.2.1 Giai đoạn 1945-1960
Ngay sau khi chính quyền cách mạng non trẻ được thành lập tháng 9 năm 1945, để đáp ứng các yêu cầu của tình hình chính trị phức tạp, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Cách mạng Việt Nam đã ban hành ngay sắc lệnh số 33C/SL ngày 13/9/1945 về việc thành lập các toà án quân sự ở cả ba miền Bắc, Trung và Nam để “xét xử tất cả các người nào phạm vào một việc gì đó
Trang 20có phương hại đến nền độc lập của Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” và Sắc lệnh số 37/SL ngày 26/9/1945 về việc quy định thẩm quyền theo lãnh thổ cho các toà án quân sự Hệ thống toà án quân sự này đã thay thế Toà án dân chúng hoặc Toà án quân sự thời tiền khởi nghĩa và trở thành vũ khí tư pháp sắc bén
để trấn áp, trừng trị những thế lực thù địch và bảo vệ thành quả cách mạng
Đối với vấn đề bảo vệ các quyền tự do cá nhân của công dân, ngay sau
đó, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946 trong đó quy định những người có thẩm quyền bắt, khám xét, giam giữ Theo sắc lệnh này, việc ra các lệnh bắt, khám xét đối với những người
có hành vi vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Thẩm phán viên Điều 1 Tiết 1 Sắc lệnh số 40 quy định: “Chỉ trừ khi nào có sự phạm pháp quả tang về khinh tội hay trọng tội còn bao giờ bắt người cũng cần phải có lệnh của Thẩm phán viên” Điều 3 quy định: “Việc giam cứu trước khi xử, bao giờ cũng do các cơ quan tư pháp quyết định.” Tại tiết II Sắc lệnh quy định về “những phương pháp đề phòng đặc biệt”, Điều thứ 7 cho phép “Trong tình thế đặc biệt hiện thời và cho đến khi có lệnh khác, Chủ tịch uỷ ban hành chính kỳ đặc cách được phép lệnh bắt những người xét ra lời nói hay việc làm có thể làm hại cho sự đấu tranh giành độc lập, cho chế độ dân chủ, cho sự an toàn của công chúng và sự đoàn kết của quốc gia ” Tuy nhiên Điều 8 Sắc lệnh này cũng quy định trước khi ký những lệnh trên, Chủ tịch uỷ ban hành chính phải
“thoả hiệp” với một hội đồng gồm các vị:
Như vậy Sắc lệnh này cho phép trong trường hợp đặc biệt cơ quan hành chính có thể ra lệnh bắt người không phải là phạm tội quả tang nhưng vẫn phải được sự đồng ý của một hội đồng trong đó có sự hiện diện của đại diện
cơ quan tư pháp Chế định này tương tự như việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong luật tố tụng hình sự hiện nay
Trang 21Theo các văn bản: Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức các Toà
án và ngạch Thẩm phán; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 về ấn định thẩm quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án; Sắc lệnh
số 23 ngày 21/2/1946 về thành lập Việt Nam công an vụ; Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946 về tổ chức Tư pháp công an thì Tư pháp công an có nhiệm vụ
“truy tầm tất cả các sự phạm pháp (đại hình, tiểu hình hoặc vi cảnh), sưu tập các tang chứng, bắt giao người phạm pháp cho các Toà án xét xử trong phạm
vi luật pháp ấn định” Tư pháp công an vụ gồm có: Phụ trách tư pháp công an
là Dự thẩm, Biện lý và Phó biện lý; uỷ viên tư pháp công an gồm: Thẩm phán
sơ cấp, Chủ sự và Phó chủ sự phòng chính trị và phòng tư pháp, Trưởng ban chính trị và ban tư pháp cùng quận trưởng các quận công an, trưởng ty công
an tỉnh, Kiểm soát viên kiểm lâm, Hoả xa, Thương chính và tất cả các viên chức mà pháp luật giao phó cho nhiệm vụ tư pháp công an đối với những việc phạm pháp riêng của từng ngành Như vậy tư pháp công an chính là cơ quan
có chức năng điều tra các vụ án hình sự, là tiền thân của CQĐT ngày nay Theo điều thứ 5 Sắc lệnh số 13 nói trên: “những uỷ viên tư pháp công an về phương diện tư pháp công an đều đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Biện
lý hay Thẩm phán viên nào giữ chức vụ biện lý (còn được gọi là Thẩm phán buộc tội) ở những tỉnh không có Biện lý Biện lý có quyền ra chỉ thị và kiểm soát công việc của tất cả các Uỷ viên tư pháp công an.”
Trong giai đoạn này hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật được giao cho Viện Công tố - tiền thân của VKS sau này
Như vậy, khi Cơ quan công tố chưa được tổ chức độc lập thì vai trò kiểm soát, chỉ đạo hoạt động điều tra do Biện lý hay Thẩm phán giữ chức vụ biện lý là người thực hiện quyền buộc tội đảm nhiệm Việc phê chuẩn trong tố tụng hình sự tuy chưa được quy định một cách hệ thống và cụ thể trong các văn bản pháp quy, nhưng những hoạt động mang tính chất như phê chuẩn đối với một số quyết định, hoạt động trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự đã được quy định và thực hiện Các quy định này nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra, áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt người, khám xét được kiểm soát chặt chẽ, phòng tránh việc lạm quyền của Uỷ ban hành chính
Có thể thấy rằng, giai đoạn này, do Nhà nước dân chủ cộng hoà mới được thành lập, nhiều nhiệm vụ nặng nề đòi hỏi phải giải quyết, nên công tác lập pháp chưa có được nhiều thành tựu Quy định về phê chuẩn trong tố tụng
Trang 22hình sự nói riêng cũng như các quy định của pháp luật nói chung cũng như việc tổ chức bộ máy nhà nước còn thể hiện rõ nét dấu ấn kế thừa những quy phạm của chính quyền trước Cách mạng tháng Tám nhưng phù hợp với Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
1.2.2 Giai đoạn 1960 – 1988
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, với việc đánh đuổi hoàn toàn giặc Pháp tại Miền Bắc Việt Nam, chúng ta tiến hành xây dựng một bản hiến pháp mới thay thế cho Hiến pháp 1946 Trải qua một quá trình xây dựng, lấy ý kiến toàn dân, ngày 31/12/1959, bản Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành ngay từ ngày 1/1/1960 (nên còn được gọi là Hiến pháp 1960) đánh dấu một mốc son trong lịch sử lập pháp nước nhà
Cùng với một loạt các văn bản pháp luật khác mới được ban hành Luật
tổ chức VKSND năm 1960 Cơ quan thực hiện chức năng công tố được thành lập, chính thức tách khỏi bộ máy của hệ thống Toà án Hệ thống VKSND được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc song trùng trực thuộc, vừa chịu sự lãnh đạo của VKS cấp trên về chuyên môn nghiệp vụ, vừa chịu sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính cùng cấp Trong tố tụng hình sự VKS có chức năng:
- Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp về hình sự;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và CQĐT khác;
Các bản Hiến pháp trong thời kỳ này là Hiến pháp năm 1959 và Hiến
pháp năm 1980 đều quy định: công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân
thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm, không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND trừ trường hợp phạm tội quả tang”
Hệ thống văn bản pháp luật về tố tụng hình sự trong giai đoạn này chưa
có Bộ luật tố tụng hình sự nên còn tản mạn Giai đoạn từ những năm 1960 đến 1975 vẫn chủ yếu thực hiện theo các quy định trong các văn bản được ban hành trong giai đoạn trước như: Luật số 103 ngày 20/5/1957 về Bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân; Sắc luật số 002 ngày 18/6/1957 quy định về những trường hợp
Trang 23phạm pháp quả tang và những trường hợp khẩn cấp và bổ sung quy định của Điều 10 Luật số 103 nói trên về khám người phạm pháp quả tang Sắc luật 02-
SL ngày 15/3/1976 của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng đã quy định 6 trường hợp được bắt khẩn cấp VKSND từ cấp huyện trở lên có quyền ra lệnh bắt giam người phạm tội; Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án nhân dân có quyền ra lệnh bắt giam người phạm tội trong những vụ án hình sự đang thụ lý; Trưởng và Phó công an nhân dân từ cấp tỉnh trở lên có quyền ra lệnh bắt giam người phạm tội, lệnh phải được sự phê chuẩn chính xác của VKS
Các quy định về biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự trước khi
có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 mặc dù còn tản mạn, nhưng đã có tác dụng tích cực trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật suốt một thời gian dài Đã góp phần tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật để kịp thời ngăn chặn các tội phạm nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm đến tính mạng, tài sản của công dân Tuy nhiên qua thực tế thực hiện các quy định đó cũng bộc lộ nhiều sơ hở do quy định thiếu chặt chẽ, cụ thể cho nên còn dẫn đến tình trạng bắt người tràn lan, nhất là lạm dụng bắt khẩn cấp, tạm giam quá hạn còn nhiều Tình trạng đó đã làm cho các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại Qua việc thực hiện kiểm tra công tác giam giữ, cải tạo năm 1986 cho thấy nhiều xã, phường đặt ra những chỗ giam giữ trái pháp luật, có xã giam giữ hàng chục người Thậm chí nhiều xã làm cùm, xây phòng giam hoặc giam người vào nhà kho, buồng , có huyện hầu như xã nào cũng
có việc giam giữ trái pháp luật Việc giam giữ người ở xã, phường thời kỳ này thường vì những lý do rất đơn giản như: không bán thóc cho nhà nước hoặc trốn nghĩa vụ quân sự
Nhìn chung, giai đoạn này có sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt trong
đó không thể phủ nhận sự phát triển của công tác lập pháp Hiến pháp năm
1959 rồi sau đó là Hiến pháp năm 1980 đã xác định rõ đường lối phát triển của nước ta là đi lên chủ nghĩa xã hội Do vậy, Bộ máy tổ chức nhà nước đã được xây dựng và hoàn thiện, các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước tương ứng đã được phân định cụ thể và tương đối rạch ròi trong đó gần như xoá hẳn các dấu vết của hệ thống pháp luật trước tháng 9 năm 1945 Viện Công tố và sau này là VKSND đã ra đời và được tổ chức theo ba cấp trên cả
Trang 24nước để đảm bảo thực hiện chức năng công tố cũng như thực hiện việc kiểm sát tuân theo pháp luật Tuy nhiên, các quy định về pháp luật tố tụng hình sự lại chưa được hệ thống hoá thành Bộ luật mà nằm rải rác ở nhiều văn bản Hệ thống các quy định về bắt, giam, giữ cũng như các quy định về khởi tố bị can (là các hoạt động có ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền, tự do của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp) vẫn chưa đầy đủ và chặt chẽ dẫn đến những lạm dụng không tránh khỏi đòi hỏi cần phải được khắc phục triệt để
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra được tập trung chủ yếu ở Điều 141; trong đó không phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra và nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra Tại điểm a khoản 3 Điều 141 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định VKS có
quyền: “Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của CQĐT đã được
quy định trong Bộ luật này” Qua ba lần sửa đổi, bổ sung và được thông qua
vào các ngày 30/6/1990, 22/12/1992 và 9/6/2000, các quy định về các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự và việc phê chuẩn của VKSND cũng ngày càng hoàn thiện hơn
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, những quyết định của CQĐT phải được VKS xét phê chuẩn bao gồm: Lệnh bắt bị can để tạm giam (Điều 62); Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 63); gia hạn tạm giữ (Điều 69); Lệnh tạm giam bị can (Điều 70); Quyết định cho đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm (Điều 76); Lệnh khám xét (Điều 116); Lệnh thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện (Điều 119)
Các quy định về biện pháp ngăn chặn bắt như bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt bị can để tạm giam đã được pháp điển hoá trên cơ sở các quy định về bắt người trong các văn bản pháp luật trước đây Việc bắt bị can,
bị cáo để tạm giam được quy định tại Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự năm
Trang 251988 với nội dung quy định khá chặt chẽ về thẩm quyền, thủ tục thi hành lệnh bắt Lệnh bắt của Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh trở lên; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp trong quân đội nhân dân phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp đã được quy định khá chặt chẽ về căn cứ bắt bao gồm 3 trường hợp được bắt khẩn cấp, thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp mà sau này BLTTHS vẫn giữ nguyên quy định này Theo đó, trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho VKS cùng cấp bằng văn bản để xét phê chuẩn Nếu VKS không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt
Đối với các biện pháp ngăn chặn do CQĐT áp dụng như Quyết định gia hạn tạm giữ; Lệnh tạm giam; Quyết định cho đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm,
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cũng đã quy định rất chặt chẽ và đều phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành Đồng thời Bộ luật còn quy
định “Đối với những biện pháp ngăn chặn do VKS phê chuẩn thì việc huỷ bỏ
hoặc thay thế phải do VKS quyết định.”[Điều 77; 3]
Các biện pháp cưỡng chế khác trong điều tra của CQĐT là Lệnh khám xét người, chỗ ở, địa điểm, đồ vật, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm; Lệnh thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện cũng đều phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, trừ các trường hợp “không thể trì hoãn” thì sau khi khám xong hoặc sau khi thu giữ CQĐT phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp (Điều 116 và 119)
Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã quy định tương đối đầy
đủ và chặt chẽ về quyền phê chuẩn của VKS đối với một số biện pháp cưỡng chế do CQĐT áp dụng trong tố tụng hình sự Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cũng còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập do một số quy định chưa cụ thể
về thủ tục, thời gian xét phê chuẩn đòi hỏi cần phải được tiếp tục bổ sung, sửa đổi cho hoàn thiện hơn, phù hợp với thực tiễn hơn, nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tế
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung một cách tương đối toàn diện, các quy định về việc xét phê chuẩn của VKS đối với các lệnh, quyết định của CQĐT cũng được xây dựng theo hướng quy định cụ thể hơn
về thời gian để xét phê chuẩn khi nhận được đề nghị của CQĐT với tinh thần việc xét phê chuẩn phải khẩn trương, kịp thời nhưng rất chặt chẽ VKS phải ra
Trang 26quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn đối với việc bắt khẩn cấp; để tạo điều kiện cho VKS kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp, Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 quy định bổ sung: “Trong trường hợp cần thiết, VKS phải
trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn” [Điều 81; 4] Thời hạn xét phê chuẩn gia hạn
tạm giữ là 12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị phê chuẩn của CQĐT Như vậy, trong thời gian rất ngắn, VKS phải nghiên cứu, xem xét việc phê chuẩn,
kể cả việc xác minh thêm, việc trực tiếp gặp hỏi người bị bắt
1.3 VÀI NÉT VỀ THỦ TỤC PHÊ CHUẨN TRONG TỐ TỤNG HÌNH
1.3.1 Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là quốc gia theo truyền thống luật án lệ với hệ tranh tụng đối kháng (Adversarial System) giữa bên buộc tội (công tố) với bên gỡ tội (bị cáo, luật sư) Tại Hoa Kỳ, tồn tại song song hai hệ thống pháp luật: hệ thống pháp luật của nhà nước liên bang và hệ thống pháp luật của chính quyền mỗi bang Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, có sự phân chia các tội phạm thuộc thẩm quyền xử lý của Nhà nước liên bang với các tội phạm thuộc thẩm quyền của nhà nước cấp bang Đối với việc xử lý các tội phạm thuộc thẩm quyền của Nhà nước liên bang, khi một trong các CQĐT liên bang tin rằng có đủ chứng
cứ về một tội phạm liên bang đã xảy ra, nhân viên điều tra sẽ trình bày mọi phát hiện của họ tới Văn phòng Chưởng lý liên bang tại Quận đó Một trong những trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ xem xét mọi tình tiết và hỏi lại chi tiết CQĐT để xem xét chứng cứ đã đủ để kết luận một tội phạm đã xảy ra hay không Nếu thấy chứng cứ chưa đủ cấu thành tội phạm, trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ yêu cầu CQĐT tiếp tục cuộc điều tra hoặc lựa chọn quyết định chuyển vụ việc cho Đại bồi thẩm đoàn (Grand Jury) và Đại bồi thẩm đoàn sẽ tiến hành điều tra vụ việc đó
Trang 27Nếu chứng cứ đã đủ, trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ trình bày vụ việc với Đại bồi thẩm đoàn và yêu cầu họ bỏ phiếu thông qua (hay phê chuẩn) quyết định khởi tố – coi như chính thức truy tố Tuy nhiên, trong một số trường hợp không đủ thời gian để trình bày với Đại bồi thẩm đoàn vì cần bắt giữ người phạm tội Trong những trường hợp đó, trợ lý Chưởng lý liên bang
sẽ yêu cầu Toà án ban hành lệnh bắt dựa trên một văn bản đề nghị (có tuyên thệ) trong đó nêu rõ các căn cứ tình tiết, chứng cứ về việc phạm tội của bị can Nếu, sau khi đã xem xét kỹ lưỡng, thẩm phán thấy rằng đã đủ căn cứ theo yêu cầu về chứng cứ, ông ta có thể ra lệnh bắt người đó Nếu lệnh bắt đã được ban hành theo thủ tục trên, Chưởng lý liên bang sau đó phải trình bày vụ việc với Đại bồi thẩm đoàn và phải có được quyết định phê chuẩn việc khởi tố từ Đại bồi thẩm đoàn
Việc bắt giữ: Trong hệ thống liên bang, một người có thể bị bắt sau khi Đại bồi thẩm đoàn đã phê chuẩn quyết định khởi tố (truy tố) về một tội phạm Như đã nêu trên, thẩm phán cũng có thể ra lệnh bắt trước khi có phán quyết phê chuẩn này Thông thường, trợ lý Chưởng lý liên bang sẽ đề nghị Toà án
ra lệnh bắt người có tên trong quyết định truy tố (của bồi thẩm đoàn) - lệnh bắt này không có ý nghĩa truy tố Phụ thuộc vào nhiều tình tiết mà sau khi bị bắt, bị can có thể được nộp tiền bảo lãnh để được tại ngoại hoặc bị tạm giam Những tình tiết này bao gồm (điều kiện): mức độ nghiêm trọng của vụ việc, tiền án, khả năng trốn Thẩm phán sẽ quyết định một người có bị tạm giam không hay được tại ngoại và nếu tại ngoại thì kèm theo điều kiện gì Những điều kiện này bao gồm cả yêu cầu bị can, hay người đại diện của bị can, phải đặt bao nhiêu tiền, tài sản và nếu trốn, tiền hoặc tài sản sẽ bị tịch thu
Ngay sau khị bị bắt, bị can sẽ được đưa tới một thẩm phán Thẩm phán
sẽ thông báo với bị can về việc bị truy tố, buộc tội và hỏi bị can nhận tội hay không nhận tội đã bị truy tố Quá trình này được gọi là: buộc tội.[46]; [47]
1.3.2 Cộng hoà Pháp
Nếu Anh, Mỹ là đại diện điển hình của nhóm các quốc gia theo hệ tốn tụng tranh tụng đối kháng thì ngược lại, đa số các quốc gia châu Âu theo truyền thống luật lục địa với hệ tố tụng thẩm cứu (Inquisitorial system) Cùng
với sự khác biệt của các nền văn hoá, tác giả Hein Kotz của cuốn sách Giới
thiệu về luật so sánh (nguyên bản tiếng Anh là Introduction to Comparative
Trang 28Law) đã phân chia Pháp vào nhóm các nước các quốc gia châu Âu thành ba nhánh lớn điển hình là (1) nhánh các nước Romance với Pháp, Ý, (2) Nhánh Giéc Manh với đại diện là Đức, Áo, Phổ và (3) là nhánh Bắc Âu với đại diện
là Thuỵ Điển, Đan mạch và các quốc gia khác nằm trên bán đảo Scandinavi
Mặc dù là điển hình của hệ tố tụng thẩm cứu nhưng luật tố tụng hình sự của Pháp khác với nhiều nước khác là có sự tham gia của thẩm phán điều tra, nhưng thẩm phán điều tra chỉ tham gia ở mức độ nhất định đối với các vụ án nghiêm trọng hay vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp về chứng cứ, cần phải thẩm định lại chứng cứ trước khi đưa vụ án ra xét xử trước tòa Theo qui định, thủ tục bắt buộc có thẩm phán điều tra là các vụ án có tội (a) đại hình, b) tiểu hình hoặc vi cảnh cấp độ 5 khi người phạm tội là vị thành niên hoặc c) vụ án
mà chưa biết rõ người phạm tội
Hoạt động điều tra của cảnh sát bị giám sát chỉ đạo chặt chẽ cả ở phía Viện công tố và thẩm phán điều tra trong các vụ án cần có thẩm phán điều tra Trong các hoạt động điều tra mà không có sự tham gia của thẩm phán điều tra, hoạt động điều tra đặt dưới sự giám sát chỉ đạo điều tra của cơ quan công
tố chỉ tập trung vào các hoạt động điều tra liên quan tới các biện pháp ngăn chặn, có thể xâm phạm tới tự do công dân Chẳng hạn, theo qui định, việc giám sát đối với thủ tục tạm giữ do Công tố viên thực hiện và việc kiểm soát
được thực hiện theo 3 cách thức Thứ nhất, cơ quan công tố phải tiến hành
kiểm tra một cách thường xuyên biên bản các cuộc thẩm vấn do cảnh sát lập
Thứ hai, thủ tục tạm giữ chỉ có thể được gia hạn từ 24 giờ đến 48 giờ theo
quyết định của Công tố viên khi có những dấu hiệu, tình tiết rõ ràng cho thấy
người bị tạm giữ đã phạm tội Cuối cùng, người bị tạm giữ có quyền được
công tố viên thẩm vấn tại thời điểm kết luận về việc tạm giữ
Đối với các vụ án có sự tham gia của thẩm phán điều tra, thẩm phán điều tra chỉ có vai trò bổ sung về mặt pháp lý, hay nói theo ngôn từ chuyên môn, là củng cố chứng cứ cho hoạt động điều tra, giúp cho việc thu thập chứng cứ và làm sáng tỏ hơn các tình tiết của các vụ án phức tạp, kết nối các yếu tố chứng cứ của quá trình điều tra cho phù hợp với quá trình xét xử tại toà Sự can thiệp của thẩm phán điều tra vào tiến trình điều tra cũng làm thuận lợi cho hoạt động điều tra khi cần thiết phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế
tố tụng và biện pháp ngăn chặn Ngoài ra, với sự tham gia của thẩm phán điều tra, các hoạt động điều tra được giám sát chặt chẽ và phải theo chỉ đạo của
Trang 29thẩm phán điều tra Cảnh sát tư pháp cũng phải tuân theo mọi chỉ đạo của thẩm phán điều tra như đối với các công tố viên Thẩm phán điều tra không thay thế cho cơ quan công tố trong giai đoạn tiền xét xử, hồ sơ vụ án sau khi điều tra phải chuyển lại hồ sơ cho cơ quan công tố để quyết định việc có truy
tố hay không
Quan điểm cho rằng Viện công tố chỉ đạo điều tra trong tố tụng hình sự của Pháp không hoàn toàn chuẩn xác vì các thẩm phán ở mức độ nào đó cũng chỉ đạo điều tra Nhưng có một điểm thống nhất và đúng trong cả 2 thủ tục điều tra của Pháp: Hoạt động điều tra mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật do cảnh sát tư pháp thực hiện, việc tham gia của cơ quan công tố hay tòa án chỉ có ý nghĩa giúp cho CQĐT củng cố về mặt chứng cứ, đảm bảo hoạt động điều tra
có kết quả; đặc biệt đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, Viện công
tố và Tòa án là cơ quan kiểm soát và quyết định việc áp dụng Viện công tố trong giai đoạn điều tra là cơ quan quyết định việc truy tố hay không truy tố dựa trên hồ sơ chứng cứ đã thu thập được, có chỉ đạo điều tra nhưng chỉ nhằm giám sát chặt chẽ hoạt động điều tra khi có việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn ảnh hưởng đến tự do công dân [45]; [48]
1.3.3 Cộng hoà liên bang Đức
Là quốc gia điển hình trong nhánh các quốc gia theo hệ thống luật châu
Âu lục địa - Đức-Áo-Phổ (Hein Kotz), Đức cũng là quốc gia được đánh giá là
có nền khoa học lập pháp hình sự và khoa học điều tra hình sự phát triển mạnh từ rất sớm Mặc dù các văn bản pháp luật của Đức quy định cơ quan công tố chỉ đạo cuộc điều tra và có quyền hướng dẫn cảnh sát nhưng trên thực
tế, cơ quan cảnh sát luôn điều tra một cách độc lập Có một đặc điểm trong tố tụng hình sự của Đức và giống với tố tụng hình sự Pháp là vai trò quan trọng của tòa án trong các hoạt động điều tra có cần đến các biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế tố tụng ảnh hưởng đến các quyền cơ bản của công dân Việc tạm giam trước khi xét xử phải do thẩm phán (không bắt buộc phải người tiến hành xét xử sau này) quyết định, phê chuẩn Việc thực hiện những thẩm quyền khác như bắt, tạm giữ, khám xét, thu giữ, khám người bị buộc tội hay một người khác hoặc nghe lén điện thoại trong những trường hợp rất đặc biệt
do chính cơ quan công tố ra lệnh, quyết định Quy định này nhằm đảm bảo chứng cứ được thu thập kịp thời và nếu đợi Tòa án quyết định, phê chuẩn theo
Trang 30quy trình thông thường thì có thể làm chứng cứ bị mất hoặc bị làm sai lệch… Tuy nhiên, việc áp dụng những biện pháp như vậy ngay sau đó phải được Toà
án (thẩm phán) kiểm soát bằng việc công nhận, phê chuẩn Hơn nữa, đối tượng bị áp dụng các biện pháp trên có thể yêu cầu tòa án ra quyết định, phán quyết về tính hợp pháp của việc áp dụng các biện pháp đó
Khi xem xét việc áp dụng một trong những biện pháp cưỡng chế tố tụng hay ngăn chặn trong hoạt động điều tra của CQĐT, cơ quan công tố phải làm văn bản đề nghị thẩm phán Toà án địa phương ra lệnh Lệnh phải được ban hành ngay khi có đủ chứng cứ chứng minh sự cần thiết tiến hành các biện pháp cưỡng chế, ngăn chặn đó Ở đây, thẩm phán không hành động theo quyền hạn tư pháp của Toà án mà thực hiện thẩm quyền mang tính tư pháp hành chính và không có quyền tự ý tiến hành điều tra, tìm hiểu Trường hợp tài liệu vụ án do Công tố viên cung cấp không đủ sức thuyết phục để ra lệnh
áp dụng các biện pháp đã nêu thì thẩm phán phải yêu cầu Công tố viên cung cấp thêm thông tin Nếu Công tố viên không thể cung cấp thêm thông tin, thẩm phán có thể từ chối việc áp dụng các biện pháp đó
Có thể thấy rằng việc cơ quan công tố giám sát, chỉ đạo hoạt động điều tra còn thông qua cơ chế là qui định về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
và cưỡng chế tố tụng trong quá trình điều tra Trong tố tụng hình sự của Đức, việc áp dụng các biện pháp này chủ yếu do Tòa án quyết định và cơ quan công tố là chủ thể có trách nhiệm đề xuất, kiến nghị với tòa án Thực chất các
đề xuất, kiến nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn hay cưỡng chế tố tụng của cơ quan công tố đều xuất phát từ hoạt động điều tra nhưng CQĐT không có thẩm quyền đề nghị trực tiếp mà phải thông qua cơ quan công tố - một cơ quan vừa giám sát hoạt động nghiệp vụ điều tra cụ thể, nắm được nhu cầu cần thiết phải
áp dụng các biện pháp ngăn chặn và lại vừa đảm bảo có đủ cơ sở pháp lý khi
Trang 31điều tra cho công tố viên Một câu hỏi có thể đặt ra: Cơ quan công tố liệu có khả năng để chỉ đạo điều tra không khi công tố viên được đào tạo hoàn toàn khác với ĐTV, chỉ có nghiệp vụ và kiến thức như một thẩm phán hay luật sư
Lý giải cho điều này có thể được sáng tỏ nếu xem xét thực tế: Các công tố viên ở các nước theo truyền thống công tố chỉ đạo điều tra (hệ tố tụng tranh tụng) không can thiệp vào các hoạt động, tác nghiệp điều tra cụ thể, mà là người định hướng, quyết định kết quả của cuộc điều tra có được sử dụng, có ý nghĩa để truy tố, để bảo vệ cáo trạng trước tòa hay không Hầu hết các hoạt động điều tra và các vụ án do cảnh sát điều tra thực hiện, công tố viên chỉ có vai trò định hướng, dẫn dắt, tư vấn pháp lý và cũng là người quyết định có sử dụng kết quả của các hoạt động điều tra khi quyết định truy tố/không truy tố Ngay cả đối với các vụ án mà công tố viên thực hiện điều tra từ đầu, tự điều tra, cơ quan công tố cũng không tự đi khám xét, theo dõi đối tượng tình nghi, bắt giữ, nghe trộm điện thoại… mà những hoạt động này cảnh sát thực hiện theo lệnh và hướng dẫn của công tố viên Đây là một đặc điểm khác biệt của
tố tụng thẩm cứu so với tố tụng tranh tụng xét ở khía cạnh thẩm quyền, trách nhiệm và sự can thiệp của cơ quan công tố đối với hoạt động điều tra Cơ quan công tố của tố tụng tranh tụng không can thiệp, không “chỉ đạo” CQĐT, việc điều tra do CQĐT thực hiện, sau đó chuyển sang cơ quan công tố, cơ quan công tố chỉ “phán quyết” đối với hồ sơ vụ việc và quyết định có cần điều tra bổ sung, truy tố hay không truy tố Các biện pháp ngăn chặn do tòa án quyết định, cơ quan công tố đưa ra quyết định truy tố và nếu truy tố thì bảo vệ cáo trạng trước tòa Cơ quan công tố không can thiệp và cũng không chịu trách nhiệm về hoạt động điều tra, cũng không chịu trách nhiệm đối với việc
áp dụng các biện pháp ngăn chặn Thẩm quyền đi liền với trách nhiệm, cơ quan công tố của tố tụng thẩm cứu chịu trách nhiệm về mọi hoạt động điều tra của CQĐT nhưng pháp luật trao cho công tố viên có thẩm quyền ra lệnh, chỉ đạo trực tiếp lực lượng cảnh sát, thậm chí theo quan hệ chỉ đạo – chấp hành, mặc dù về mặt tổ chức các chủ thể này thuộc hai cơ quan hoàn toàn khác nhau
- Việc áp dụng các biện pháp ngặn do Tòa án quyết định, công tố viên
là người đề xuất, kiến nghị với tòa án Tòa án là cơ quan quyết định việc áp dụng các biện pháp ngặn của CQĐT cũng như cơ quan công tố Đây là một đặc điểm có thể nói là phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới nhằm đảm
Trang 32bảo các quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo được bảo vệ tối đa, tránh việc áp dụng một cách không công bằng khi các cơ quan này thực hiện việc điều tra và buộc tội Cơ quan công tố chịu trách nhiệm về các hoạt động điều tra và cũng có trách nhiệm đề nghị với Tòa án về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn Quy định này vừa gắn trách nhiệm cho cơ quan công tố phải theo dõi tiến độ, kiểm soát được các hoạt động điều tra, thấy được nhu cầu cần thiết phải áp dụng và cũng qua đó đảm bảo cho cơ quan công tố thẩm quyền chi phối, chỉ đạo hoạt động điều tra
- Cơ quan công tố có thể áp dụng trực tiếp các biện pháp cưỡng chế tố tụng hoặc phê chuẩn các đề xuất áp dụng các biện pháp này do CQĐT thực hiện, nhưng ngay sau đó, cơ quan công tố phải quyết định ngay để trình ra tòa
án quyết định cuối cùng Các biện pháp cưỡng chế tố tụng cũng giống như các biện pháp ngăn chặn, có thể ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của ngừoi bị áp dụng, tuy nhiên vì gắn với hoạt động điều tra, phục vụ ngay hoạt động điều tra, mang tính cấp thiết cao, và mức độ ảnh hưởng tới người bị áp dụng cũng không nghiêm trọng bằng, pháp luật của hầu hết các nước trên đều cho phép cơ quan công tố ra quyết định áp dụng ngay hay phê chuẩn ngay quyết định của CQĐT Tuy vậy, qua thực tế như đã mô tả trên đây có thể thấy rằng, những quốc gia cho phép cơ quan công tố áp dụng hay phê chuẩn ngay, sau đó mới chuyển cho tòa án phê chuẩn lần cuối đều đặt trách nhiệm cao đối với cơ quan công tố, và cũng giao cho cơ quan công tố nhiều quyền hạn trong quan hệ với CQĐT, chủ yếu ở các quốc gia theo mô hình cơ quan công tố chỉ đạo điều tra như mô hình ở các nước châu Âu lục địa
Tiểu kết chương 1
Thông qua nghiên cứu các vấn đề chung về thủ tục phê chuẩn của VKS đối với các lệnh, quyết định của CQĐT đã giúp ta có được sự nhìn nhận khái quát về viêc phê chuẩn trong tố tụng hình sự Phê chuẩn trong tố tụng hình sự
là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền xác nhận tính hợp pháp của các quyết định, lệnh, hành vi của CQĐT Quyền phê chuẩn của VKS đối với các quyết định, lệnh, hành vi mang tính cưỡng chế của CQĐT là xuất phát từ chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan trong tố tụng hình sự Việt Nam; trong
đó VKS là cơ quan thực hành quyền công tố, còn CQĐT có chức năng điều
Trang 33áp dụng diễn ra trong phạm vi pháp luật cho phép
Lịch sử Luật tố tụng hình sự của Nhà nước cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến nay cũng đã sớm có những quy định về quyền phê chuẩn của các cơ quan tư pháp đối với một số biện pháp cưỡng chế do CQĐT hoặc tiền thân của CQĐT thực hiện Điều đó thể hiện tính chất tiến bộ và sự quan tâm của chính quyền cách mạng Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân Kết quả nghiên cứu sơ lược về hoạt động phê chuẩn chuẩn trong tố tụng hình sự một số nước điển hình trên thế giới cho thấy hầu hết các nước cũng đều quy định quyền quyết định áp dụng hoặc phê chuẩn thực hiện các biện pháp cưỡng chế trong điều tra hình sự thuộc về các cơ quan tư pháp,
có thể là Toà án, VKS hay cơ quan công tố
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với quan điểm tăng cường vai trò của VKS trong giai đoạn điều tra,
đã quy định tương đối đầy đủ, cụ thể về quyền phê chuẩn của VKS đối với một số lệnh, quyết định, hành vi của CQĐT, chúng tôi sẽ đề cập cụ thể các quy định này và thực tiễn thực hiện quy định đó ở chương tiếp theo
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ CẦN CÓ SỰ PHÊ CHUẨN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) đã dành hẳn một chương, Chương III: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng để quy định về các chủ thể được nhà nước giao thẩm quyền tiến hành giải quyết vụ án hình sự Đối với nhóm chủ thể là người tiến hành tố tụng, Bộ luật này có quy định rõ tất cả các chủ thể là người tiến hành tố tụng thuộc cả ba cơ quan (đã được đề cập ở chương 1 của luận văn) và trong chương III cũng có các điều luật riêng quy định cụ thể các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự [các Điều 33-37; 4] Tuy nhiên trong BLTTHS chưa có chế định riêng hệ thống hoá các nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi chủ thể cơ quan tiến hành tố tụng mà chỉ có các quy định rời rạc về các nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan này tại mỗi giai đoạn tố tụng hoặc các nhiệm vụ và quyền hạn của những người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan
đó Do đó, khi xem xét các quyền hạn và nhiệm vụ của mỗi cơ quan tiến hành
tố tụng theo quy định tại Bộ luật này, chúng ta có thể nghiên cứu các nhiệm
vụ quyền hạn của các chủ thể là người tiến hành tố tụng thuộc mỗi cơ quan tương ứng cũng như các quy định về quyền hạn và thẩm quyền của các cơ quan này trong các Luật tổ chức như Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm
2002, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 Theo quy định của BLTTHS thì trong CQĐT, có hai nhóm chủ thể là người tiến hành tố tụng trong các vụ án hình sự đó là: (i) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT và (ii) ĐTV Như vậy, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT trong tố tụng hình sự sẽ được thể hiện trong các quy định về các nhiệm vụ quyền hạn của các chủ thể này Mặc dù vậy trong quy định của BLTTHS vẫn chưa có sự phân tách rõ ràng giữa thẩm quyền hành chính và
Trang 35thẩm quyền tố tụng của các chủ thể là người tiến hành tố tụng Đây cũng là một điểm mà các nhà nghiên cứu cũng cần lưu ý khi xem xét các nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT cũng như của các cơ quan tiến hành tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Theo đó, ngoài các quyền hạn thuộc nhóm thẩm quyền hành chính, khi thực hiện việc điều tra vụ án hình sự, CQĐT có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định không khởi tố vụ án; quyết định nhập hoặc tách vụ án;
- Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn;
- Quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản,
xử lý vật chứng;
- Quyết định trưng cầu giám định, quyết định khai quật tử thi;
- Kết luận điều tra vụ án;
- Quyết định tạm đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định phục hồi điều tra;
- Trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của CQĐT
- Lập hồ sơ vụ án hình sự;
- Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- Quyết định áp giải bị can, quyết định dẫn giải người làm chứng;
- Thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản;
- Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra;
- Tiến hành các hoạt động điều tra khác thuộc thẩm quyền của CQĐT theo sự phân công của Thủ trưởng CQĐT [Điều 34 khoản 2, Điều 35; 4]
Theo đó, các hoạt động do CQĐT tiến hành hay còn được coi là nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT
Như vậy, các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT rất nhiều, nhưng không phải hoạt động nào cũng cần phải có sự phê chuẩn của VKS Theo quy định của BLTTHS thì chỉ có các hoạt động sau
Trang 36đây của CQĐT cần phải có sự phê chuẩn của VKSND:
Lệnh bắt khẩn cấp
Quyết định gia hạn tạm giữ
Quyết định khởi tố bị can
Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can
Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can
Lệnh tạm giam
Lệnh bắt bị can để tạm giam
Quyết định đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
Lệnh khám xét
Lệnh thu giữ điện tín, bưu kiện bưu phẩm
Lệnh kê biên tài sản (phải được thông báo ngay cho VKS cùng cấp trước khi thi hành) [các điều 80-81, 86, 88, 93, 126, 127, 140-146; 4]
2.1.1 Thủ tục phê chuẩn các lệnh bắt của Cơ quan điều tra
Bắt là một trong những hình thức thể hiện của của biện pháp ngăn chặn; khởi đầu cho cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn tiếp theo Bắt người là biện pháp ngăn chặn mang tính đặc thù được áp dụng liền trước các biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam; làm hạn chế một số quyền tự do của cá nhân người bị bắt Bắt là biện pháp ngăn chặn nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trốn tránh pháp luật, nhằm tạo điều kiện bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi Bắt là biện pháp có tính cưỡng chế nghiêm khắc cao như vậy, nên việc thực hiện phải tuân thủ theo các quy định chặt chẽ của pháp luật về căn cứ, trình tự, thủ tục Nếu bắt không theo quy định của pháp luật, bắt oan sai sẽ gây tác hại rất lớn, không những quyền bất khả xâm phạm của con người bị xâm hại; quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị vi phạm mà còn ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật Từ đó ảnh hưởng xấu đến lòng tin của nhân dân vào pháp luật và các cơ quan bảo vệ pháp luật Do
đó, khi áp dụng các biện pháp bắt, bên cạnh việc thể hiện thái độ kiên quyết đấu tranh chống tội phạm thì phải xem xét rất thận trọng Bộ luật tố tụng hình
sự Việt Nam hiện hành quy định 3 trường hợp bắt là: bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt bị can,
bị cáo để tạm giam Trong đó bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy
Trang 37nã là trường hợp không cần phải tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà bất kỳ ai cũng có quyền bắt Chính vì vậy luật tố tụng hình sự cũng không quy định thủ tục phê chuẩn các trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã Pháp luật tố tụng hình sự chỉ quy định hai trường hợp bắt phải được phê chuẩn là bắt bị can để tạm giam và bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp bắt thể hiện tính chất đặc biệt cấp bách của việc ngăn chặn tội phạm Nếu không tiến hành bắt ngay thì người đó sẽ gây tổn thất nghiêm trọng cho nhà nước, xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ và sở hữu của công dân hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, trốn tránh pháp luật Tuy nhiên, để không để lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội, đảm bảo các quyền lợi ích hợp pháp của công dân, khi thực hiện bắt khẩn cấp những người có thẩm quyền phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về bắt khẩn cấp
Do tính chất của việc bắt khẩn cấp là cần phải thực hiện ngay, đảm bảo tính nhanh chóng, nên lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp không đòi hỏi phải có sự phê chuẩn trước của VKS Nhưng để đảm bảo việc bắt khẩn cấp có căn cứ và đúng pháp luật, BLTTHS quy định ngay sau khi bắt người,
cơ quan ra lệnh bắt phải báo ngay cho VKS cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu có liên quan đến việc bắt khẩn cấp để VKS nghiên cứu, xem xét và quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Để việc phê chuẩn chính xác, trước hết VKS phải nghiên cứu xem việc bắt có thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 81 BLTTHS hay không Đó là các trường hợp:
Trường hợp thứ nhất: khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn
bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi hoặc kiểm tra, xác minh các nguồn tin biết ngưới đó đang bí mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nên cần phải bắt ngay trước khi tội phạm được thực hiện
Trường hợp thứ hai: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội
Trang 38phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn Trong trường hợp này tội phạm đã xảy ra và đã được phát hiện trên thực tế, nhưng người thực hiện tội phạm không bị bắt ngay Sau một thời gian, người bị hại hoặc người
có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và đã xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm Nếu CQĐT xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn thì ra lệnh bắt khẩn cấp
Trường hợp thứ 3: Khi có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa đủ tài liệu chứng cứ để xác định người thực hiện tội phạm Nhưng qua việc phát hiện dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ thì bắt khẩn cấp
Ngoài việc căn cứ vào các trường hợp trên, VKS còn phải căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về cấu thành tội phạm đối với hành vi
mà người bị bắt đã thực hiện, đối chiếu với luật tố tụng hình sự để quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Khi phê chuẩn VKS phải có đủ hồ sơ tài liệu để xem xét quyết định Hồ sơ xin phê chuẩn bắt khẩn cấp, ngoài các văn bản thể hiện quyết định của CQĐT như lệnh bắt khẩn cấp thì các tài liệu phải thể hiện được trường hợp bắt thuộc một trong 3 trường hợp cụ thể như đã nêu trên; chứng cứ xác định người bị bắt có hành vi chuẩn bị thực hiện một tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự hoặc đã có sự kiện tội phạm nào đó xảy ra trên thực tế; tài liệu thể hiện việc người đó có thể trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ nếu bắt thuộc trường hợp thứ 2 hoặc thứ 3; các tài liệu thể hiện kết quả thực hiện lệnh bắt như biên bản bắt, BLTTHS quy định trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoăc không phê chuẩn
Riêng đối với trường hợp bắt khẩn cấp mà người có thẩm quyền ra lê ̣nh bắt khẩn cấp là “Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi các phương tiện này đã rời khỏi sân bay, bến cảng” thì quy định của BLTTHS hiện hành vẫn còn chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu tính khả thi
Thứ nhất là về yêu cầu phải thông báo ngay cho VKS bằng văn bản kèm tài liệu để phê chuẩn việc bắt khẩn cấp thì khi các phương tiện này đã rời khỏi sân bay, bến cảng thì việc báo ngay và chuyển các tài liệu để phê chuẩn
Trang 39theo cách hiểu thông thường là chuyển trực tiếp và phê chuẩn trực tiếp là không khả thi trong khi BLTTHS và các văn bản hướng dẫn chưa quy định việc thông báo và chuyển các thông tin, tài liệu trên thông qua các phương tiện truyền tin hiện đại như điện thoại, fax Vậy nếu không thông báo ngay thì có bị coi là có vi phạm thủ tục tố tụng không? Đây là điều mà Bộ luật sửa đổi cần dự liệu
Về yêu cầu “thông báo ngay” theo quy định tại Điều 81 BLTTHS, mặc
dù các quy định của BLTTHS hiện hành cũng như các văn bản hướng dẫn chưa có giới hạn thời gian cho việc thông báo “ngay” là trong vòng bao nhiêu lâu song nếu tham chiếu đến các điều luật quy định về các hoạt động cần tiến hành sau khi bắt khẩn cấp thì trong vòng 24 giờ sau khi nhận người bị bắt, CQĐT phải ra lệnh tạm giữ hình sự hoặc trả tự do cho người bị bắt Như vậy,
có thể hiểu là việc “thông báo ngay” này bị giới hạn bởi tối đa là 24 giờ là khoảng thời gian để ra lệnh tạm giữ hình sự sau khi bắt khẩn cấp Trong thực
tế, khi các phương tiện đã rời khỏi sân bay, bến cảng, việc quay trở lại sân bay, bến cảng Việt Nam gần nhất ngay lập tức và tới nơi trong một thời gian ngắn là không khả thi trong nhiều trường hợp nên nhà làm luật mới dự liệu trường hợp này và cho phép người chỉ huy tàu bay, tàu biển được phép tiến hành bắt khẩn cấp và tạm giữ hình sự các đối tượng này trong các trường hợp đặc biệt Do vậy, tuy khoảng thời gian 24 giờ không phải là ngắn nhưng trong nhiều trường hợp cũng không khả thi Nếu không có sự điều chỉnh về khoảng thời gian này, trong trường hợp thông tin chuyển đến VKS để phê chuẩn việc bắt khẩn cấp chậm hơn 24 giờ (là khoảng thời gian tối đa để ra quyết định tạm giữ hình sự sau khi bắt khẩn cấp) thì có bị coi là vi phạm tố tụng không, lệnh bắt khẩn cấp đó có được xem xét phê chuẩn (quá hạn) không? Đồng thời việc này cũng kéo theo một hệ quả là đối với các trường hợp bắt khẩn cấp trên các phương tiện tàu bay, tàu biển nói trên, nhưng mãi tới khi gần hết thời hạn tạm giữ hình sự mới chuyển được người bị bắt đến CQĐT và chuyển tài liệu cho VKS để phê chuẩn bắt khẩn cấp nhưng VKS không phê chuẩn việc bắt đó thì thời gian bị tạm giữ hình sự có bị coi là “sai” trong tố tụng hình sự không vì trường hợp này việc tạm giữ thiếu điều kiện tiên quyết để có thể tạm giữ hình
sự chính là việc người đó bị bắt khẩn cấp hợp pháp Đây cũng là trường hợp cần dự liệu trong lần sửa đổi mới
Bên cạnh đó, khi xem xét phê chuẩn các trường hợp bắt khẩn cấp mà
Trang 40chủ thể ra lệnh bắt là Người chỉ huy tàu bay, tàu biển nói trên, các Kiểm sát viên (KSV) cần lưu ý đến thẩm quyền theo lãnh thổ trong tố tụng hình sự Khi bàn đến trường hợp này, cần lưu ý đến quy định tại Điều 2 BLTTHS:
Mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này
Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công dân nước thành viên của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế đó
Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc theo tập quán quốc tế, thì vụ án được giải quyết bằng con đường ngoại giao [Điều 2; 4]
Đồng thời, trong BLTTHS cũng chưa có quy định về phân định thẩm quyền theo lãnh thổ đối với các cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra mà chỉ có quy định về phân định thẩm quyền theo lãnh thổ đối với Toà án
Do vậy, khi xem xét xác định đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết (theo lãnh thổ) cũng có thể tham chiếu đến quy định của Bộ luật này về việc xác định Toà án có thẩm quyền giải quýêt vụ việc theo lãnh thổ Tại Điều 172 BLTTHS quy định:
“Những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam, nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký.”
Căn cứ vào các quy định này, có thể thấy rằng việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về phê chuẩn bắt khẩn cấp được tiến hành đối với:
- Các trường hợp bắt khẩn cấp trên lãnh thổ Việt Nam trong đó có các trường hợp bắt khẩn cấp trên các tàu bay, tàu biển (của Việt Nam hoặc quốc tế) đã rời khỏi sân bay, bến cảng nhưng vẫn đang thuộc vùng lãnh thổ Việt