1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Điều trị chậm động dục ở bò sữa bằng hóc môn sinh sản

7 182 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 469,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự chậm động dục do sai hỏng chu kỳ động dục ở bò làm giảm hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi Việt Nam. Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ bò tơ chậm lên giống (> 26 tháng tuổi) là 63,22%. Trong khi đó, tỷ lệ chậm sinh lại (thời gian động dục lại > 5 tháng sau khi sinh con) ở những bò cái là 40,99%. Để điều trị sự trì hoãn động dục trên, các hóc môn sinh sản gồm Progesterone (PG), Gonadotropin-releasing hormone (GnRH), Pregnant Mare Serum Gonadotropin (PMSG), Human chorionic gonadotropin (hCG), Estradiol Benzoate (EB) và thể mang hóc môn sinh sản gồm Synchromate B (SMB) cấy tai và vòng Cue-Mate cấy âm đạo đã được dùng. Có 5 công thức được thiết kế từ các hóc môn và thể mang này. Công thức I gồm PG + GnRH (tiêm cơ lần 1) và PG + GnRH (tiêm cơ lần 2) cách nhau 9 ngày. Công thức II gồm PG (tiêm cơ lần 1) và PG + PMSG (tiêm cơ lần 2) cách nhau 9 ngày. Công thức III gồm PG (tiêm cơ lần 1) và PG + hCG (tiêm cơ lần 2) cách nhau 9 ngày. Công thức IV gồm SMB (cấy vào tai) + EB (tiêm cơ lần 1) và PG + PMSG (tiêm cơ lần 2) cách nhau 7 ngày và 9 ngày sau đó, SMB được tháo bỏ. Công thức 5 gồm vòng Cue-Mate (cấy vào âm đạo) + EB (tiêm cơ lần 1) và PG + PMSG (tiêm cơ lần 2) cách nhau 7 ngày và 9 ngày sau đó, vòng Cue-Mate được tháo bỏ. Đối với bò cái chậm động dục lại, công thức I, II, III, IV và V cho tỷ lệ động dục lại tương ứng là 94,82%, 88,46%, 90%, 100% và 100% và tỷ lệ có thai tương ứng là 89,66%, 80,77%, 82%, 96%, và 82,14%. Công thức IV cho thấy, hiệu quả đạt được cao nhất nhưng giá thành cao. Trong khi đó, công thức V lại gây viêm âm đạo (62,50%) sau khi cấy vòng Cue-Mate.

Trang 1

ĐIỀU TRỊ CHẬM ĐỘNG DỤC Ở BÒ SỮA BẰNG HÓC MÔN SINH SẢN

Hoàng Nghĩa Sơn

Viện Sinh học nhiệt đới, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, hoangnghiason@yahoo.com

TÓM TẮT: Sự chậm động dục do sai hỏng chu kỳ động dục ở bò làm giảm hiệu quả kinh tế cho ngành

chăn nuôi Việt Nam Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ bò tơ chậm lên giống (> 26 tháng tuổi) là 63,22% Trong khi đó, tỷ lệ chậm sinh lại (thời gian động dục lại > 5 tháng sau khi sinh con) ở những bò cái là 40,99% Để điều trị sự trì hoãn động dục trên, các hóc môn sinh sản gồm Progesterone (PG), Gonadotropin-releasing hormone (GnRH), Pregnant Mare Serum Gonadotropin (PMSG), Human chorionic gonadotropin (hCG), Estradiol Benzoate (EB) và thể mang hóc môn sinh sản gồm Synchromate

B (SMB) cấy tai và vòng Cue-Mate cấy âm đạo đã được dùng Có 5 công thức được thiết kế từ các hóc môn và thể mang này Công thức I gồm PG + GnRH (tiêm cơ lần 1) và PG + GnRH (tiêm cơ lần 2) cách nhau 9 ngày Công thức II gồm PG (tiêm cơ lần 1) và PG + PMSG (tiêm cơ lần 2) cách nhau 9 ngày Công thức III gồm PG (tiêm cơ lần 1) và PG + hCG (tiêm cơ lần 2) cách nhau 9 ngày Công thức IV gồm SMB (cấy vào tai) + EB (tiêm cơ lần 1) và PG + PMSG (tiêm cơ lần 2) cách nhau 7 ngày và 9 ngày sau đó, SMB được tháo bỏ Công thức 5 gồm vòng Cue-Mate (cấy vào âm đạo) + EB (tiêm cơ lần 1) và PG + PMSG (tiêm cơ lần 2) cách nhau 7 ngày và 9 ngày sau đó, vòng Cue-Mate được tháo bỏ Đối với bò cái chậm động dục lại, công thức I, II, III, IV và V cho tỷ lệ động dục lại tương ứng là 94,82%, 88,46%, 90%, 100% và 100% và tỷ lệ có thai tương ứng là 89,66%, 80,77%, 82%, 96%, và 82,14% Công thức IV cho thấy, hiệu quả đạt được cao nhất nhưng giá thành cao Trong khi đó, công thức V lại gây viêm âm đạo (62,50%) sau khi cấy vòng Cue-Mate Đối với bò tơ chậm biểu hiện động dục lần đầu, công thức I cho tỷ

lệ động dục và tỷ lệ có thai 3 tháng là cao nhất (tương ứng là 97,22% và 86,11%) Kết quả trên cho thấy,

có thể áp dụng công thức I cho việc điều trị sự trì hoãn động dục ở cả bò tơ và bò cái sau khi sinh con

Từ khóa: bò sữa, mang thai, động dục, chu kỳ, hóc môn sinh sản

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, tình hình chăn

nuôi bò sữa nói riêng và chăn nuôi bò nói chung

đang gặp phải một số vấn đề khó khăn về khả

năng sinh sản của đàn bò cái Tỷ lệ sinh sản của

đàn bò được nuôi nhỏ lẻ trong nhân dân cũng

như được nuôi theo qui mô lớn trong các trang

trại chăn nuôi tư nhân và quốc doanh còn khá

thấp Những rối loạn về sinh sản như chậm lên

giống (chưa lên giống sau 26 tháng tuổi), nân

sổi (chưa lên giống sau 30 tháng tuổi), chậm

động dục lại (trên 5 tháng sau khi đẻ), rối loạn

chu kỳ sinh sản, đẻ sót nhau, viêm nhiễm cơ

quan sinh dục đã làm giảm hiệu quả kinh tế

trong chăn nuôi Ví dụ, khoảng cách giữa 2 lứa

đẻ ở bò là khoảng từ 60 đến 100 ngày Nếu

khoảng cách này càng tăng thì tổn thất về kinh

tế càng lớn do ảnh hưởng trực tiếp của nó đến

năng suất sữa của chu kỳ đang vắt và của chu

kỳ tiếp theo sau và số bê được sinh ra trên một

đầu bò cái Cùng với đó là giảm tiến độ di

truyền của toàn đàn [6]

Theo một số tác giả [6] ở công ty Hóa dược

Intervet vào năm 2000, ở bò sữa giống thuần,

rất hiếm có con động dục lại 45 ngày sau khi đẻ Trong vòng từ 60 đến 90 ngày sau khi đẻ, động dục tự nhiên chỉ xảy ra ở tỷ lệ 1/3 của toàn đàn Nếu thụ tinh đạt 70% thì chỉ có khoảng 25% số

bò được thụ thai Vì vậy, muốn duy trì khoảng cách giữa hai lứa đẻ từ 12 đến 13 tháng (khoảng

1 lứa/năm), việc chủ động gây động dục và rụng trứng sau khi đẻ và chủ động dẫn tinh là điều cần thiết

Nhìn chung, việc chủ động gây động dục để rút ngắn thời gian giữa hai lứa đẻ ở bò và đặc biệt là bò sữa chưa trở thành một khâu ổn định trong kỹ thuật chăn nuôi ở Việt Nam Các biện pháp xử lý hóc môn chỉ được tiến hành khi sự chậm sinh sản đã chuyển sang giai đoạn bệnh

lý Thêm vào đó, do việc sử dụng hóc môn còn chưa có một quy trình cụ thể, nên thiệt hại và những bất trắc do sử dụng hóc môn không hợp

lý gây ra cũng khá lớn

Trong nghiên cứu này, tình hình chậm sinh,

vô sinh và chậm động dục lại sau khi có thai ở

bò tại một số xí nghiệp và trại ở Long Thành và

Củ Chi đã được điều tra và phân tích Trên cơ

sở đó, một số công thức hóc môn sinh sản đã

Trang 2

được dùng để thử nghiệm nhằm can thiệp và tìm

ra hướng khắc phục để giảm thiểu thiệt hại cho

người chăn nuôi

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Điều tra và phân loại tình hình chậm sinh

sản trên bò

Có 2 đối tượng bò được khảo sát gồm bò tơ

và bò cái chậm động dục lại sau khi sinh đẻ

Các phương pháp điều tra sử dụng

Điều tra trên sổ sách, phỏng vấn các hộ gia

đình, quan sát ngoại hình và điều kiện nuôi,

khám tử cung và buồng trứng, và khám thai

(nếu có)

Sử dụng các công thức hóc môn sinh sản

Các loại hóc môn và thể mang hóc môn

Progesterone (PG): có tên thương mại là

Prosolvin (Italia), Lutalyse (Singapore),

Hanprost (Việt Nam), liều dùng 15 mg, tiêm cơ

Synchromate B (SMB): là một dạng thuốc

cấy vào tai có thành phần dược chất là

norgestomet (6 mg), một loại dẫn xuất của

progesterone nhưng có hoạt tính cao hơn, không

dễ phân hủy trong điều kiện nhiệt độ thường

Gonadotropin-releasing hormone (GnRH):

có tên thương mại là Suprefact hay Buserelin

(Italia), dùng liều 100 µg, tiêm cơ

Pregnant Mare Serum Gonadotropin

(PMSG) có tên thương mại là Folligon

(Canada): hóc môn huyết thanh ngựa chửa tinh

sạch Liều dùng 500 IU, tiêm cơ

Human chorionic gonadotropin (hCG): có

tên thương mại là Corulon (Italia), liều dùng

1000 IU, tiêm cơ

Estradiol Benzoate (EB): liều dùng 7,5 mg,

tiêm cơ

Vòng Cue-Mate: chứa progesterone được

giải phóng ra từ từ Vòng được đặt trong âm

đạo

Thử nghiệm các quy trình hóc môn sinh sản

Công thức I: PG+GnRH - PG+GnRH (theo

phương pháp Ovsynch) Mũi tiêm đầu tiên chứa

PG và GnRH Sau 9 ngày, tiêm lặp lại hỗn hợp

PG và GnRH ở nồng độ tương tự

Công thức II: PG - PG+PMSG PG được

tiêm ở mũi thứ nhất ở pha hoàng thể hoặc sau động dục ít nhất 3 ngày Sau 9 ngày tiêm mũi thứ 2 chứa PG kết hợp với PMSG

Công thức III: PG - PG+hCG (phương pháp của Lê Văn Ty) PG được tiêm ở pha hoàng thể hoặc sau động dục ít nhất 3 ngày Sau 9 ngày, tiêm tiếp mũi PG thứ 2 kết hợp với 1.000 UI hCG (tiêm cơ)

Công thức IV: SMB+EB - PG+PMSG (phương pháp của Lê Văn Ty) SMB được cấy vào tai vào thời điểm sau động dục ít nhất 3 ngày Cùng lúc này EB được tiêm vào cơ Sau 7 ngày, tiêm PG kết hợp với PMSG Công thức này cũng có thể áp dụng cho các bò không có chu kỳ hoặc rối loạn chu kỳ sinh sản Đến ngày thứ 9, viên cấy tai SMB được tháo bỏ

Công thức V: Cue-Mate+EB - PG+PMSG Vòng Cue-mate được đặt âm đạo tốt nhất sau động dục ít nhất 3 ngày Cùng lúc đó tiêm Estradiol Benzoate Đến ngày thứ 7 thì tiêm PG kết hợp với PMSG Ngày thứ 9, vòng Cue-mate được tháo bỏ

Các thí nghiệm thực hiện đối với các quy trình

đã đề ra

Đối với bò bình thường và chủ động gây động dục: thử nghiệm tất cả các công thức đối với bò có chu kỳ tự nhiên từ 2-4 tháng (thời gian tính từ sau khi đẻ và chưa lên giống lại)

Bò có thể trạng bình thường, không bị viêm nhiễm đường sinh dục, buồng trứng phát triển,

và tử cung đàn hồi Do không thể chủ động tất

cả bò trong một đợt để phân lô, vì vậy, chúng tôi tiến hành theo từng đợt và tùy thuộc vào tình hình thực tế của các trại chăn nuôi

Đối với bò tơ sau 30 tháng chưa lên giống: những con bò được chọn đã có từ 30 tháng tuổi đến 40 tháng tuổi mà chưa lần nào phối giống

Sử dụng công thức 1, công thức 2 và công thức

3 Mỗi lô thử nghiệm có từ 10 bò trở lên

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Điều tra và xác định các dạng chậm sinh

Thời gian xuất hiện động dục ở bò tơ

68 bò sữa tơ từ 18 tháng tuổi trở lên tại xí nghiệp bò sữa An Phước (Long Thành), trại bò Năm Trí (Long Thành) và xí nghiệp bò sữa An Phú (Củ Chi) đã được khảo sát Kết quả được trình bày ở bảng 1

Trang 3

Bảng 1 Tình hình lên giống lần đầu ở bò tơ

Tuổi xuất hiện động dục lần đầu Số bò tơ Tỷ lệ (%)

Trong chăn nuôi bò sữa, nếu sau 26 tháng

tuổi mà bê chưa động dục thì coi như là đã

muộn và hiệu quả kinh tế sẽ bị ảnh hưởng Vì

vậy, ở những trường hợp muộn động dục này,

bê được khám và sau đó được tiêm hóc môn

sinh sản

Theo kết quả trên thì tỷ lệ bê chậm lên

giống hiện nay là khá cao: 31/68 = 45,58% (tính

từ 26 tháng tuổi trở lên) Còn nếu sau 30 tháng

tuổi mà bê chưa lên giống thì có thể liệt chúng

vào diện nân sổi, với tỷ lệ 17,64%

Nguyên nhân có thể là do chất lượng giống

(tỷ lệ máu ngoại cao, do lai với giống bò ngoại,

nên khả năng thích nghi giảm xuống), tình hình

nuôi dưỡng (chuồng trại, thức ăn, dinh dưỡng

chưa phù hợp với yêu cầu), do kỹ thuật phát

hiện động dục của người chăn nuôi chưa tốt

(động dục không thể hiện rõ ra ngoài) Để tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, cần có biện pháp giúp bê bị muộn động dục hoặc nân sổi này có được sự động dục bình thường trở lại Vì vậy, can thiệp hóc môn sinh sản là phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này

Chu kỳ động dục lại ở bò mẹ sau sinh sản (thời gian bò chưa động dục lại tính từ lúc bò đẻ đến thời điểm khám)

Đã khảo sát trên 161 bò (trong tổng đàn 305 con) chưa có thai lại sau khi đẻ trong cùng thời gian điều tra tại xí nghiệp bò sữa An Phước (Long Thành), trại bò Năm Trí (Long Thành), trại bò Tài Lộc (Củ Chi) Kết quả được trình bày ở bảng 2

Bảng 2 Thời gian động dục lại tại thời điểm điều tra

Thời gian động dục lại từ lúc

đẻ đến thời điểm khám Số bò (con)

Tỷ lệ (%) so với số

bò tự do

Tỷ lệ (%) so với tổng đàn

Thông thường, sau khi đẻ từ 2-3 tháng là bò

mẹ đã có khả năng có chửa lại Nếu thời gian

động dục lại từ 5 tháng trở lên là đã có ảnh

hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi Chi phí mỗi

tháng phải trả cho thời gian muộn này là chi phí

bỏ không (gồm công chăm sóc, thức ăn, chuồng

trại, con giống ) Sau khi đẻ 4 tháng mà bò mẹ

vẫn chưa lên giống lại hoặc lên giống nhưng

gieo tinh không có kết quả tốt thì lúc này cần có

can thiệp bằng cách tìm nguyên nhân và sử

dụng hóc môn kích dục

Đàn bò có tỷ lệ chậm sinh cao thể hiện ở thời gian tự do 5-6 tháng là 38/161 (23,60%), từ 7-10 tháng là 13/161 (8,07%), trên 10 tháng là 15/161 (9,32%) tương đương 4,92% so với tổng đàn Nếu thời gian động dục lại từ 2 đến 4 tháng

là chấp nhận được thì thời gian động dục lại trên

5 tháng đã nằm ngoài khoảng cho phép và gây thiệt hại kinh tế đối với thu nhập cả về sữa và cả

về số lượng bê (tỷ lệ này chiếm 66/161= 41,00% so với số bò được khám, tương đương 21,63% so với tổng đàn)

Trang 4

Kết quả sử dụng các công thức hóc môn chủ

động gây động dục

Đối với bò sữa có thời gian động dục lại muộn

Sử dụng các công thức hóc môn chủ động

gây động dục cho bò có thời gian động dục lại

từ 2 đến 4 tháng Những con bò này không có

vấn đề về đường sinh sản và có chỉ số thể trạng

từ 5 (khá) trở lên, có trạng thái sinh lý bình thường, cơ quan sinh dục bình thường nhưng chưa có biểu hiện lên giống lại từ sau khi đẻ Những con không có biểu hiện động dục trong lần xứ lý 1 sẽ được xử lý lại lần 2 Kết quả được trình bày trong bảng 3

Bảng 3 Tỷ lệ bò xuất hiện động dục khi kết thúc chu trình sử dụng thuốc

Chỉ tiêu

Công thức hóc môn

Số lượng Tỷ lệ

Số lượng Tỷ lệ

Số lượng Tỷ lệ

Số lượng Tỷ lệ

Số lượng Tỷ lệ

Kết quả lần 1 43 74,13 36 69,23 35 70,00 22 88,00 22 78,57 Kết quả lần 2 12 20,69 10 19,23 10 20,00 03 12,00 06 21,43 Tổng lần 1 + 2 55 94,82 46 88,46 45 90,00 25 100 28 100

Có thai 3 tháng 52 89,66 42 80,77 41 82,00 24 96,00 23 82,14 Công thức I: Trong 58 bò có 43 con

(74,13%) cho kết quả có biểu hiện động dục

ngay từ lần gây động dục 1; 12 con (20,69%)

cho kết quả ở lần gây động dục 2; tổng số con

có biểu hiện động dục cả 2 lần là 55 (94,82%)

Trong quá trình thí nghiệm, những con có tỷ

lệ máu HF cao được ghi nhận là có biểu hiện

phản ứng

Kết quả khám thai sau 3 tháng cho thấy so

với tổng số bò xử lý có 52 con có chửa, chiếm

89,66%

Tuy nhiên, những con trong quá trình theo

dõi từ khi gieo tinh đến 3 tháng sau đó nếu phát

hiện thấy lên giống trở lại rõ thì những con bò

này được gieo tinh lại mà không tính vào kết

quả

Có ba lý do để phát triển quy trình có sử

dụng với GnRH Thứ nhất, GnRH, được tiết ra

từ tuyến đồ thị, kích thích trực tiếp vào tuyến

yên làm giải phóng ra đồng thời FSH và LH Do

đó, tỷ lệ FSH/LH sẽ lý tưởng giống với tự nhiên

và đủ để kích thích phát triển nang, độc tôn

nang và tạo gây ra phản ứng rụng trứng Cách

này không làm cho buồng trứng lâm vào trạng

thái quá ưu năng hoặc quá thiểu năng Thứ hai,

GnRH là một peptid ngắn nên nó dễ dàng được

tổng hợp hóa học từ các a-xit a-min đơn và cũng

dễ dàng được sản xuất bằng công nghệ tái tổ

hợp Hiện nay, các nhà sinh hóa đã thay đổi vị

trí cũng như một số các gốc a-xit a-min làm cho phân tử GnRH có hoạt chất cao hơn và bền vững hơn ở nhiệt độ thường Thứ ba, liều dùng của GnRH là rất nhỏ, tính bằng microgram, nên

về mặt giá thành ngay cả ở Việt Nam là chấp nhận được Tính trung bình một liều GnRH 100

µg cũng chỉ khoảng 12.000-15.000 đồng Tuy nhiên, cần phải chủ động đặt mua trước khi có ý định sử dụng bởi vì hiện nay, GnRH không có sẵn trên thị trường Việt Nam

Công thức II và III: Kết quả thu được ở 2 công thức này là gần giống nhau

Công thức II: Số bò có biểu hiện động dục

lần 1 và 2 theo thứ tự là 36/52 (69,23%) và 19,23% Tổng cả 2 lần có 46/52 (88,46%) bò lên giống Kết quả khám thai sau 3 tháng có 42/52 (80,77% ) có thai

Công thức III: Số bò có biểu hiện động dục

lần 1 là 35/50 (70%) và lần 2 là 10/50 (20%) Tổng cả 2 lần có 45/50 (90%) bò lên giống và kết quả khám thai sau 3 tháng có 45 bò có thai, chiếm

tỷ lệ 82% so với tổng số bò xử lý hóc môn Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng một lượng PMSG vừa phải (1.000 UI/bò), nên trong quá trình theo dõi, không có trường hợp động dục bất thường như phì đại buồng trứng, động dục kéo dài… như các tác giả Lê Văn Ty (2007) [6] đã công bố Kết quả này cho thấy, việc sử dụng hai công thức trên không có sự khác biệt nhiều

Trang 5

Kết quả thu được từ công thức II và III tuy có

thấp hơn so với các công thức khác nhưng thực

sự đây là 2 công thức có khả năng áp dụng nhất

do giá thành rẻ, các loại hóc môn là dễ kiếm trên

thị trường Việt Nam và quy trình cũng rất đơn

giản Đặc biệt, khi áp dụng cho bò lai Sind và

một số bò sữa trung bình thì rất tiện và những bò

không lên giống trong thời gian thí nghiệm cũng

sẽ lên giống trong 1-2 chu kỳ sau đó

Công thức IV: Kết quả là lần 1 có 22 bò lên

giống, chiếm 88%, lần 2 có 3 bò lên giống,

chiếm 12% và cả hai lần có 100% bò lên giống

Sử dụng viên cấy tai SMB rất thuận tiện

Progesteron trong viên cấy có thể được giải

phóng một cách từ từ vào máu nên không sợ bị

viêm nhiễm đường sinh dục Công thức này có

hiệu quả cao đối với cả 3 loại bò thí nghiệm Cả

2 lần gây động dục cho kết quả 100% bò động

dục

Kết quả khám thai sau 3 tháng cho thấy, có

24 bò có chửa, chiếm 96% so với tổng số bò xử

lý Kết quả này là rất cao và cũng phù hợp với

kết quả của Lê Văn Ty (2007) [6] đã thực hiện

trên đàn bò sữa thuần tại Sơn La

Dùng progesterone gây động dục cho bò là

qui trình được nghiên cứu sớm nhất và cũng là

quy trình hiệu quả nhất tính đến thời điểm hiện

nay Giai đoạn tiền khởi của quy trình này

người ta tiêm progesterone liên tục trong 12

ngày ở pha hoàng thể, sau đó dừng tiêm

progesterone và kết hợp với một liều PMSG cho

kết quả động dục và rụng trứng hầu như 100%

trên bò có chu kỳ Vì giữ cho sóng nang luôn có

nang phát triển độc tôn nên thời điểm ngừng sử

dụng progesterone cũng là lúc sự ức chế của

chất này đối với tuyến đồ thị giảm xuống và làm

giải phóng GnRH mà sau đó chất này kích thích

lên tuyến yên làm gia tăng sự bài tiết LH cả về

tần số và biên độ gây quá trình rụng trứng cũng

như toàn bộ trạng thái động dục Sử dụng một

liều PG hai ngày trước lúc thôi tác dụng của

progesterone, để làm giảm lượng progesterone

nội tại và làm thoái hoá thể vàng Với quy trình

này, dẫn tinh không cần theo dõi động dục trong

vòng 18-24 giờ sau khi thôi tác dụng của

progesterone

Tuy nhiên, đây là quy trình có giá thành đắt

nhất trong tất cả các quy trình mà chúng tôi sử

dụng, 1 hộp với 5 viên SMB và 5 ống oestrogen

có giá từ 2 triệu đến 2,4 triệu đồng Mặt khác SMB hiện nay rất khó kiếm mua trên thị trường Việt Nam và cả nước ngoài Chính vì các lý do trên mà chúng tôi khuyến cáo quy trình SMB chỉ dùng trong các trường hợp nhất thiết phải có

sự đồng pha tuyệt đối hoặc đối với các bò có năng suất kỷ lục, có giá trị kinh tế hoặc giá trị giống cao

Công thức V: Kết quả gây động dục lần 1 có

22 bò động dục (78,57%), lần 2 có 6 bò động dục (21,43%) và cả hai lần là 100% Kết quả về lên giống của công thức này cũng tương đương như công thức IV Tuy nhiên, kết quả về số bò

bị viêm âm đạo khi sử dụng công thức này lại khá cao Đối với bò có thể tạng nhỏ, tỷ lệ viêm

âm đạo khi sử dụng vòng Cue-Mate trong thí nghiệm là cao nhất 5/8 (62,50%)

Nguyên nhân bò bị viêm âm đạo có thể là

do kích thước khá lớn của vòng Cue-Mate khi dùng cho bò có thể trạng nhỏ Vòng này gây cọ xát nhiều trong khoang âm đạo dẫn đến viêm Mặt khác bò được nuôi tại các trang trại quốc doanh và gia đình vận động nhiều nên mức độ

cọ xát càng cao và khả năng viêm âm đạo càng lớn Bò lai Sind có kích cở khoang âm đạo nhỏ nên khả năng cọ xát với vòng càng nhiều hơn và rất dễ dẫn đến viêm Vì vậy, chỉ nên dùng vòng đặt Cue-Mate đối với các trường hợp cần thiết

và nên sử dụng phương pháp này cho bò sữa, những con có tầm vóc to lớn

Kết quả khám thai sau 3 tháng cho thấy, có

23 bò có chửa, chiếm tỷ lệ 82,14% so với tổng

số bò xử lý Kết quả này không cao bằng kết quả trước đây của Lê Văn Ty (2007) [6] Sự khác biệt này có thể là do những bò có biểu hiện viêm âm đạo nặng, mặc dù có biểu hiện động dục rất rõ, không được gieo tinh Những bò bị viêm này được đặt thuốc kháng sinh hết viêm và được gieo tinh ở chu kỳ tiếp sau đó nhờ lên giống tự nhiên Kết quả lên giống tự nhiên cũng

có thể nhờ can thiệp gây động dục từ chu kỳ trước

Đối với bò tơ

Sử dụng công thức I, II, và III đối với bò tơ thể trạng tốt nhưng chưa lên giống sau 30 tháng tuổi Kết quả gây động dục được trình bày trong bảng 4

Trang 6

Bảng 4 Ảnh hưởng các công thức hóc môn tới động dục của bò tơ

Chỉ tiêu

Công thức hóc môn

Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ

Kết quả bảng 4 cho thấy, công thức I có tỷ

lệ bò lên giống và có thai 3 tháng là cao nhất

(tương ứng 97,22% và 86,11%) Công thức II

và III tỷ lệ bò tơ lên giống và có thai 3 tháng

thấp hơn công thức 1, kết quả này giữa hai công

thức 2 và 3 là không khác nhau Kết quả này

cũng phú hợp với kết quả chủ động ngây động

dục thể hiện trong bảng 2 Kết quả này cao hơn

một số kết quả trước đây của Hoàng Kim Giao

(1997) [4] và Quản Xuân Hữu (2003) [7] Sự

khác biệt này có lẽ do thực hiện 2 lần gây động

dục và trong quá trình theo dõi nếu bò lên giống

là tiến hành thụ tinh chứ không cần tính sự đồng

pha như trong cấy truyền phôi

KẾT LUẬN

Nghiên cứu điều trị sự chậm sinh ở bò mang

một ý nghĩa quan trọng trong chăn nuôi Ngoài

góc độ khoa học, nó còn góp phần cải thiện hiệu

quả kinh tế của ngành công nghiệp chăn nuôi bò

sữa Trong nghiên cứu này, các hóc môn sinh

dục và thể mang hóc môn đã được kết hợp để

đạt hiệu quả điều trị cao nhất Trong 5 công

thức hốc môn được thiết kế, mặc dù công thức

IV và V cho hiệu quả cao một cách tuyệt đối

(100%) trong kích hoạt động dục bò cái chậm

động dục lại sau khi sinh nhưng giá thành cao

(công thức IV) và gây viêm nhiễm đường âm

đạo (công thức V) Trong khi đó, công thức I

kích hoạt 95% động dụng nhưng giá thành rẻ

Vì vậy, công thức I này mang tính kinh tế cao

và không kém phần hiệu quả nên có thể áp dụng

trong điều trị chậm động dục cho bò sữa sau

sinh đẻ Ngoài ra, công thức này cũng có thể áp

dụng cho bò tơ chậm động dục lần đầu

Lời cảm ơn: Đề tài được hỗ trợ về kinh phí của

Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Tấn Anh, Đào Đức Thà, 2002 Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo bò Cẩm nang Chăn nuôi gia súc gia cầm Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, Tr 202 - 285

2 Lê Xuân Cương, Lê Văn Thọ, 1979 Kích tố ứng dụng trong chăn nuôi Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

3 Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương,

Đỗ Kim Tuyên, Lưu Công Khanh, Lê Thị Thúy, 1997 Công nghệ cấy truyền phôi Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

4 Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương,

1997 Công nghệ sinh sản trong Chăn nuôi

bò Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

5 Nguyễn Văn Thưởng, 1995 Kỹ thuật nuôi

bò sữa, thịt ở gia đình Nxb Nông nghiệp,

Hà Nội

6 Lê Văn Ty, 2007 Cải tiến và thích nghi các

kỹ thuật gây động dục và rụng trứng trên bò sữa Hà Lan nhằm giải quyết vấn đề chậm sinh và rút ngắn khoảng cách giữa hai lần

sinh con Tạp chí Sinh học, 29(3): 78-82

7 Quản Xuân Hữu và nnk., 2003 Nghiên cứu

sử dụng GnRH tái tổ hợp để điều khiển động dục đồng pha và cấy phôi bò Báo cáo khoa học, Hội nghị Khoa học Công nghệ sinh học toàn quốc

8 A I., 1991 Management Manual American Breeder Service (ABS) Third Edition

9 Gonzalez, 1994 Enhancing tropical beef cattle genetics, reproduction and animal breeding skills Queensland, Ausralia, pp: 21-31

10 Land R B and Hill W.G, 1975 The

Trang 7

possible use of superovulation and embryo

transfer in cattle to increase response to

selection Anim Prod., 21: 1-12

11 Lea and Febiger Philadelphia, 1987

Reproduction in farm animals E.S.E Hafes

5th Edition

12 Monniaux D Mariana J C, Gibson W R,

1984 Action of PMSG on Follicular

population J Reprod., pp: 243-253

13 Newcomb R., Christie W B., Rowson L E

A., Walters D E., Bousfield W E D., 1979

Influence of dose, repeated treatment and

batch of hormone on ovarian response in heifers treated with PMSG J Reprod Fert., 56: 113-118

14 Smith J F., Nc Gowan L T., 1982 Estrogen and the PRID Proceding of the

NZ society of animal production, pp: 87-92

15 Thompson, 1999 Progesterone and folicular changes in postpartum noncyclic dairy cows after treatment with progesterone and oestradiol or with progesterone, GnRH, PGF2a, and oestradiol Theriogenology, 54: 273-282

TREATMENT OF ANOESTRUM IN COWS BY REPRODUCTIVE HORMONES

Hoang Nghia Son

Institute of Tropical Biology, VAST

SUMMARY

Anoestrum, a failure in the estrous cycle, in dairy cows causes a reduction in economic efficiency of livestock in Vietnam My observation showed that dairy cows which have no cycle for the first time (referred

to as late estrus) at the age of > 26 months make up 63.22% of population Animals which have no cycle for

> 5 months (referred to as delayed estrus) after calving make up 40.99% of population To treat anoestrum, reproductive hormones including Progesterone (PG), Gonadotropin-releasing hormone (GnRH), Pregnant Mare's Serum Gonadotropin (PMSG), Human chorionic gonadotropin (hCG), Estradiol Benzoate (EB) and hormone carriers including Synchromate B (SMB) implanted into the ears and Cue-Mate implanted into the vagina were applied There are 5 formulas made from these hormones and hormone carriers Formula I contains PG + GnRH (1st injection i.m.) and PG + GnRH (2nd injection i.m.) 9 days later Formula II contains PG (1st injection i.m.) and PG + PMSG (2nd injection i.m.) 9 days later Formula III contains PG (1st injection i.m.) and PG + hCG (2nd injection i.m.) 9 days later Formula IV contains SMB (ear implantation) + EB (1st injection i.m.) and PG + PMSG (2nd injection i.m.) 7 days later and SMB was removed on day 16 Finally, formula V contains Cue-Mate (intravaginal implantation) + EB (1st injection i.m.) and PG + PMSG (2nd injection i.m.) 7 days later and Cue-Mate was removed on day 16 Treatment of cows inwhich delayed estrous cycle appeared for re-breeding showed that the formula I, II, III, IV, and V induce estrus respectively in 94.82%, 88.46%, 90%, 100%, and 100% of population and promote pregnancy efficiency in respectively 89.66%, 80.77%, 82%, 96%, and 82.14% of population The data show that formula

IV gave the highest efficiency but it is the most costly In contrast, formula V induces vaginal inflammation in 62.50% of cows Treatment of cows which have late estrus for the first time with formula I, II, and III showed formula I is efficient in inducing estrus and promoting pregnancy (97.22% and 86.11% respectively) All together, the results indicate that formula I may be the applicable choice for treatment of anoestrum in dairy cows in Vietnam

Key words: Anoestrum, cow, estrous cycle, pregnant, reproductive hormone

Ngày nhận bài: 21-6-2012

Ngày đăng: 13/01/2020, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w