Đề tài nghiên cứu với các mục đích: đối chiếu phương tiện diễn đạt ý nghĩa thời gian giữa tiếng Việt và tiếng Nga để xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, tìm hiểu cách biểu đạt tương đương về nghĩa, nhằm thấy được sự khác nhau về loại hình của hai thứ tiếng; đưa ra những chỉ dẫn mang tính chất sư phạm về cách dạy, cách dịch ý nghĩa thời gian trong thực tiễn giảng dạy và dịch thuật Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
VỀ CÁCH DẠY VÀ CÁCH DỊCH
Ý NGHĨA THỜI GIAN GIỮA HAI
NGÔN NGỮ NGA – VIỆT
Mã số: CS 2003-23-30
PHAN THỊ MINH THÚY
TP.HỒ CHÍ MINH – 2006
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
VỀ CÁCH DẠY VÀ CÁCH DỊCH
Ý NGHĨA THỜI GIAN GIỮA HAI
NGÔN NGỮ NGA – VIỆT
Mã số: CS 2003-23-30
PHAN THỊ MINH THÚY
TP.HỒ CHÍ MINH – 2006
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 1
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN DỮ LIỆU 7
NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC 9
CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
I Thời gian với tư cách là một phạm trù nhận thức 9
II Thời gian với tư cách là một phạm trù ngữ pháp, phạm trù ngôn ngữ 10
- Ý nghĩa THÌ: 10
- Ý nghĩa THỂ: 10
CHƯƠNG HAI: CÁCH DIỄN ĐẠT Ý NGHĨA THỜI GIAN TRONG 15
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NGA 15
I Trong tiếng Việt 15
A Cách diễn đạt ý nghĩa thời đoạn, thời lượng, khoảng cách thời gian, hoàn cảnh thời gian; cách xác định thời điểm (ý nghĩa "THÌ ") 15
1 Dùng từ chỉ thời gian ở vị trí khung đề hay trạng ngữ để xác định mối quan hệ thời gian giữa các thời điểm , thời đoạn như : 15
2 Dùng các từ không ở vị trí khung đề và trạng ngữ : các vị từ tình thái như các từ đã, đang, sẽ 15
B Cách diễn đạt ý nghĩa về sự vận động, sự diễn tiến của các sự kiện trong thời gian (ý nghĩa "THỂ ") 16
C Một vài nhận xét 16
II Trong tiếng Nga 18
1 Phương tiện từ vựng 18
2 Phương tiện ngữ pháp 18
3 Một vài nhận xét 18
CHƯƠNG BA: SO SÁNH CÁCH DIỄN ĐẠT Ý NGHĨA THỜI GIAN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TRONG TIẾNG NGA 19
I Từ sự khác biệt về đặc điểm loại hình 19
II Đến những đối chiếu cụ thể 24
2.1 Đối chiếu ý nghĩa Thì 28
2.2 Đối chiếu ý nghĩa thể 36
CHƯƠNG BỐN: NHỮNG ĐIỂM CẦN CHÚ Ý KHI DIỄN ĐẠT Ý NGHĨA THỜI GIAN, ỨNG DỤNG TRONG CÁCH DẠY TIẾNG VÀ DỊCH THUẬT: TỪ NGA SANG VIỆT, TỪ VIỆT SANG NGA 48
I Dịch từ Nga sang Việt 49
II Dịch từ Việt sang Nga 59
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
SUMMARY FROM RESULT OF RESEARCH 1
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2
Trang 5MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thời gian là khái niệm luôn gắn với nhận thức của con người về sự tồn tại, sự diễn tiến của sự vật trong thế giới khách quan Có thể thấy việc định vị tình huống (trạng thái, biến cố) trong thời gian là một trong hai mặt chính của việc diễn đạt ý nghĩa "thời tính" nói chung trong các ngôn ngữ Ngôn ngữ nào cũng có cách biểu đạt ý nghĩa này Đặc biệt, trong một số ngôn ngữ như các thứ tiếng châu Âu, việc định vị sự tình trong thời gian được biểu thị bằng các phương tiện ngữ pháp - qua phạm trù THÌ Nhưng bên cạnh việc xác định sự tình trong thời gian thì "thời tính" còn có một ý nghĩa khác : đó là thời gian xét từ cấu trúc bên trong của
sự tình được miêu tả Nói cách khác, nếu mặt thứ nhất của "thời tính" là ý nghĩa của bản thân
sự kiện trong lời nói so với một thời điểm nhất định được lấy làm mốc, thì mặt thứ hai của nó
là ý nghĩ về sự vận động, sự diễn tiến của các sự kiện trong khoảng thời gian đó như thế nào, quan hệ của hành động với giới hạn bên trong của nó, với kết quả, sự kéo dài, sự lặp lại của hành động ra sao (xem AXMAHOBA và Nguyễn Như Ý [ 142], 1996) Đây là lĩnh vực thuộc phạm trù THỂ
Ý nghĩa thời gian, chính vì vậy, là ý nghĩa quan trọng và cần thiết, đã được nghiên cứu nhiều trong các ngôn ngữ biến hình Tuy nhiên, việc "ngữ pháp hóa" (grammaticalization) cách biểu đạt các ý nghĩa liên quan đến thời gian thành những quy tắc hình thái học bắt buộc- như quy tắc về THÌ, về THỂ - của động từ lại không phải là có mặt ở bất kỳ ngôn ngữ nào Vấn đề cần xem xét là tiếng Việt có tồn tại phạm trù THÌ và THỂ không và nếu có, các phương tiện biểu đạt ý nghĩa này có sự tương hợp hay khác biệt như thế nào với các thứ tiếng châu Âu; các chỉ tố dùng để biểu đạt ý nghĩa này là những từ ngữ nào,
có số lượng bao nhiêu v.v
Cho đến nay, việc nghiên cứu ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt, ở cả diện miêu tả lẫn diện so sánh- đối chiếu dường như vẫn chưa được chú ý đúng mức và toàn diện, vẫn còn những quan niệm trái ngược nhau về vấn đề này Việc khảo sát về ý nghĩa, phương tiện biểu đạt, các chỉ tố dùng để diễn đạt ý nghĩa thời gian, cho đến nay vẫn chưa được kiểm nghiệm một cách công phu, kỹ lưỡng, đảm bảo mức độ cần thiết cho việc khẳng định hay bác bỏ một luận đề trước những sự kiện có thật của tiếng mẹ đẻ Quan sát cấu trúc của một ngôn ngữ, miêu tả các hiện tượng ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh, tách khỏi ngữ cảnh sống động của nó, thường dễ rơi vào chủ quan, áp đặt và ngộ nhận
Trong xu thế hội nhập với ngôn ngữ học thế giới và góp phần làm hiện đại hóa những tri thức của nền ngôn ngữ học Việt Nam, việc nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng so sánh - đối chiếu rất cần được chú ý Đề tài của chúng tôi được triển khai theo cách này với ý hướng là sáng tỏ những đặc trưng loại hình chi phối đến cấu trúc nghĩa của tiếng Việt và tiếng Nga trong cách diễn đạt ý nghĩa thời gian nhằm cung cấp thêm cho Việt ngữ học những sự kiện quan trọng về mặt lý thuyết trong cái nhìn so sánh loại hình giữa các ngôn ngữ, giúp người học hiểu đúng, dùng đúng ý nghĩa này, khắc phục những cản trở do áp lực của tập quán sử dụng tiếng mẹ đẻ gây ra
Trang 6Lấy việc đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga (chủ yếu qua các văn bản dịch ) về cách
diễn đạt ý nghĩa thời gian làm đối tượng nghiên cứu, đề tài của chúng tôi nhằm những mục
đích sau đây:
1 Đối chiếu phương tiện diễn đạt ý nghĩa thời gian giữa tiếng Việt và tiếng Nga để xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, tìm hiểu cách biểu đạt tương đương về nghĩa, nhằm thấy được sự khác nhau về loại hình của hai thứ tiếng
2 Đưa ra những chỉ dẫn mang tính chất sư phạm về cách dạy, cách dịch ý nghĩa thời gian (như ý nghĩa THÌ và ý nghĩa THỂ ) trong thực tiễn giảng dạy và dịch thuật ( từ Việt ra Nga hay từ Nga ra Việt)
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Có thể xếp những ý kiến tranh luận giữa các nhà nghiên cứu thành hai nhóm quan điểm sau đây:
1- Nhóm quan điểm xem tiếng Việt có phạm trù THÌ
Trong lịch sử ra đời của ngữ pháp Việt Nam, khi bàn đến cách biểu đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt, chúng ta cần phải kể đến ý kiến của A.De.Rhodes từ cách đây 351 năm,
trong tiểu luận: "Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh" (1651) Đi theo quan điểm
tiếng Việt có THÌ, tác giả của bài báo đã phát biểu rõ ý kiến của mình về THÌ và lần đầu tiên dùng các thuật ngữ về lĩnh vực này
Tiếp sau phải kể đến cuốn "Ngữ pháp tiếng Việt" (1883) của Trương Vĩnh Ký (cả hai tác giả này đều không phân biệt THÌ với THỂ)
Từ sau đó trở đi, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng tiếng Việt có THÌ với tư cách một phạm trù ngữ pháp cơ bản như trong các thứ tiếng châu Âu và phạm trù này gắn
liền với sự hành chức của: đã - đang - sẽ 1
Khẳng định tiếng Việt có THÌ và THẾ như một phạm trù ngữ pháp, các tác giả đã xét
đến các hư từ như: đã - đang - sẽ - rồi - chưa và cho đây là những chí tố biểu đạt hai phạm
trù trên
a) Theo Nguyễn Đình Hòa thì đa số các ngôn ngữ phân biệt ba THÌ rõ ràng Việt ngữ
có thể dùng những tiền động từ như đã - vừa - đang - sẽ để biểu thị thời gian (Đào Duy Anh
và Đào Thản cũng đồng quan điểm)
b) Lê Văn Lý cho tiếng Việt có "hạng mục" THÌ và "hạng mục" THẾ và đi kèm với
các "hạng mục" này là "ngữ vị chỉ kỳ gian" (đương, đang), "ngữ vị chỉ quá khứ" (đã, rồi),
"ngữ vị chỉ tương lai gần hay tương lai xa" (sắp, sẽ) còn trong các trường hợp như: "Ẩ/7 cơm đã rồi mới đi chơi" thì đã chỉ một thứ tiền quá khứ
c) I.S.Bystrov và N.V.Xtankêvic viết: "Trong Việt ngữ, phạm trù thì không phủi chí
có động từ mới có mà là gắn với bất kỳ vị từ nào, kể cả đối với các từ tố có thuộc tính vị từ"
Đã -đang - sẽ là những yếu tố chỉ thì Đã khi đứng trước bất kỳ động từ nào đều chỉ rằng
hành động hoặc trạng thái đã bắt đầu trong quá khứ Ý nghĩa chung ấy của đã cho phép ta có
thể định phẩm nỏ là "từ chứng chỉ thì quá khứ"
d) Tuy không khẳng định đã - đang - sẽ là những chỉ tố của phạm trù THÌ trong tiếng Việt, các tác giá Lê Cận, Phan Thiều (1983:159) và Hữu Quỳnh (1994: 168) đều xem đó là
Trang 7phụ từ của động từ dùng để chỉ thì quá khứ (đã), thì hiện tại (đang) và thì tương lai (sẽ) Nhưng các tác giả cũng nhận thấy rằng trong thực tế sinh động của ngôn ngữ, ý nghĩa thời gian được hiểu một cách tương đối, tuy theo ngữ cảnh
đ) Bùi Đức Tịnh cho đã chỉ quá khứ và có thể chỉ những sự việc xảy ra ở thời vị lai
nữa (1952:194) Tương tự, Nguyễn Anh Quế (1988) và Hoàng Phê (1994) cho rằng nét nghĩa
cơ bản của đã là biểu thị một hành động xảy ra trong quá khứ hoặc chỉ một hành động đã bắt
đầu nhưng chưa kết thúc, hiện vẫn còn tiếp diễn
e) Xem đã là "từ chỉ quá khứ - thể hoàn thành", đây cũng là ý kiến chung của Trương
Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê và Hội Khai Trí Tiến Đức Cũng nêu thêm ý nghĩa biểu đạt
THỂ của đã, các tác giả Lê Cận, Phan Thiểu, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1983) có nhận xét: đã có ý nghĩa tạo quá trình, ý nghĩa quá trình chỉ sự chuyển vào sự vật một trạng thái mới nào đó được biểu thị bằng động từ đứng trước rồi
Nguyễn Văn Thành (1992) cũng xếp đã, chưa vào nhóm từ chí ý nghĩa THÌ và THỂ
Trong một công trình riêng, Diệp Quang Ban (1992:88) còn cho rằng đã, rồi có ý nghĩa cơ bản chỉ thời quá khứ và "quá khứ mà đã biểu thị có thể là "một kiểu thì ngữ pháp": quá khứ trong tương lai" Đã, rồi đều chỉ sự kết thúc, rồi chỉ sự kết thúc giai đoạn, có thể gọi
nội dung ý nghĩa này là "kết thúc giai đoạn mở đầu" Loại ý nghĩa này bộc lộ rõ nhất khi rồi đứng sau các động từ chỉ trạng thái và bộc lộ cả ở những động từ chỉ hoạt động
h) Số đông các nhà nghiên cứu xem chưa là phụ từ có ý nghĩa phủ định, không biểu
thị ý nghĩa thời gian như : Bùi Đức Tịnh (1952), Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1983),
Lê Cận, Phan Thiều (1983), Hoàng Phê và những người khác (1994) Trong khi đó, Lê Văn
Lý (1972), Nguyễn Anh Quế (1988), Đinh Văn Đức (1986) lại xem chưa là từ phu định có liên quan đến ý nghĩa thời gian và xếp nó vào cùng một nhóm với đã, đang, sẽ, những phụ tố
chỉ THÌ
i) Giáo trình "Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại" (dùng cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm
và giáo viên văn phổ thông -1980:77-78) xếp đã, đang, sẽ vào nhóm các trạng từ chỉ thời gian, thường đi với động từ và tính từ, trong đó đã thường diễn đạt ý nghĩa quá khứ, đang biểu thị thời hiện tại, sẽ biểu thị tương lai Ba năm sau, quan niệm này vẫn được bao lưu và
củng cố trong giáo trình "Ngữ pháp tiếng Việt" tập I của Đại học Sư phạm (1983:159-160)
k) Trong cuốn "Thành phần câu tiếng Việt" (1998:112), tác giả Nguyễn Minh Thuyết
và Nguyễn Văn Hiệp khẳng định "THÌ và THÊ là hai phạm trù trong tiếng Việt" trên cơ sở tìm ra những ý nghĩa bộ phận đối lập nhau cùng với những hình thức diễn đạt tạo thành hệ thống của hai phạm trù này
Như vậy có thể thấy, sau rất nhiều năm, quan niệm về phạm trù THÌ và cách biểu đạt
phạm trù này qua các từ đã, đang, sẽ vẫn không có gì thay đổi trong các sách nghiên cứu và
các giáo trình Việt ngữ Việc đánh giá những quan niệm này, quan niệm theo ngữ pháp truyền thống về tính đúng sai của nó, về tính hữu dụng của nó, chúng ta vẫn còn tiếp tục phải bàn thêm
l Trước hết có thể thấy, việc dùng thuật ngữ chỉ cùng một đối tượng miêu tả ở các tác giả còn chưa thống nhất (đôi lúc gây hiểu lầm), trong khi các thuật ngữ khoa học lai đòi hỏi
Trang 8tính chính xác, tính logic Các thuật ngữ phải có sự tương ứng với lịch sử miêu tả ngôn ngữ học, giải thích được các hiện tượng miêu tả trong ngôn ngữ
2 Có những tác giả đưa ra một số thuật ngữ mới mà không đặt nó vào hệ thống, không giải thích nội hàm và ngoại diên của nó 2
3 Tuy nhất trí hoàn toàn về sự biểu hiện của ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt, nhưng các tác giả không bàn bạc và nói rõ "thời gian " ở đây có phải là ý nghĩa được phạm trù hóa bằng phương tiện ngữ pháp (bằng phạm trù THÌ như các ngôn ngữ châu Âu) hay bằng phương tiện từ vựng? Đây là vấn đề cần những bằng chứng xác đáng, cần được chứng minh một cách khoa học, nghiêm túc
Đi theo hướng tiếng Việt có THÌ và cho đã, đang, sẽ là các chỉ tố chỉ THÌ, có lẽ xuất
phát điểm của các tác giả là ở chỗ thấy phạm trù THÌ là phạm trù cơ bản của động từ trong các tiếng châu Âu, ý nghĩa thời gian là ý nghĩa quan trọng cần thiết phải biểu đạt trong mọi ngôn ngữ, cho nên không vì lẽ gì mà người Việt không biết tư duy về thời gian như người châu Âu, không vì lẽ gì mà tiếng Việt không có cách diễn đạt ý nghĩa này, bằng phạm trù THÌ như các tiếng châu Âu Trong khi THÌ trong các ngôn ngữ châu Âu là cách biểu đạt ý nghĩa thời gian được ngữ pháp hoá bằng phương tiện hình thái học và do đó trở thành một phạm trù bắt buộc
4 Trong khi miêu tả ý nghĩa thời gian của tiếng Việt, các nhà nghiên cứu dành nhiều
sự giải thích, bàn bạc cho từ đã Đã là tiêu điểm được chú ý nhiều hơn cả, có lẽ do tính chất
phức tạp, phong phú về mặt nghĩa và về mặt sử dụng của nó Tuy nhiên nghĩa của đã được nêu ra cũng rất khác nhau:
Bùi Đức Tịnh (1952) cho đã trong trường hợp "đã hiểu" là yếu tố chỉ THÌ quá khứ
Còn cũng trong trường hợp ấy, như: "Tôi đã biết", Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy
Khiêm (1940 : 98) lại cho đó là ý nghĩa THỂ, chỉ một việc đã làm xong, trọn vẹn, có ý nghĩa hoàn thành, kết thúc, có kết quả
Nguyễn Anh Quế (1998) nói đến "tính chất tương đối" của đã thể hiện ở chỗ có một
số trường hợp lẽ ra phải dùng sẽ vì hành động chưa diễn ra thì lại có thể dùng đã Ngược lại,
lẽ ra phải dùng đã vì hành động xảy ra trong quá khứ (hay hiện tại) thì lại dùng sẽ Ví dụ:
Nay mười tư, mai đã là rằm (So với: Nay mười tư mai sẽ là rằm)
Thực ra đây không phải là ý nghĩa định vị thời gian của đã mà là ý nghĩa tình thái:
biểu thị hàm ý của người nói về một hành động diễn ra sớm hơn so với dự tính Còn nếu
muốn xác định thời gian thì từ nay đứng ở đầu câu đã cho ta ý nghĩa xác định Trong trường hợp này, ta có thể bỏ đã mà việc xác định thời gian vẫn rất rõ Trường hợp mà Lê Văn Lý gọi
là "tiền quá khứ" của đã (ví dụ: Vào đây cái đã, ăn cơm (cái) đã ) cũng mang ý nghĩa tình
thái này
I.S.Bystrov và N.V.Xtankêvic dẫn ví dụ: "Sáng ngày 12 tháng 2 ở Mát-xkơ-va, người
ta đã thấy được vệ tinh nhân tạo" và cho rằng đó là hiện tượng "từ chứng thừa" và là hiện
tượng "song trùng thời gian" vì có hai hình thức cùng được dùng để diễn đạt ý nghĩa thời
gian, đó là trạng ngữ (Sáng ngày 12-2) và hư từ (đã) Thực ra, đã trong câu này không xác
định thời gian
Trang 9mà chỉ kết quả (trọn vẹn) của một biến cố, thuộc ý nghĩa THỂ Còn sự kiện đó được xác định vào thời điểm nào thì ý nghĩa này đã được làm rõ nhờ khung đề đứng đầu câu
2 - Nhóm quan điểm xem tiếng Việt không có phạm trù THÌ, chỉ có phạm trù THỂ
Xuất hiện đồng thời và tồn tại song song cùng với quan điểm thứ nhất là cách tiếp cận vấn đề tương đối khác biệt và mới mẻ của một số tác giả theo quan niệm xem tiếng Việt không có phạm trù THÌ, chỉ có phạm trù THỂ, tuy thái độ và cách giải quyết vấn đề ở mỗi người một khác
a Ra đời sớm hơn khoảng 10 năm hoặc gần như cùng thời với Bùi Đức Tịnh (1952), Nguyễn Bạt Tụy (1953), Phan Khôi (1954) nhưng các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm (1940) đã xử lý vấn đề THÌ và THỂ theo một hướng khác Cụ thể, theo họ:
- Về cách xác định thời gian (diễn đạt ý nghĩa THÌ); Để nói rõ thời gian diễn ra sự
việc so với lúc nói, người ta thêm từ chỉ thời gian làm trạng ngữ (ví dụ: Bây giờ tôi viết; Hôm
qua nó gặp ông ấy; Mai tôi viết thư cho mẹ .) Như vậy ý nghĩa này được diễn đạt bằng
phương tiện từ vựng, không phải bằng phương tiện ngữ pháp
- Về cách diễn đạt một số ý nghĩa THỂ của động từ : Khi muốn nói một sự việc đang
tiếp diễn (dù là trong quá khứ, hiện tại hay tương lai), người ta dùng phó từ đang hay đương đặt trước động từ Còn khi diễn đạt một sự việc đã hoàn thành, người ta dùng đã hoặc rồi,
xong đặt trước hoặc sau động từ (ví dụ: Nó đang đi; Anh đã làm xong; Tôi đã biết; Nó ăn rồi
- "Trong Việt ngữ không có hình thức đặc biệt để biểu thị phạm trù thời gian" (Hoàng Tuệ)
- Từ góc độ tìm hiểu mặt cấu trúc và ngữ nghĩa của động từ tiếng Việt, có thể thấy
"không nên cho riêng những phụ từ như đã, đang, sẽ biểu thị phạm trù THÌ của động từ
Phạm trù THÌ không phải là phạm trù ngữ pháp đặc biệt của động từ tiếng Việt " (Nguyễn Kim Thản)
- Tiếng Việt không có phạm trù THÌ Để diễn đạt ý nghĩa THÌ,, tiếng Việt dùng phương tiện từ vựng (Đái Xuân Ninh)
c Một số tác giả nước ngoài khi nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt cũng có những quan điểm như vậy M.Grammont ( 1961) và M.B Emeneau ( 1977) đều cho rằng: THÌ không phải là phạm trù của động từ tiếng Việt
Trang 10d Từ góc độ tiếp xúc ngôn ngữ, Phan Ngọc ( 1983:309) thấy đã không đơn thuần chi
quá khứ và không chỉ là THỂ hoàn thành tiêu biểu nhất
Có thể thấy những cách tìm hiểu vấn đề như vậy là xuất phát từ chính cơ chế thực của tiếng Việt: trong tiếng Việt không có những từ được dùng mang tính chuyên biệt, tính bắt buộc, bằng phương tiện ngữ pháp hóa như các tiếng châu Âu nên không thể nói đến phạm trù THÌ Đáng tiếc là có lẽ do tình hình nghiên cứu Việt ngữ học lúc bấy giờ (Hoàng Tuệ -1962) khi quan niệm ngữ pháp (ịhâu Âu chiếm vị trí độc tôn, trở thành một nếp tư duy cố hữu, lấn
át cách cảm, cách nghĩ mới mẻ; hoặc do phạm vi bàn bạc trong khuôn khổ của một bài báo (Đái Xuân Ninh, Phan Ngọc) hay do tính chất của công trình (Nguyễn Kim Thản) mà ta thấy các tác giả còn dè dặt, có phần né tránh, chỉ dừng ở mức nêu vấn đề, chưa đưa ra được cách chứng minh thỏa đáng, những lập luận chặt chẽ, đủ sức thuyết phục
đ Tuy xuât hiện muộn màng nhưng khoảng vài ba năm trở lại đây, rải rác trong tạp chí ngôn ngữ và một số tài liệu chuyên ngành, vấn đề THÌ và THẾ cùng với ý nghĩa của các
hư từ như đã, đang , sẽ, rồi, chưa đã được đưa ra xem xét một cách cẩn trọng từ góc độ
logic - ngữ nghĩa - ngữ pháp
Từ góc độ logic, khi nghiên cứu về logic thời gian, sự biểu hiện và nhận diện thời gian trong tiếng Việt, Nguyễn Đức Dân (1996:116) đã khẳng định: tiếng Việt không có phạm
trù THÌ Việc gán cho các từ đã, đang, sẽ dùng để trỏ các THÌ quá khứ - hiện tại - tương lai
là không thoa đáng và "có không ít trường hợp thời gian xảy ra sự kiện được xác định theo
từng ngữ cảnh cụ thể hoặc theo những tri thức logic mà người nói có được"
Trịnh Xuân Thành (1981) cũng đề cập đến tính chất trọn vẹn (ý nghĩa THE) trong tố
hợp (đã + động từ) và thấy đã bên cạnh ý nghĩa biểu thị thời gian của hành động, của trạng
thái còn có thêm ý nghĩa khác
Huỳnh Văn Thông (2000) tìm hiểu ý nghĩa THỂ qua vị từ tình thái của tiếng Việt, qua
các từ : đã, rồi, đang, còn,., từ đó, đi đến kết luận: ý nghĩa quá khứ - hiện tại - tương lai
không phải là ý nghĩa khái quát, ý nghĩa cơ bản của những từ này
Có thể coi đây là những kết luận tương đối xác đáng bắt nguồn từ thực tế tiếng Việt, vượt lên sự áp đặt của ngữ pháp châu Âu Những hướng nghiên cứu này rất đáng chú ý cả về mặt lý luận lẫn mặt thực tiễn vận dụng
Có hướng giải quyết vấn đề tương đối triệt để và thuyết phục hờn cả là các bài viết đãng trên tạp chí ngôn ngữ, bài giảng chuyên đề, tài liệu giáo khoa phổ thông (lớp 12 chuyên
ban) và mới nhất là một vựng tập về "Tiếng Việt – mấy vấn đề về ngữ âm - ngữ pháp - ngữ
nghĩa" của Cao Xuân Hạo (1998) Mấy trăm trang nghiên cứu với những phần dành riêng cho
việc bàn bạc về THÌ và THỂ, nêu lên ý nghĩa cụ thể và cách biểu đạt hai ý nghĩa này, những quy tắc dùng nó trong tiếng Việt theo hướng nghĩa học và dụng học đã được tác giả xem xét từ ảnh hưởng của cái nhìn châu Âu đối với tiếng Việt, hướng người đọc đến những vấn đề thực tiễn đặt ra đối với tiếng Việt hiện đại
Từ góc độ xem xét ý nghĩa của đã, đang, sẽ, chưa, rồi và phạm vi tác động của các
vị từ tình thái đối với việc biểu đạt cốt lõi ngữ nghĩa của câu, tác giá khẳng định: đã không
mang ý nghĩa từ vựng riêng nhưng nó có tác dụng làm cho ngữ đoạn mà nó tham gia có một
Trang 11tiền giả định (TGĐ) Ngoài ra, các câu có đã còn chứa hàm ý cho biết rằng cái trạng thái,
cái hành động, cái đặc trưng được vị từ đi sau biểu hiện là hiện thực trong thời điểm phát ngôn hoặc thời điểm được lấy làm mốc trong phát ngôn
3 - Một vài nhận xét
Như vậy có thể thấy do ảnh hưởng của cái nhìn ngoại quan mà nhóm quan niệm thứ nhất chưa thực sự phản ánh được đúng bản chất của tiếng Việt trong thực tiễn giao tiếp sinh động hàng ngày Còn nhóm quan niệm thứ hai có cách tiếp cận đối tượng đúng đắn hơn, theo con đường dụng học, thông qua phản ứng của người bản ngữ để tìm ra những quy tắc chi phối đến việc sử dụng tiếng Việt, tìm ra những đặc trưng khác biệt của nỗ so với các thứ tiếng châu Âu
Tất nhiên, cách đặt vấn đề và hướng tiếp cận đúng đắn, bắt nguồn từ thực tế tiếng Việt sinh động với những kết luận có ý nghĩa khái quát về mặt lý luận, nhằm tìm ra nhơn" đặc trưng khác biệt của tiếng Việt như vậy vẫn rất cần được minh họa thêm bằng nhiều cứ liệu hơn nữa, đặc biệt là những cứ liệu cần thiết cho sự so sánh về mặt loại hình giữa hai ngôn ngữ, nhìn nhận nó từ góc độ lý luận để đem lại sự nhất trí cần thiết cho những vấn đề đặt ra Những trường hợp mà lâu nay (trong quan niệm, trong cách đánh giá), người ta dễ lẫn lộn ý
nghĩa THÌ và ý nghĩa THỂ qua cách dùng những từ đã, đang, sẽ vẫn cần được kiểm chứng ở
nhiều thể loại văn bản khác nhau Theo truyền thống thì tiếng Việt biểu đạt ý nghĩa thời gian bằng phương tiện từ vựng (tùy từng văn cảnh mà cách định vị thời gian có thể là xác định hay không xác định) Nhưng trong quá trình giao lưu quốc tế, hội nhập ngôn ngữ, có những tác phẩm dịch sang tiếng Việt mà ngôn ngữ được chuyển dịch đó vốn có THÌ cho nên rất cần tìm hiểu cái tương đương - tương ứng (về mặt nghĩa và về phương thức biểu đạt) giữa biểu hiện THÌ trong tiếng châu Âu với tiếng Việt Và cũng chỉ bằng cách như vậy, chúng ta mới có thể
có cơ sở lý thuyết vững chắc để xác định tính đúng sai, hay dở của câu chữ mà trong nhiều trường hợp, cả ngữ pháp cấu trúc lẫn phong cách học chưa có đủ hiệu lực để giải thích nó Người dạy, qua đây, sẽ có những biện pháp và thủ pháp cần thiết trong việc truyền giảng những tri thức mới (như vị từ tình thái, vị từ tĩnh/vị từ động, tiền giả định, nghĩa hàm ẩn, hàm
ý của phát ngôn ) cho học sinh, giúp các em biết vận dụng giải các bài tập trong sách giáo khoa, góp phần nâng cao năng lực ngôn ngữ, năng lực sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ của mình
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN DỮ LIỆU
1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp làm việc chính của chúng tôi là phương pháp quy nạp: trên cơ sở phân tích và tư liệu được tập hợp trong tiếng Việt mà một số văn bản song ngữ có những phương tiện biểu thị ý nghĩa thời gian, chúng tôi tìm hiểu cách diễn đạt ý nghĩa này trong tiếng Việt
và tiếng Nga, chú ý tới nghĩa dụng pháp, nghĩa văn cảnh, nghĩa hàm ẩn Đây là phương pháp luận khoa học nói chung
Ngoài ra để phù hợp với bản chất của đối tượng nghiên cứu cũng như mục đích của viêc nghiên cứu chúng tôi còn vân dung linh hoạt một số phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
Trang 121.1 Phương pháp điều tra- quan sát
Đây là phương pháp cần thiết trước nhất để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu Kết quả
so sánh - đối chiếu cần phải dựa vào việc điều tra tư liệu - tức là dựa vào việc bao quát các ngữ cảnh sử dụng những câu có ý nghĩa thời gian trong trạng thái tự nhiên, sinh động và đa dạng của nó Các mẫu được chọn có số lượng đủ để làm căn cứ đánh giá, tránh được sự phiến diện, cảm tính Bước này bao gồm các thao tác như: tập hợp các mẫu dùng để phân tích, phân loại, thống kê - tổng hợp
1.2 Phương pháp phân tích - miêu tả
Điều kiện tiên quyết để so sánh - đối chiếu các ngôn ngữ về mặt loại hình một cách có kết quả là phải miêu tả sơ bộ các ngôn ngữ được xem ra đối sánh trên cơ sở những nguyên tắc giống nhau, bằng những thuật ngữ giống nhau Việc miêu tả này sẽ giúp ta có thể tách ra được các đặc trưng giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ thành những loại hình ngôn ngữ cụ thể
1.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu dựa vào hai mặt sau đây:
a Cơ sở đối chiếu là sự giống nhau và khác nhau về mặt đặc điểm của đối tượng được khảo sát Dựa trên sự đối chiếu - so sánh các hiện tượng, các phạm trù đồng nhất, ta có thể xác lập được cách thức biểu đạt ở mỗi ngôn ngữ, xác định xem phạm trù đó được biểu hiện bằng các phương tiện nào
b Phạm vi đối chiếu là đối chiếu về phạm trù ngữ pháp, nhằm làm sáng tỏ những đặc điểm thể hiện phạm trù (về mặt hình thức và ý nghĩa) Trong quá trình so sánh - đối chiếu hai ngôn ngữ, chúng tôi lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ nguồn (ngôn ngữ gốc), là cơ sở chủ đạo, là ngôn ngữ cần được phân tích và miêu tả, căn cứ để đối chiếu; còn tiếng Nga là ngôn ngữ đích, ngôn ngữ được dùng làm phương tiện so sánh, là điều kiện để làm sáng tỏ những đặc điểm về mặt loại hình của tiếng Việt
2 Nguồn ngữ liệu
Với mục đích so sánh - đối chiếu và tìm hiểu kỹ hơn về cách biểu đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt, chúng tôi đã cố gắng tối đa để thu thập, lựa chọn ngữ liệu sao cho đủ mức bao quát được các câu có ý nghĩa thời gian ở dạng biểu hiện tự nhiên, sinh động, trong nhiều ngữ cảnh sử dụng thuộc các phong cách khác nhau :
a Trong nguồn ngữ liệu tiếng Việt, chúng tôi chọn một số loại văn bản sau đây:
- Văn bản thơ : Truyền Kiều của Nguyễn Du
- Văn bản văn xuôi bao gồm:
1- Phong cách chính luận : "Hồ Chí Minh- tuyển tập văn học"- Nxb Văn học, H, 1999,
tập II
2 - Phong cách báo chí : 90 bài báo là các loại tin tức (tin ngắn, tin nhanh, tin tổng
hợp) các phóng sự điều tra trên các báo xuất bản hàng ngày (báo Thanh Niên, báo Công An, báo An Ninh thế giới )
3 - Phong cách nghệ thuật: "Bến không chồng" của Dương Hướng (Nxb Hội Nhà văn,
Hà Nội , 1998)
Trang 134 - Văn dịch: "Giamilia - Truyện núi đồi và thảo nguyên" của Tsinghiz Aitmatôv Nxb
Cầu Vồng, Matxcơva (Phạm Mạnh Hùng, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Ngọc Bằng, Bồ Xuân Tiến dịch )
b Trong nguồn ngữ liệu tiếng Nga chúng tôi chọn tác phẩm văn học qua bản dịch sòm: ngữ từ Nga ra Việt, do các dịch giả có tên tuổi, có kinh nghiệm phiên dịch, đã được xuất
bản chính thức Đó là cuốn “Война и мир” của Толстой (chương hai, từ nguyên bản tiếng
Nga)
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng thêm khoảng hơn 200 dẫn chứng trích từ sách ngữ pháp viết về tiếng Nga Những ngữ liệu này được dùng cho việc so sánh - đối chiếu giữa hai ngôn ngữ về mặt loại hình
NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC
CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Thời gian với tư cách là một phạm trù nhận thức
Thế giới vật chất vận động, biến đổi và phát triển liên tục, không ngừng trên dòng thời gian Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất Ý nghĩa thời gian rất rộng, bao gồm nhiều mặt:
1 Một vị trí nào đó được xác định trên trục thời gian trong sự qui chiếu với thực tại,
để từ đó mà chia nó thành những thời đoạn tách biệt với nhau: quá khứ, hiện tại, tương lai (bao gồm cách xác định thời điểm)
2 Cách đo khoảng cách, chiều dài thời gian, cách định lượng thời gian (bao gồm việc xác định thời đoạn xảy ra sự kiện hoặc thời hạn diễn tiến một sự tình), biểu thị mối quan hệ giữa các điểm cần định vị nằm ở bên ngoài thời gian
3 Cách nhìn nhận sự việc, tình huống trong tính tổng thể, trọn vẹn của nó (bao gồm tần suất, tính tập quán, cách diễn tiến của một sự kiện trong bất kỳ thời điểm nào), biểu thị mối quan hệ bên trong thời gian
4 Ý niệm về thời gian, cách đánh giá về thời gian từ phía chủ thể phái ngôn, các mặt: lâu/ mau, nhanh/ chậm, sớm/ muộn
Đây là "thời gian tự nhiên" - "thời gian vật lý" (không phải "thời gian nghệ thuật",
"thời gian tâm lý", cũng không phải "thời gian ngữ pháp"), nó được tính theo vòng quay -chu
kỳ của trái đất xoay quanh mặt trời, mang tính quy ước chung cho mọi cộng đồng dân tộc, mọi cộng đồng ngôn ngữ Ví dụ : Ngôn ngữ nào cũng có những từ chí đơn vị đo chiều dài thời gian vô tân, liên tục Các đơn vị này được xác định cụ thể theo Công lịch quốc tế một cách chính xác, như : Thiên niên kỷ: 1000 năm, thế kỷ: 100 năm, năm: 12 tháng
Ngoài ra còn có các chiết đoạn thời gian cụ thể Đó là thời gian được lặp đi lặp lại theo chu kỳ nhất định, là thời gian "bộ phận" nằm trong thời gian "tổng thể" Chẳng hạn: 12 giờ, buổi sáng là một chiết đoạn thời gian nằm trong đơn vị thời gian lớn hơn nó có tên gọi
là
Trang 14NGÀY Còn mùa xuân, mùa hạ, quý III, tháng 7 là chiết đoạn nằm trong đơn vị thời gian
có tên gọi là NĂM
Trong những nền văn hóa khác nhau, theo thiên hướng tư duy đặc thù, mỗi dân tộc lại
có cách hình dung, cách cảm nhận khác nhau về thời gian, thể hiện ở cách chia khúc thời gian khác nhau, tạo nên những "lát cắt" thời gian khác nhau Chẳng hạn: ngoài cách xác định như người châu Âu, người phương Tây là tháng dương lịch, người Việt Nam còn có cách tính của người châu Á là tháng âm lịch Tháng này được tính bằng một tuần trăng dựa vào vòng quay của mặt trăng xung quanh trái đất, từ đó chia thành những khoảng cách trong tháng khác nhau như: thượng tuần (khoảng thời gian 10 ngày đầu của tháng), trung tuần (khoảng thời gian 10 ngày giữa của tháng), hạ tuần (khoảng thời gian 10 ngày cuối của tháng)
Những tên gọi như : năm Ất Dậu, tháng củ mật, giờ Hoàng đạo, ngày Tân Tỵ là tên gọi phổ biến đối với người Việt, được dùng để xác định những sự việc trọng đại trong cuộc đời con người (như : ma chay, động thổ, cưới xin, chuyển nhà, khai trương làm ăn ) Những cách tính như đêm năm canh, ngày sáu U, năm nhuận là cách tính phản ánh thói quen, tập tục sinh hoạt mang đậm dấu ấn của nền văn hoa phương Đông theo triết lý - tâm linh của người Á Đông trong đó có người Việt, không tìm thấy trong các ngôn ngữ châu Âu
II Thời gian với tư cách là một phạm trù ngữ pháp, phạm trù ngôn ngữ
1 Ý nghĩa THÌ và ý nghĩa THỂ , phạm trù THÌ (tense) và phạm trù THỂ (aspect) trong cách nói về thời gian
Mối quan hệ thời gian giữa các sự kiện tồn tại trong thế giới khách quan thường được xác định nhờ hai mặt, hai ý nghĩa, được gọi là ý nghĩa THÌ và ý nghĩa THỂ :
Đối với một số ngôn ngữ châu Âu - những ngôn ngữ vốn có một hệ thống hình thái học điển hình và phát triển - thì hai ý nghĩa trên đây là những ý nghĩa được ngữ pháp hóa, buộc phải thể hiện trong mọi trường hợp xuất hiện của từ bằng một hình thức chung nhất Những Ý nghĩa này được diễn đạt qua hai phạm trù: THÌ và THỂ THÌ và THỂ được coi là những phàm trù ngữ pháp cơ bản mang tính khái quát luôn gắn với động từ Theo cách phân chia các phạm trù ngữ pháp thường được nói đến, THÌ và THỂ thuộc phạm trù hình thái học (phân biệt với phạm trù từ loại như danh từ, tính từ và phạm trù cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ ) Trong nhiều ngôn ngữ thuộc các loại hình khác nhau, hai phạm trù này có liên hệ mật thiết với nhau nhưng đồng thời cũng được phân biệt rõ ràng bởi những thuộc tính khác nhau,
đi kèm với cách thể hiện (cách hình thức hóa) rất khác nhau của chúng
Trang 151.1 Theo John Lyons (1996:481-484), thuật ngữ THÌ bắt nguồn từ tiếng La tinh, dịch
của từ Hy Lạp chỉ "thời gian" (tiếng La tinh là tempus, tiếng Hy Lạp là choronos) THÌ được coi là tiêu chí của động từ trong các định nghĩa truyền thống về từ loại
Phạm trù THÌ liên quan đến các mối liên hệ thời gian khi chúng được diễn đạt bằng các thế đối lập ngữ pháp thành những hệ hình Các nhà ngữ pháp truyền thống khi phân tích tiếng Hy Lạp và La tinh đã thừa nhận ba thế đối lập: quá khứ - hiện tại - tương lai, và người
ta thường giả định rằng sự đối lập về THÌ này là đặc điểm phổ quát của ngôn ngữ Thực ra bản thân THÌ không được tìm thấy trong tất cả các ngôn ngữ Những đối lập như : "quá khứ",
"hiện tại", "tương lai" không đơn giản là một vấn đề về THÌ
Đặc trưng chủ yếu về phạm trù THÌ là nó liên hệ thời gian của hành động, biến cố hay tình trạng của các sự kiện được nói trong câu với thời điểm phát ngôn
Còn thuật ngữ THỂ thoạt đầu dùng để chỉ sự phân biệt "thể hoàn thành" và "thể không hoàn thành" trong những động từ tiếng Nga và các ngôn ngữ Slavơ khác THỂ cũng là
sự phân biệt có liên quan đến thời gian nhưng nội dung của nó không phải là sự định vị một hành động, một biến cố hay trạng thái của sự vật trong thời gian Nó không phải là phạm trù chỉ xuất như THÌ vì nó không phải là một cách diễn đạt <trực chỉ>, (deictic) nghĩa là dùng thời điểm phát ngôn (thường là hiện tại) để làm cái mốc quy chiếu sự kiện xảy ra THỂ có thể nói vế bất kỳ thời điểm nào (trong quá khứ, hiện tại, tương lai) Ý nghĩa THỂ thường được nói đến là ý nghĩa hoàn thành/không hoàn thành, ý nghĩa kéo dài/không kéo dài, ý nghĩa lặp lại/không lặp lại, ý nghĩa khởi nguyên/kết thúc được thể hiện bằng các thế đối lập đánh dấu/không đánh dấu, vế có/vế không
1.2 Theo B.Comrie ([1975), THÌ và THỂ là những ý nghĩa được phân biệt bằng
những tiêu chí - đặc trưng rất khác nhau tuy chúng đều có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc thể hiện ý nghĩa thời gian
a) THÌ là cách diễn đạt trực chỉ (deictic), nghĩa là bao giờ cũng cần có một điểm dùng
để định vị thường gọi là tiêu điểm hay điểm mốc THÌ thực hiện việc định vị một sự tình so
với một điểm quy chiếu cố định trong thời gian để từ đó nó nêu rõ "mối quan hệ giữa sự tình
và cái trung tâm điểm thời gian đó bằng cách chỉ ra một cái hướng và một khoảng cách nào đó" (Frawley, dẫn theo Cao Xuân Hạo 1979:18) mà theo tính chất này, ta có thể xác định
hàng loạt sự phân biệt về THÌ dựa vào sự đồng thời/không đồng thời, trước/sau của thời điểm xảy ra sự kiện so với quy điểm thời gian để định vị nó
Điểm dùng để định vị (thường là thời điểm phát ngôn) gọi là tiêu điểm (located point) Tiêu điểm có vai trò quan trọng trong việc định hướng, định vị thời gian cụ thể Từ tiêu điểm, người ta xác định thời điểm diễn ra tình huống theo các mối tương quan về thời gian giữa các sự kiện Sự phân cực chiều hướng thời gian thành các khúc (dài - ngắn), các khoảng (lớn -nhỏ) được xác định dựa trên cơ sở đối lập các thời điểm với nhau Chẳng hạn, nếu lấy hiện tại (thời điểm phát ngôn) làm điểm quy chiếu các sự kiện thì ta có ba ý nghĩa (mà ngữ pháp cổ điển châu Âu thường diễn đạt qua ba THÌ, biểu thị ba ý nghĩa ngữ pháp bộ phận) là : THÌ quá khứ, THÌ hiện tại, THÌ tương lai
Trang 16Việc xác định quy điểm thời gian thực chất là việc xác định thời điểm xảy ra sự kiện, thời điểm phát ngôn cùng với mối quan hệ giữa hai thời điểm đó Các mặt cần định vị sẽ là :
- Định vị thời gian xảy ra sự kiện, tức là nói rõ sự kiện đó nằm ở khoảng nào trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai
- Định vị thời gian phát ngôn, lấy đó làm mốc để quy chiếu các sự kiện xảy ra
- Định vị mối quan hệ giữa thời điểm xảy ra sự kiện với thời điểm phát ngôn hoặc thời điểm xuất hiện một sự kiện này trong sự quy chiếu với sự kiện khác; đo khoảng cách giữa chúng, từ đó có cách đánh giá về chúng Nếu thời điểm xuất hiện sự kiện xảy ra trùng làm một với thời điểm nói thì thời điểm được chọn làm mốc đó có tính tuyệt đối Nếu sự xuất hiện của sự kiện xảy ra trước hay sau hoặc cùng lúc ở bất kỳ thời điểm nào (trong quá khứ - hiện
tại và tương lai) thì thời điểm được chọn làm mốc đó có tính tương đối Tùy thuộc ở những
tính chất này mà ta có cách định vị khái quát, định vị gián tiếp và định vị cụ thể, định vị trực tiếp THÌ thường có nội dung nghĩa rất trừu tượng nhưng nó là bộ phận quan trọng trong bất
kỳ một phát ngôn nào trong các ngôn ngữ châu Âu Bởi vì những thế đối lập ngữ nghĩa được phạm trù hóa về mặt ngữ pháp như THÌ chẳng hạn, cũng có thể là những đối lập nổi bật lên trong ý niệm của người nói
b) Còn THỂ là cách nhìn khác nhau về "tổ chức bên trong" của một tình huống
Có thể thấy, cùng phản ánh những thuộc tính của thời gian, phản ánh mặt lượng của hành động về thời gian nói chung nhưng THỂ có đặc trưng nghĩa học rất khác so với THÌ
Thứ nhất, THỂ không liên quan gì đến "sự phân bố hay vị trí thời gian của một hành
động, một biến cố, một trạng thái của sự vật" ( 1996:484) Nói đến THỂ là nói đến cách
"phân loại tình huống" (situation) dựa trên "ý nghĩa THỂ cố hữu" cua vị từ Theo sự phân loại này thì các sự tình có thể đối lập nhau ở các tiêu chí như : hữu đích (telic)/vô đích (atelic), điểm tính (punctual)/đoạn tính (durative)
Trong khi đó, THÌ là cách xác định vị trí của một sự tình trên tuyến thời gian, một cách định vị có tính trực chỉ, có nghĩa là bao giờ nó cũng lệ thuộc vào thời điểm phát ngôn
Thứ hai, THỂ liên quan đến sự phản ánh các đặc trưng từ "bên trong sư tình", đến
cách diễn tiến của một hành động, một trạng thái, thông qua kết quả hay sự hoàn tất của nó
Đó là "cách tri giác sự tình có chiều dài hay không, vào lúc bắt đầu, vào lúc kết thúc hay đang tiến triển; chỉ diễn ra một lần hay lặp lại mấy lần; có thành tập quán hay không, được nhìn nhận như một biến cố trọn vẹn hay dở dang " (xem Cao Xuân Hạo 1979:15)
Trong khi đó, THÌ là cách xác định thời gian ở "bên ngoài sự tình", nỏ xem xét hành động, trạng thái xuất hiện ở thời điểm nào, quy chiếu nó với thời điểm nói hay với một quá trình khác để thấy ra các đặc trưng trùng nhau/không trùng nhau, trước/sau về mặt thời gian giữa chúng
Việc phân chia các loại sự tình được thực hiện dựa trên cấu trúc thời gian bên trong của nó, theo đó, có các ý nghĩa THỂ sau đây :
Trang 17a THỂ hoàn thành (perfective)/THỂ không hoàn thành (imperfective) trong đó có thế xếp một biến thái của vế hoàn thành là THỂ "dĩ thành" (pertect)
b THỂ bắt đầu (ingressive) hay khởi phát (inceptive)
c THỂ kết thúc (terminative) hay hoàn tất (completive) trong nhiều thứ tiếng, THỂ
"hoàn tất" có thể không phân biệt với THỂ "kết thúc"
d THỂ tiếp diễn (progressive)
e THỂ kéo dài (durative)
f THỂ lặp lại hay tái diễn (inteative)
g THỂ kết quả (resultative)
h THỂ tập quán (habitual) hay THỂ thường diễn
i THỂ nhất cố (semelfactive)
Có thế coi những ý kiến trên đây của hai tác giả là những điểm bàn luận cung cấp một
lý thuyết về THÌ có hiệu lực đối với những phương tiện ngữ pháp hóa sự biểu đạt và định vị
sự tình trong thời gian của một số ngôn ngữ trên thế giới
3 Một vài nhận xét
a Những phân tích trên đây đã cho thấy ý nghĩa thời gian là ý nghĩa chung, có trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới, nhưng việc diễn đạt nó bằng phạm trù THÌ hoặc cách diễn đạt phạm trù THÌ và phạm trù THỂ bằng phương tiện hình thái học, mang tính chuyên biệt, lại không phải là có trong mọi loại hình ngôn ngữ (có người đã nhầm lẫn những ý nghĩa này khi cho rằng cổ ba nội dung cụ thể cua khái niệm về thời gian là: thời đoạn, thời điểm và THÌ (xem Đào Thản 1979)
b Trong khi ngữ pháp truyền thống thường lẫn lộn sự phân biệt THÌ và THỂ khi cho rằng: thuật ngữ THÌ dùng theo nghĩa rộng, bao gồm cả sự phân biệt đáng ra phải nói là THỂ thì hai tác giả B Comrie và J Lyons đã phân biệt chúng một cách rõ ràng dựa vào đặc trưng nghĩa cũng như dựa vào những dấu hiệu hình thức thể hiện đặc trưng nghĩa này của chúng
THÌ là hình thức diễn đạt ngữ pháp hoa của sự định vị sự kiện hay trạng thái trong thời gian, được thực hiện bằng cách lấy thời điểm phát ngôn làm mốc nên nó luôn có tính
"trực chỉ" (deictic) (trong một số tiếng châu Âu như tiếng Nga, THÌ thường được biểu hiện qua biến tố của động từ)
THỂ là hình thức diễn đạt ngữ pháp hoa của cấu trúc thời gian bên trong một sự việc hay một trạng thái (nó bắt đầu, kết thúc hay đang tiếp diễn, nó diễn ra một lần hay lặp lại nhiều lần, có chiều dài trong thời gian hay chỉ được thực hiện trong một khoanh khắc, nó nhằm tới một kết quả hay chỉ là một hoạt động vô đích ), bất kể sự việc hay Trạng thái đó được xác định như thế nào trong thời gian (trong một số tiếng châu Âu như tiếng Nga, THỂ thường được biểu hiện qua tiền tố hay hậu tố của động từ - như vậy hình thức biểu đạt THÌ và THỂ là khác nhau)
Trang 18c Một ngôn ngữ có THÌ hay có THỂ (hoặc có cả hai) là một ngôn ngữ trong đó THÌ hay THỂ là những ý nghĩa bị bắt buộc phải diên đạt bằng phương tiện ngữ pháp, thường là bằng hình thái học nhưng cũng có thể bằng hư từ ngay cả khi không cần thiết (vì nghĩa của
nó đã rõ nhờ phương tiện từ vựng hay nhờ ngôn cảnh) Khi nói một ngôn ngữ nào đó không
có THÌ (hay không có THỂ) thì điều đó tuyệt nhiên không có nghĩa là ngôn ngữ đó không có hoặc không biết cách diễn đạt những ý nghĩa này, mà chỉ có nghĩa là ở trong ngôn ngữ đó, ý nghĩa THÌ hoặc THỂ không bắt buộc phải diên đạt khi không cẩn thiết Vì vậy khi xét đến ý nghĩa thời gian trong một ngôn ngữ không phải là tìm xem ngôn ngữ đó có diễn đạt được sự phân biệt về thời gian hay không mà là xem nó có bị bắt buộc phải phân biệt ý nghĩa đó - ngay cả khi hoàn toàn không cần thiết - hay không
Trang 19CHƯƠNG HAI: CÁCH DIỄN ĐẠT Ý NGHĨA THỜI GIAN TRONG
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NGA
I Trong tiếng Việt
A Cách diễn đạt ý nghĩa thời đoạn, thời lượng, khoảng cách thời gian, hoàn cảnh thời gian; cách xác định thời điểm (ý nghĩa "THÌ ")
1 Dùng từ chỉ thời gian ở vị trí khung đề hay trạng ngữ để xác định mối quan hệ thời gian giữa các thời điểm , thời đoạn như :
- Nó không hoàn toàn bị bắt buộc phải diễn đạt những ý nghĩa thuộc về quá khứ, hiện tại, tương lai khi ngổn cảnh cho phép người nghe định vị được các sự tình
- Đã, đang còn có thể biểu thị ý nghĩa từ vựng : ý nghĩa sớm/muộn; nhanh/chậm; lâu/mau so với một dự tính nào đó, một quy luật thường diễn hay so với một điểm nào đó được tiền giả định, được ước định từ phía người nói
- Trong trường hợp nhất thiết phai định vị sự tình bằng các khoảng thời gian khác nhau, khi ngôn cảnh không hiện lên ý nghĩa thời gian, không cho biết sự định vị của các sự kiện trong thời gian , tiếng Việt dùng phương tiện từ vựng, dùng khung đề, trạng ngữ chỉ thời gian Đây là những đơn vị từ vựng dùng để lượng hoa thời gian, đo chiều dài thời gian, đánh đấu một thời khắc cụ thể, có tác dụng định vị sự tình vào một thời điểm phát ngôn cụ thể Trong cái khung thời gian ấy, các hư từ đã, đang, sẽ không thể thay thế được chúng
Mỗi ngôn ngữ có cách xử lý khác nhau trong việc xác định thời gian Tiếng Việt biểu thị ý nghĩa này bằng cách từ vựng hóa, tức hoạt động mã hoa những yếu tố của thực từ chứ
Trang 20chiếm ưu thế Ứng với điều này, "ngữ pháp" trong cách hiểu truyền thống, về đặc trưng loại hình học thì "ngữ pháp"của các ngôn ngữ đơn lập mang tính từ vựng còn "ngữ pháp"của các ngôn ngữ tổng hợp mang tính ngữ pháp "
B Cách diễn đạt ý nghĩa về sự vận động, sự diễn tiến của các sự kiện trong thời gian (ý nghĩa "THỂ ")
Tiếng Việt có những loại THỂ sau đây:
Mỗi THỂ phản ánh một loại tình huống với những đặc trưng nghĩa khác nhau Tiếng Việt diễn đạt những ý nghĩa THỂ bằng hai phương tiện: phương tiện ngữ pháp (với các chỉ tố
đã, rồi - THỂ "dĩ thành", ra, lên, đi, lại - THỂ "khởi phát", đang, đang còn - THỂ "tiếp
diễn" ) và phương tiện từ vựng (qua các từ : xong, hết, cả, nốt, ngưng, ngừng, nghỉ diễn
đạt THỂ "hoàn tất")
Trang 21Cái đạt đƣợc sau quá trình vận động
Sự thể đã kết thúc , đã hoàn lại, đã có kết quả (có đích)
Hành động xảy
ra nhiều lần, lặp
di lặp lại
Sự thể đang trong quá trình diễn tiến chƣa kết thúc (vô đích)
Trang 22II Trong tiếng Nga
Tiếng Nga diễn đạt ý nghĩa thời gian bằng những phương tiện sau đây:
Tiếng Nga biểu thị ý nghĩa thời gian bằng nhiều phương thức nhưng cách dùng biến
tố của động từ vẫn được coi là chủ yếu Ý nghĩa THÌ và ý nghĩa THỂ trong tiếng Nga là ý nghĩa đã được "ngữ pháp hóa" thành những phạm trù ngữ pháp cơ bản Mỗi một THÌ hay mỗi một THỂ đều được biểu hiện một hình thái riêng, được đánh dấu bằng những chỉ tố đặc trưng Các biến tố dùng trong mỗi hình thái thể hiện ý nghĩa đối lập giữa các THÌ, các THỂ đều xuất hiện có tính chất bắt buộc và đồng loạt trong mọi văn cảnh sử dụng, kể cả khi sự cổ mặt của nó hoàn toàn không cần thiết vì đã được nêu rõ bằng phương tiện từ vựng hoặc nhờ ngôn cảnh
Trang 23CHƯƠNG BA: SO SÁNH CÁCH DIỄN ĐẠT Ý NGHĨA THỜI GIAN TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TRONG TIẾNG NGA
I Từ sự khác biệt về đặc điểm loại hình
1 Loại hình học có nhiệm vụ tìm ra những phổ niệm ngôn ngữ bằng phương pháp so sánh đối chiếu, trong đó có việc xác định phạm trù ngữ pháp phổ quát cùng với cách thức biểu đạt phạm trù này trong hoạt động của cấu trúc ngôn ngữ Trong khi so sánh, dối chiếu các ngôn ngữ, người ta chủ yếu xét xem ngôn ngữ hữu quan thuộc về loại hình nào và loại hình đó có những đặc trưng loại biệt gì Từ sự khác nhau về mặt loại hình, ta có thể thấy được
xu hướng chung trong đa số ngôn ngữ đang xét, so các ngôn ngữ cùng loại hình với nhau, cũng như thấy được những đặc điểm riêng khiến cho nó gần gũi với các ngôn ngữ cùng loại hình và khác với các ngôn ngữ không cùng loại hình
2 Tiếng Nga và tiếng Việt có những điểm khác xa nhau về mặt loại hình Tiếng Nga
có đặc trưng tiểu biểu của loại ngôn ngữ biến hình mà tính khuất chiết - tổng hợp tính làm cho nó trỏ thành một cực đối lập rõ rệt với tính đơn lập – phân tích tính của tiếng Việt Do đặc trưng này mà ý nghĩa ngữ pháp của tiếng Nga (trong đó có ý nghĩa THÌ và THỂ) thường được biểu hiện bằng phương tiện hình thái học bằng những yếu tố dược "hoa đúc" ở bên trong mõi từ như một chỉnh thể Hình thái học của từ chiếm vị trí chủ đạo trong các phương tiện truyền đạt ý nghĩa đặc biệt là ý nghĩa ngữ pháp, nó làm thành một "phạm trù hình thái" một từ có thể thay đổi hình thái nhưng không thể không có hình thái cụ thể
Trong khi đó, dể thể hiện những ý nghĩa mà tiếng Nga (và các tiếng châu Âu) thường biểu đạt bằng phương tiện ngữ pháp (bằng hình thái học, bằng phụ tố,
Trang 24biến tố của từ) tiếng Việt lại dùng phương tiện từ vựng, tức những thực từ có ý nghĩa rõ ràng, hoặc dùng phương tiện ngữ pháp như dùng trật tự của từ ngữ hoặc dùng hư từ với tư cách là những tác tử làm cho một từ loại nào đấy thay đổi về nghĩa để đánh dấu các ngữ đoạn
về chức năng cú pháp, quan hệ cú pháp ở trong câu, giúp cho câu diễn đạt được phần nghĩa quan trọng nhất của nó
3 Hiện thực khách quan được phản ánh trong ngôn ngữ nhờ vào những phương tiện biểu đạt: hoặc phương tiện từ vựng, hoặc phương tiện ngữ pháp Các ngôn ngữ khác nhau đáng kể ở cách chọn phương tiện này hay phương tiện kia Khi so sánh các phương liên biểu đạt được dùng trong các ngôn ngữ , về vai trò, về vị trí của chúng trong việc phản ánh tư duy, người ta nhận thấy: các ngôn ngữ đơn lập, điển hình là tiếng Việt, thiên về việc dùng phương tiện từ vựng nhiều hơn là đùng phương tiện ngữ pháp (như là hình thái học), còn ở các ngôn ngữ tổng hợp tính, điển hình là tiếng Nga thì chiếm vị trí nổi bật lại là các phương tiện ngữ pháp, dùng để diễn đạt nhiều khái niệm thuộc các phạm trù như NGÔI - THỜI -THỂ - GIỐNG - SỐ - CÁCH
Sự biểu hiện rõ rệt của "đặc tính ngữ pháp" trong ngôn ngữ tổng hợp tính -biến hình
và "đặc tính từ vựng" trong ngôn ngữ đơn lập - không biến hình là: ở ngôn ngữ tổng hợp tính, việc dùng các phương tiện ngữ pháp, qua hình thái của từ (một cách bắt buộc) là để đặt một câu đúng ngữ pháp nhưng có thể hoàn toàn không cần thiết về mặt thông tin Trong những câu :
- Мать разрезала пирог и дала кусок ребѐнку <Người mẹ cắt cái bánh ga tô ra và
cho đứa bé một miếng>
- Вчера девушка пришла в театр < Hôm qua cô gái (đã) đến rạp hát>
ta thấy để chỉ ý nghĩa về "giới tính" của chủ thể hành động, đã có hai danh từ được nêu rất rõ
Trang 25(cô gái) vậy mà vị từ, một cách không cần thiết, vẫn phải kèm theo ý nghĩa về giống (giống cái) trong quan hệ "chi phối" giữa chủ ngữ và vị ngữ trong câu Lại nữa, tất nhiên là khi "cắt" (bánh) để "cho đứa bé một miếng" thì hành động đó phải được xem là dã được hiện thực hóa,
đã có kết quả, có đích (VT động + hữu đích + chủ ý + điểm tính ) , hoặc khi dã dùng khung
đề "Hôm qua" để chỉ quá khứ, hạn định thời gian thuộc về quá khứ thì hành động đó phải được hiểu là đã xảy ra từ trước thời điểm nói Vậy mà, vị từ ở đây vẫn phải kèm theo thông
số về THỂ (THỂ "hoàn thành") và THÌ (THÌ "quá khứ") với chỉ đẫn : đây là những hành động đã kết thúc, đã chấm dứt và mọi chuyện xảy ra đã thuộc về quá khứ
Một ngôn ngữ càng "tổng hợp" bao nhiêu, tức là vai trò của mỗi từ càng được quy định rõ ràng bởi những đặc tính riêng của nó bao nhiêu, thì càng ít cần thiết bấy nhiêu việc nhìn ra ngoài từ mà xét đến toàn câu để nắm được nghĩa của nó Điều đó cũng có nghĩa là, ở tiếng Nga, hình thức "hợp nhất" các loại nghĩa thể hiện bằng phương tiện hình thái học làm thành bản chất và là đặc tính không thể thiếu được của nó
Trong khi đó, tính "không biến hình" và hình thức "phân tích tính" của từ lại là đặc điểm điển hình của các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt ở tiếng Việt, một phát ngôn đúng ngữ pháp chỉ được tạo thành bằng những đơn vị có ý nghĩa từ vựng chân thực và được sắp xếp theo một trật tự nhất định Đó là do từ tiếng Việt không biến đổi hình thái, không có một hình thái riêng nào đi kèm theo từ một cách bắt buộc Cho nên, nếu không có các hình vị bổ sung để cấu tạo nên hình thức phân tích tính, nếu ngoài chu cảnh và ngôn cảnh thì một tập hợp các âm vốn có của một ngôn ngữ, kể cả khi nỏ được tổ chức thành ầm tiết, cũng sẽ là vô nghĩa Vì thế, với câu nói trên dây của người Nga, người Việt sẽ không bao giờ diễn đạt một cách " thừa thãi" là :
Trang 26- Một người mẹ vốn là phụ nữ đã cắt xong chiếc bánh, đưa cho đứa bé một miếng và cho đến lúc này, việc cắt bánh đã hoàn thành
- Một cô gái vốn là phụ nữ đã đi xem hát ngày hôm qua và ở thời điểm này, việc "đi xem hát" của cô ta đã hoàn tất và thuộc về quá khứ
4 Những phần tích trên dây đã cho thấy sự khác nhau giữa hai ngôn ngữ của hai loại hình thuộc về những nguyên tắc khi sử dụng :
- Một đằng là tính chất "tùy nghi', "lỏng lẻo", "không thường xuyên", "không bắt buộc" (khi thật cần thiết mới dùng) của ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính như tiếng Việt
- Một đằng là tính "ưu thế", tính "triệt để" về mặt nguyên tắc của các phạm trù ngữ pháp trong các ngôn ngữ khuất chiết, tổng hợp tính như tiếng Nga: nó bắt buộc phải dùng thông qua các chỉ tố hình thái học đặc trưng gắn với động từ, kể cả khi việc dùng như thế hoàn toàn không cần thiết vì đã có phương tiện từ vựng ([66] 1990: 27; [124] 1986: 60-67) Tính "tuy nghi" của các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt không phải ở chỗ nó có thể vắng mặt, không cần xuất hiện mà là ở khả năng tham gia của các yếu tố ngữ pháp cho phép "đánh dấu" một phạm trù nào đó trong một tình huống nhất định (tính "không thường xuyên" của những yếu tố này được xác nhận bằng sự đánh giá về số lượng của nó mà chúng tôi sẽ nói ở phần II § 2 của chương này) Trong so sánh đối lập, khái niệm "đánh dấu" (tính "hữu trưng"
- marked) được coi là một "khái niệm cực kỳ quan trọng ở mọi cấp độ ngôn ngữ" ([47] 1996:136) Chính vì vậy, nó cũng dược dùng làm cơ sở để xét xem ngôn ngữ này có "ngữ pháp hóa" (grammaticalization) các ý nghĩa đang xét hay không, phạm trù ngữ pháp này có tồn tại trong ngôn ngữ đang được đối sánh hay không
Việc sử dụng các chỉ tố ngữ pháp trong các ngôn ngữ đơn lập không phải là một phương tiện phổ biến biểu thị các ý nghĩa tương ứng mà chỉ là một trong
Trang 27các phương tiện dùng để biểu đạt khi thật cần thiết, để làm rõ cốt lõi ngữ nghĩa của câu Trong khi việc thiếu mối tương liên trực tiếp giữa mặt hình thức và mặt nội dung ý nghĩa mà
nó biểu đạt ở ngôn ngữ tổng hợp tính như đã phân tích trên đây lại là một sự kiện mang tính nhất quán, điển hình, không phải là hiện tượng cá biệt hay đơn lẻ Điều này có liên quan đến quy tắc "không cân thiết" nhưng vẫn "bắt buộc" phải thể hiện ở một thứ tiếng như tiếng chầu
Âu Thật vậy, trong cảm thức ngôn ngữ của mình, người Nga, người Pháp, người Anh không thể tư duy mà không có THÌ - THỂ - NGÔI – SỐ mặc dù tất cả những ý nghĩa này đều đã được nêu rõ bằng phương liên từ vựng hoặc nhờ hàm ý của câu về điểm này, có thể
viện dẫn nhận xét sau đây của Edward Sapir: "Ngày nay, hình thái tồn tại lâu hơn nội dung
khái niệm của nó Cả hai đều luôn thay đổi, nhưng nói chung, hình thái có xu hướng thay đổi chậm dù cho tinh thần của nó đã mất hẳn Một hình thái phi lý, một hình thái vì hình thái (chúng ta có thể gọi là khuynh hướng bảo vệ những sự khu biệt về hình thái trong khi nó đã lỗi thời) là một điều tự nhiên trong đời sống ngôn ngữ cũng như những cách cư xử vẫn được người ta tuân thủ mãi sau khi nỏ đã mất hết cái ý nghĩa đầu tiên mà nó đã từng có " và
"Dường như ở một thời đại nào dó trong quá khứ, cái trí tuệ vô thức của con người vì đã làm mội bản thống kê quá nhanh về những kinh nghiệm, đã đi đến một sự phân loại quá sớm, không thể thay đổi trực nữa và bắt những người thừa hưởng ngôn ngữ phải chịu một thứ khoa học mà họ không thể nào tin, cũng không thể nào bỏ Cải giáo điều do truyền thống quy định chặt chẽ đã chết cứng trong chủ nghĩa hình thức, những phạm trù ngôn ngữ học hợp thành một hệ thống giáo điều giờ vẫn tồn tại Nó thường chỉ tồn tại một nửa với tính cách khái niệm, đời sống của nó luôn suy mòn làm thành những hình thức vì hình thức " ([28]
2000:124- 126)
Trang 28Có thể coi đây là lời giải thích đầy đủ, rõ ràng về quy tắc sử dụng, về phương cách biểu đạt ý nghĩa của loại ngôn ngữ biến hình, minh chứng cho sự khác nhau về mặt loại hình giữa các ngôn ngữ, cơ sở giúp ta đi vào so sánh, đối chiếu cách biểu đạt ý nghĩa thời gian của tiếng Việt và tiếng Nga, hai thứ tiếng vốn được coi một cách chính danh là nằm ở hai cực điển hình trên cái trục tổng hợp tính/phân tích tính
II Đến những đối chiếu cụ thể
Mỗi ngôn ngữ đều có tính chất đặc thù về phương diện biểu đạt, nhưng dù có khác xa nhau ở mặt hình thức như thế nào đi nữa, nó vẫn được xây dựng trên cái nền chung, tức là có một ý nghĩa chung mà mọi ngôn ngữ đều có cách diễn đạt Chính vì vậy, những cộng đồng người khác nhau mới có thể hiểu được nhau, các thứ tiếng mới có thể chuyển dịch được sang nhau Điều này chứng tỏ mối quan hệ giữa cái "phổ quát" với cái "riêng biệt"
Thật vậy, mỗi ngôn ngữ đều có tính chất riêng về phương diện biểu đạt, nhưng tính đặc thù, không lặp lại của nó được tạo ra không phải do những nét duy nhất của riêng nó mà còn do tính chất phổ quát và đặc tính loại hình giao thoa, tác động lẫn nhau như thế nào trong ngôn ngữ đó Các công trình nghiên cứu so sánh, đối chiếu, hướng tới việc phát hiện ra các đặc điểm của mỗi ngôn ngữ đều dựa trên luận điểm được R Jakobson đúc kết lại là: "Các ngôn ngữ đều có sự đồng hình; làm cơ sở cho cấu trúc của chúng là những nguyên tắc chung, giống nhau" (dẫn theo [130] 1990:30-32) Trên bình diện thực tiễn, các ngôn ngữ của loài người có khá nhiều điểm tương đồng vì cách tri giác và nhận thức thế giới của con người là một và do đó, những ý nghĩa mà con người cần diễn đạt khi giao tiếp với nhau trong cộng đồng cũng rất giống nhau Về mặt nhận thức, tất cả các ngôn ngữ đều có khả năng và nhu cầu biểu đạt ý nghĩa như nhau Người ta gọi đó là
Trang 29năng lực ngôn ngữ phổ quát nói chung của loài người, là cái cơ chế ngôn ngữ chung của
mọi thứ tiếng
Tuy nhiên, ngoài mặt chung nhau, giống nhau này, mỗi ngôn ngữ còn được phân biệt với nhau về cách thức cấu tạo, về hình thức biểu đạt từ cấu trúc bên trong của nó Ngôn ngữ không trực tiếp phản ánh thế giới khách quan Nó phản ánh hiện thực thông qua cách tri giác, qua lăng kính của người sử đụng Điều này bộc lộ rõ rệt khi chúng ta đem so sánh các ngôn ngữ với nhau17 Chẳng hạn khi đối chiếu phạm trù THÌ và phạm trù THỂ giữa tiếng Nga và tiếng Pháp, hai thứ tiếng được xem là cùng loại hình với nhau, có sự đối ứng các phạm trù thể
hiện nghĩa tương đối giống nhau, Fak vẫn nhận thấy điểm khác biệt giữa chúng là: "Tuy cùng
biểu đạt một sự kiện, nhưng nếu trong câu tiếng Pháp sự kiện đó được xem trước hết như một biến cố có chiều dài thời gian và được hiển thị nhờ vào hình thái "THÌ " của động từ vị ngữ, thì trung câu tiếng Nga, nó lại được nhìn nhận trước hết như là một biến cố chỉ diễn ra trong khoảnh khắc và được biểu hiện qua hình thái "THỂ" của động từ và sự khác nhau này là do
"điểm nhìn" (точка зрения) của người sử dụng ngôn ngữ " (dẫn theo Lý Toàn Thắng [100]
2000: 3) Ở những ngôn ngữ có khác biệt khá xa (thậm chí đối lập) về loại hình như tiếng Việt và tiếng Nga thì những biểu đạt "bất tương ứng" như thế chắc chắn còn nhiều hơn nữa
Việc xác lập quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ bằng cách xem xét sự giống nhau hay khác nhau về mặt hình thức, biểu thị những phạm trù ngữ pháp nhất định, nhằm mục đích cuối cùng là giải thích được những sự khác biệt ấy (giữa các ngôn ngữ) có phải được quy định bởi quy luật chung hay không
Sau khi bắt đầu bằng việc miêu tả, liệt kê ra tất cả các phương tiện dùng để biểu đạt ý nghĩa thời gian ở mỗi thứ tiếng cũng như xem xét những điểm khác nhau về mặt loại hình
giữa chúng, chúng tôi lấy 656 câu (từ trang 10 đến trang
Trang 3043) trong tác phẩm "Chiến tranh và hòa bình" của LepTonstôi (nguyên bản tiếng Nga:
“ВОЙНA И МИР” của Л Н Toлcтoй) làm ngữ liệu đối chiếu - so sánh cách diễn đạt ý nghĩa thời gian giữa tiếng Nga và tiếng Việt
1 Những điểm tương đồng
Cả tiếng Nga và tiếng Việt đều có dùng phương tiện từ vựng để diễn đạt các mối quan
hệ thời gian, xác định thời điểm, thời đoạn diễn ra sự kiện trong quá khứ, hiện tại, tương lai hoặc nêu rõ số lượng của hành động, sự lặp lại của nó (cách diễn tiến của nó) trong một khoảng thời gian nào đó Sự giống nhau này có thể thấy qua phương tiện chuyển dịch tương đương nhau giữa hai thứ tiếng :
a Dùng danh từ, danh ngữ diễn đạt ý nghĩa thời gian, thời đoạn, xác định khoảng cách thời gian
1 Ночь была июньская петербургская бессумрачная ночь <Đêm ấy là một đêm
tháng 6 quang đãng của bầu trời Petecbua >(24)
2 Вскоре после вечера Анны Павловны, Анна Михайловна вернулась в Москву
прямо к своим богатым родственникам Ростоввым < Ít lâu sau buổi tiếp tân ở nhà Anna Pavlôpna, Anna Mikhanôpna về Mạc Tư Khoa ở nhà một người bạn thân thích, giàu có là Rôxtôp> (43)
Trang 31cảm thấy không sao ngủ yên được trong một đêm như thế này vì nó giống như buổi chiều hay buổi sáng hơn là ban đêm> (38)
- Hoặc nêu rõ đặc trưng thời gian, trạng thái thời gian:
6 Молоgой хуgощавый мальчик, лейбчусар проигравшийся в этот вечер, взлез
па окно, высунулся и посмотрел вииз <Một sỹ quan kỵ mã cận vệ trẻ tuổi gầy gò chiều tối hôm ấy thua bạc, trèo lên cửa sổ, thò đầu ra ngoài đường, nhìn xuống cái đường lát đá> (41)
b Dùng danh từ kết hợp với số từ để xác định thời điểm xảy ra sự kiện
d Dùng trạng ngữ xác định mốc thời gian, hướng thời gian xảy ra hành động, xác định thời lượng
9 Я тебе давнo хотела сказать, Андрей <Đã lâu, em muốn hỏi anh, anh Anđrây ạ> (40)
10 Так в нынешний вечер Анна Вавловна сервировала своим гостям сначала вчекота потом аббата < trong buổi họp tối
Trang 32nay, Anna Pavlôpna lần lượt đem tử tước ra mời khách trước rồi đến lượt giáo sỹ > (14)
11 Наконец он подошѐл к Морию <Cuối cùng Pie lại gần giáo sỹ Morio > (13)
- Hoặc nêu lên số lượng của hành động, hành động được lặp đi lặp lại (với mức độ, khoảng cách và tần số khác nhau):
12 Он редко употреблял своe влияние < Ông ta rất ít khi dùng đến thế lực của mình> (20)
2 Những điểm khác biệt
2.1 Đối chiếu ý nghĩa Thì
2.1.1 Ở loại hình ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, do từ không biến đổi hình thái nên bản thân động từ ở dạng từ điển không chứa sẵn một dấu hiệu nào để có thể chỉ ra thời điểm của hành động (nó xuất hiện vào lúc nào) hay chỉ ra cách diễn tiến của hành động đó trong một thời điểm hoặc trong bất kỳ thời điểm nào (nó đang bắt đầu hay đã kết thúc, đã có kết quả hay chưa có kết quả ) Trong khi đó, ở tiếng Nga, các thông số thời gian phản ánh mặt lượng này của hành động luôn gắn với động từ do từ biến đổi hình thái Đây là đặc điểm cơ bản, chủ đạo chi phối đến phương thức biểu thị ý nghĩa thời gian trong tiếng Nga, trước hết ở mặt từ loại:
a Tiếng Nga có trạng động từ - một hình thái của động từ, chứa trong nó đặc tính của động từ, được dùng như động từ, cũng biến đổi như hình thái (THÌ và THỂ) của động từ Trạng động từ thường có bổ ngữ đi kèm và có thể có vị trí ở đầu, ở cuối hoặc ở giữa u, câdùng để biểu thị hoàn cảnh thời gian, hướng thời gian hay mối quan hệ thời gian đi kèm với hành động Trong đó :
- Trạng động từ được cấu tạo từ những động từ thuộc THỂ hoàn thành được dùng nếu hành động được trạng động từ biểu thị xảy ra trước hành động khác
Trang 33b Giới từ tiếng Nga, trong đó có giới từ biểu thị ý nghĩa thời gian đƣợc dùng theo những CÁCH khác nhau, khi kết hợp với danh từ, nó làm cho danh từ đó biến đổi theo CÁCH Tiếng Việt không có hình thức này
3 Нa днях у Апраксиных я слышала как одна дома спрашивает <Hôm vừa rồi, ở
nhà Aprắcxin, tôi nghe một vị phu nhân hỏi > (37) (giới từ на cách 6)
Trang 345 Но чтобы доказать вам, как я люблю вас <Nhưng để bà biết cho là tôi rất
mến bà > (21) (Tiếng Nga dùng động từ THÌ hiện tại)
6 Князь Василии улыбнулся <Công tước Vaxili mỉm cười> (21) (Tiếng Nga dùng
động từ THÌ quá khứ)
2.1.2 Biến tố của động từ, hình thái THÌ của động từ được biểu thị qua những chỉ tố ngữ pháp đặc trưng, mang tính "thường xuyên" và "bắt buộc", gắn với nó, làm thành phạm trù THÌ (tense) của tiếng Nga Trong khi tiếng Việt không có THÌ, không cỏ một chỉ tố chuyên biệt nào được "mã hóa" vào vị từ Khi thật cần thiết biểu thị ý nghĩa "trực chỉ" hay
"định vị" thời gian, khi ngôn cảnh không cho biết rõ thời điểm, xảy ra sự kiện, tiếng Việt dùng phương tiện từ vựng (dùng khung đề, trạng ngữ) hay dùng vị từ tình thái Hệ quả là những chỉ tố "đánh dấu" THÌ trong tiếng Nga không phải bao giờ cũng tương hợp với những phương tiện biểu thị thời gian trong tiếng Việt
a Có lúc tiếng Nga diễn đạt ý nghĩa THÌ một cách hiển ngôn bằng phương tiện ngữ pháp trong khi tiếng Việt lại diễn đạt hàm ý về một việc xảy đến "sớm" hay "muộn" so với dự tính của người nói mà không phải là ý nghĩa THÌ:
7 Прежде он, не дослушaв слов, ушѐл < Lúc nãy, chưa nghe hết lời bà dì, chàng đã
Trang 3510 Но как только он вышѐл, лицо еѐ опять приняло то же холодное
притворное выражение, котóрые было на нѐм прежде <Nhưng khi công tước vừa đi, nét mặt bà ta đã trở lại lạnh lùng, giả dối như ban nãy> (21)
b Những câu có ý nghĩa xác định thời gian được diễn đạt bằng phương tiện ngữ
pháp trong tiếng Nga, sang tiếng Việt được diễn đạt bằng phương tiện từ vựng:
11 В середние ужина князь Андрей облокоился и как человек давно имеющий
что - нибудь на сердце и вдруг рещающийся высказаться <Giữa bữa ăn, công tước
Anđrây chống khuỷu tay lên bàn và giống như người lâu năm ấp ủ một điều gì trong lòng mà bây giờ đột nhiên quyết thổ lộ ra> (34)
12 Хорошо бы было поехать к Курагину! <Bây giờ mà về nhà Curaghin thì thú vị
Trang 36- "Когда вы едете?" <Bao giờ thì anh đi ?> (32), sẽ có dạng thức THÌ hiện tại
Còn câu:
- "Когда ты пришѐл?" <Anh đến lúc nào thế?> sẽ có dạng thức THÌ quá khứ
Thường thì tiếng Nga dùng từ chỉ thời gian (trạng từ, trạng động từ, giới ngữ, danh ngữ) ở vị trí khung đề :
15 В это время в гостиную вышло новое лицо < Vừa lúc ấy, một nhân vật mới
bước vào> (17)
16 Ах! Сегодня мне рассказала <A! Hôm nay, người ta kể cho tôi> (26)
Nhưng cũng có khi từ chỉ thời gian nằm ở vế sau hoặc chen vào giữa thành phần chính (chủ từ - vị từ) của câu Trong trường hợp đó, dựa vào ngữ cảnh, người dịch có thể đặt
nó ở vị trí khung đề làm cho phạm vi thời gian trong đó những điều được nói đến ở phần THUYẾT có hiệu lực :
17 Уже был второй час ночи, когда Пьер вышѐл от своего друга <Khi Pie ra
khỏi nhà bạn thì đã hơn một giờ> (37)
18 Князь Андреи, говоря это, был ещѐ менее похож, чем прежде, на того
Больконского, который развалившись сидел в креслас Анны Павловны <Khi nói đến điều
đó công tước Anđrây lại càng ít giống chàng Bôncônxki mới đây ngồi lơ đãng trên ghế bành nhà Anna Pavlôpna> (29)
d Trong tiếng Nga, THÌ và THỂ bao giờ cũng kết hợp chặt chẽ với nhau Trong mọi dạng thức của từ, trong mọi dạng thức của câu, ta đều thấy mối quan hệ "song tồn" này Do đặc trưng nghĩa mà THỂ hoàn thành (CB) chỉ kết hợp được với hai THÌ (quá khứ - tương lai) trong khi THỂ không hoàn thành (HB) lại
Trang 37có thể kết hợp được với cả ba THÌ tạo nên những phức hợp THÌ - THỂ (như: quá khứ - hoàn thành.; quá khứ không hoàn thành, tương lai - hoàn thành; tương lai - không hoàn thành; hiện tại không hoàn thành ) Trong khi tiếng Việt không có THÌ, chỉ có THỂ và không phải lúc nào ý nghĩa THÌ và ý nghĩa THỂ cũng biểu thị một cách hiển ngôn hoặc đi liền với nhau
và tương đương nhau về phương diện biểu đạt Vì thế, có khi tiếng Nga biểu thị lồng ghép cả hình thái THÌ và hình thái THỂ (THÌ quá khứ - THỂ hoàn thành) để diễn đạt cả ý nghĩa THÌ
và ý nghĩa THỂ thì tiếng Việt chỉ diễn đạt những ý nghĩa khác nhau thuộc về THỂ: hoặc THỂ "dĩ thành" (perfect), hoặc THỂ "hoàn tất", (completive), hoặc THỂ "kết quả" (resultative), hoặc THỂ "bắt dầu" (inceptive) mà không phải là xác định mối quan hệ thời gian giữa quy điểm sự kiện và quy điểm phát ngôn:
19 И весь свет узнал <Thế là tất cả mọi người đều biết cả> (27)
20 Aнна Павловна уже успела переговорить с лизой о сватовстве, которое она
затевала между Анатолем и золовкой маленькой княгини <Số là Anna Pavlopna đã chọn được một lúc thuận tiện để nói với nàng về việc hôn nhân dự định giữa Anatôn và em chồng nàng> (28)
21 Видимо, слова Пьер затронули еѐ за живое <Hình như những lời của Pie đã
chạm vào chỗ đau của nàng> (32)
22 Kнязь Василии исполнил обещание, данное на вечере у Aнны Павловны
княгине Друбецкой просившей его о своем единственном сыне Борисе <Công tước Vaxili
đã làm tròn lời hứa của mình với công tước phu nhân Đrubetscaia trong buổi tối tiếp tân ở nhà Anna Pavlopna là sẽ xin giúp cho Boris, cậu con một của phu nhân> (43)
2.1.3 Sự khác biệt giữa lính chất hữu THÌ (trong tiếng Nga) và tính chất vô THÌ (trong tiếng Việt) còn được thể hiện ở chỗ:
Trang 38a.- Trong 656 câu đã tập hợp đƣợc, có 1258 lần vị từ tiếng Nga dùng ở các hình thái THÌ khác nhau, chiếm 193,2% Điều này cho thấy THÌ là một thuộc tính - đặc trƣng của động
từ (không có động từ nào không có hình thái THÌ) và các biến tố thể hiện nó mang tính "bát buộc" trong tiếng Nga Trong khi đó, ở bản dịch ra tiếng Việt VT không có một hình thái riêng nào đi kèm Vì thế, khi trong câu tiếng Nga các chỉ tố diễn đạt hình thái THÌ thể hiện
"dày đặc" ở động từ (kể cả khi đã dùng niên đại, thời khắc cụ thể hay ý nghĩa thời gian đã đƣợc suy ra từ toàn bộ ngôn cảnh ) thì tiếng Việt không đánh dấu bằng hình thức nào:
23 Ежли кто ко мне ещѐ будет соваться я того сейчас спущу вот сюда…
<thằng nào mà quấy rầy tao thì tao quẳng nó xuống dưới này > (41)
24 A теперь мы все едем к тебе <còn bây giờ thì chúng ta đến nhà con > (42)
25 Разве ты такой бы л полгода назад <''Nửa năm trước đây anh có thế đâu?>
(33)
26 Пьер поворотилcя всем телом, так что диван закрипел обернул оживленное
лицо и князю Андрею, улыбнулся и махнул рукой <Pie quay hẳn mình trở lại, làm cho chiếc đi văng kêu cọt kẹt, nhìn công tước Anđrây với một vẻ phấn chấn, mỉm cười rồi khoát tay một cái> (30)
27 Спуcтиь ноги и раснершись обоими руками в края окна, он примсился, уселся, отпустил руки, подвинулся направо, налево и достал бытыку <Hai chân
buông thõng ra ngoài, hai tay bám lấy thành cửa sổ, chàng ngồi thừ rồi buông hai tay, dịch sang bên phải rồi dịch sang bên trái, đoạn vớ lấy chai rượu> (41)
b.- Đã , đang, sẽ trong tiếng Việt đƣợc chứng minh là vị từ tình thái diễn đạt ý nghĩa
THỂ, không phải ý nghĩa THÌ, cho nên :
Trang 39- Hình thái thì tiếng Nga không tương đương với đã trong tiếng Việt
глазми <Đôlôkhốp vóc người tầm thước, tóc xoăn, mắt màu xanh nhạt> (39)
- Hình thái thì hiện tại không tương đương với đang trong tiếng Việt:
31 Для чего? Я не знaю Так надо Кроме того я иду Он остановился Я иду
потому, что эта жизнь, кoтóрую я веду здесь, эта жизнь-не по мне <Tại sao? tôi cũng không biết Phải đi thôi Vả chăng cũng vì cuộc sống của tôi ở đây, cuộc sống ấy chẳng hợp với tôi tý nào> (31)
Trang 4033 Папа ! мы опaздaем (THÌ tương lai đơn) <Ba ạ! Chúng ta đến muộn mất>
(21)
34 Так завтра вы доложите (THÌ tương lai đơn) госудаю <Тhế đến mai, ngài tâu
lên Hoàng thượng chứ ?> (21)
35 Я выпью (THÌ tương lai đơn) давай бутыку рома! <Tôi muốn uống, mang chai
rượu lại đây> (42)
- Sẽ được dịch trong những trường hợp nêu lên "khả năng" và "điều kiện" thực hiện
hành động trong những câu ghép có quan hệ giả thiết - điều kiện, không hoàn toàn đồng nhất
và tương ứng với THÌ "tương lai" của tiếng Nga
36 Я сделаю (THÌ tương lai đơn) невозможное: Сын ваш будет переведен (THÌ
tương lai phức hợp) и гвардию, вот вам моя рука < Dù không thể được đi nữa tôi cũng sẽ hết sức cố gắng: Cậu con trai bà sẽ được đổi về đội quân cận vệ, tôi xin hứa với bà như vậy> (21)
37 Ежли ещѐ год Бонапарте остaнетcя на престоле франции то дела
пойдут (ТНÌ tương lai đơn) слишком далеко Интригой, насилием, изгнаниями казнипми
общество ( ) навсегда будет уничтожено (ТНì tương lai phức hợp) и тогда <Nếu
Bônapátê còn làm vua nước Pháp một năm nữa thì không biết sẽ đi đến đâu Âm mưu, bạo lực, những án lưu đồ, những cuộc hành hình sẽ làm cho xã hội Pháp ( ) vĩnh viễn bị tiêu diệt
và đến lúc đó thì > (23)
2.2 Đối chiếu ý nghĩa thể
2.2.1 Để diễn dạt những ý nghĩa khác nhau thuộc về THỂ như: hoàn tất/không hoàn tất, kết quả/chưa có kết quả, nhất cố/tái diễn, dĩ thành -khỏi phát tiếng Nga dùng hai hình thái THỂ cơ bản được phân biệt nhau về nghĩa và về cấu tạo (qua tiền tố, hậu tố) là THỂ hoàn thành (совершенный вид - CB) và THỂ không hoàn thành (не совершенный вид – HB) Tiếng Việt dùng nhiều hình thức