1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chủ quyền quốc gia đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên biển của cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam

104 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở pháp lý của việc thực hiện chủ quyền quốc gia đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên biển 16 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN CÁC

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐOÀN THỊ VƯỢNG

CHỦ QUYỀN QUỐC GIA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN BIỂN

CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật quốc tế

Mã số : 60 38 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Ngọc Vượng

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

Chương 1: CHỦ QUYỀN QUỐC GIA VEN BIỂN ĐỐI VỚI HOẠT

ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở CÁC VÙNG BIỂN

1.3 Cơ sở pháp lý của việc thực hiện chủ quyền quốc gia đối với

hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên biển

16

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ,

KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN VÀ QUYỀN CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM

23

2.1 Thực trạng quản lý hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên

biển của Việt Nam trước năm 1993

23

2.2 Thực trạng quản lý hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên

biển của Việt Nam từ 1993 đến trước năm 2000

35

Trang 3

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên

biển của Việt Nam từ năm 2000 đến trước năm 2008

47

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên

biển của Việt Nam từ năm 2009 đến nay

56

2.5 Ảnh hưởng của việc thăm dò, khai thác dầu khí đối với môi

trường biển

64

2.6 Kinh nghiệm quản lý hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí

trên biển của một số nước và việc vận dụng ở Việt Nam

68

2.6.2 Quy định về cơ quan quản lý nhà nước 76

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG

HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN BIỂN

81

3.1 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý nhà nước đối

với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên biển

81

3.1.1 Sự hạn chế của các quy phạm pháp luật hiện hành về hoạt

động dầu khí

81

3.1.2 Hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm

dò, khai thác dầu khí trên biển còn thấp

82

3.1.3 Quá trình hội nhập đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về

thăm dò, khai thác dầu khí trên biển

84

3.1.4 Sự vận động, phát triển của các quan hệ xã hội trong đời sống

dẫn tới cần hoàn thiện pháp luật về thăm dò, khai thác dầu khí

trên biển

84

3.2 Một số định hướng cho việc tăng cường hiệu quả quản lý nhà

nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên biển

85

Trang 4

3.2.2 Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, ý chí nhà nước

phù hợp với lợi ích của nhân dân

86

3.2.3 Xây dựng, củng cố tổ chức của cơ quan chuyên trách, tăng

cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, lực lượng tham gia

quản lý nhà nước

87

3.2.4 Xây dựng đội ngũ cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng về chuyên

môn, nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách quản lý biển

87

3.2.5 Đầu tư tài chính thích đáng cho nhiệm vụ quản lý nhà nước

đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên biển

88

3.2.6 Quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu

khí phải đảm bảo hài hòa lợi ích của cộng đồng, của nhà nước

và của chủ thể tiến hành hoạt động dầu khí

3.3.4 Tiếp tục thực hiện chính sách khai thác chung ở những vùng

biển đang còn tranh chấp

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Với tổng diện tích chiếm hơn 71% bề mặt trái đất và ẩn chứa trong mình nguồn tài nguyên khổng lồ, biển ngày càng có vai trò quan trọng sống còn đối với các quốc gia ven biển Các quốc gia có biển ngày càng ý thức được tầm quan trọng của biển đối với sự phát triển của dân tộc mình nên luôn tìm mọi biện pháp nhằm quản lý, khai thác cũng như sử dụng một cách tối ưu các vùng biển thuộc quốc gia mình để phát triển kinh tế - xã hội - an ninh quốc phòng của đất nước

Việt Nam là một quốc gia có lợi thế về biển, diện tích đất liền của nước ta không quá 330.000 km2 nhưng vùng biển chủ quyền của nước ta gấp

ba lần diện tích vùng đất Các vùng biển của Việt Nam rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên Biển có một vai trò đặc biệt quan trọng và gắn bó mật thiết với đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của mọi miền đất nước Hàng năm, nguồn thu từ các hoạt động khai thác biển là rất lớn, đặc biệt đối với hoạt động khai thác dầu khí Dầu khí của nước ta chủ yếu tập trung ở vùng thềm lục địa Trong thời gian qua, nhất là trong những năm gần đây Nhà nước

ta đặc biệt chú trọng đến hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí Bởi dầu mỏ

và khí thiên nhiên là khoáng sản quý hiếm, không tái tạo, là nguồn năng lượng và nguyên liệu quan trọng của đất nước, là nguồn tài nguyên chiến lược quan trọng do Nhà nước độc quyền quản lý và khai thác Ngành dầu khí Việt Nam là ngành công nghiệp mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, có đóng góp quan trọng cho sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước, đưa nước ta vào danh sách các nước sản xuất dầu khí trên thế giới và đứng thứ ba ở Đông Nam Á về trữ lượng và sản lượng khai thác dầu thô

Trang 6

Để bảo vệ, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá này, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp Luật Dầu khí, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động dầu khí nói chung và hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí nói riêng

Tuy nhiên, vì tính chất rộng lớn về quy mô và phức tạp về nội dung cũng như sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nên công tác quản lý của nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí còn gặp nhiều khó khăn Nghiên cứu vấn đề này là rất cần thiết không chỉ trong giai đoạn hiện nay mà trong bất kỳ giai đoạn nào, hoàn cảnh nào của đời sống xã hội Tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu với những lý do sau:

1 Hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí là hoạt động đòi hỏi nguồn vốn lớn, công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Do đó, đòi hỏi cần có sự đầu

tư cả nguồn lực trong nước và nước ngoài về vốn và khoa học công nghệ Tuy nhiên, do đặc thù nên đầu tư vào lĩnh vực này cơ bản là thu hút đầu tư nước ngoài Vì vậy, quản lý đối với hoạt động này là hết sức khó khăn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp Thu hút đầu tư nước ngoài nhưng vẫn đảm bảo độc quyền quản lý của nhà nước Do đó cần phải nghiên cứu nhằm có cái nhìn thực tế để có các chính sách pháp luật nhằm khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài nhưng không làm ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia

2 Bên cạnh những đóng góp to lớn về mặt kinh tế thì những hoạt động của ngành công nghiệp dầu khí cũng đã gây ra những tác hại to lớn về mặt môi trường, ví dụ sự cố cháy, nổ dàn khoan dầu, sự cố tràn dầu… trong đó hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí chính là hoạt động tiềm ẩn lớn nhất nguy cơ gây tác hại xấu tới môi trường Vì vậy, một đòi hỏi tất yếu, quản lý nhà nước đối với hoạt động này phải đảm bảo yếu tố môi trường Nghiên cứu vấn đề này với mong muốn góp phần đưa ra chính sách pháp luật đồng bộ đảm bảo cho hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ngày càng phát triển mà không gây ảnh hưởng xấu tới môi trường cũng như có các biện pháp bảo vệ môi trường

Trang 7

3 Mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống để từ đó có cái nhìn tổng quát về thực trạng cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí Qua đó đưa ra những nhận định, đánh giá về hệ thống pháp luật liên quan

4 Từ những nhận định, đánh giá trên sẽ có những kiến nghị nhằm đưa

ra các định hướng cũng như các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý của nhà nước đối với hoạt động này

5 Hiện nay có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các bài viết có giá trị đề cập đến công tác thăm dò, khai thác dầu khí ở nước ta Tuy nhiên, những bài viết đi sâu vào hướng nghiên cứu công tác quản lý của nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí không nhiều mà chủ yếu viết dưới dạng đánh giá tiềm năng, khả năng khai thác hoặc ở tầm khái quát hơn là nghiên cứu về các chính sách pháp luật đối với tổng thể các hoạt động dầu khí Vì vậy, mong muốn với quá trình nghiên cứu này, đề tài sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo có giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay ở nước ta có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết có giá

trị đề cập đến hoạt động dầu khí Chẳng hạn, "Tài liệu tập huấn quản lý biển" của Ban biên giới - Bộ ngoại giao; "Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam" của Tập đoàn dầu khí Việt Nam; "Những vấn đề pháp lý về đầu tư trong lĩnh vực dầu khí ở Việt Nam" của Hồ Văn Phú; luận án Phó tiến sĩ "Hoàn thiện pháp luật về biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của Trần Công Trục; luận văn thạc sĩ "Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí ở Việt Nam hiện nay" của Đặng Hoàng Sơn… Các bài viết này có giá

trị rất lớn về mặt khoa học và thực tiễn Các bài viết đã nêu những phương hướng cũng như những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển nói chung và về hoạt động dầu khí nói riêng rất đầy đủ và có giá trị to lớn Tuy nhiên, các bài viết này chủ yếu nói về công tác quản lý biển nói chung

Trang 8

hay quản lý dầu khí trước những năm 1999 Chẳng hạn, "Tài liệu tập huấn quản lý biển", chủ yếu nói về quản lý biển một cách tổng thể từ quản lý biển

trong lĩnh vực khai thác, sử dụng biển đến quản lý biển trong việc bảo vệ an

ninh trật tự, môi trường biển và phát triển bền vững Còn tài liệu "Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam", mặc dù nội dung chuyên ngành về dầu khí

nhưng dưới dạng tìm hiểu và đánh giá tiềm năng về dầu khí của Việt Nam trên biển cũng như trên đất liền, hầu như chưa có quy định về quản lý nhà

nước đối với lĩnh vực này Đối với tài liệu "Những vấn đề pháp lý về đầu tư trong lĩnh vực dầu khí ở Việt Nam", đã trực tiếp đề cập đến vấn đề quản lý

nhà nước đối với hoạt động dầu khí Nhưng bài viết mới chỉ dừng lại ở những quy định về quản lý nhà nước đến năm 2000 và chủ yếu đề cập dưới góc độ

đầu tư Hay luận văn thạc sĩ "Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí ở Việt Nam hiện nay" mặc dù đã trực tiếp đề cập đến vấn đề quản lý

nhà nước đối với hoạt động dầu khí nhưng chỉ tìm hiểu và đưa ra những giải pháp dưới góc độ bảo vệ môi trường

Trên thực tế, quản lý nhà nước đối với hoạt động dầu khí nói chung và hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí nói riêng liên quan tới nhiều ngành, nhiều cấp Hơn nữa, ở mỗi giai đoạn, từng thời kỳ hoạt động này là khác nhau

vì vậy các biện pháp quản lý cũng như các chính sách pháp luật đòi hỏi phải thay đổi cho phù hợp với thực tiễn Do đó, cho đến nay vấn đề chủ quyền quốc gia đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên biển vẫn là vấn đề mang tính cấp bách và chiến lược của Việt Nam

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích có cái nhìn tổng quát về thực trạng quản lý đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ đó sẽ có những đánh giá, nhận xét xác thực nhằm đưa những kiến nghị, những giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý của nhà nước

Trang 9

Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của công tác quản lý đối với các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên biển của Việt Nam Từ đó, sẽ đi vào nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với hoạt động này Trong nội dung trình bày

sẽ rút ra những nhận xét đánh giá Bên cạnh đó, luận văn cũng đề cập tới kinh nghiệm quản lý đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của một số nước trên thế giới Qua đó, sẽ đưa ra những kiến nghị và các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp như: diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp, luật học so sánh

5 Những đóng góp mới của luận văn

Thứ nhất, luận văn đi vào nghiên cứu chi tiết quy định của pháp luật

đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí (theo mốc thời gian ban hành pháp luật chuyên ngành) để rút ra những mặt còn hạn chế nhằm có cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật

Thứ hai, luận văn nghiên cứu công tác quản lý của một số nước trên

thế giới đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí và việc vận dụng các kinh nghiệm của các nước đó vào Việt Nam

Thứ ba, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường công tác

quản lý của Nhà nước đối với hoạt động này

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Trang 10

Chương 1: Chủ quyền quốc gia ven biển đối với hoạt động thăm dò,

khai thác dầu khí ở các vùng biển

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí

trên các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường công tác

quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên biển của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 11

Chương 1

CHỦ QUYỀN QUỐC GIA VEN BIỂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG

THĂM DÒ, KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở CÁC VÙNG BIỂN

1.1 CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRONG LUẬT QUỐC TẾ

Hiến chương Liên hợp quốc đã trịnh trọng ghi nhận nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của tất cả các quốc gia trong quan hệ quốc tế: "Liên hợp quốc được tổ chức trên cơ sở tôn trọng sự bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các thành viên" (Điều 2) Một trong những đặc điểm cơ bản của luật quốc tế hiện đại thể hiện ở chỗ các chủ thể cơ bản của nó là các quốc gia có chủ quyền Quốc gia được cấu thành bởi ba yếu tố: Lãnh thổ (cơ sở vật chất cho

sự tồn tại của quốc gia); dân cư; và quyền lực công khai (các yếu tố tinh thần) Chủ quyền là thuộc tính chính trị - pháp lý của quốc gia Chủ quyền quốc gia có hai nội dung cơ bản: Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ (hay trong phạm vi lãnh thổ quốc gia) và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế

Khái niệm chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc và chủ quyền nhân dân xuất hiện cùng với thắng lợi của cách mạng tư sản ở phương Tây, trong tuyên ngôn của Cách mạng dân chủ tư sản Pháp và cũng từ thời kỳ này khái niệm chủ quyền được nghiên cứu một cách có hệ thống mặc dù chủ quyền là thuộc tính của nhà nước, xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước

Quyền tối cao của quốc gia - chủ quyền quốc gia được hiểu là quyền lực công tuyệt đối, loại bỏ bất kỳ quyền lực nào từ bên ngoài Nhà nước thực hiện quyền tối cao của mình trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, tổ chức việc thực hiện quyền lực ấy về mặt hành chính Sự độc lập của quốc gia trong quan

hệ quốc tế thể hiện việc quốc gia không lệ thuộc vào quyền lực của Nhà nước nước ngoài, của các định chế quốc tế, tức là hoàn toàn tự mình quyết định mọi vấn đề của mình trong quan hệ quốc tế

Trang 12

Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ và sự độc lập về mặt chính trị của quốc gia trong quan hệ quốc tế có mối liên hệ mật thiết với nhau

và thể hiện sự vô giới hạn về mặt pháp lý của ý chí của quốc gia Thật vậy, quyền lực mà lệ thuộc vào một quyền lực khác thì không thể là quyền lực tối cao, bởi vì trong trường hợp này thì quyền lực sau mới là tối cao vì nó quyết định ý chí của quyền lực trước Tuy nhiên cũng không thể khẳng định rằng chủ quyền là trạng thái pháp lý độc lập của quyền lực nhà nước của một quốc gia nhất định đối với bất kỳ một quyền lực nào khác trong phạm vi lãnh thổ quốc gia cũng như ngoài phạm vi đường biên giới quốc gia Sự khẳng định này sẽ dẫn đến cách hiểu không đúng về sự độc lập của quyền lực nhà nước trong phạm vi lãnh thổ của mình nhưng đồng thời lại cho phép sự tồn tại của các chủ thể của quyền lực tối cao khác trong phạm vi lãnh thổ của mình

Các quan hệ tư bản chủ nghĩa phát triển và được củng cố trong lòng

xã hội phong kiến còn các mối liên hệ dân tộc lại được củng cố trên cơ sở các quan hệ tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới nhu cầu xoá bỏ sự cát cứ phong kiến và xây dựng các nhà nước dân tộc tập trung Đại diện cho khuynh hướng này là quyền lực của vua chúa phong kiến trung ương tập quyền ở Tây Âu Sự hình thành nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đã trải qua cuộc đấu tranh gay gắt với ba lực lượng chính trị theo các khuynh hướng khác nhau: quyền lực của nhà thờ, của các vị hoàng đế và của các tập đoàn phong kiến cát cứ Trong cuộc đấu tranh này quyền lực vua chúa phong kiến (tiêu biểu là ở Pháp) đề xướng và đấu tranh bảo vệ đến cùng tư tưởng về tính tối cao tuyệt đối và sự độc lập tuyệt đối, tách biệt khỏi bất cứ một thứ quyền lực tối cao nào khác Tư tưởng về chủ quyền của J Bodin, một học giả Pháp đã trở thành học thuyết đầu tiên về chủ quyền quốc gia Trong tác phẩm nổi tiếng "Sáu cuốn sách về nhà nước" J Bodin đã trình bày học thuyết về chủ quyền với tính cách là quyền lực quân chủ tối cao, tuyệt đối Theo ông, chủ quyền là quyền thường xuyên, quyền tuyệt đối của nhà nước, quyền cai trị thần dân, thứ quyền lực vĩnh hằng, không bao giờ thay đổi, không quyền lực nào có thể

Trang 13

thay thế Chủ thể của chủ quyền là nhà vua Học thuyết của J Bodin đã được thừa nhận rộng rãi và là cơ sở để hình thành nguyên tắc chủ quyền ở các phương diện khác nhau theo quan điểm tư sản Trong sách báo pháp lý quốc

tế thời bấy giờ đã thịnh hành quan niệm cho rằng chủ quyền là quyền lực tối cao của nhà nước Và do vậy, chủ quyền được xem như một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước (bên cạnh các đặc trưng khác của nhà nước mà quan điểm mácxit cũng thừa nhận: phân chia dân cư thành các đơn vị hành chính-lãnh thổ, ban hành pháp luật, quy định và thu các loại thuế) Tuy nhiên, học thuyết tư sản về chủ quyền không có khả năng giải thích về bản chất của nhà nước, mà chỉ xem xét khái niệm chủ quyền trên cơ sở quan niệm giáo điều, trừu tượng, hình thức Quan niệm tư sản về chủ quyền mang tính chất giai cấp rõ nét Nội dung của các quan niệm này thay đổi tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, vào quan niệm và mục tiêu của giai cấp tư sản thống trị ở các nhà nước khác nhau nhưng về bản chất mà nói là thống nhất với nhau ở chỗ nó cố biện minh cho quyền tối cao, tuyệt đối của giai cấp thống trị trong xã hội Và chúng ta cũng thấy rõ tính chất của học thuyết về chủ quyền của học thuyết tư sản: chủ quyền chỉ có thể có ở các nhà nước văn minh còn các nước khác chỉ có quyền trở thành nhà nước bị trị, phụ thuộc, trở thành thuộc địa

Chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin mới cho chúng ta thấy rõ bản chất của chủ quyền quốc gia Chủ quyền quốc gia của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là quyền lực của nhân dân lao động, là dân chủ của quần chúng nhân dân lao động, dân chủ đối với đa số Trong pháp luật quốc tế, sự độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế được coi là khía cạnh quan trọng của chủ quyền quốc gia Sự độc lập của một quốc gia được hiểu là quốc gia đó không phụ thuộc, không lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác Sự độc lập của các quốc gia trong quan hệ quốc tế không đồng nghĩa với sự biệt lập của các quốc gia Các quốc gia trong thế giới hiện đại luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau Củng cố và duy trì các mối quan hệ kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia bao giờ

Trang 14

cũng là nhu cầu tất yếu của hiện thực khách quan, nảy sinh từ các mối quan

hệ quốc tế Hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế được quyết định bởi điều kiện tồn tại xã hội của các quốc gia, sự tồn tại trong hệ thống các quốc gia, trên phạm vi toàn thế giới và ở mỗi khu vực trên thế giới Sự độc lập của các quốc gia trong quan hệ quốc tế do vậy chính là sự tự do hành động của mỗi quốc gia trọng khuôn khổ pháp luật quốc tế, đồng thời đó là sự tự do thể hiện ý chí của các quốc gia trong cuộc đấu tranh và cùng nhân nhượng của quá trình xây dựng các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế

Sự tự do hành động của quốc gia trong quan hệ quốc tế vừa sự hạn chế thực tế (do điều kiện bên trong và bên ngoài của mỗi quốc gia chi phối), và vừa có sự hạn chế về mặt pháp lý (do pháp luật quốc tế quy định) Sở dĩ có sự hạn chế này là do có sự hiện diện của sự tự do của các quốc gia khác Chủ quyền quốc gia cũng xác định giới hạn của sự điều chỉnh của pháp luật quốc

tế Pháp luật quốc tế không thể điều chỉnh trực tiếp các quan hệ nội bộ của mỗi quốc gia, nơi mà sự ngự trị là chủ quyền quốc gia Trong pháp luật quốc

tế có sự xác định rất rõ đâu là ranh giới của công việc nội bộ hoàn toàn thuộc chủ quyền của quốc gia Như vậy, chủ quyền quốc gia gắn bó chặt chẽ với pháp luật quốc tế và có mối liên hệ chặt chẽ với chính sách hội nhập quốc tế

và hội nhập khu vực của mỗi quốc gia

Luật quốc tế hiện đại đã xây dựng nguyên tắc và các quy định bảo đảm cho quốc gia thực hiện quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ bằng thực tế

là quốc gia chiếm hữu, quản trị thực sự, duy trì liên tục và hoà bình thựcn lực Nhà nước trong phạm vi lãnh thổ thống nhất, toàn vẹn và bất khả xâm phạm

Ở Việt Nam, quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ được quy định trong Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời" (Điều 1) "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 15

là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân" (Điều 2) Những nội dung này còn được ghi nhận trong một số văn bản pháp lý khác

Như vậy, quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ thể hiện ở chỗ: Trong phạm vi lãnh thổ của mình quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp Đó cũng chính là công việc nội bộ của mỗi quốc gia không thể có sự can thiệp từ bên ngoài Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quyền tài phán quốc gia cũng mang tính tuyệt đối

Quyền của quốc gia độc lập trong quan hệ quốc tế thể hiện ở các nội dung sau:

- Các quốc gia có quyền độc lập trong việc quyết định về chính sách đối nội và đối ngoại của mình Đó là quyền tối cao của quốc gia không thể có

sự can thiệp, áp đặt từ các quốc gia khác Trong quan hệ quốc tế không thể có thực thể đứng trên quốc gia (siêu quốc gia);

- Độc lập trong quan hệ quốc tế gắn với việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế theo nguyên tắc Pacta Sunt Servanda

- Độc lập và chủ quyền gắn với quá trình hợp tác quốc tế vì mục tiêu bảo đảm hòa bình, an ninh quốc tế và sự phát triển, tiến bộ

1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN BIỂN CỦA VIỆT NAM

1.2.1 Tài nguyên dầu khí trên biển của Việt Nam

- Trữ lượng và sản lượng khai thác dầu

Dầu mỏ và khí thiên nhiên là tài nguyên quý hiếm, không tái tạo, là nguồn năng lượng và nguyên liệu quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước Việt Nam là quốc gia có tiềm năng dầu khí Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở Việt Nam được bắt đầu từ đầu những năm 60 của thế kỷ trước,

Trang 16

nhưng hoạt động tìm kiếm thăm dò chỉ thực sự được triển khai mạnh mẽ từ khi thành lập Tổng cục dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam vào năm 1975 Trước năm 1990, trữ lượng dầu khí của Việt Nam chưa được thống kê trong khu vực

và trên thế giới Chỉ sau khi phát hiện và khai thác dầu từ móng nứt nẻ trước

Đệ Tam của mỏ Bạch Hổ ở bể Cửu Long trữ lượng dầu của Việt Nam mới được đưa vào thống kê đầu tiên vào năm 1990 và sau khi phát hiện mỏ khí Lan Tây - Lan Đỏ ở bể Nam Côn Sơn trữ lượng khí của Việt Nam mới được đưa vào bảng thống kê của thế giới từ năm 1992

Qua công tác khảo sát, tìm kiếm thăm dò, kết quả đã xác định được các bể trầm tích Đệ Tam có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay - Thổ Chu, Tư Chính - Vũng Mây, nhóm bể Trường Sa và Hoàng Sa

Hầu hết trữ lượng dầu của các mỏ được phát hiện đều ở thềm lục địa dưới 200 m nước

Trữ lượng dầu của Việt Nam tính đến ngày 31 tháng 12 năm

2004 cho 24 mỏ có khả năng thương mại vào khoảng 402 triệu tấn Như vậy, trữ lượng dầu của Việt Nam được phát hiện tăng rất nhanh (năm 1988 trữ lượng ước tính vào khoảng 113 triệu tấn dầu

có khả năng thu hồi) Trữ lượng dầu tập trung chủ yếu ở bể Cửu Long chiếm tới 86% trữ lượng dầu Việt Nam, bể Cửu Long là mỏ lớn nhất ở thềm lục địa Việt Nam Công nghiệp khai thác dầu ngoài khơi ở Việt Nam đã được bắt đầu, mở rộng và tăng trưởng nhanh từ 0,04 triệu tấn/năm (1986) lên 20,34 triệu tấn/năm (2004), 24,40 triệu tấn quy dầu/năm và 7 tỷ m3 khí (2006) Dự kiến đến năm

2010, ngành Dầu khí nước ta sẽ khai thác từ trên 30 đến 32 triệu tấn dầu thô quy đổi [38]

Đặc biệt, hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam được đánh giá là khá phát triển "Điều này thể hiện thông qua việc mặc dù sản lượng khai thác

Trang 17

tăng nhanh từ 5,5 triệu tấn (năm 1992) lên 20,34 triệu tấn (năm 2004) lên 24,40 triệu tấn/năm (2006) nhưng trữ lượng vẫn duy trì tăng cao hơn sản lượng khai thác" [38]

Các mỏ đang khai thác ở thềm lục địa Việt Nam đều được phát triển

và khai thác dầu trong đá chứa cát kết thuộc địa tầng Miocen, Oligocen và đối tượng đá móng phong hóa nứt nẻ trước Đệ Tam, trong đó móng nứt nẻ trước

Đệ Tam là đối tượng khai thác chính ở các mỏ: Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Hồng Ngọc và Sư tử Đen - Sư tử Vàng thuộc bể Cửu Long

Có thể nói, sự thành công trong việc gia tăng trữ lượng là do Nhà nước đã có chính sách thu hút đầu tư nước ngoài nhằm đẩy mạnh và mở rộng hoạt động thăm dò ra các vùng mới có tiềm năng và sự thành công trong thăm

dò, thẩm lượng gia tăng trữ lượng ở các mỏ đã phát triển với sự tăng trữ lượng trong thời gian qua từ các mỏ đã phát hiện chiếm khoảng 45% trữ lượng được

bổ sung Đồng thời giải pháp tăng hệ số thu hồi dầu cũng đã được nghiên cứu

áp dụng lần đầu ở mỏ Bạch Hổ và sau đó được triển khai ở các mỏ khác

- Trữ lượng và sản lượng khai thác khí

Tính đến 31 tháng 12 năm 2004 có 27 mỏ khí được phát hiện, chủ yếu ở thềm lục địa dưới 200 m nước Các mỏ khí - dầu này là các thân khí tự nhiên được tích tụ cùng các thân dầu trong một bẫy hoặc các thân chứa chủ yếu là dầy và mũ khí của cầu tạo

mà trước đây cho là mỏ dầu Từ năm 1990 có khoảng 370 tỷ m3 khí thiên nhiên có khả năng thu hồi đã được phát hiện bổ sung đưa tổng

số trữ lượng khí lên 394,7 tỷ m3 [38]

Cũng trong thời gian này đã phát hiện 23 mỏ khí ở ngoài khơi và 01

mỏ khí ở đất liền Như vậy, trữ lượng khí chủ yếu tập trung ở ngoài khơi Trong

đó, tập trung chủ yếu ở bể Nam Côn Sơn, bể Malay - Thổ Chu, bể Cửu Long tập trung chủ yếu ở các mỏ dầu lớn: Bạch Hổ, Rạng Đông, Hồng Ngọc… Qua kết quả thăm dò đã phát hiện được một số mỏ khí ở thềm lục địa và cho thấy

Trang 18

Việt Nam có nguồn khí thiên nhiên ở thềm lục địa lớn hơn so với dầu trong vấn đề năng lượng Điều đó cho phép Việt Nam có điều kiện nhanh chóng tăng sản lượng điện phục vụ cho điện khí hóa và công nghiệp hóa đất nước

Trữ lượng khí thiên nhiên tăng nhanh trong thời gian qua chứng tỏ sự thành công to lớn trong công tác thăm dò Trong 14 năm qua (1990 đến 2004)

đã phát hiện 24 mỏ khí, bình quân tăng khoảng 26 tỷ m3 /năm từ các mỏ mới

và thẩm lượng các phát hiện Điều đáng chú ý, chất lượng các mỏ khí ở Việt Nam là khí ngọt trừ một số ít mỏ ở bể Malay - Thổ Chu có hàm lượng CO2cao, ngoài ra cũng có ít mỏ có hàm lượng H2S từ trung bình đến cao Vì vậy, cần áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào khai thác cũng như tận dụng nguồn năng lượng không tái tạo này

Tóm lại, dầu mỏ và khí thiên nhiên là tài nguyên quý hiếm, không tái tạo, là nguồn năng lượng và nguyên liệu quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước Sau gần 40 năm xây dựng và phát triển, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, mà công tác thăm dò khai thác dầu khí là một trong các hoạt động quan trọng nhất đã có những bước tiến vượt bậc, nhất là từ khi Đảng và Nhà nước ta có chính sách mở cửa Luật đầu

tư nước ngoài vào Việt Nam được ban hành, ngành dầu khí đã thu hút được hàng chục công ty dầu khí thế giới đầu tư vào thăm dò ở hầu hết các bể trầm tích Đệ Tam có triển vọng của Việt Nam Có thể thấy, trữ lượng và tiềm năng dầu khí của Việt Nam chủ yếu tập trung ở thềm lục địa Việt Nam

1.2.2 Tầm quan trọng của hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên điển đối với nền kinh tế quốc dân

Dầu khí là nguồn tài nguyên quan trọng và có tiềm năng lớn nhất ở thềm lục địa Việt Nam Mặc dù, so với nhiều nước, nguồn tài nguyên này không lớn lắm, nhưng nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là bước khởi đầu của

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhất là khi Nhà nước ta đã xếp công nghiệp dầu khí là một trong những ngành trọng điểm của nền kinh

Trang 19

tế quốc dân Do đó, hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước Quy mô hoạt động ngày càng mở rộng và vai trò của Ngành dầu khí cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân Đến nay đã thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và là ngành kinh tế mạnh nhất nước ta, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô quan trọng, tham gia đấu tranh bảo vệ và giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia trên biển, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Hàng năm, sản lượng khai thác dầu khí của Việt Nam rất lớn và không ngừng được tăng lên cả về trữ lượng cũng như sản lượng khai thác Tính từ đầu những năm 60 khi mà hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí mới bắt đầu được hình thành, cho đến nay đã phát hiện rất nhiều các mỏ có trữ lượng dầu lớn và chủ yếu tập trung ở thềm lục địa của nước ta Vì vậy, hoạt động của ngành này đã đóng góp rất lớn vào nền kinh tế nước nhà Từ năm 1986, Việt Nam được đứng trong danh sách những nước sản xuất và xuất khẩu dầu lửa trên thế giới

Đến nay ngành Dầu khí đang khai thác tại 14 mỏ dầu và khí với tổng sản lượng dầu khí đã khai thác quy dầu đạt trên 300 triệu tấn Đóng góp ngày càng nhiều cho nền kinh tế quốc dân, tổng doanh thu đã đạt được trên 65 tỷ đô la Mỹ; nộp ngân sách trên 35 tỷ đô la Mỹ; hàng năm đóng góp đều đặn từ 28-31% tổng thu ngân sách nhà nước [34]

Hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ngày càng lớn mạnh và đạt kết quả tốt đẹp đã góp phần thúc đẩy ngành dầu khí ngày càng mạnh mẽ Vì vậy, không những đóng góp vào nền kinh tế quốc dân, ngành dầu khí còn đóng góp rất nhiều vào các quỹ phúc lợi xã hội Cụ thể:

Trong năm 2008 Tập đoàn Dầu khí đã giành 300 tỷ đồng, trong năm 2009 giành trên 900 tỷ đồng cho công tác an sinh xã hội,

Trang 20

xây dựng nhà đại đoàn kết cho các huyện nghèo, y tế giáo dục và an ninh quốc phòng Chỉ tính riêng 06 tháng đầu năm 2009, đã gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 64 triệu tấn quy dầu, có 08 phát hiện dầu khí mới trong đó: ở trong nước 05 phát hiện và ở nước ngoài 03 phát hiện, đã đưa 01 mỏ mới vào khai thác Tổng sản lượng quy dầu đạt 12,65 triệu tấn Nộp ngân sách Nhà nước 42,88 nghìn tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,50 tỷ đô la Mỹ [35]

Đã xây dựng nền tảng vật chất, kỹ thuật vững chắc, hiện đại, công nghệ cao tập trung phát triển mạnh lĩnh vực chính yếu của ngành đó là: đẩy mạnh lĩnh vực tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí trong nước, xác định rõ và từng bước khẳng định nguồn dầu khí ở biển Đông, kể cả vùng nước sâu Ngoài ra ngành dầu khí còn góp phần tạo ra năng lượng cho các ngành kinh tế khác cũng như phục vụ đời sống của nhân dân

1.3 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHỦ QUYỀN QUỐC GIA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN BIỂN

Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời quốc gia Chủ quyền quốc gia bao gồm hai nội dung: quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế

Cụ thể, trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia có quyền lực tối cao gồm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để quyết định mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà không bị lệ thuộc vào sự can thiệp của quốc gia khác Trong quan hệ đối ngoại, quốc gia có chủ quyền là quốc gia hoàn toàn độc lập, không bị phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào trong việc quyết định mọi vấn đề có tính chất đối nội, đối ngoại

Việt Nam là quốc gia độc lập và có chủ quyền Điều này được khẳng định trong các bản Hiến pháp Điều 14 Hiến pháp năm 1992 quy định:

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình hữu nghị, mở rộng giao lưu hợp tác với tất cả các

Trang 21

nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới

vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội [20]

Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ bao hàm cả nội dung quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ biển (chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ biển, trong đó có chủ quyền đối với hoạt động dầu khí nói chung và hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí nói riêng)

Hoạt động dầu khí nói chung và hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí nói riêng là một bộ phận trong hoạt động của nền kinh tế quốc dân Nó có mối quan hệ khăng khít, qua lại với các ngành khác cũng như với các địa phương trong cả nước, nhất là đối với những tỉnh có hoạt động dầu khí trên đất liền hoặc các tỉnh ven biển Không những thế, hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của Việt Nam còn vượt ra ngoài phạm vi biên giới của quốc gia (xuất phát

từ hoạt động hợp tác, liên kết với các quốc gia khác) Vì vậy, hoạt động quản

lý thăm dò, khai thác dầu khí là hoạt động phức tạp và rất đặc trưng Là hoạt động nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, được thể hiện qua các Nghị quyết Đại hội Đảng Tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng

về khoa học, công nghệ và tài nguyên và môi trường cũng đã nêu rõ:

Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần

và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những tuần tự, vừa có bước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về

Trang 22

khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức Sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và cải thiện môi trường

tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, coi đây là một nội dung của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội Tăng cường quản lý ở tất cả các lĩnh vực, thực hiện nghiêm luật bảo vệ môi trường [15]

Vì vậy, việc hệ thống hóa những quan niệm, quan điểm của Đảng và những nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường nói chung và về hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí nói riêng là hết sức cấp thiết

Hệ thống các quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý cho hoạt động quản

lý của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong đó bao gồm: các quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật quốc gia và các quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật quốc tế Hoạt động quản lý của Nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí cũng không nằm ngoài hệ thống pháp luật này

1.3.1 Pháp luật quốc tế

Luật biển quốc tế là một ngành luật chuyên ngành thuộc hệ thống luật quốc tế Luật biển quốc tế là tổng hợp các quy phạm pháp lý quốc tế được thiết lập bởi các quốc gia trên cơ sở thỏa thuận hoặc thông qua thực tiễn pháp

lý có tính tập quán nhằm điều chỉnh chế độ pháp lý của các vùng biển và các hoạt động sử dụng, khai thác biển cũng như bảo vệ biển và hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trong lĩnh vực này

Luật biển quốc tế có từ rất sớm và hiện chủ yếu được pháp điển hóa trong Công ước Luật biển 1982 Việt Nam đã tham gia xây dựng công ước này

và đến ngày 10 tháng 12 năm 1982 đã ký công ước này và đã phê chuẩn vào ngày 23 tháng 6 năm 1994 Đánh dấu một bước quan trọng, thể hiện tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế đối với chủ quyền của Việt Nam trên các

Trang 23

vùng biển, trong đó có hoạt động khai thác, sử dụng biển nói chung và hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí nói riêng (như nội dung luận văn đang đề cập)

Ngoài Công ước luật biển quốc tế, một số điều ước quốc tế phải nói đến là:

- Hiệp định khai thác chung vùng chồng lấn Việt Nam - Malaysia năm 1992;

- Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam và Thái Lan năm 1997;

- Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa và Hiệp định về hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2000;

- Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam - Inđônêsia năm 2003;

- Các công ước biển chuyên ngành như một số công ước của IMO như công ước về mạn khô (LOAD LINES) 1966 (ngày 10 tháng 11 năm 1990), Công ước về đo dung tích tàu biển (TON - NAGE) 1969 (ngày 10 tháng 11 năm 1990)

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã ký kết những thỏa thuận, hợp tác song phương và đa phương về thăm dò, khai thác dầu khí với các nước khác trong khu vực và trên thế giới Chẳng hạn, Hiệp định về tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam nước ta và Hiệp định về việc thành lập xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt - Xô năm 1981 (hiện nay hiệp định này được thay thế bằng Hiệp định Việt - Nga năm 1991); Thỏa thuận khai thác chung Việt Nam - Malaysia ngày 5 tháng 6 năm 1992; Thỏa thuận thăm dò chung giữa Tổng công ty Dầu khí Việt Nam và Tổng công ty Dầu khí ngoài khơi Trung Quốc trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi vịnh Bắc Bộ năm 2006…

1.3.2 Pháp luật quốc gia

Bên cạnh pháp luật quốc tế, quản lý hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí còn chủ yếu dựa vào pháp luật quốc gia Luật quốc gia là hệ thống các quy phạm pháp luật của một quốc gia do chính quốc gia đó ban hành hoặc

Trang 24

thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi quốc gia hoặc trong phạm vi quyền tài phán của quốc gia (kể cả các quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài)

Là một quốc gia ven biển với truyền thuyết 50 người con xuống biển,

50 người con lên non, ngay từ thuở đầu lập nước, dân tộc ta luôn có mối quan

hệ gắn bó chặt chẽ với biển với ý thức tiến ra biển, làm chủ vùng biển Vì vậy, pháp luật về biển của nước ta hình thành từ rất sớm Mới đầu là lệnh, chiếu chỉ… sau đó hình thành nên tập quán luật biển, rồi hình thành nên các văn bản pháp luật chuyên ngành

Tuy nhiên, hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của nước ta hình thành tương đối muộn Vì vậy, các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động này cũng hình thành tương đối muộn so với các văn bản pháp luật điều chỉnh các hoạt động khác Mặc dù hình thành khá muộn song đã tạo ra được một hệ thống các văn bản pháp luật tương ứng điều chỉnh các hoạt động liên quan đến thăm dò, khai thác dầu khí trên biển

Trước năm 1993 khi chưa có Luật Dầu khí, mọi hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí bị chi phối bởi những hoàn cảnh lịch sử khác nhau và các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động đó cũng mang đậm màu sắc của từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể Vì vậy, trong những năm 1973 đến năm 1975 một số hợp đồng dầu khí được chính quyền Việt Nam Cộng hòa cấp giấy phép đầu tư nhưng lại bị hủy bỏ vì ngày 30 tháng 4 năm 1975 chính quyền này bị sụp đổ và miền Nam được hoàn toàn giải phóng

Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, một trong những cơ sở pháp lý đầu tiên để cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí được thực hiện trong giai đoạn này (chưa có Luật Dầu khí) phải kể đến Nghị định số 115/1977/NĐ-CP ngày 18/4/1977 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ

về đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thời kỳ này Việt Nam chưa có Luật Đầu tư nước ngoài cũng như chưa có Luật Dầu khí

Trang 25

Đặc biệt, tháng 5 năm 1981, Hiệp định về tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam nước ta và Hiệp định về việc thành lập

Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt - Xô (Vietsopetro) để tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam đã được ký kết giữa Chính phủ nước

ta và Chính phủ Liên Xô Đây là những hiệp định đầu tiên được ký kết ở cấp Chính phủ thuộc lĩnh vực dầu khí có quy mô và tầm cỡ lớn trong thời kỳ này

Ngày 29 tháng 12 năm 1987, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Có thể nói, đây là sự kiện pháp lý quan trọng mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài, kể cả việc thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực dầu khí

Tuy nhiên, một trong những mốc son quan trọng đánh dấu sự phát triển của hoạt động dầu khí là sự ra đời của Luật Dầu khí năm 1993 Nội dung của Luật Dầu khí chứa đựng tất cả các quy định liên quan đến hoạt động dầu khí như các quy định về từng hoạt động dầu khí cụ thể trong đó có hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ, khai thác dầu khí và các hoạt động phục vụ trực tiếp cho các hoạt động đó… Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của ngành dầu khí nước ta, năm 1993 đã ra đời một đạo luật chuyên ngành để điều chỉnh

Trải qua quá trình thực hiện, Luật Dầu khí năm 1993 đã thể hiện một

số bất cập, để khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực dầu khí, ngày 9 tháng 6 năm

2000, Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật Dầu khí

Tuy nhiên, sau quá trình thực hiện, đặc biệt là khi có Luật Đầu tư, ngày 03 tháng 6 năm 2008, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí

Bên cạnh đó còn có rất nhiều các nghị định, thông tư… tham gia điều chỉnh hoạt động dầu khí Chẳng hạn, Nghị định số 84/1996/NĐ-CP ngày 17

Trang 26

tháng 12 năm 1996 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật Dầu khí; Nghị định số 48/2000/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí; Nghị định số 34/2001/NĐ-CP ngày 06 tháng 7 năm 2001 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đấu thầu dự án tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí; Nghị định số 03/2002/NĐ-CP ngày 07 tháng 1 năm 2002 của Chính phủ về bảo vệ an ninh, an toàn dầu khí; Quyết định số 163/1998/QĐ-TTg ngày 07 tháng 9 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế khai thác tài nguyên dầu khí…

Như vậy, các văn bản pháp luật về dầu khí đã được xây dựng trên cơ

sở tiếp theo các thông lệ dầu khí quốc tế, các quy định của điều ước quốc tế

về dầu khí, các quy định của Luật Đầu tư nước ngoài và thực tiễn chọn lọc từ các hoạt động dầu khí của nước ta Đến nay, nước ta có hệ thống pháp luật chuyên ngành về dầu khí khoảng trên 30 văn bản Điều đặc biệt phải kể đến là Luật Dầu khí năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2000, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2008 và gần 300 văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho đầu tư nước ngoài có liên quan đến hoạt động dầu khí Mặc dù chưa thực sự hoàn thiện, nhưng các văn bản quy phạm pháp luật đã hình thành một khung pháp lý bao gồm các vấn đề

cơ bản để điều chỉnh các hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam thay vì cho việc điều chỉnh bằng các biện pháp hành chính, kinh nghiệm trước đây

Trang 27

Chương 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ,

KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN

VÀ QUYỀN CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM

Quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí là các hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước Quản lý nhà nước trong lĩnh vực này nhằm thực hiện các mục tiêu của Nhà nước là thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các công ty dầu khí quốc tế, tạo việc làm cho người lao động, góp phần khai thác có hiệu quả tiềm năng dầu khí của đất nước, phục vụ cho sự nghiệp an ninh năng lượng quốc gia, sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này là đảm bảo tuân thủ pháp luật Việt Nam, giữ vững độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và tôn trọng các quyền, lợi ích của nhà đầu tư, thực hiện nguyên tắc bình đẳng, các bên tham gia cùng

có lợi Các kết quả đạt được trong lĩnh vực hoạt động dầu khí nói chung và hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí nói riêng đồng thời cũng là kết quả của công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này Với mỗi giai đoạn khác nhau, công tác quản lý nhà nước cũng như các kết quả đạt được là khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan cũng như khách quan

2.1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN BIỂN CỦA VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1993

Giai đoạn trước năm 1993, hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí đã được tiến hành ở vùng biển của nước ta Tuy nhiên, giai đoạn này chưa có Luật Dầu khí Mọi hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí chịu sự tác động, điều chỉnh bởi những hoàn cảnh lịch sử khác nhau và các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động này cũng mang màu sắc của từng hoàn cảnh lịch sử

cụ thể

Trang 28

Trong những năm đầu của thế kỷ XX (giai đoạn trước năm 1954), công tác thăm dò, khai thác dầu khí ở nước ta được người Pháp và sau đó là người Nhật thực hiện bắt đầu vào những năm 1930 đến những năm 1940 Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ nên việc thăm dò, khai thác dầu khí đã không thực hiện được mặc dù đã phát hiện được các tiềm năng

Sau năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền Ở miền Bắc, công tác thăm dò, khai thác dầu khí được thực hiện vào những năm 60

Ở miền Nam công tác thăm dò, khai thác dầu khí được bắt đầu thực hiện vào những năm 1970

Mặc dù, đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh, nhưng hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí vẫn nằm dưới sự quản lý của nhà nước, thể hiện qua các chính sách của Nhà nước trong đó có cả các chính sách về thuế khóa

Ngày 1 tháng 12 năm 1970 chính quyền Sài Gòn ban hành đạo luật số 011/70 ấn định việc tìm kiếm khai thác dầu mỏ cùng điều kiện thuế hóa và hối đoái Từ đây, các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ở Việt Nam nói chung

và trên vùng biển nói riêng chịu sự quản lý, điều tiết của Nhà nước bằng các quy định của pháp luật cụ thể, có thể nói là mang tính chất chuyên ngành

Tháng 1 năm 1971 Ủy ban quốc gia dầu mỏ được thành lập theo Sắc lệnh số 003/1971/SLK ngày 7 tháng 1 năm 1971 Sau đó thành lập Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản

Trang 29

Tháng 6 năm 1971 Bộ Kinh tế công bố Nghị định số 249/1971/BKT- UBQGĐH ngày 9 tháng 6 năm 1971 về cấp quyền đặc nhượng tìm kiếm thăm

dò dầu mỏ tại thềm lục địa Việt Nam Cộng hòa và quy định cho đấu thầu đặc nhượng Vì vậy, một số hợp đồng dầu khí được Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cấp giấy phép đầu tư từ năm 1973 đến nửa đầu năm 1975 Nhưng tất cả những hợp đồng dầu khí này đều bị hủy bỏ vì ngày 30 tháng 4 năm 1975 chính quyền Việt Nam Cộng hòa bị sụp đổ và miền Nam được hoàn toàn giải phóng

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đất nước hoàn toàn giải phóng, Nam - Bắc hai miền thống nhất, với đường lối của Đảng và Nhà nước nhằm khôi phục và phát triển nền kinh tế đã bị chiến tranh tàn phá Ý thức được tầm quan trọng của tài nguyên dầu khí đối với sự nghiệp khôi phục và phát triển kinh tế của đất nước Ngày 5 tháng 9 năm 1975 ngành dầu khí Việt Nam được thành lập lấy tên là Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trực thuộc Chính phủ Tuy nhiên, hoạt động dầu khí không đơn thuần chỉ là tìm kiếm, thăm dò và khai thác Vì vậy, đến tháng 8 năm 1977 Công ty Dầu khí Quốc gia Việt Nam gọi tắt là PertroVietnam được thành lập trực thuộc Tổng cục Dầu khí

Nắm bắt được tầm quan trọng của dầu khí, cùng với đường lối của Đảng và Nhà nước, hoạt động đầu tư trong lĩnh vực dầu khí được triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước Đặc biệt, một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để cho các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí được thực hiện trong thời kỳ này (1976 đến 1986) phải kể đến Nghị định số 115/1977/NĐ-CP ngày

18 tháng 4 năm 1977 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo đó, Chính phủ Việt Nam chấp thuận đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các bên cùng có lợi mà không phân biệt chế độ kinh tế chính trị của quốc gia của nhà đầu tư Nhà đầu tư có thể đầu tư vào việc khai thác tài nguyên, vào các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, vận tải… trừ những lĩnh vực, những ngành mà Chính phủ Việt Nam chỉ giành cho đầu tư trong nước Như vậy gần

Trang 30

như Chính phủ khuyến khích kêu gọi đầu tư nước ngoài vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế, trừ những ngành nghề mà Chính phủ quy định cấm Nghị định được coi như một cơ sở pháp lý quan trọng đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trong thời kỳ này mặc dù nó không trực tiếp quy định đối với hoạt động dầu khí cũng bởi xuất phát từ hoàn cảnh lúc bấy giờ Việt Nam chưa

có Luật đầu tư nước ngoài cũng như Luật Dầu khí

Cơ sở điều hành đất nước thời kỳ này chủ yếu theo mô hình kế hoạch hóa tập trung cao độ Quan hệ kinh tế trong nước và quốc tế của Việt Nam còn hạn chế Trong khi đó, đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí yêu cầu đầu tư vốn lớn và độ rủi ro cao mà kinh tế trong nước thời kỳ này còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh Vì vậy, trước yêu cầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nói chung và đối với hoạt động dầu khí nói riêng Nghị định số 115/1977/NĐ-CP đã được ban hành kịp thời, có vị trí nhất định trong việc tạo bước chuyển của nền kinh tế từ chiến tranh sang thời bình

và từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Mặc dù nghị định này còn nhiều hạn chế như hình thức pháp lý thấp, nội dung pháp lý không đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài, thủ tục hành chính còn rườm rà, phiền hà rắc rối và đáng chú ý là Nghị định không có quy định nào điều chỉnh hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí Nhưng nghị định là văn bản pháp lý mang tính chất chung, áp dụng cho cả nền kinh tế Vì vậy, nó vẫn được áp dụng đối với hoạt động dầu khí

Kết quả dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước cùng với các chính sách pháp luật, hoạt động dầu khí đã bắt đầu phát triển, chỉ trong các năm từ năm 1976 đến năm 1978, ba hợp đồng dầu khí với hình thức phân chia sản phẩm (gọi tắt là PSC) đã được ký kết giữa Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) với các công ty dầu khí quốc tế Đó chính là các hợp đồng thăm dò dầu khí giữa PetroVietnam với Công ty Deminex (Đức) và Công ty AGIP (Ý) và Công ty Brow Valley (Canada) Phạm vi thực hiện các hợp đồng này đều nằm trong diện tích của hai bể Cửu Long và bể Nam Côn Sơn (đây là

Trang 31

nơi mà các hợp đồng dầu khí trước đó đã được chính quyền Việt Nam Cộng hòa cấp giấy phép đầu tư nhưng đã bị hủy bỏ do chính quyền này bị sụp đổ)

Sở dĩ, Chính phủ Việt Nam chọn hình thức hợp tác dưới dạng hợp đồng phân chia sản phẩm, xuất phát từ các lý do:

Thứ nhất, các bên thực hiện các hoạt động kinh doanh trên cơ sở ký

kết một hợp đồng hợp tác mà không hình thành một pháp nhân mới, tạo sự linh hoạt trong quản lý hoạt động kinh doanh Các bên có thể thỏa thuận cử đại diện của mình thành lập một ban điều phối để giám sát và quản lý việc hợp tác kinh doanh Ban điều phối không có quyền quyết định hoạt động kinh doanh

Thứ hai, doanh thu được chia cho các bên tương ứng với tỷ lệ vốn

góp Mỗi bên thực hiện việc nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác một cách riêng rẽ

Như vậy, có thể thấy sự chủ động trong quản lý, điều hành hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của Chính phủ Việt Nam Bởi Chính phủ trực tiếp cấp giấy chứng nhận hợp tác và lựa chọn hình thức hợp tác Có thể thấy, sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí Chính phủ nước ta đã mạnh dạn hợp tác với nước ngoài để tranh thủ vốn và trình độ khoa học kỹ thuật trong hoàn cảnh nước ta vừa thoát thai khỏi chiến tranh, kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu và vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài còn rất mới mẻ Đây chính là một bước đi vững chắc khởi đầu cho hoạt động dầu khí của nước ta cũng như thể hiện chủ quyền của nước ta đối với hoạt động này

Điều đáng tiếc, cả ba hợp đồng này đều kết thúc ở giai đoạn tìm kiếm thăm dò dầu khí vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80 với lý do không có giếng khoan nào phát hiện thấy giá trị thương mại tại các diện tích cấu tạo Cuối cùng, các công ty này đã hoàn trả diện tích hợp đồng và chấm dứt hoạt động ở Việt Nam Điều đáng nói, ba hợp đồng này chấm dứt không phải do tác động của các yếu tố chủ quan như chính sách pháp luật của Nhà nước mà phần lớn do các yếu tố khách quan

Trang 32

Như vậy, cơ sở pháp lý quan trọng nhất tác động đến hoạt động thăm

dò, khai thác dầu khí trong thời kỳ này là Nghị định 115/1977/NĐ-CP đã trình bày ở trên Nhờ có nghị định này, không những chỉ trong lĩnh vực dầu khí mà trong các lĩnh vực khác đã có sự đầu tư của nước ngoài, góp phần phát triển kinh tế của đất nước Điều này rất quan trọng đối với một nước có thể nói là nghèo và lạc hậu do vừa thoát thai sau chiến tranh Vì vậy, nghị định này có tác động vô cùng to lớn Nó chứng tỏ, sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế nói chung và đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí nói riêng thông qua hình thức pháp luật Sự phát triển kinh tế đã có sự hướng ngoại chứ không chỉ bó hẹp ở phạm vi trong nước

Đặc biệt, với sự tác động của Nghị định 115/1977/NĐ-CP năm 1977, ngày 3 tháng 7 năm 1980 Hợp đồng hợp tác giữa Liên xô (cũ) và Việt Nam về việc thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam được ký kết Để góp phần thực hiện tốt việc hợp tác này, ngày 19 tháng 6 năm 1991 Chính phủ Việt Nam và Liên Xô (cũ) ký hiệp định thành lập xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt Nam (VietsoPetro) để tiến hành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam (hiện nay Hiệp định này được thay thế bằng Hiệp định Việt - Nga năm 1991) Ngày 7 tháng 11 năm 1981 VietsoPetro chính thức đi vào hoạt động Đây là những hiệp định đầu tiên được ký kết ở cấp Chính phủ thuộc lĩnh vực dầu khí có quy mô và tầm cỡ lớn trong thời kỳ này Từ năm 1981 đến năm 1985 trên cơ sở Hiệp định trên, VietsoPetro đã tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò trên diện tích rộng lớn của thềm lục địa phía Nam nước ta Sau nhiều giếng khoan thăm dò phát hiện thấy dầu khí và nhiều giếng khoan thẩm lượng, mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng đã được xác định là những mỏ có trữ lượng dầu và khí lớn Những phát hiện đã mở ra triển vọng mới cho sự phát triển của nền kinh tế và lĩnh vực dầu khí nước nhà Năm 1986 đánh dấu mốc khai thác tấn dầu thô đầu tiên của mỏ Bạch Hổ ngoài khơi Việt Nam và tiếp tục khai thác cho đến ngày nay

Trang 33

Vấn đề đặt ra là do hệ thống pháp luật đầu tư cũng như pháp luật về dầu khí lúc này chưa hình thành một cách rõ ràng mà chủ yếu mới chỉ dựa trên Nghị định 115/1977/NĐ-CP năm 1977 nên mọi hoạt động dầu khí chủ yếu thực hiện theo thông lệ quốc tế và những quy định của điều ước quốc tế mà cụ thể là hai hiệp định về dầu khí đã được ký kết giữa Chính phủ hai nước

Từ năm 1986, Việt Nam thực hiện đường lối "đổi mới" trong tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khởi xướng Riêng về lĩnh vực kinh tế, Nhà nước Việt Nam

đã từng bước thực hiện chương trình cải cách, quyết định chuyển từ nền kinh

tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước mà nội dung chủ yếu là đổi mới cơ cấu kinh tế, chấp nhận một nền kinh tế nhiều thành phần và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Nhà nước đã trao quyền tự hạch toán kinh doanh cho các đơn vị sản xuất, thương mại, dịch vụ Các cá nhân được tự do tiến hành các hoạt động kinh doanh, hầu hết giá cả được tự do hóa Đồng thời, Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa với thế giới để đưa nền kinh tế Việt Nam dần dần hòa nhập vào thị trường khu vực và thế giới

Vì vậy, việc tổng hợp đánh giá Nghị định 115/1977/NĐ-CP, xây dựng khung pháp luật hoàn chỉnh cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung

và hoạt động dầu khí tại Việt Nam nói riêng là việc làm rất cần thiết Thực hiện được điều này, không những thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế trong nước nói chung và mà còn đối với hoạt động dầu khí nói riêng đặc biệt là hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên các vùng biển của Việt Nam, một lĩnh vực cần đầu tư vốn lớn và sư rủi ro cao, rất khó khăn cho một nước vừa mới thoát khỏi chiến tranh, kinh tế còn nghèo nàn và trình độ kỹ thuật còn lạc hậu

Xuất phát từ kinh nghiệm và thực tiễn quốc tế, nhất là các nước trong khu vực như các nước công nghiệp mới (viết tắt là NIC), Việt Nam nhận thấy rằng đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào các lĩnh vực của nền kinh tế như công - nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, trong đó có ngành công nghiệp dầu

Trang 34

khí đóng một vai trò quan trọng, tích cực đối với sự phát triển của đất nước Đầu tư nước ngoài mang đến vốn, kinh nghiệm, quản lý, công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu Nhưng để khuyến khích sự đóng góp tích cực này, vấn đề đặt ra là Việt Nam phải xây dựng khung pháp luật về đầu tư phù hợp với không những hoàn cảnh trong nước mà còn với cả thế giới trước sự cạnh tranh của nền kinh tế thị trường

Một sự kiện quan trọng đánh dấu mốc khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là việc thông qua luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Ngày 29 tháng 12 năm 1987, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Có thể nói, đây là sự kiện pháp lý quan trọng mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài, kể cả việc thu hút đầu tư vốn nước ngoài đối với hoạt động dầu khí nói chung và hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí nói riêng

Điều 1 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định:

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh

và khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và

kỹ thuật vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam, bình đẳng và các bên cùng

Dầu mỏ và khí thiên nhiên là nguồn năng lượng và nhiên liệu quan trọng của đất nước…phải tập trung những cố gắng đến mức cao nhất để biến tiềm năng thành hiện thực, từng bước đưa dầu

Trang 35

khí trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế những thập kỷ tới… [14]

Kết hợp với những nguyên tắc cơ bản của Luật Đầu tư nước ngoài và thông lệ dầu khí quốc tế, lần đầu tiên ở Việt Nam hợp đồng tìm kiếm, thăm

dò, khai thác dầu khí dưới dạng hợp đồng chia sản phẩm được ký kết giữa PetroVietnam và Công ty Dầu khí Quốc gia Ấn Độ (viết tắt là ONGC) vào ngày 18 tháng 5 năm 1988 Tiếp theo ngày 15 tháng 6 năm 1988 PetroVietnam cũng ký hợp đồng dưới dạng hợp đồng phân chia sản phẩm với Công ty Shell

về việc tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở Thềm lục địa Việt Nam và rất nhiều các hợp đồng khác Tổng kết lại, "trong thời gian từ năm 1988 đến năm 1994, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã ký kết được 29 hợp đồng tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí với các nhà đầu tư nước ngoài, tổng khối lượng đầu tư đạt hơn 1,5 tỷ đôla" [18]

Để tiếp tục khẳng định chính sách của Việt Nam đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí cũng như khắc phục hạn chế quản lý nhà nước về thuế đối với khai thác dầu khí Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1990 Điều mà trước đây chưa được thể chế thành một văn bản pháp lý riêng mà nằm chỉ được quy định chung chung trong đạo luật số 011/70 ấn định việc tìm kiếm, khai thác dầu mỏ cùng điều kiện thuế hoá và hối đoái và được quy định về trả tiền tài nguyên trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Như vậy, ngày càng thể hiện rõ, Nhà nước tăng cường quản lý đối với hoạt động khai thác dầu khí cả bằng các chính sách hành chính và kinh tế thông qua chính sách thuế, nguồn thu chủ yếu của nước ta Tại Điều 1 Pháp lệnh có quy định:

Tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam, nước ngoài khai thác tài nguyên đều phải nộp thuế tài nguyên theo Pháp lệnh này

Trang 36

Đối với xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên nước ngoài hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng đã ký kết trước ngày ban hành Pháp lệnh này có khai thác tài nguyên và trả tiền tài nguyên theo quy định tại Điều 29 của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thì tiếp tục trả tiền tài nguyên mà không phải nộp thuế tài nguyên theo Pháp lệnh này [37]

Như vậy, pháp luật Việt Nam đã xác định rõ việc đóng thuế tài nguyên đối với các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí chứ không phải trả tiền tài nguyên Việc quy định chính sách thuế tài nguyên thể hiện rõ hơn quan điểm tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý

Pháp lệnh Thuế tài nguyên đã xác định rõ đối tượng phải nộp thuế tài nguyên, cơ sở tính thuế tài nguyên, thuế suất thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác dầu khí Theo đó, thuế suất thuế tài nguyên được xác định rõ là: đối với dầu mỏ 10% - 20%; đối với khí đốt 6% - 10% Như vậy, với những quy định này sẽ là cơ sở quan trọng cho hoạt động quản lý của Nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí

Pháp lệnh này cũng là một trong những cơ sở để Việt Nam ký kết một

số thỏa thuận với nước ngoài trong lĩnh vực hợp tác thăm dò, khai thác dầu khí Đó chính là các thỏa thuận:

Ngày 5 tháng 6 năm 1992, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Việt Nam

và Malaysia đã ký kết thỏa thuận khai thác chung Việt Nam - Malaysia trong vịnh Thái Lan Việt Nam và Malaysia là hai quốc gia láng giềng cùng nằm trong khu vực vịnh Thái Lan Việt Nam và Malaysia có vùng chồng lấn thềm lục địa rộng khoảng 2.500 km2 Đây là khu vực chồng lấn có diện tích không lớn nhưng lại có tiềm năng về dầu khí Vì vậy, ngày 5 tháng 6 năm 1992, tại Kuala lumpur, Việt Nam và Malaysia đã đi đến thỏa thuận áp dụng mô hình khai thác chung trên tinh thần hiểu biết và hợp tác dựa trên nguyên tắc sau:

Trang 37

- Việt Nam sẽ tiến cử PertroVietnam còn Malaysia tiến cử Petronas làm đại diện để tiến hành khai thác dầu khí;

- Nguyên tắc chia sẻ đồng đều chi phí và phân chia đồng đều lợi nhuận giữa hai bên;

- Các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí sẽ được Petronas và PetroVietnam tiến hành trên cơ sở dàn xếp thương mại sau khi được Chính phủ hai bên phê chuẩn;

- Vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động dầu khí trong vùng chồng lấn mặc dù không được nói cụ thể trong thỏa thuận, nhưng về nguyên tắc Việt Nam có quyền thực hiện quản lý nhà nước về hải quan, quản lý cảng xuất dầu và công trình trên biển, quản lý nhà nước về thuế, biên phòng…Tuy nhiên, do vùng biển này nằm xa đất liền, không thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động quản lý nên Việt Nam đã ủy quyền cho phía Malaysia thực hiện các hoạt động kiểm soát đối với các hoạt động dầu khí trong vùng chồng lấn giữa hai nước

Sau khi thỏa thuận có hiệu lực, ngày 28 tháng 5 năm 1993 thỏa thuận thương mại giữa Petronas và PetroVietnam đã được soạn thảo với những nội dung:

- PetroVietnam và Petronas cùng chịu trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau

- Về cơ chế điều hành, với mục đích làm thúc đẩy hoạt động thăm dò

và khai thác tài nguyên trong Vùng xác định sớm được thực hiện như hai bên

đã mong muốn, hai bên đã trù định thành lập một Ủy ban hỗn hợp ở cấp cao

Ủy ban này sẽ giải quyết các vấn đề cấp cao và thành lập Ủy ban điều phối Tùy theo yêu cầu của Ủy ban điều phối, có thể thành lập các tiểu ban luật pháp, kinh tế, thương mại, kỹ thuật

PetroVietnam và Petronas cùng nhau thực hiện kiểm toán đối với hoạt động của các nhà thầu để xác định quyền lợi, cùng thống nhất ra các quyết

Trang 38

định, phê chuẩn các kế hoạch công tác, tài chính của nhà thầu Mặc dù ủy nhiệm cho Petronas quản lý nhà thầu qua Ủy ban điều hành của hợp đồng nhưng PetroVietnam vẫn có quyền tham dự họp Ủy ban điều hành

Có thể thấy, thỏa thuận khai thác chung ngày 5 tháng 6 năm 1992 giữa Malaysia và Việt Nam và thỏa thuận thương mại ngày 25 tháng 8 năm 1993

đã tạo ra cơ sở pháp lý ban đầu cho hoạt động khai thác chung tại khu vực biển chồng lấn giữa hai nước Thỏa thuận này đã góp phần tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư khai thác tài nguyên dầu khí, giải quyết được nhu cầu khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế, chấm dứt tình trạng đơn phương tiến hành thăm dò hay chia thầu khai thác tài nguyên như đã từng xảy ra tại khu vực chồng lấn, củng cố mối quan hệ hợp tác, thân thiện, tạo môi trường an ninh trật tự chung trên biển

Như vậy, ngay sau khi giành được độc lập thống nhất đất nước, Đảng

và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển kinh tế giúp đất nước vượt qua đói nghèo Một trong những chính sách để xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước là tập trung vào lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí Bởi Đảng và Nhà Nước ta đã ý thức cũng như xác định được vai trò, tầm quan trọng của loại tài nguyên này Tuy nhiên, trong bối cảnh lúc bấy giờ, để tiến hành hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí là rất khó khăn đối với một nước vừa thoát thai khỏi chiến tranh Vì vậy, sau một thời gian Nhà nước ta đã xác định chuyển kinh tế từ tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cùng với việc ban hành kịp thời luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, góp phần tích cực vào sự phát triển nền kinh tế nước nhà nói chung và đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí nói riêng

Trải qua thời gian tương đối dài, hoạt động trong lĩnh vực dầu khí ở nước ta mà cụ thể là hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí có những bước đi thăng trầm với nhiều biến cố về kinh tế, chính trị và xã hội sâu sắc Vì vậy,

Trang 39

những kết quả đạt được nói trên là rất có ý nghĩa Để phát huy những kết quả

đã đạt được, đồng thời để các hoạt động đầu tư trong lĩnh vực dầu khí có cơ sở phát triển bền vững, cần có những văn bản pháp luật chuyên ngành để điều chỉnh

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN BIỂN CỦA VIỆT NAM TỪ 1993 ĐẾN TRƯỚC NĂM 2000

Từ năm 1986, Việt Nam thực hiện đường lối "Đổi mới" trong tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội Trong đó có sự chuyển đổi

vô cùng to lớn là chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường

có sự điều tiết của Nhà nước, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nước quản

lý bằng pháp luật Vì vậy, vào những năm 90, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, các văn bản pháp luật liên tiếp được ban hành nhằm xây dựng một cơ chế pháp lý thống nhất, đồng bộ, vận hành theo sự vận động của nền kinh tế thị trường, đồng thời để thay thế hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật của cả giai đoạn lịch sử - kế hoạch hóa tập trung đã bị lỗi thời, đặc biệt khi đã có sự đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Nằm trong bối cảnh chung đó, các chính sách dầu khí của Việt Nam cũng lần lượt được cụ thể hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật Điều đáng nói nhất, lần đầu tiên, hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí đã có văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh đó là Luật Dầu khí được ban hành năm 1993

Với việc ban hành Luật Dầu khí năm 1993, càng thể hiện rõ chủ trương, chính sách, sự quan tâm của Nhà nước đối với các hoạt động trong lĩnh vực dầu khí Luật Dầu khí ra đời, có thể nói hơi muộn song đã giải quyết được rất nhiều tồn đọng trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí cũng như giúp cho hoạt động này phát triển mạnh mẽ và thể hiện sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với hoạt động này Sự cần thiết phải ban hành Luật Dầu khí năm 1993 là xuất phát từ các lý do:

Thứ nhất, Luật Dầu khí được ban hành là công cụ pháp lý thực hiện

việc bảo vệ, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí thuộc

Trang 40

sở hữu toàn dân, nhằm phát triển kinh tế quốc dân và mở rộng sự hợp tác với nước ngoài

Thứ hai, đầu tư vào lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí là hoạt động

có tính chất đặc thù đòi hỏi vốn đầu tư lớn, trình độ kỹ thuật công nghệ cao và

sự hợp tác của nhiều quốc gia Mỗi dự án dầu khí có vốn đầu tư trong giai đoạn tìm kiếm thăm dò trung bình khoảng 45 đến 50 triệu đôla, trong khi các ngành khác vốn đầu tư trung bình của một dự án chỉ khoảng 9 đến 13 triệu đôla Mặt khác, đầu tư vào lĩnh vực dầu khí còn là hoạt động có mức độ rủi ro cao Các nước có ngành công nghiệp dầu khí dù đã phát triển lâu đời, trình độ công nghệ hiện đại như Hòa Kỳ, Anh, Nga, Pháp, Na Uy, hầu hết các nước Trung Đông… đều có thể tiến hành tự đầu tư thăm dò, khai thác, nhưng họ vẫn phải tranh thủ sự hợp tác quốc tế để thu hút vốn đầu tư của nước ngoài để chia sẻ sự rủi ro cũng như tiếp cận được công nghệ mới (nếu có) Đối với các nước đang phát triển như Inđônêsia, Malaysia, Philipin, Thái Lan hoặc các nước chậm phát triển tuy có tiềm năng về vốn và kỹ thuật thì yêu cầu hợp tác quốc tế để thăm dò, khai thác dầu khí là điều cần thiết hơn bao giờ hết

Vì vậy, việc đầu tư vốn và kỹ thuật vào một dự án dầu khí là việc không phải dễ dàng Vì vậy, phải có sự đảm bảo vững chắc về mặt pháp lý, giúp cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài có cơ sở để đầu tư Điều

đó đòi hỏi phải có Luật Dầu khí để điều chỉnh quan hệ dầu khí mang tính chất pháp lý chuyên ngành mà các Luật khác không đủ cơ sở cũng như quy định để điều chỉnh

Thứ ba, khuyến khích và thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là

một chiến lược quan trọng của Nhà nước ta đòi hỏi các ngành, các cấp phải quan tâm thực hiện Trong quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài, dầu khí là ngành công nghiệp mũi nhọn có số vốn đầu tư của nước ngoài chiếm tỷ trọng cao so với các ngành khác Vì vậy, việc ra đời Luật Dầu khí kết hợp với Luật Đầu tư nước ngoài là nhằm tạo cơ sở pháp lý để tranh thủ hơn nữa nguồn vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam

Ngày đăng: 13/01/2020, 19:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w