Đề tài nghiên cứu với mục tiêu nhằm làm sáng tỏ lí luận về di dân, các quy luật kinh tế xã hội của di dân, phân tích nguyên nhân, đánh giá hiện trạng di dân đặc biệt chú ý đến vấn đề di dân nông thôn - đô thị, tìm ra những đặc điểm có tính quy luật trong quá trình di dân vào thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá ảnh hưởng của di dân đến vấn đề phát triển kinh tế xã hội của thành phố. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thúy Uyên
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM T P HỒ CHÍ MINH
Trang 3Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất trong cả nước cả về quy mô dân số lẫn tiềm lực, tốc độ phát triển kinh tế Tuy là thành phố trẻ nhưng sự phát triển mạnh mẽ về mọi phương diện đời sống, kinh tế -văn hóa - xã hội, nên thành phố đã trở thành một địa bàn có sức hút mạnh các ngành kinh tế, các nhà đầu tư trong và ngoài nước và nguồn nhân lực, trí lực ở khắp mọi miền tổ quốc tập trung về đây cư trú và phát triển sản xuất Điều đó làm cho
số lượng dân nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh ngày càng đông, quy mô dân số ngày càng tăng nhanh, nhất là trong những năm gần đây
Dân nhập cư đã góp phần không nhỏ trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cũng gây những nỗi lo cho các cấp chính quyền của cả nơi đi và nơi đến Họ là những người tạo nên sức mạnh cho thành phố hay gánh nặng? Có nên ngăn sông cấm chợ hay không? Giải pháp nào cho vấn đề nhập cư? Yếu tố nào thôi thúc
họ đến đây, mãnh lực nào giữ họ lại? Chúng ta phải nghiên cứu thận trọng trước khi đưa ra một giải pháp khả thi
Từ những suy nghĩ ấy chúng tôi đã mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu một vấn đề thời
sự nóng bỏng về vấn đề di dân vào thành phố Hồ Chí Minh Với những khó khăn về nguồn tư liệu không đồng bộ, nên đề tài chắc còn những thiếu sót khó tránh khỏi, rất mong sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các giáo sư, tiến sỹ, các nhà nghiên cứu và các bạn đồng nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 12 /2000
Tác giả: Phạm Thị Xuân Thọ
Trang 4Đề tài đã được hoàn thành với sự giúp đỡ, động viên của PGS- TS Phan Huy Xu, TS Phạm Xuân Hậu, TS Nguyễn Kim Hồng, TS Trần Văn Thông ( Trường Đại học Kinh tế, cùng tập thể các giáo sư, tiến sỹ, cấc thầy cô khoa Điạ lý trường Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh
Đề tài cũng đã nhận được sự cộng tác cung cấp số liệu, giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí Công An trật tự Tp HCM, phòng quản lý lao động Quốc tế (Sở Thương binh lao động- Xã hội), Cục quản lý xuất nhập cảnh Tp HCM, Cục thống kê Tp HCM, Vụ tổng hợp
và thông tin, Vụ dân số và lao động - Tổng cục thống kê
Tác già xin gởi lời cám ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, phòng Nghiên cứu khoa học, các Giáo sư- tiến sỹ trường Đại học sư phạmTP Hồ Chí Minh, quý cơ quan và các bạn bè, thân nhân đã giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành đề tài này
TP Hồ Chí Minh năm 2000
Trang 5MỞ ĐẦU
I LÍ DO VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI: 1
II MỤC ĐÍCH- NHIỆM VỤ- PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI: 2
III LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ: 4
IV HỆ QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 6
VI CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI: 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DI DÂN I NHỮNG VẨN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ DI DÂN: 11
II PHÂN LOẠI DI DÂN: 18
III TÌNH HÌNH DI DÂN TRÊN THẾ GIỚI CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ DI DÂN, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ 24
IV PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN CÁC LUỒNG DI DÂN: 29
V MỐI QUAN HỆ GIỮA DI DÂN VÀ PHÂN BỐ LAO ĐỘNG THEO LÃNH THỔ: 33
CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG NHẬP CƯ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ HẬU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NÓ I KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: 38
II TÌNH HÌNH NHẬP CƯ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ NHỮNG HẬU QUẢ CỦA NÓ: 47
III VẤN ĐỀ DÂN NHẬP CƯ QUỐC TẾ VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 80
IV HẬU QUẢ CỦA VẤN ĐỀ DI DÂN ĐỐI VỚI KINH TẾ XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 83
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ VẤN ĐỀ NHẬP CƯ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 87
I NHỮNG GIẢI PHÁP: 87
II KIẾN NGHỊ 89
KẾT LUẬN 91
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Sơ đồ di dân của Lee 17
Hình 2: Bản đồ hành chính Tp Hồ Chí Minh 37
Hình 3: Bản đồ nhập cƣ ngoài tỉnh vào Tp HCM 1984 - 1989 53
Hình 4: Bản đồ nhập cƣ ngoài tỉnh vào Tp HCM 1994 - 1999 60
Hình 5: Bản đồ phân bố dân nhập cƣ Tp HCM chia theo quận huyện 1996 64
Hình 6: Bản đồ phân bố dân nhập cƣ Tp HCM chia theo quận huyện 1999 65
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Dân số Tp Hồ Chí Minh 1976 - 1984 49
Biểu đổ 2: Dân số Tp Hồ Chí Minh 1985 - 1995 55
Biểu đồ 3: Biểu đồ cơ cấu dân nhập cƣ chia theo vùng xuất cƣ 1976 - 1980 61
Biểu đồ 4: Biểu đồ cơ cấu dân nhập cƣ chia theo vùng xuất cƣ 1981 - 1985 61
Biểu đồ 5: Biểu đồ cơ cấu dân nhập cƣ chia theo vùng xuất cƣ 1986 - 1990 62
Biểu đồ 6: Biểu đồ cơ cấu dân nhập cƣ chia theo vùng xuất cƣ 1991 - 1995 62
Biểu đồ 7: Biểu đồ cơ cấu dân nhập cƣ chia theo vùng xuất cƣ 1994 - 1999 63
Biểu đồ 8: Lao động công nghiệp ở Tp HCM 82
Trang 71 Bảng 2.1 Dân cư, phân bố dân cư, tỉ lệ đất đai theo vùng 44
2 Bảng 2.2 Vùng nơi sinh và vùng cư trứ hiên nay 45
3 Bảng 2.3 Biến động dân số Tp Hồ Chí Minh 1975-1984 49
4 Bảng 2.4 Số cơ sở công nghiệp trên địa bàn có đến 31/12 hàng năm 54
5 Bảng 2.5 Tỉ lệ tăng dân số của Tp Hồ Chí Minh 55
6 Bảng 2.6 So sánh tốc độ gia tăng cơ học của dân số với tốc độ tăng trường kinh 63
7 Bảng 2.7: Tỉ lệ giới tính của người nhập cư phân theo vùng xuất cư 69
8 Bảng 2.8: Tỉ lệ giới tính của dân cư các vùng 69
9 Bảng 2.9: Ti lệ dân số TP HCM và cả nước theo lứa tuổi và tỉ lệ dân số phụ thuộc 1979,1989,1999 71
10 Bảng 2.10: Phân chia tỉ lệ nghề nghiệp theo khu vực kinh tế của người nhập cư 74
11 Bảng 2.11: Người nhập cư trong độ tuổi lao động chia theo tình trạng lao động 75
12 Bảng 2.12: Giá trị sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 82
13 Bảng 2.13: Giá trị công nghiệp trên địa bàn Thành phố 83
Trang 8MỞ ĐẦU
I LÍ DO VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Dân cư không chỉ là lực lượng sản xuất mà còn là lực lượng tiêu thụ sản phẩm của xã hội, cho nên số lượng dân cư, kết cấu dân số và sự phân bố dân cư không những có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của các vùng và của cả nước mà còn ảnh hưởng đến môi trường
Sự phân bố dân cư không phải là tĩnh tại mà nó có sự thay đổi theo thời gian và không gian, phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên, kinh tế - chính trị xã hội trong khoảng thời gian nhất định Sự thay đổi đó là do sự chuyển cư từ nơi này đến nơi khác còn gọi là sự di dân Di dân làm thay đổi bức tranh về phân bố dân cư ở các nước, các vùng, các khu vực trên thế giới, nó
có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, làm tăng hoặc giảm lực lượng lao động của một số vùng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho nhân dân, làm giảm sự cách biệt giữa các vùng
Di dân là một trong những vấn đề được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như: xã hội học, dân tộc học, kinh tế chính trị học, kinh tế nguồn lao động, địa lí kinh tế xã hội
Đối với địa lí kinh tế xã hội việc nghiên cứu di dân là một hệ đề tài rất phong phú và hấp dẫn do tính đa dạng và phức tạp của di dân Nghiên cứu di dân trong địa lí kinh tế là nghiên cứu sự phân bố lại con người trong không gian và các dạng chuyển cư của con người giữa các lãnh thổ và các điểm dân cư riêng biệt đồng thời đánh giá những ảnh hưởng của di dân đối với sự phát triển kinh tế- xã hội và môi trường ở các vùng xuất, nhập cư
Một trong những nhiệm vụ trung tâm của địa lí dân cư là nghiên cứu sự phân bố và sự phân bố lại dân cư theo lãnh thổ Sự phân bố lại dân cư trong không gian rất đa dạng với nhiều hình thức, nguyên nhân, mục đích và để lại những hậu quả rất khác nhau
Hàng năm trên thế giới có tới hàng trăm triệu người tham gia vào quá trình di dân kể
cả di dân kiểu con lắc và di dân lâu dài Tính chất của các cuộc di dân rất khác nhau nhưng đều di chuyển khỏi nơi ở cũ đến một nơi ở mới, nơi mà theo họ có những mặt thuận lợi hơn
về đời sống kinh tế hoặc về mặt đời sống xã hội và tinh thần
Ở Việt Nam hiện nay vấn đề di dân đang trở thành một vấn đề nóng bỏng trên phạm
Trang 9Chí Minh, Biên Hòa, Vũng Tàu gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội và môi trường của các vùng
Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất nước ta, là một địa bàn thu hút số lượng dân nhập cư từ khắp mọi miền của đất nước, đồng thời cũng là địa bàn có tỉ lệ di dân quốc tế cao Điều đó đã để lại những hậu quả to lớn về mặt kinh tế xã hội không chỉ đối với thành phố Hồ Chí Minh mà còn ảnh hưởng nhiều mặt đến các vùng xuất cư
Chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu "Vấn đề nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh và
những quả kinh tế xã hội của nó”, để đánh giá sự ảnh hưởng quá quá trình nhập cư vào các
đô thị lớn, vì thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất, phát triển kinh tế sôi động nhất nước ta sức hút mạnh mẽ các luồng dân nhập cư
Nghiên cứu quá trình di dân đến thành phố Hồ Chí Minh cho phép rút ra những kết luận có ý nghĩa lí luận và thực tiễn về hiện tượng di dân trong thời kì đổi mới, nhằm tổ chức
và sử dụng hợp lí nguồn lao động trong quá trình sản xuất và nâng cao mức sống cho dân cư Đổng thời cũng đề ra các biện pháp, phương hướng phát triển kinh tế ở các vùng khó khăn để giảm bớt sự cách biệt giữa các vùng, hạn chế bớt sự di dân nhất là sự di dân nông thôn - đô thị
II MỤC ĐÍCH - NHIỆM VỤ - PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
1 Mục tiêu của đề tài:
+ Làm sáng tỏ lí luận về di dân, các quy luật kinh tế xã hội của di dân
+ Phân tích nguyên nhân, đánh giá hiện trạng di dân đặc biệt chú ý đến vấn đề di dân nông thôn - đô thị Tìm ra những đặc điểm có tính quy luật trong quá trình di dân vào thành phố Hồ Chí Minh
+ Đánh giá ảnh hưởng của di dân đến vấn đề phát triển kinh tế xã hội của thành phố đồng thời đề ra những giải pháp thích hợp để có số lượng và chất lượng dân nhập cư phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh
+ Đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế các mặt tiêu cực đến môi trường sống
và sự phát triển kinh tế xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh Thực hiện mục tiêu "dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh" - đó cũng là mục tiêu của toàn quốc cũng như của Thành phố Hồ Chí Minh
2 Nhiệm vụ của đề tài:
Trang 10+ Nghiên cứu, phân tích cơ sở lí luận về di dân Làm rõ các khái niệm về di dân, đánh giá động cơ, mục đích và nguyên nhân di chuyển và các hậu quả của quá trình chuyển cư
+ Điều tra, thu thập các số liệu về vấn đề di dân trong các giai đoạn khác nhau đặc biệt chú ý đến vấn đề di dân hiện tại ở thành phố Hồ Chí Minh Tìm hiểu các nguyên nhân của quá trình di dân ở thành phố Hồ Chí Minh Phân tích các đặc điểm khác biệt của các luồng nhập cư và xuất cư theo nguyên nhân, cường độ và hiệu quả di dân
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường của quá trình di dân Nghiên cứu các giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực của quá trình di dân
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Về không gian:
Đề tài đi sâu phân tích đánh giá sự di dân vào thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm 22 quận, huyện) và những ảnh hưởng của quá trình này đối với kinh tế, xã hội của thành phố Đặc biệt chú ý nghiên cứu sự di dân vào các quận nội thành, nơi có nhiều cơ sở sản xuất và dịch vụ phát triển, có nhiều điều kiện xã hội khác thích hợp đối với người nhập cư, khu vực
có sức hút mạnh mẽ luồng dân nhập cư
Nghiên cứu các luồng nhập cư theo không gian lãnh thổ, đánh giá nguyên nhân và ảnh hưởng của các luồng nhập cư đó đối với cả vùng xuất và nhập cư Nghiên cứu địa bàn cư trú của người nhập cư và các ảnh hưởng về các mặt kinh tế xã hội và môi trường đối với các địa bàn có số người nhập cư đông như các quận Tân Bình, Gò vấp, Bình Thạnh, Thủ Đức
3.2 Về thời gian:
Quá trình di dân ở thành phố Hồ Chí Minh gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của thành phố Nhưng tốc độ di chuyển có sự khác biệt giữa các thời kì khác nhau Từ sau ngày giải phóng tốc độ di dân ở thành phố có nhiều biến động khá phức tạp cùng với những thay đổi về đường lối phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và thành phố nói riêng
Nhưng những năm gần đây quá trình di dân vào thành phố có sự gia tăng nhanh nhất
Do vậy, đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích sự di dân ở thành phố từ thời kì đổi mới kinh tế
1986 đến nay Đây là thời kì mở cửa nên kinh tế TP HCM có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất nước ta, các ngành kinh tế phát triển sôi động nhu cầu nhân lực tăng cao, tạo lực
Trang 11hút mạnh mẽ đối với người lao động từ mọi miền của tổ quốc Đồng thời có phân tích tổng hợp thêm một vài số liệu từ năm 1976 đến 1986 để so sánh thêm về quá trình di dân ở các giai đoạn khác nhau
III LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
1 Trên thế giới:
Di dân là một hiện tượng kinh tế xã hội đã diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, gắn liền với lịch sử phát triển kinh tế xã hội của loài người, do những nguyên nhân, mục đích khác nhau và đã để lại những hậu quả ở mức độ rất khác nhau Vấn đề này từ lâu đã thu hút sự nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới Ngày nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu
di dân (Migration) bao gồm cả việc nghiên cứu sự xuất cư (Emigration) và sự nhập cư (Immigration) và các ảnh hưởng của nó
Vấn đề di dân đặc biệt thu hút được sự chú ý quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học ở các nước có diện tích rộng lớn như Liên Xô (cũ), Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ Các nước này đã có nhiều công trình nghiên cứu di dân Ở Liên Xô (cũ) có các công trình nghiên cứu di dân như: "Sự di chuyển dân cư ở Liên Xô 1974" của Xtarovarov và những người khác;
"Phương pháp nghiên cứu di dân" của V.I Peređenseva năm 1975 và "Sự di chuyển dân cư ở Liên Xô năm 1974" của Rưvakôvxki
Ở các nước phương Tây cũng có nhiều công trình nghiên cứu về di dân: từ thế kỉ XIX người đầu tiên đưa ra học thuyết về di dân là Ravenstein - người đã nghiên cứu phong trào di dân ở nước Anh Ông đã đưa ra các kết luận về khoảng cách di dân, về thành phần giới tính trong di dân, hướng di dân nông thôn- thành phố diễn ra trong từng giai đoạn và ông cũng đưa ra động lực chủ yếu thúc đẩy di dân là do kinh tế
Lí thuyết về lực hút và lực đẩy đối với người chuyển cư của Todaro đã phân tích vai trò của kinh tế trong di dân nông môn đến đô thị, mô hình về di cư của Everests Lee về lực hút, lực đẩy và các yếu tố cản trở quá trình di dân
Các mô hình hấp dẫn của Stouffer (1940) ông đưa ra mối quan hệ giữa di dân và khoảng cách di dân; mô hình hấp dẫn của Zipf (1946), ông đã đưa ra công mức về mối quan
hệ giữa cường độ di dân với khoảng cách và số dân của vùng chuyển đến
Đặc biệt trong những năm gần đây ở các nước đang phát triển quá trình di dân nông thôn -đô thị đang diễn ra rất mạnh mẽ Do đó, có nhiều công trình nghiên cứu về sự liên kết
di cư nông thôn- đô thị ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Hugo, Graeme (1992) Ở các nước Đông Nam Á cũng có nhiều hội thảo trao đổi kinh nghiệm về xu hướng và hình thức ảnh hưởng của di dân nông thôn đô thị ở các nước Thái Lan, Indonesia, Nepal,
Trang 122 Ở Việt Nam:
Ở Việt Nam vấn đề di dân là vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu trong vài chục năm gần đây gắn liền với sự gia tăng nhanh dân số từ những năm sau thập niên 60 và kế hoạch chuyển cư tới vùng núi và trung du phía Bắc, sự chuyển cư từ đổng bằng sông Hồng vào Tây Nguyên sau giải phóng nhằm phục vụ cho các chính sách, kế hoạch phân bố lại dân cư để phát triển kinh tế và củng cố an ninh quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta:
Từ những năm 1970 đến nay có nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo và bài báo, báo cáo bàn về vấn đề di dân của nhiều cơ quan ban ngành như: Bộ Lao động và thương binh xã hội, Viện Kinh tế, các Sở Công an, Viện Quy hoạch Đô thị nông thôn, Cục Di dân (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) và nhiều nhà nghiên cứu
Trong đó có các tác giả phân tích khá sâu sắc vai trò của di dân nông thôn đô thị đối với nơi đi như bài viết của Đặng Nguyên Anh về di dân nội địa Việt Nam Ngoài ra còn nhiều tác giả khác cũng đi sâu nghiên cứu di dân ở nhiều khía cạnh khác nhau như :Trịnh Khắc Thẩm, Phạm Đỗ Nhật Tân, Nguyễn Doãn Mậu Diệp, Hoàng Dong, Nguyễn Thị Cành
Trước qua trình nhập cư ồ ạt vào thành phố Hổ Chí Minh trong những năm qua đã gây ra những khó khăn nhiều mặt về kinh tế xã hội và môi trường làm cho nhiều người qua lo lắng như một số tác giả đã viết: "Di dân tự do mối lo" của Vũ Đăng Bích trên báo lao động số 113/1996 ngày 31/8/1996 và bài của Vương Linh: "Thành phố Hồ Chí Minh nan giải trước làn sống nhập cư"
UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã thấy rõ tầm quan trọng của việc chỉ đạo quản lí dân nhập cư nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lao động vào phát triển kinh tế xã hội, hạn chế những khó khăn do ảnh hưởng của qúa trình nhập cư Cho nên thành phố Hồ Chí Minh đã lập
"Tiểu ban chỉ đạo và quản lí dân nhập cư thành phố Hồ Chí Minh" Tiến hành chỉ thị UB-NC ngày 23/4/1996 của UBND về quản lí dân nhập cư thành phố Hồ Chí Minh Lấy ý kiến đề xuất biện pháp dân nhập cư thành phố Hồ Chí Minh 10/7/1996
11/CT-Lập đề án tổ chức quản lí dân nhập cư thành phố Hồ Chí Minh 24/9/1997
Các đề tài VKT thành phố Hồ Chí Minh như "Di dân thành phố Hồ Chí Minh, những vấn đề và giải pháp" 27/8/1992 và đề tài "Di dân, đô thị hóa, nguồn nhân lực và việc làm " 9/1995 NXB Chính trị Quốc gia
Nhiều bài viết và đề tài nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến di dân ở thành phố Hồ Chí Minh của các tác giả khác cũng đã được tiến hành như :"Di dân tự do nông thôn đô thị ở
Trang 13dân, đặc điểm, nguyên nhân của sự khác biệt trong phân bố người nhập cư theo quận huyện
và vấn đề sử dụng nguồn lao động nhập cư chưa được đánh giá kĩ lưỡng
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam các cuộc di dân ồ ạt theo hướng từ các vùng nông thôn và từ các đô thị nhỏ vào các đô thị lớn, từ các vùng nông thôn vào Tây Nguyên đang gây ra những ảnh hưởng không ít khó khăn đối với các vấn đề kinh tế xã hội của các vùng Do đó việc nghiên cứu vấn đề di dân và hậu quả kinh tế xã hội của nó là vấn đề mang tính cấp thiết nhằm tìm cách tháo gỡ khó khăn, khắc phục những nhược điểm của quá trình di dân, phát huy những mặt tích cực của quá trình này
Đề tài "Vấn đề nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh và những hậu quả kinh tế xã
hội của nó" cũng nhằm mục đích nghiên cứu rõ hơn động thái của di dân vào đô thị lớn, các
nguyên nhân, mức độ di chuyển của các luồng di dân, những ảnh hưởng về các mặt kinh tế xã hội và môi trường nhằm đề ra các phương hướng phát triển kinh tế xã hội - môi trường bền vững cho các vùng xuất cư và vùng nhập cư đồng thời với việc xác định phương hướng giải quyết trên phạm vi toàn quốc
IV HỆ QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Hệ quan điểm:
1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ:
Quan điểm này là quan điểm truyền thống của Địa lí học, các đối tượng địa lí có mối quan hệ qua lại gắn bó chặt chẽ với nhau, có ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới nhau Do vậy, khi nghiên cứu các đối tượng địa lí kinh tế cần phải nắm vững quan điểm tổng hợp lãnh thổ Ví dụ: cùng là những đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhưng vẫn có sự khác biệt trong quá trình phát triển kinh tế, dân số và sức hút đối với dân nhập cư cũng như tính chất cường độ của các luồng nhập cư có những nét khác biệt nhau do sự sai biệt về lãnh thổ Ngay ở thành phố Hồ Chí Minh cũng có sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế xã hội giữa nội thành và ngoại thành, do đó cũng có quy mô, cường độ di dân vào hai khu vực này cũng khác hẳn nhau Nguyên nhân chính của sự khác biệt về lãnh thổ là do mối liên hệ tổng hợp của các yếu tế địa lí kinh tế xã hội tạo nên như ở nội thành là nơi thuận lợi cho việc tập trung các công sở, xí nghiệp, các trung tâm thương mại dịch vụ lớn mạnh, cùng với hệ mong giao thông vận tải - thông tin liên lạc và cơ sở kĩ thuật rất tốt tạo điều kiện cho các ngành kinh tế ở các quận nội thành phát triển mạnh, nhu cầu lao động cao, do đó ở nội thành có sức hút dân nhập cư lớn hơn các huyện ngoại thành
1.2 Quan điểm hệ thống:
Các đối tượng, hiện tượng địa lí đều có sự tác động qua lại lẫn nhau trong hệ thống
Trang 14gây ra những ảnh hưởng đến các thành phần khác của hệ thống, đồng thời sẽ kéo theo các thành phần khác của hệ thống thay đổi, cuối cùng làm cho toàn bộ hệ thống đó thay đổi
Hệ thống đó lại nằm trong hệ thống cấp cao hơn và những thay đổi của nó lại kéo theo
sự thay đổi của hệ thống cấp cao hơn Như vậy, sự thay đổi của các thành phần tựa như một phản ứng dây chuyền, tạo nên sự biến đổi của cả hệ thống Cho nên khi ta thay đổi một trong những yếu tố gây ảnh hưởng đến di dân sẽ kéo theo sự thay đổi rất nhiều vấn đề kinh tế xã hội khác, cũng như làm thay đổi cả môi trường tự nhiên Bởi vậy, khi chúng ta đưa ra một đường lối chính sách nào đối với vấn đề di dân cũng cần chú ý đến những ảnh hưởng nhiều mặt làm thay đổi mạnh mẽ đến hệ thống kinh tế xã hội và môi trường, để tránh những quyết định sai lầm
Chẳng hạn như khi đường lối chính sách thay đổi, người dân có quyền tự do cư trú là yếu tố thuận lợi cho quá trình di dân, vì vậy quá trình di dân diễn ra ồ ạt, cường độ mạnh sẽ kéo theo sự thay đổi về tốc độ khai thác tài nguyên mạnh mẽ ở các vùng nhập cư làm hệ thống tự nhiên ở vùng nhập cư cũng thay đổi mạnh mẽ Nếu không tính toán kĩ lưỡng có thể dẫn tới sự suy thoái môi trường hoặc làm ảnh hưởng đến các vấn đề kinh tế xã hội khác
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế xã hội, được coi như là một hệ thống kinh tế xã hội trong hệ thống của các vùng kinh tế Việt Nam Vì vậy, khi số dân cư, nguồn lao động thành phố thay đổi sẽ có những đổi thay trực tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế
xã hội của thành phố Thành phố Hồ Chí Minh lại là hệ thống có cấu trúc mở có ảnh hưởng qua lại với các vùng khác, cho nên sự thay đổi kinh tế xã hội, môi trường tự nhiên của thành phố cũng gây nên những ảnh hưởng làm thay đổi kinh tế xã hội của các vùng khác và cuối cùng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội của cả nước
Cho nên khi nghiên cứu vấn đề nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh chúng ta phải đứng trên quan điểm hệ thống trong mối quan hệ giữa các nhân tố trong từng vùng và mối liên hệ kinh tế xã hội với tổng thể nền kinh tế quốc gia
Hơn nữa, các thành phần dân cư là thành phần rất quan trọng trong hệ thống kinh tế
xã hội của thành phố Hổ Chí Minh, cho nên khi đưa ra các chính sách về dân số phải hết sức thận trọng, phải thấy được mối tương tác của nó trong hệ thống kinh tế xã hội thành phố
1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh:
Quán triệt quan điểm này phải chú ý đến các vấn đề địa lí lịch sử của quá trình di dân
Trang 15Đánh giá đúng vai trò vị trí của thành phố Hồ Chí Minh trong hiện tại và tương lai sẽ
có định hướng đúng đắn cho sự phát triển kinh tế thành phố, cũng như kế hoạch phát triển dân số, dân cư nguồn lao động ở thành phố Hồ Chí Minh Để xác định đúng vai trò vị trí của thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai phải nghiên cứu sự phát triển kinh tế xã hội và vai trò của thành phố trong quá khứ và hiện tại đối với nền kinh tế Việt Nam, từ đó xác định được khả năng phát triển kinh tế xã hội và tình hình phát triển dân số thành phố trong tương lai
Từ khi mới hình thành phố Sài Gòn với những lợi thế nhiều mặt đã mau chóng trở thành nơi hội tụ của nhiều luồng di dân từ miền Bắc vào, các thương nhân từ Trung Quốc tới buôn bán, làm ăn tấp nập và định cư tại đây làm cho Sài Gòn trở thành nơi tập trung đông nhất người Hoa ở nước ta Thành phố Sài Gòn xưa đã không ngừng phát triển mạnh mẽ trở thành một thành phố lớn nhất Nam Bộ, ngay từ thời Pháp, mời Mỹ ngụy đã trở một trung tâm chính trị văn hóa lớn nhất ở phía Nam
Sau ngày Sài Gòn giải phóng, với tên mới là thành phố Hồ Chí Minh - thành phố có nhiều thuận lợi nên càng phát triển mạnh mẽ hơn, nhất là sau thời kì đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta Tốc độ phát triển kinh tế cao đã chứng tỏ tiềm năng kinh tế mạnh mẽ của thành phố Hồ Chí Minh, đây cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự di dân mạnh mẽ
ở thành phố Hồ Chí Minh - Sự biểu hiện tính năng động của dân cư thành phố Hồ Chí Minh Khi nghiên cứu và phân tích các vấn đề về nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh cần phải chú ý đến các mốc thời gian và những biến động về kinh tế xã hội trong điều kiện lịch sử cụ thể
1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững:
Vấn đề di dân không chỉ đơn thuần là sự thay đổi chỗ ở mà còn là sự thay đổi sâu sắc lối sống, phương thức canh tác, cách thức khai thác và tác động vào tự nhiên của dân cư Sự thay đổi lề lối canh tác và sinh hoạt truyền thống của người dân theo lối sống mới, canh tác mới, nếu không có sự nghiên cứu kĩ lưỡng sẽ làm tổn hại to lớn đến môi trường sinh thái: gây cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên ô nhiễm môi trường sống của con người Do vậy, vấn đề di dân phải chú ý vấn đề môi trường sinh thái đối với địa bàn cư trú của người nhập cư, và các tác động của người di dân làm thay đổi môi trường
2 Hệ phương pháp nghiên cứu:
2.1 Phương pháp thống kê kinh tế- phân tích, tổng hợp, so sánh:
Là phương pháp rất quan trọng đối với địa lí kinh tế xã hội Trên cơ sở các số liệu
Trang 16Chúng tôi triệt để khai thác các tài liệu và số liệu thống kê, kế thừa những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài trên cơ sở phân tích so sánh tổng hợp và đưa ra những nhận xét riêng của mình
Đặc biệt chú ý đến các số liệu thống kê về dân số các cuộc điều tra chính thức của nhà nước các năm 1979, 1989, 1999 và số liệu của các tổ chức, ban ngành, số liệu thống kê về kinh tế và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất đai của các vùng để phân tích so sánh ảnh hưởng của các nhân tố này đối với quá trình di dân
2.2 Phương pháp điều tra thực địa, phương pháp điều tra xã hội học:
Là phương pháp cần thiết đối với các nhà nghiên cứu để có thể xác định được mức độ tín cậy của các tài liệu, số liệu đã có và có thể đưa ra được những luận cứ xác thực với thực tiễn
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu điều tra xã hội học được tiến hành bằng các bảng hỏi thu thập các thông tin bằng phiếu điều tra, phỏng vấn người nhập cư ở một số phường có người nhập cư lớn tại các quận như Gò vấp, Tân Bình Trực tiếp quan sát công việc làm và cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người nhập cư, tìm hiểu nguyên nhân di chuyển, tâm tư nguyện vọng của họ, nắm bắt những thuận lợi và khó khăn của dân nhập cư Qua điều tra các
số liệu được xử lí qua phần mềm SPSS (Software Package For Social Study) Qua các thông tin và tìm hiểu thực địa chúng tôi khẳng định lại mức độ tin cậy của số liệu và những nhận định đã có, rút ra những kết luận thẩm định những nhận định đã đưa ra trên cơ sở thực tiễn
2.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ:
Là phương pháp đặc trưng của địa lí học : "Các công trình nghiên cứu đều bắt đầu từ bản đồ và kết thúc bằng bản đồ", cùng với sự minh họa bằng các biểu đồ công trình nghiên cứu thật sinh động
Sử dụng bản đồ trong nghiên cứu, nhà Địa lí dễ dàng tìm thấy mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng tự nhiên, dân cư - môi trường và sự phát triển kinh tế xã hội Cuối cùng công trình nghiên cứu được thể hiện kết luận bằng hệ thống bản đồ, biểu đồ Chúng tôi đã thành lập một số bản đồ về vấn đề di dân ở thành phố Hồ Chí Minh đồng thời có nhiều minh họa bằng biểu đồ, đồ thị, hình ảnh chụp trực tiếp
2.4 Phương pháp dự báo:
Là phương pháp dựa trên cơ sở sự phát triển có tính quy luật của sự vật, hiện tượng
Trang 17giữa quá trình di dân với các hiện tượng kinh tế xã hội trong thời gian đã qua, chúng tôi có thể dự báo sự di dân trong thời gian tới và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế
xã hội của thành phố Hồ Chí Minh
2.5 Phương pháp khai thác phần mềm hệ thống thông tin địa lí (GIS) trong nghiên cứu địa lí:
Hệ thống thông tin địa lí (GIS) được sử dụng phổ biến để lưu trữ, phân tích xử lí các thông tin không gian lãnh thổ Hệ GIS cho phép chồng xếp các thông tin địa lí để thấy được nét đặc trưng riêng của các đối tượng địa lí
2.6 Phương pháp chuyên gia:
Để nghiên cứu đánh giá vấn đề phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, tác giả đã tham khảo trao đổi với nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau như : Các nhà quản lí, nhà xã hội học, các nhà dân số học, các nhà quy hoạch
V Các đóng góp chính của đề tài:
* Tổng quan có chọn lọc một số vấn đề lí luận về di dân, các quy luật di dân Vận dụng vào
TP HCM để thấy rõ tính quy luật trong quá trình di dân ở thành phố lớn
* Phân tích xu hướng di dân chính ở thành phố Hồ Chí Minh và những hậu quả cũng như dự báo về di dân trong tương lai, những giải pháp hạn chế di dân tự do và đưa ra các giải pháp để
sử dụng nguồn lao động nhập cư một cách có hiệu quả nhất
VI CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI:
Tên đề tài: "Vấn đề nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh và những hậu quả kinh tế xã hội
của nó"
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài có 3 chương chính:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về di dân
Chương 2: Hiện trạng nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh và hậu quả kinh tế - xã hội của nó Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị về vấn đề nhập cư ở Tp Hồ Chí Minh
Kết luận
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DI DÂN
Dân cư và sự phân bố dân cư có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của loài người, cũng như sự phát triển kinh tế của mỗi một quốc gia, một khu vực nhất định Mỗi vùng, mỗi nước đều có một số lượng dân số nhất định nhưng số dân cư đó không phải tĩnh tại bất biến mà nó luôn thay đổi không ngừng do sự chuyển động tự nhiên của dân cư biểu hiện bằng sự chênh lệch sinh tử và sự gia tăng cơ giới do quá trình chuyển cư của con người từ nơi này đến nơi khác
Sự chuyển cư (di dân) đã góp phần phân bố lại dân cư trên trái đất, tăng cường khai thác tài nguyên thiên nhiên, điều chỉnh và giảm bớt sự cách biệt giữa các vùng, nhưng di dân cũng gây ra những ảnh hưởng nhiều mặt tích cực cũng như tiêu cực đối với nền kinh tế xã hội thế giới và khu vực
Di dân là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người với những thay đổi của tự nhiên, xã hội và sự phát triển không đồng đều về kinh tế xã hội giữa các vùng, các nước trên thế giới Nhưng quá trình di dân có những khác biệt giữa các nước và các vùng về quy mô cũng như hiệu quả kinh tế của nó Vì vậy vấn đề cơ sở lí luận về di dân cần phải được nghiên cứu kĩ lưỡng đồng thời cần phải có những công trình nghiên cứu đánh giá cụ thể các cuộc di dân quốc tế cũng như trong từng nước từng khu vực
để phát huy những ảnh hưởng tích cực, khắc phục những mặt tiêu cực của quá trình này
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ DI DÂN:
1 Khái niệm về di dân:
1.1 Di dân(Migration):
Di dân làm thay đổi bức tranh phân bố dân cư trên trái đất, nó dẫn tới sự phân bố lại lao động theo lãnh thổ và làm ảnh hưởng đến hàng loạt các vấn đề kinh tế xã hội, cũng như môi trường, trong đó ảnh hưởng rõ rệt dễ nhận thấy nhất là ảnh hưởng đối với hiệu quả sản xuất
Tuy nhiên khái niệm về di dân cũng chưa hoàn toàn thống nhất Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về di dân, theo nghĩa rộng di dân được hiểu là sự chuyển động cơ học của dân cư: như vậy, bất cứ sự chuyển động nào của con người trong không gian gắn với
sự thay đổi vị trí theo lãnh thổ cũng được coi là di dân, như E.F.Baranov và Breev: "Di dân
hiểu theo nghĩa rộng là bất kì một sự di chuyền con người giữa các vùng lãnh thổ có gắn
Trang 19với sự thay đổi vị trí, dạng hoạt động lao động và ngành có sử dụng lao động" Còn theo
V.V.Ônhikienkô và V.A.Popokin (1973): "Di dân thường được hiểu là sự thay đổi thường
xuyên của con người với tổng hợp thể các nhân tố và nguyên nhân chính''
Theo V.I Xtapoverop (1975): " Di dân được hiểu là sự thay đổi vị trí của con người
về mặt địa lí, do có sự di chuyển thường xuyên hoặc tạm thời của họ từ một cộng đồng kinh
tế này sang một cộng đồng kinh tế khác, trở về hoặc có sự thay đổi vị trí không gian của toàn
bộ cộng đồng nói chung" Theo Lee (1966) thì di dân được hiểu là sự thay đổi nơi ở cố định
Như vậy, di dân là một khái niệm rộng và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung những khái niệm trên còn coi trọng sự chuyển dịch trong không gian mà không chú ý đến sự thay đổi nơi cư trú hay không cũng như mục đích và thời gian di chuyển Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu di dân không đồng nhất với khái niệm di dân theo nghĩa rộng
Thuật ngữ di dân (chuyển cư) theo nghĩa hẹp được hiểu là sự chuyển dịch của dân cư theo lãnh thổ, sự phân bố lại dân cư Tuy nhiên không phải bất kì sự chuyển dịch nào của dân
cư cũng là di dân, trong thời đại ngày nay chúng ta hiểu di dân là sự di chuyển của dân cư ra khỏi biên giới đất nước hay ra khỏi lãnh thổ hành chính mà họ đang cư trú, gắn liền với việc thay đổi chỗ ở của họ
Như vậy, những chuyển động hàng ngày của dân cư từ nơi ở đến nơi làm việc, đi chợ,
thăm viếng họ hàng, tham quan du lịch không thuộc vào di dân theo khái niệm này Tuy nhiên trong nhiều trường hợp chúng ta vẫn gặp trên các tài liệu khái niệm về di dân con lắc tức là sự di chuyển lao động của các vùng nông thôn xung quanh hoặc từ các thành phố nhỏ
đến các thành phố lớn để làm việc - đó là di dân theo khái niệm rộng được hiểu là sự chuyền
động của dân cư (Theo quan niệm của một số tác giả cho rằng chuyển động dân cư bao gồm nhiều lớp: đó là chuyển động tự nhiên (sinh ra, chết đi của con người), chuyển động không gian xáo trộn lãnh thổ và chuyền động xã hội (thay đổi vị trí con người trong xã hội:
thay đổi nghề nghiệp, tôn giáo, địa vị xã hội)
Năm 1958 Liên Hợp Quốc có đưa ra khái niệm về di dân như sau: "Di dân là sự di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị địa lí hành chính này vào một đơn vị địa tí hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng di dân xác định"
Trang 20lang thang "dân du mục", di dân kiểu con lắc (đi về hàng ngày) và di dân theo mùa vụ trong khoảng thời gian ngắn ra khỏi khái niệm di dân
Năm 1973 Liên hợp quốc đưa ra khái niệm di dân dài hạn và di dân ngắn hạn Di
dân dài hạn là người di dân đến nơi ở mới từ 12 tháng trở lên, ngược lại di dân ngắn hạn dưới
12 tháng Tuy vậy theo một số tác giả vẫn cho rằng "khái niệm này cũng bộc lộ nhược điểm
là người di dân (migrants) sau khi đến nơi ở mới do nhiều lí do khác nhau có thể thay đổi ý định và do đó không thể coi là di dân dài hạn " *
Mặc dù vậy, theo chúng tôi thì người di chuyển đến nơi ở mới với sự cư ngụ ở nơi ở
mới trên 12 tháng có thể coi là di dân dài hạn, nếu người di chuyển đó có nhà cửa (nơi cư
trú ) cố định và công việc làm ổn định
Như vậy, theo quan niệm của Thomlinson (1976) "Di dân là người thay đổi nơi cư trú thông thường trong một khoảng thời gian đáng kể và họ vượt qua khỏi ranh giới chính bị" Tác giả cũng phân biệt rõ người di chuyển (movers) là người thay đổi nơi cư trú, còn di dân (migrants) là người thay đổi và chuyển nơi cư trú đến một đơn vị hành chính chính trị mới
Ví dụ như những người không thay đổi nơi cư trú như khách du lịch, người chuyển
động con lắc cũng không phải là di dân mà là người di chuyển (thay đổi vị trí địa lí của
mình) Như vậy, người di dân là người di chuyển có sự thay đổi nơi cư trú lâu dài của mình, nhưng người di chuyển chưa hẳn là người di dân Những quan niệm như vậy cũng đã được các nhà nghiên cứu di dân của Liên Xô (cũ) khẳng định trong các công trình nghiên cứu vào những năm giữa thế kỉ XX
Tóm lại di dân có các đặc điểm sau:
• Một là: con người di chuyển khỏi nới cư trú thường xuyên đến một nơi nào đó với một khoảng cách nhất định, nơi đến phải xác định và khoảng cách giữa hai đơn vị hành chính gọi là độ dài di chuyển
• Hai là: người di chuyển có mục đích, họ rời nơi ở cũ đến nơi ở mới thực hiện mục đích của mình
Trang 21Trong quá trình di chuyển của dân cư sẽ hình thành nên các nhóm người di cư, các vùng xuất cư, các vùng nhập cư
Vàng xuất cư (nơi đi): là vùng có dân cư chuyển đi nơi khác Vùng nhập cư (nơi đến): là vùng có dân cư từ nơi khác đến Người nhập cư: là người từ nơi khác chuyển cư tới nơi ở mới Người xuất cư: là người chuyển cư khỏi nơi ở cũ
Gia tăng cơ học (sự chênh lệch di dân): sự chênh lệch số người đến và số người đi
khỏi một vùng nhất định
Tỉ lệ gia tăng cơ học: "tỉ lệ di dân thuần túy (được tính bằng %): là tỉ lệ giữa số chênh
lệch giữa số người nhập cư và người xuất cư khỏi vùng chia cho tổng số dân cư của vùng đó hay nước đó nhân với 100
1.2 Các học thuyết về di dân:
Trong các công trình nghiên cứu di dân, các tác giả đã nhận thấy rằng trong cùng một địa phương có những người tham gia chuyển cư còn số khác lại không di chuyển Vậy các nguyên nhân nào liên quan đến việc di chuyển? Nghiên cứu nguyên nhân của quá trình chuyển cư có ý nghĩa lí luận và thực tiễn đặc biệt trong tổ chức không gian về di dân trên thế giới và ở nước ta Trên thế giới đã có nhiều công binh nghiên cứu về vấn đề nguyên nhân của
sự chuyển cư
E.G.Ravenstesin (những năm sau 1880)-người đầu tiên đưa ra học thuyết về di dân trên cơ sở nghiên cứu phong trào di dân ở nước Anh đã đưa ra "thuyết quy luật" di dân, mà tinh thần cơ bản được thể hiện như sau:
- Hầu hết các cuộc di chuyển của dân cư diễn ra trong khoảng cách ngắn
- Nữ giới tham gia di chuyển nhiều hơn nam giới trong khoảng cách ngắn
- Mỗi dòng di dân đều có dòng di dân ngược lại
Trang 22Sau Ravenstein, một số nhà nghiên cứu trình bày lí thuyết nghiên cứu về các yếu tố để giải thích quá trình di dân theo hai khuynh hướng chủ yếu:
Khuynh hướng 1: Giải thích quá trình di dân do hai nhân tố lực hút và lực đẩy Những
yếu tố thúc đẩy người di chuyển quyết định rời vùng cư trú cũ và yếu tố thu hút họ ở vùng cư trú mới
Khuynh hướng 2: Tổng quát hóa những hiện tượng thực tế, những xu hướng di dân từ
đó nên lên những đặc trưng di dân thông qua mô hình toán học
Theo các nhà nghiên cứu di dân của Liên Xô cũ thì cường độ di dân tỉ
lệ nghịch với khoảng cách giữa hai vùng di dân
2.1 Lí thuyết theo lực hút và lực đẩy:
Lipton (1976) khi nghiên cứu những người di cư từ nông thôn đã chia họ ra làm hai nhóm chính: Nhóm thứ nhất là những người nghèo khổ thiếu ruộng đất, ít học hành bị tác động của "lực đẩy" ra khỏi vùng, đến các đô thị hoặc đến các vùng nông thôn khác kiếm kế sinh nhai Nhóm thứ hai là những người tương đối khá giả có học vấn thường bị tác động của
"lực hút" từ các vùng đô thị hoặc các vùng có điều kiện phát triển kinh tế lôi cuốn đi
Theo lí thuyết này, các vùng có sự khác biệt về một số yếu tố đặc trưng như: kinh tế, việc làm, thu nhập, tài nguyên thiên nhiên và môi trường; yếu tố dân cư và xã hội; sự thay đổi
về tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ Sự khác biệt này sẽ làm nảy sinh lực đẩy từ vùng
có các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội kém thuận lợi hơn và lực hút được hình thành ở các
vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thuận lợi hơn, từ đó tạo ra các yếu tố thúc đẩy quá trình di dân giữa các vững
Như vậy, quá trình di dân tỉ lệ thuận với sự tiến bộ của công nghệ, sự phát triển kinh
tế cũng như các tiến bộ về vận tải và thông tin liên lạc
Ngoài ra yếu tố lực hút và lực đẩy còn bao gồm những yếu tố cá nhân như: tình trạng hôn nhân, gia đình, thay đổi nghề nghiệp, việc làm và các yếu tố xã hội khác như: tôn giáo, chính trị, thể chế xã hội
Lí thuyết này đã làm rõ quy luật chung của di dân là: người di chuyển từ nơi có đời
sống thấp đến nơi có đời sống cao hơn; từ vùng có điều kiện tự nhiên kém thuận lợi đến nơi
có điều kiện thuận lợi hơn Quy luật biến động của dân cư cũng đã chỉ rõ ý nghĩa của lí thuyết
Trang 23và nền văn minh xã hội Chính sự thay đổi về tiến bộ khoa học kĩ thuật dẫn đến sự hình thành các trung tâm phát triển như khu công nghiệp, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp sẽ thu hút các dòng di dân, cũng như trong điều kiện cụ thể sẽ giải phóng một bộ phận lực lượng lao động
Theo tinh thần cơ bảo của lí thuyết này rất lợi cho việc liệt kê các nhân tố tác động quyết định đến sự di chuyển mặc dù nó chưa phải là lí thuyết hoàn chỉnh (Thể hiện rõ nhất chưa giải thích ở chỗ tại sao trong cùng một hoàn cảnh mà một số người lại di chuyển, một số khác lại không)
Todazo đã phân tích vai trò của các nhân tố kinh tế trong di dân nông thôn đến thành thị; phân tích học thuyết về vai trò tác động của sự khác biệt tiền lương giữa thành thị và nông môn và xem đây là yếu tố điều chỉnh quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị Mô hình Todazo giả định về những quyết định hợp lí của người dân tiềm tàng và nhấn mạnh: Những quyết đinh di chuyển của cá nhân dựa trên mối quan tâm về tương lai của tiền lương hơn là sự khác biệt của chúng giữa thành thị và nông thôn Đồng thời cho rằng việc mất nghiệp là những biến số làm cân bằng, trong đó tỉ lệ thất nghiệp cao ở đô thị sẽ thu hẹp sự khác biệt giữa mức tiền lương hy vọng ở thành thị và nông môn
Todazo cho rằng các nước đang phát triển ở châu Á và châu Phi di dân có đặc trưng chung là những người trẻ tuổi từ 15-25 và chủ yếu là nam, số nữ di chuyển tăng lên theo trình
độ học vấn
Rothenberg đã xác định rõ 4 nhân tố về mức độ giá cả và lợi tức cũng như hoàn trả trong quá trình di chuyển của dân cư:
*Giá cả có liên quan chặt chẽ tới mỗi cuộc chuyển cư
*Đặc điểm và sự phát triển của các nguồn thông tin về giá cả và lợi tức mặc dù nguồn mông tín về những vấn đề này chưa được giả định hoàn chỉnh
*Ý nghĩa thực tế của mỗi thành phần về lợi tức và giá cả
*Quyết định di chuyển của người dân (yếu tố cá nhân)
2.2 Lí thuyết cấu trúc của Veretts Lee:
Có thể nói rằng đây là lí thuyết về quy mô, dòng di dân và những đặc tính của người
di cư 1966 Tác giả đã nêu và phân loại các yếu tố liên quan đến quyết định di chuyển và quá trình di dân Các yếu tố đó là:
Trang 24- Các yếu tố liên quan đến đầu đi
- Các yếu tố liên quan đến đầu đến
- Các yếu tố cản trở
- Các yếu tố cá nhân
Các yếu tố liên quan đến vùng đi và vùng đến có sự khác nhau và có ý nghĩa quan trọng đối với quyết định di chuyển Quá trình di dân được xảy ra khi có sự lựa chọn, cân nhắc yếu tố này Các khó khăn ngăn cản đến sự di chuyển là: khoảng cách, phương tiện giao thông
và chi phí đi lại, phong tục tập quán, những rào cản về pháp luật Tuy nhiên yếu tố này sẽ kém ý nghĩa trong kỉ nguyên hiện đại Các yếu tố cá nhân (gia đình, cộng đồng, sức khỏe, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, gia đình, số con ) giữ vai trò quyết định di chuyển
Mỗi cá nhân và gia đình của họ đều có điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, nhận thức khác nhau nên việc dự đoán quyết định di chuyển là rất phức tạp Vì vậy sẽ không có lí thuyết tổng quát về di dân Trong lí thuyết cấu trúc V.LEE đã giải quyết về 4 vấn đề cơ bản có liên quan đến quyết định di chuyển:
+ Số lượng di chuyển: là khác nhau giữa các vùng-các nhóm cộng đồng; thay đổi sự biến động của nền kinh tế và có xu hướng tăng theo thời gian về mặt tỉ lệ
+ Dòng di dân: di dân xảy ra theo hai chiều thuận nghịch Dòng di dân ngược sẽ lớn nếu vùng đi và vùng đến có nhiều đặc điểm giống nhau và sẽ giảm đi khi các yếu tố ngăn cản
là lớn (Xem sơ đồ 1)
Vùng đi Vùng đến
+ Biểu hiện cho những yếu tố thuận lợi tạo lực hút
Trang 25O Biểu hiện cho những yếu tố chưa xác định ( không thuận lợi cũng không khó khăn)
+ Đặc trưng của người di chuyển (tính chọn lọc có ý nghĩa quan trọng)
+ Di dân diễn ra theo từng giai đoạn của cuộc sống và đặc trưng của dòng di dân mang tính trung gian của cả hai vùng đi và đến
II PHÂN LOẠI DI DÂN:
Có nhiều cách phân loại di dân tùy theo góc độ và mục đích nghiên cứu, sự phân loại chỉ là tương đối
1 Các hình thức di dân:
Những chỉ tiêu cơ bản phân loại di dân là hướng di dân, trình độ tổ chức của di dân, nguyên nhân của di dân, thời gian di dân
1.1 Theo hướng của dòng di dân:
Chia ra làm 2 dạng di dân: di dân nội địa và di dân quốc tế
*Di dân nội địa là quá trình di dân diễn ra trong nội bộ một quốc gia nào đó
Di dân nội địa thường diễn ra theo các hướng sau:
+ Hướng di dân: nông thôn-nông thôn
+ Hướng di dân: nông thôn-đô thị
+ Hướng di dân: đô thị-nông thôn
+ Hướng di dân: đô thị-đô thị
*Di dân quốc tế: là di chuyển của dân cư đến nơi ở mới ra khỏi biên giới quốc gia
(xuất cư- xuất cảnh) hoặc sự di chuyển của dân cư từ nước khác vào trong lãnh thổ nước đó (nhập cư-nhập cảnh) Hay nói cách khác di dân quốc tế là quá trình chuyển nơi cư trú của dân
cư từ nước này sang nước khác, trong đó nhập cảnh là số người từ nước ngoài đến sinh sống
ở nước đang nghiên cứu, ngược lại xuất cảnh là số người từ nước đó di chuyển đi nước khác
Trang 26• Người hồi cư : Là những người vốn là công dân của nước đó di cư ra nước ngoài nay vì lí do nào đó trở về nước sinh sống lâu dài
• Người nhập cư dài hạn: là người nhập cư có quốc tịch nước ngoài cư trú trên lãnh thổ nước đó trong thời gian dài hoặc người hồi cư
+ Di dân quốc tế ngắn hạn tính theo thời gian dưới một năm
+ Di dân quốc tế dài hạn theo Liên Hiệp Quốc phải tính từ một năm trở lên Trong di dân dài hạn chia ra làm di dân thế hệ đầu tiên (primary) và thế hệ thứ hai là con cháu của thế
hệ đầu tiên (secodary)
• Các dòng di dân quốc tế đã diễn ra từ lâu đời, có quy mô và tính chất khác nhau trong khoảng thời gian và không gian khác nhau Nhưng những cuộc di dân quốc tế lớn nhất là các cuộc di dân quốc tế xuất phát từ châu Âu bắt đầu từ thế kỉ XV đi châu Mĩ kéo dài đến đầu thế kỉ XX di cư sang các nước châu Á, châu Úc và Đại Dương Phần lớn trong số họ xuất cư từ các nước Tây Âu như: Anh, Ireland, Áo, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Thụy Điển Những cuộc di dân quốc tế lúc đầu gắn với sự thám hiểm khai thác các vùng đất mới, thời kì sau đó gắn liền với sự xâm chiếm thuộc địa,
• Cùng với sự khai khẩn các vùng đất mới của người Âu là sự di chuyển dân cư cưỡng bức (sự bắt bớ, buôn bán nô lệ da đen) từ châu Phi sang châu Mỹ, sự lấn chiếm đất đai đuổi người dân da đỏ bản xứ ở châu Mỹ phải rời xa mảnh đất thân thuộc phì nhiêu của mình,
di chuyển sang phía Tây
Trong những năm sau Đại chiến thế giới I và II đến nay di dân quốc tế gắn liền với sự phân biệt sắc tộc, tôn giáo và các nguyên nhân chính trị chẳng hạn như sự di chuyển của người gốc Đức trở về nước từ các nước Đông Âu sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, sự di cư của ngưồi Nhật từ các nước châu Á về nước Sự di chuyển dân cư của người Hồi giáo từ Ấn
Độ về Pakistan, cuộc di dân của người Nga từ các nước Cộng hòa trở về Liên bang Nga sau khi tan rã Liên Xô cũ hoặc sư di chuyển của một số người thuộc khối EU di chuyển tự do trong khối
Ngoài ra còn có sự dí chuyển do mục đích kinh tế trong những năm gần đây gồm có
sự di chuyển hợp pháp và sự di chuyển bất hợp pháp từ các nước đang phát triển sang các nước tư bản phương Tây và Bắc Mỹ
Trang 27thực tế còn một số lượng không nhỏ người nhập cảnh không khai báo, không qua các cửa khẩu (là những người di cư bất hợp pháp) Ngoài ra đối với các nước EU do xoá bỏ thủ tục xuất nhập cảnh nên thống kê di dân quốc tế gặp rất nhiều khó khăn
1.2 Theo thời gian di dân:
+ Di dân lâu dài (di dân vĩnh viễn hay di dân không quay trở lại) : sự thay đổi chỗ ở
của người dân được xác định trong thời gian dài
+ Di dân tạm thời: là sự thay đổi nơi ở ban đầu nhưng với thời gian không lâu dài
và khả năng trở lại nơi ở cũ là chắc chắn
Kiểu di dân này bao gồm:
- Di dân theo mùa vụ: những người nông dân thuộc đồng bằng sông Cửu Long, Đông
Nam Bộ về thành phố Hồ Chí Minh làm ăn trong thời gian nông nhàn, đến ngày mùa gặt hái, làm màu họ mới trở về quê làm ăn Di dân theo mùa vụ ở đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ như Thanh Hóa đến thủ đô Hà Nội làm ăn trong thời kì nông nhàn Xu hướng di dân này ngày càng tăng lên khi nông nghiệp ngày càng được cơ giới hóa mạnh mẽ hơn và mức thu nhập của nông môn và thành thị còn có sự chênh lệch khá lớn
- Di dân ngắn hạn: Đi học, công tác, du lịch, xuất cảnh có thời hạn
- Di dân kiểu con lắc: những người dân ở các vùng lân cận thành phố vào thành phố
làm ăn sáng đi tối về đây là hình mức mở rộng lối sống đô thị do nhu cầu nhân lực tăng cao trong quá trình phát triển kinh tế của phố Đây cũng là quá trình giảm bớt sự cách biệt giữa nông thôn và thành phố Do vậy, những người đi lại làm ăn kiểu con lắc mặc dù họ không thay đổi chỗ ở nhưng theo khái niệm rộng về di dân không loại họ ra khỏi thành phần của quá trình di dân Về cơ bản dạng thay đổi lực lượng lao động theo lãnh thể này có thể được coi là
di dân
2 Nguyên nhân của di dân:
Di dân là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình phát triển, phân bố sản xuất
và phân bố lại dân cư, điều hòa lao động giữa các vùng đáp ứng nhu cầu lao động phát triển kinh tế của những vùng phát triển mạnh đồng thời giảm gánh nặng dân số ở những nơi thừa lao động Tuy nhiên cùng trong xã hội có điều kiện sống tương tự nhau nhưng nhóm người này di chuyển còn những người khác lại không di chuyển? Tìm hiểu vấn đề này chúng ta thấy
có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự di dân, nhưng tựu chung lại có những nguyên nhân
Trang 28chính như: nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân chinh trị, tôn giáo, tâm lí- tình cảm, quốc
phòng, hoặc do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt hoặc bị biến động mạnh: động đất núi lửa, sạt lở đất, hạn hán keó dài
Phân tích những nguyên nhân di dân chúng ta sẽ thấy nguyên nhân có tính chất phổ biến nhất là nguyên nhân kinh tế, kết luận này đã được nhiều nhà nghiên cứu di dân trên thế giới và Việt Nam thừa nhận, trong đó đặc biệt rõ rệt đối với luồng di dân nông thôn đô thị
* Nguyên nhân chính của di dân là nguyên nhân kinh tế:
Để phát triển kinh tế ở những vùng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng thưa dân, chính quyền nhà nước thường chủ động phân bố lại dân cư: đưa dân từ các vùng dân cư tập trung đông đúc, các thành phố lớn đến lập thành phố mới, vùng kinh tế mới Ví dụ như cuộc di dân có kế hoạch ở Liên Xô cũ đưa dân đi phát triển kinh tế, khai thác tài nguyên thiên ở Xibia trong những năm dưới chính quyền Xô viết, hay cuộc di dân phân bố lại lao động ở nước ta sau ngày đất nước thống nhất nhân dân thủ đô Hà Nội, Hà-Nam-Ninh vào Lâm Đồng trong giai đoạn 1976 -1980
Trong những năm gần đây các luồng di dân tự do của đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ vào Tây Nguyên là do nhu cầu phát triển đời sống, phát triển kinh tế Dòng di dân tự do từ các vùng nông thôn Việt Nam vào các đô thị (đặc biệt là các đô thị lớn)
từ cuối thập niên 80 đến nay chủ yếu là do nguyên nhân kinh tế
Nhiều cuộc di dân quốc tế khác cũng xuất phát từ nguyên nhân kinh tế như sự di dân của những người châu Âu (đặc biệt từ Anh quốc sang các nước châu Mỹ .), hoặc trong những năm gần đây sự ra đi bất hợp pháp của nhóm người châu Phi sang châu Âu, sự di chuyển của những người châu Á sang châu Âu và châu Mỹ, người Hoa lục địa nhập cư sang Hồng Kông trong những năm trước thập kỉ 90
* Nguyên nhân chính trị- tôn giáo-xã hội:
+ Nguyên nhân tôn giáo: Sự di dân của người theo đạo Hồi và đạo Phật ở Ấn Độ sau
những biến động chính trị lớn khi nước Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ và chia Ấn Độ thành các quốc gia Phật giáo và quốc gia Hồi giáo đã tạo nên sư di dân lớn của hàng triệu người theo đạo Phật và đạo Hồi
Ở Việt Nam sau khi hòa bình lập lại năm 1954 do sự chia cắt hai miền và cuộc di dân lớn của đồng bào giáo dân do bị Pháp xúi giục đã di dân từ Bắc vào Nam
Trang 29+ Di dân chính trị: Là những cuộc di dân vì vấn đề chính trị như sự di dân của gần
100 ngàn người di tản tránh cuộc giao tranh giữa phe Taliban và phe đối lập tại miền bắc Afganistan trong những ngày giao tranh cho đến giữa năm 2000 Hay sự di chuyển của người Hoa về Trung quốc trong thời gian bất hòa giữa Việt Nam và Trung Quốc cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 (riêng năm 1979 có khoảng 26 ngàn người Việt gốc Hoa rời Việt Nam trong
đó phần lớn là số người Hoa ra đi từ Hải Phòng, Quảng Ninh và các tỉnh biên giới phía Bắc)
Trong thời gian chiến tranh Vệ Quốc ở phía Tây Liên Xô bị đe dọa bởi bọn Phát xít
đã làm cho 25 triệu người Liên Xô phải di dân Sự tan rã của Liên Xô và sự hình thành các quốc gia độc lập đã tạo nên dòng di dân khá lớn từ các tỉnh thành phố của LB Nga về các nước cộng hòa SNG và ngược lại người nga từ các nước SNG trở về CHLB Nga
Trong thời gian chuẩn bị giải phóng miền Nam sự di tản khá ổ ạt của binh lính Ngụy
và những năm sau 1975 là những cuộc di dân quốc tế từ Miền Nam đi các nước theo diện đoàn tụ gia đình và dạng HO (trong đó một số lượng lớn đi từ Thành phố.HCM)
* Di dân vì mục đích quốc phòng:
Trong thời gian xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta có cuộc vận động thanh niên đi xây dựng các nông trường ở các tĩnh miền núi phía Bắc, đồng thời củng cố quốc phòng
Cuộc vận động sinh viên học sinh nhận nhiệm sở ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo để phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng
3 Tính chất của di dân:
+ Di dân có tổ chức:
Là sự di dân của một tập thể nào đó dưới sự tổ chức động viên của Nhà nước hay một
tổ chức nào đó đứng ra bảo trợ hoặc đầu tư Phần lớn sự di dân có tổ chức đã được nghiên cứu khá kĩ lưỡng nhằm đạt hiệu quả cao về mặt kinh tế xã hội Chẳng hạn như di dân để khai thác phát triển vùng kinh tế mới hoặc di dân nhằm phân bố lại dân cư để củng cố quốc phòng
Di dân có tổ chức do Nhà nước tổ chức chỉ đạo quản lí việc di dân theo kế hoạch với mục đích sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên và phân bố lại nguồn lao động, đem lại hàng loạt những lợi ích về kinh tế, chinh trị và quốc phòng cho quốc gia Ví dụ sự phân
Trang 30bố lại dân cư ở Liên Xô cũ: di dân từ phía Tây sang phía Đông (đến Xibia, Baican, Amua) hay sự phân bố lại dân cư ở nước ta lên vùng Tây Nguyên, đến vùng núi và trung du phía Bắc
Ở nước ta các cuộc di dân có tổ chức dưới sự chỉ đạo của Nhà nước được tiến hành từ những năm 60 nhằm phân bố lại cán bộ, đưa nhân dân lên khai hoang phát triển kinh tế ở miền núi phía Bắc để phát triển kinh tế miền núi và củng cố quốc phòng Những năm sau giải phóng miền Nam, tổ chức đưa dân cư từ vùng đồng bằng Bắc Bộ di cư vào vùng kinh tế mới Lâm Đồng, đến miền núi và trung du phía Bắc hoặc sư phân công công tác đối với sinh viên học sinh ra trường, sự điều động cán bộ từ Bắc vào Nam (*)
Cuộc di dân từ thành phố Hồ Chí Minh đi Long Thành, Đông Nai, Sông Bé giai đoạn 1976-1984 nhằm giãn dân do đô thị hóa quá mức trong thời kì Mỹ Nguy
+ Di dân không có tổ chức (di dân tự do-tự nguyện)
Là sự di chuyển được quyết định bởi chính người di chuyển tự tổ chức và quyết định không chịu sự thúc ép của bất kì tổ chức hay cá nhân nào khác
Di dân tự do là những cuộc di dân của một nhóm người hay cá nhân tự động di cư một cách tự phát không theo sự chỉ đạo của Nhà nước Những người di cư tự do ra đi để hướng đến một nơi có cuộc sống vật chất tốt đẹp hơn, thu nhập khá hơn hoặc có điều kiện thuận lợi để nâng cao trình độ học vấn của mình Quá trình di dân tự do này cũng đem lại lợi ích không nhỏ cho cả nơi xuất cư và nơi nhập cư, tuy vậy do tính chất tự phát nên nó không tránh khỏi những hậu quả tiêu cực đối với nền kinh tế xã hội
+ Di dân cưỡng bức (bắt buộc): Là sự di dân ngoài ý muốn của người di chuyển do
mục đích kinh tế chính bị của Nhà nước hoặc một tập thể nào đó Chẳng hạn như di dân lập
ấp chiến lược trong thời kì Mỹ Ngụy Hoặc di dân của người da đỏ Châu Mỹ bị đẩy lùi về phía Tây châu Mỹ do bị người da trắng xâm lấn
Trang 31III TÌNH HÌNH DI DÂN TRÊN THẾ GIỚI CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ
DI DÂN, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
Hiện nay, mặc dù khoa học kĩ thuật đã giúp con người phòng tránh được nhiều thiên tai do tự nhiên gây nên, nhưng các hiện tượng tự nhiên như núi lửa, lũ lụt, lở đất, động đất cũng làm cho nhiều người buộc phải rời bỏ xứ sở của mình tìm nơi sinh sống mới
Cho đến thời kì cận đại sau phát kiến địa lí vĩ đại đã làm cho quá trình di dân diễn ra sôi động từ châu Âu sang châu Mỹ, từ thế kỷ thứ XIX đến đầu thế kỷ XX có khoảng 50 triệu người châu Âu rời quê hương vượt đại dương đến các vùng đất mới, trong số đó 60% đến , Hoa Kì và Canada, số còn lại đến châu Mỹ La Tinh, Ôxtrâylia và Tân Tây Lan Sự di dân diễn ra mạnh mẽ trong thời kì cận đại chủ yếu do việc tìm kiếm các tài nguyên tự nhiên, khai khẩn các vùng đất mới
Kết quả là các cuộc di dân từ châu Âu sang Tân lục địa và các vùng đất mới ở các châu lục khác đã phân bố lại lực lượng lao động trên quy mô toàn thế giới, góp phần thúc đẩy sản xuất các vùng đất mới, tăng thu nhập cho toàn thế giới và đem lại nguồn lợi to lớn cho các nước tư bản châu Âu và Đắc Mỹ Tuy nhiên nguồn lợi to lớn của các nước ở Tân lục địa
đã bị vơ vét sang Châu Âu và Bắc Mỹ và đời sống của người dân bản địa càng thêm khó khăn hơn, tính chất bất bình đẳng trong xã hội ngày càng rõ nét, sự chênh lệch mức sống ngày càng lớn giữa người dân bản xứ với những kẻ đến xâm chiếm Mặc dù bộ mặt kinh tế xã hội của các nước Mỹ Latin đã thay đổi rõ rệt Các khu vực kinh tế phát triển cao đã hình thành và phát triển, các thành phố lớn mọc lên nhanh chóng
Ở nước ta hiện nay cũng có sự di dân Bắc -Nam chủ yếu gắn với việc khai thác tự nhiên ở các vùng còn nhiều tài nguyên và các dòng di dân nội vùng do sự may đổi của tự nhiên như lở đất hạn hán lụt lội hoặc vùng xuất cư điều kiện thiên nhiên không thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế: như nơi xuất cư mạnh nhất là khu vực miền Trung vì thiên tai lũ lụt thường xuyên gây thiệt hại về tài sản và tính mạng, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, đất đai bạc màu
Trang 322 Yếu tố kinh tế xã hội:
2.1 Các yếu tố kinh tế:
Trong quá tình phát triển kinh tế các vùng có điều kiện thuận lợi sẽ có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, ngược lại những vùng không thuận lợi về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, khả năng phát triển kinh tế chậm chạp Điều đó dẫn tới sự phát triển kinh tế rất khác biệt giữa các vùng và mức sống dân cư cũng có sự chênh lệch rất lớn Chính sự khác biệt về điều kiện phát triển kinh tế xã hội dẫn đến sự chênh lệch về mức sống là yếu tố quan trọng nhất dẫn tới sự di chuyển dân cư giữa các vùng
Theo các tài liệu thống kê phần lớn dân cư di chuyển vì mục đích kinh tế, dòng di dân
sẽ di chuyển từ nơi có điều kiện phát triển kinh tế kém, đời sống thấp đến vùng điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, có mức sống cao Các vùng phát triển kinh tế mạnh mẽ tạo sức hút rất lớn đối với dân cư các vùng kinh tế chậm phát triển
2.2 Các yếu tố về dân cư, dân tộc và nguồn lao động:
Các vùng dân cư tập trung đông, nguồn lao động dư thừa sẽ là các vùng xuất cư mạnh
mẽ Như đồng bằng Bắc Bộ ở vùng nông thôn mật độ trung bình 1000 người/ km2 cao hơn mật độ trung bình của toàn quốc tới 4 lần, cao hơn khu vực đồng bằng Sông Cửu Long (vựa luá của cả nước) gần 2 lần Vì vậy, đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng có tỉ lệ di dân lớn nhất vào thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn đầu
Ngược lại những vùng thưa dân, nguồn lao động còn ít và thiếu đối với nhu cầu phát triển kinh tế thì tỉ lệ di cư thấp như Tây Nguyên, Tây Bắc Ngoài ra các dân tộc có trình độ văn hóa khoa học kĩ thuật cao thường có xu hướng di chuyển nhiều hơn các dân tộc có trình
độ khoa học kĩ thuật thấp, chẳng hạn như dân tộc kinh di chuyển nhiều hơn các dân tộc ít người khác
2.3 Các yếu tố đường lối chính sách của nhà nước:
Đường lối chính sách của nhà nước là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến khả năng chuyển cư của nhân dân Trong các thời kì khác nhau, các chính sách của nhà nước có thể kìm hãm hoặc kích thích sự phát triển các luồng di dân Ví dụ trong những năm 70 đến đầu thập kỷ 80 với chính sách ngăn chặn di chuyển dân cư giữa các vùng, được quản lí chặt chẽ bằng chính sách quản lí hộ khẩu đã làm cho việc di dân rất khó khăn và phức tạp
Trang 33Nhưng nửa sau của thập niên 80 việc di chuyển dân cư giữa các vùng được tiến hành hết sức dễ dàng, nhờ vào luật tự do cư trú và chính sách nới lỏng việc kiểm tra quản lí hộ khẩu cũng như chế độ tuyển dụng công nhân có xu hướng mở rộng, luật lao động được ban hành đã mở đường cho sự di dân từ các vùng nông thôn thừa nhiều lao động di chuyển đến các thành phố, khu công nghiệp có khả năng phát triển sản xuất mạnh mẽ, cần nhiều nhân lực, cũng như sự di chuyển dân cư từ các vùng nông thôn khó khăn, thiếu ruộng đất đến các vùng còn nhiều tài nguyên
Cơ chế kinh tế mở, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các xí nghiệp công nghiệp, tạo điều kiện cho việc hình thành các khu chế xuất, các xí nghiệp ở các vùng có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế-xã hội, do đó làm cho một số vùng có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và ngược lại những vùng không thuận lợi có tốc độ phát triển chậm
Như vậy, cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh chóng nền kinh tế quốc dân cũng thường làm cho sự cách biệt (chênh lệch) về trình độ kinh tế giữa các vùng có xu hướng tăng lên và đó cũng là một nguyên nhân quan trọng làm tăng nhanh số lượng dân cư di chuyển khỏi các vùng còn nhiều khó khăn về đời sống kinh tế xã hội
Ngoài ra sự hợp tác lao động quốc tế giữa Nhà nước ta với các nước khác đã làm tăng nhanh số lao động xuất khẩu từ Việt nam cũng như từ thành phố Hồ Chí Minh đi các nước Đông Âu trong những năm cuối mập niên 80, và luật đầu tư mới cuối những năm 80 cũng tạo điều kiện mở cửa nhập khẩu lao động cao cấp từ nước ngoài tới Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Luật hôn nhân tự do, cho phép kết hôn với người nước ngoài đã tạo ra một làn sóng xuất cư từ Việt Nam và đặc biệt từ thành phố Hồ Chí Minh xuất cư đi nước ngoài khá nhiều Rõ ràng chính sách của nhà nước là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ di dân và hướng di chuyển của dân cư thành phố Hổ Chí Minh
2.4 Các yếu tố tâm lí xã hội:
Trang 34dân-hậu, tập quán và mức sống, sinh hoạt văn hóa còn thấp nên không quan tâm đến y tế, giáo dục, vì vậy khi di chuyển đến nơi ở mới họ gặp nhiều khó khăn trong tổ chức đời sống, phát triển sản xuất và thường làm tổn hại đến môi trường và sự hòa nhập với cộng đổng mới chậm hơn Do đó tỉ lệ di cư của người dân tộc ít hơn so với người Kinh
Trong thời kì chưa đổi mới tư duy kinh tế, sự giao tiếp với tư tưởng mới còn rất ít Những phong tục tập quán, tư tưởng gắn chặt với quê hương làm cho sự chuyển cư có quy
mô rất nhỏ bé, nhưng sau ngày đổi mới tư duy người Việt Nam đã có tư tưởng tiến bộ hơn, năng động hơn Bên cạnh truyền thống tập quán địa phương con người đã có tư tưởng tiến bộ
sự nhìn nhận đánh giá thông thoáng hơn Cho nên họ đã có thể rời bỏ quê hương sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu để tiến hành sản xuất nhằm nâng cao đời sống cho bản thân mình hoặc góp ích cho sự phát triển kinh tế xã hội
* Đặc điểm tâm sinh lí của các nhóm tuổi
Những người trong độ tuổi lao động có sức khỏe và khả năng hội nhập cao là những người năng động nhất trong di chuyển Theo nhận định chung cửa các nhà nghiên cứu di dân
về tính cơ động trong di chuyển thì nam giới có tính cơ động cao hơn nên tỉ lệ di dân trong nam giới thường cao hơn nữ giới, nhất là trong những khoảng cách xa Tuy nhiên đối với khoảng cách ngắn do tính chất các ngành kinh tế đặc biệt được chú trọng phát triển ở vùng nhập cư thì tỉ lệ di dân ở nữ giới đôi khi lại chiếm tỉ lệ cao hơn nam giới
2.5 Sự phát triển nhanh chóng các ngành công nghiệp, dịch vụ và sự gia tăng tốc độ đô thị hóa cũng là một nguyên nhân thúc đẩy quá trình di dân mạnh mẽ theo hướng nông thôn-đô thị:
Sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của khoa học kĩ thuật và các ngành công nghiệp, dịch vụ đã làm cho quá trình đô thị hóa diễn ra rộng khắp trên quy mô toàn cầu Với đặc điểm
là đô thị có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, mức độ tập trung công nghiệp, dịch vụ cao độ, mức sống cao, đời sống văn minh hiện đại đã tạo ra một sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với cư dân nông thôn, thúc đẩy họ rời bỏ quê hương di chuyển ra thành thị
Đặc biệt quá trình di chuyển mạnh mẽ dân cư từ nông thôn đến đô thị diễn ra chủ yếu
ở các nước đang phát triển- nơi quá trình đô thị hóa đang bắt đầu và diễn ra với tốc độ cao Quá trình di dân nông thôn đô thị ở các nước đang phát triển làm sự bùng nổ dân số đô thị trên thế giới và ở các nước đang phát triển càng thêm mạnh mẽ hơn, làm tăng nhanh quy
mô dân số đô thị, tăng nhanh số lượng đô thị lớn Ở Việt Nam cũng vậy, quy mô dân số các
Trang 35Di dân nông thôn đô thị là biểu hiện một mặt của sự tiến bộ xã hội, sự thay đổi cơ cấu kinh tế của đất nước Sự phát triển nhanh chóng về mặt kinh tế xã hội của các đô thị và sự phát triển chậm chạp của khu vực kinh tế nông nghiệp cùng với sự gia tăng dân số tự nhiên còn khá cao ở khu vực nông thôn là những yếu tố quan trọng dẫn tới sự di chuyển dân cư nông thôn- đô thị có xu hướng ngày càng tăng cao ở các nước đang và kém phát triển cũng như ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Sự di chuyển này cũng làm cho diện tích các đô thị lớn ngày càng mở rộng, điều đó cũng đồng nghĩa với sự lấn chiếm một phần lớn diện tích đất nông nghiệp để làm nhà ở công xưởng, đường sá và các công trình dân dụng khác Như vậy di dân nông thôn- đô thị xét về
về khía cạnh khan hiếm đất nông nghiệp trong canh tác làm cho người dân nông thôn ở nhiều vùng phải ra đi, thì ngược lại chính quá trình di dân này cũng lại làm giảm một số lượng không nhỏ đất canh tác ở khu vực đỏ thị (đặc biệt là vùng ngoại ô), mà đất nông nghiệp ven
đô thị cũng không phải là loại đất kém màu mỡ
Ngoài ra, sự gia tăng dân số đô thị một phần không nhỏ là do sự gia tăng cơ giới Số lao động nhập cư tuy có góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế đô thị, song phần lớn họ là những người lao động giản đơn không có tay nghề, trình độ học vấn thấp Vì vậy, để đưa thành phố phát triển mạnh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần sự nhìn nhận đánh giá về số lượng, trình độ người nhập cư nhằm thúc đẩy được sự phát triển kinh tế trong hiện tại cũng như trong tướng lai Đồng thời tránh được sự quá tải về cơ sở vật chất, hạ tầng
kĩ thuật và các vấn đề kinh tế xã hội khác
2.6 Di dân đô thị- nông thôn:
Quá trình di dân theo hướng này ở các nước đang phát triển có số lượng ít, không đáng kể, ngược lại ở các nước kinh tế phát triển quá trình đô thị hóa đã ở giai đoạn kết, nên quá trình di dân lại có xu hướng ngược lại với các nước đang phát triển, đó là luồng di dân từ thành thị ra các vùng nông thôn, tạo ra các khu ngoại ô với tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ
có các dịch vụ xã hội ở mức độ cao
Nguyên nhân chính là ở các nước công nghiệp phát triển sự chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và đô thị hầu như không đáng kể trong khi đó các phương tiện giao thông vận tải ở các nước này rất tiện nghi hiện đại làm cho việc di chuyển rất nhanh chóng và ở các trung tâm đô thị lớn mức độ ô nhiễm môi trường rất nặng, đường phố bị tắc nghẽn, cuộc sống căng thẳng (bệnh strees) và các tệ nạn xã hội nhiều
Sự di chuyển như vậy làm tăng nhanh khu vực ngoại ô của các đô thị lớn cũng như
Trang 36IV PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN CÁC LUỒNG DI DÂN:
1 Phương pháp đo lường di dân:
1.2 Phương pháp gián tiếp:
Phương pháp gián tiếp được sử dụng khi thiếu các nguồn số liệu trực tiếp Các phương pháp đó là:
1- Biến động tự nhiên của dân số
3- Các hệ số sống
Qua số liệu tăng chung về dân số và gia tăng tự nhiên có thể tính được di dân thuần tuý theo công thức sau: Dm= (Pt+n – Pt) – (B – D)t+n.t
Trong đó: Dm là di dân thuần túy; Pt+n và Pt là dân số giữa hai thời điểm điều tra; B là
số người sinh ra; D là số người chết đi
Tỉ suất di dân thuần tuý Rdm = R – Rn (R - là tỉ suất tăng dân số chung; R n tỉ suất tăng dân số tự nhiên)
2 Chênh lệch di dân (Di dân thuần tuý):
Thể hiện sự chênh lệch giữa người di cư đi và người di cư đến
Dm =Mi_Me
Dm: Chênh lệch người đi đến (di dân thuần túy); Mi:Là số người chuyển đến
Me: Là số người chuyển đi
Trang 37Sm= Mi+Me Trong đó Sm: Tổng số di dân
Mi: Tổng số người nhập cư đến; Me: Tổng số người xuất cư đi
Rm=(Mi+Me).k/P; Rm : Cường độ di dân; k=1000; p là tổng dân số của vùng
Cường độ di dân biểu hiện tính cơ động của dân cư Gắn liền với tính năng động trong phát triển kinh tế của một vùng nhất định Những vùng kinh tế phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cũng thường là những vùng có số người di chuyển nhiều
Số người di chuyển tỉ lệ nghịch với khoảng cách giữa hai vùng di dân, tỉ lệ thuận với số dân của vùng, cũng như tốc độ phát triển quốc dân và tiềm năng về tài nguyên tự nhiên của vùng Các nhân tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến quy mô di chuyển và chỉ số phân bố lại dân cư nguồn lao động
Sm(x,y)= R (Px.Py)/ F(x-y); Sm(x,y): Tổng số người di chuyển
R: Tỉ suất di dân; Px: Dân số vùng x; Py: Dân số vùng y
F(x-y): Khoảng cách giữa vùng X và vùng y
3 Ti suất di dân:
a-Tỉ suất di dân đến:
Ri = (Mi k) / P trong đó Ri: Tỉ suất nhập cư %; P là tổng dân số của vùng
Mi: Số người nhập cư đến vùng trong năm; k hệ số =100
b- Tỉ suất di dân đi:
Trang 38Re=(Me.k)/ P; Re: Tỉ suất xuất cư % Me: Số người xuất cư khỏi vùng trong năm P: Tổng số dân vùng trong năm; k hệ số =100
c Ti suất di dân thuần tuý (tỉ lệ gia tăng cơ giới):
Là mối quan hệ giữa tổng số di dân trung bình trong năm so với 100 dân cư của vùng
Rdm=Ri-Re Trong đó: Rdm: Tỉ suất di dân thuần túy Ri: Tỉ suất di dân đến vùng; Re: Tỉ suất di dân đi khỏi vùng
d Di dân ngược:
Là số dân di dân trở lại vùng xuất cư do các nguyên nhân kinh tế chính trị hoặc các vấn đề xã hội khác
4 Phương pháp tính tỉ lệ di dân:
* Phương pháp tính di dân trực tiếp:
Phương pháp dựa vào số liệu điều tra dân số các năm hoặc số liệu điều tra trực tiếp về nơi sinh và nơi ở hiện tại của đối tượng điều tra kết hợp với các bảng hỏi để nắm bắt được các chi tiết về thời gian di chuyển và số lần di chuyển Theo phướng pháp này các kết quả thu được có độ chính xác cao
*Phương pháp tính di dân gián tiếp:
Phương pháp tính toán khi không có số liệu thống kê trực tiếp về di dân, nên phải dựa vào sự chênh lệch giữa số dân hai kì điều tra và số dân gia tăng tự nhiên
Tính số lượng di dân thuần tuý: Dm= Pt-Po-(B-D)
Dm: Số lượng di dân thuần tuý; Pt: Dân số kì cuối; Po: Dân số kì đầu B: Số người sinh ra; D: Số người chết
5 Hiệu quả của di dân:
5.1 Ảnh hưởng của di dân đến sự phát triển kinh tế:
Trang 39Di dân là một hiện tượng kinh tế xã hội diễn ra với quy mô và cường độ rất khác nhau giữa các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, ngược lại đến lượt mình quá trình di dân lại có những ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội Di dân là hiện tượng tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, di dân góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội
Quá trình di dân đem lại hiệu quả rõ rệt nhất về mặt kinh tế, vì phần lớn nguyên nhân chính của các cuộc di chuyển là do mục đích kinh tế Di dân trong nền kinh tế thị trường có vai trò rất lớn điều tiết vĩ mô đối với sự phát triển kinh tế, đảm bảo nguồn nhân lực cho nhu cầu phát triển kinh tế
Nguồn lao động chuyển đến nơi cư trú mới không chỉ góp sức để xây dựng phát triển kinh tế cho vùng nhập cư mà còn góp phần tăng thu nhập cho các vùng xuất cư tạo điều kiện cho các vùng xuất cư tăng thu nhập đầu người, nâng cao mức sống cho nhân dân, giảm sự cách biệt về mức sống giữa các vùng Đồng mời di dân còn có ảnh hưởng rất lớn đến tiền công lao động, thu nhập và việc làm, vấn đề đầu tư cũng như sự thay đổi công nghệ
• Hiệu quả kinh tế được đo bằng mức gia tăng tổng thu nhập bình quân /1 lao động của các vùng, cũng như sư thay đổi thu nhập và mức sống trung bình của 1 lao động nhập cư
• Hiệu quả kinh tế được tính bằng sự giảm hao phí lao động sống
• Hiệu quả kinh tế tính bằng sự chênh lệch năng suất lao động giữa vùng nhập
cư và vùng xuất cư
• Hiệu quả kinh tế còn được tính bằng mức chênh lệch giữa chi phí và vốn bỏ ra tính trên đầu người
• Hiệu quả kinh tế còn được tính bằng hiệu số thời gian thu hồi vốn và lãi
5.2 Hiệu qủa về mặt xã hội:
Ảnh hưởng của di dân đến sự phát triển dân số, làm tăng quy mô dân số, thay đổi chất lượng dân cư, cơ cấu lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp của dân cư và tỉ lệ sinh đẻ
• Nâng cao đời sống vật chất cho nơi xuất cư, người xuất cư
• Thời gian ổn định và hòa nhập vào cộng đồng của người nhập cư
Trang 40• Khả năng trụ lại vùng nhập cư lâu dài
5.3 Hiệu quả về môi trường sinh thái:
Giảm gánh nặng dân số lên các vùng đông dân cư trong khi tài nguyên thiên nhiên có nhiều khó khăn (khí hậu khắc nghiệt, đất xấu, thiên tai nhiều, tài nguyên khoáng sản ít)
Giảm ô nhiễm môi trường sống, giảm sự cạn kiệt về tài nguyên thiên nhiên Tạo điều kiện phát triển, bảo vệ nguồn tài nguyên lâm ngư nghiệp ở các nơi xuất cư
Tuy nhiên, vấn đề môi trường nơi đến cũng không phải là vô hại, sự tập trung quá đông dân số gây những khó khăn về khả năng đáp ứng các nhu cầu về cơ sở hạ tầng và các vấn đề y tế giáo dục cho cộng đồng người nhập cư
Để phân tích những hướng của quá trình chuyển cư đối với các vùng di dân cần sử dụng hệ thống ma trận, kết quả thấy được sự ảnh hưởng của di dân đến môi trường sinh thái
và kinh tế xã hội của vùng
V MỐI QUAN HỆ GIỮA DI DÂN VÀ PHÂN BỐ LAO ĐỘNG THEO LÃNH THỔ:
Phân công lao động xã hội và phân bố lại dân cư là yếu tố khách quan mang bản chất kinh tế
Phân bố sản xuất là phân bố theo không gian địa lí các cơ sở sản xuất và phi sản xuất, các yếu tố của quá trình sản xuất: các điểm dân cư theo các vùng lãnh thổ của đất nước, cố cân nhắc kĩ các điều kiện thuận lợi khó khăn để đạt hiệu quả cao về kinh tế xã hội Như vậy,
về cơ bản phân bố lực lượng sản xuất là tổ chức sự phân công lao động theo lãnh thổ (một dạng của sự phân công lao động xã hội)
Bản thân sự phân công lao động xã hội là một hệ thống các khái niệm gắn bó chặt chẽ với các ngành và các vùng kinh tế Phân công lao động theo lãnh thổ là gắn các ngành vào các vùng lãnh thổ nào đó để tạo ra sự kết hợp giữa các ngành với nhau trên cơ sở tận dụng