Tài liệu gồm 3 chương chính: Chương I-Một số vấn đề lý luận về loại hình du lịch văn hóa tâm linh, các mô hình du lịch tâm linh trên thế giới và sự vận dụng các lý luận và mô hình này cho việc phát triển du lịch văn hóa tâm linh ở Quảng Trị; Chương II-Thực trạng phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh ở Quảng Trị; Chương III-Định hướng và giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tính đến năm 2020.
Trang 1MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I: Một số vấn đề lý luận về loại hình du lịch văn hóa tâm linh, các mô hình
du lịch tâm linh trên thế giới và sự vận dụng các lý luận và mô hình này cho việc phát triển du lịch văn hóa tâm linh ở Quảng Trị 4
1 Một số vấn đề lý luận về loại hình du lịch văn hóa tâm linh 4
2 Các mô hình du lịch tâm linh trên thế giới 6
3 Vận dụng lí luận và mô hình du dịch tâm linh và sự phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Quảng Trị 8
CHƯƠNG II: Thực trạng phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh ở Quảng Trị 11 11 11
1 Tiềm năng tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh ở Quảng Trị 11
2 Thực trạng du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 14
3 Đánh giá chung trong việc phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh ở Quảng Trị 24
CHƯƠNG III: Định hướng và giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tính đến năm 2020 29
1 Quan điểm phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tính đến năm 2020 29
2 Định hướng phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tính đến năm 2020 29
3 Giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đến năm 2020 33
LỊCH VĂN HÓA TÂM
LINH TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 2Ở Quảng Trị, trong những năm qua ngành du lịch tỉnh cũng đã tập trung vào 3 loại hình cơ bản là tổ chức tour du lịch tuyến Hành lang Kinh tế Đông - Tây; du lịch vùng phi quân sự, hoài niệm về chiến trường và du lịch sinh thái biển Hiện tại, nhằm đa dạng hóa sản phẩm
du lịch và bắt nhịp với xu hướng chung của ngành du lịch cả nước, các hãng lữ hành cũng đã bắt đầu chú ý đến việc khai thác các tour du lịch văn hóa tâm linh
Mặc dù Quảng Trị sở hữu tiềm năng lớn để phát triển du lịch tâm linh kể trên song cho đến nay ngành du lịch tỉnh vẫn chưa khai thác đúng mức thế mạnh của loại hình du lịch này Các tour, tuyến du lịch đến Quảng Trị nói chung vẫn chịu sức hút của hệ thống di tích lịch sử
1 4 di tích quóc gai đặc biệt bao gồm: Di tích Đôi bờ HIền Lương – Bến Hài, Di tích Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972, Di tích đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh tỉnh Quảng Trị, DI tích địa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng Hầm Vĩnh Linh
Trang 3chiến tranh (như du lịch hoài niệm, du lịch hồi tưởng) Những hoạt động khai thác các di tích tôn giáo, tín ngưỡng, các lễ hội để phục vụ du lịch chỉ là hoạt động riêng lẻ của các công ty du lịch, lữ hành và diễn ra nhất thời khi có các sự kiện lễ hội quan trọng diễn ra chứ chưa được đưa vào kế hoạch, chương trình khai thác bài bản và thường xuyên Vì thế, làm thế nào để du lịch tâm linh phát triển bền vững và đem lại nguồn thu cho kinh tế, cho xã hội đang là vấn đề cần đầu tư nghiên cứu chuyên sâu
Từ đó chúng tôi cho rằng, hiện nay cần triển khai một công trình nghiên cứu mang tính toàn diện, nhằm xác định chân xác những lợi thế
và đề xuất các giải pháp trong việc phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh cho tỉnh Quảng Trị Đây sẽ là nền tảng cần thiết cho việc xây dựng các tour, tuyến phù hợp hay đầu tư phát triển từng khu vực cụ thể trong một chiến lược phát triển du lịch lâu dài và mang tính bền vững của tỉnh Quảng Trị
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh và đề xuất các giải pháp phát triển, định hướng quy hoạch vùng, khu vực các tuyến thuộc loại hình du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đến năm
2020
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Các cơ sở thờ tự, tôn giáo, tín ngưỡng, các di tích lịch sử cách mạng, các nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị;
- Các lễ hội tôn giáo, lễ hội cộng đồng, lễ hội văn hóa được tổ chức thường xuyên hay định kỳ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị;
- Nhu cầu của du khách trong và ngoài nước đối với du lịch văn hóa tâm linh ở Quảng Trị (thông qua các cuộc khảo sát) và các sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh sẵn có ở Quảng Trị
- Thời gian nghiên cứu:
+ Thực trạng: Giai đoạn 5 năm từ 2009 – 2013;
+ Giải pháp: Đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận
Trang 4- Đề tài sử dụng các nguồn tư liệu, thông tin sau để phục vụ nghiên cứu:
+ Thông tin thứ cấp là các tài liệu và kết quả nghiên cứu về du lịch văn hóa tâm linh Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng; + Thông tin sơ cấp là những số liệu thu thập được qua các cuộc điền dã và phỏng vấn nhanh
+ Xây dựng hệ thống giả thuyết về từng vấn đề nghiên cứu và sử dụng các số liệu để thực hiện các phương pháp thống kê kiểm định
5.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
- Phương pháp sưu tầm các nguồn tư liệu, các nghiên cứu trước đây
về loại hình văn hóa tâm linh và du lịch văn hóa tâm linh;
- Phương pháp điều tra điền dã, điều tra bảng hỏi, khảo sát, phỏng vấn nhanh trực tiếp các đối tượng tham dự vào dạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh, các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn
đề nghiên cứu;
- Phương pháp điền dã dân tộc học, quan sát từng mặt và toàn diện, khảo sát chi tiết các đối tượng của đề tài nghiên cứu, làm rõ các giá trị đặc trưng;
- Phương pháp cấu trúc, phân tích các nhân tố cấu thành, chi phối
và ảnh hưởng đến loại hình du lịch văn hóa tâm linh ở Quảng Trị;
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu điều tra
- Phương pháp đối sánh: so sánh, đánh giá những hoạt động liên quan đến việc xây dựng tour tuyến du lịch văn hóa tâm linh trong quá khứ và hiện nay, nhằm đúc kết những kinh nghiệm cho việc thực hiện
đề tài nghiên cứu;
- Tổ chức hội thảo khoa học để thu thập ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, các chuyên gia trong lĩnh vực này;
Và các phương pháp cần thiết khác
Trang 5CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH, CÁC MÔ HÌNH DU LỊCH TÂM LINH TRÊN THẾ GIỚI
VÀ SỰ VẬN DỤNG CÁC LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NÀY CHO VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH Ở QUẢNG TRỊ
1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH
1.1 Về văn hóa tâm linh
khoa học và nền tảng của nó là đạo đức của con người
Văn hoá tâm linh là một mặt hoạt động văn hoá của xã hội con người, được biểu hiện ra những khía cạnh vật chất hoặc tinh thần, mang những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống thường ngày và trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo, thể hiện nhận thức, thái độ của con người Thể hiện về phương diện giá trị vật chất là những kiến trúc nghệ thuật, những không gian thiêng liêng như đền đài, đình chùa, miếu mạo, nhà thờ, Thể hiện về giá trị văn hoá tinh thần đó là những nghi lễ, những ý niệm thiêng liêng trong tâm thức con người
Chính vì vậy, khái niệm văn hóa tâm linh với tư cách là hình thái văn hóa của một tộc người bao gồm nhiều yếu tố, theo như GS.TS Hồ
Sỹ Vịnh là: tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian (folklore) và một phần của sáng tạo khoa học, nghệ thuật như sự thăng hoa, phút xuất thần, “tia chớp” cảm hứng sáng tạo, trí tuệ phát sáng của khoa học và nghệ sĩ.2
1.2 Về du lịch văn hóa tâm linh
1.2.1 Về du lịch
Du lịch là một hoạt động liên quan đến một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với mục đích chủ yếu không phải là kiếm lời Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến
1.2.2 Nhu cầu du lịch và nhu cầu du lịch tâm linh
2 tam-linh-ly-lun-va-thc-tin-&catid=68:s-tay-vn-hoa-tam-linh&Itemid=130
Trang 6http://mactrieu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=810:vn-hoa-1.2.2.1 Nhu cầu du lịch
Từ định nghĩa về du lịch, có thể hiểu nhu cầu du lịch là nhu cầu của con người đi đến và lưu trú tại một nơi ngoài môi trường thường xuyên của họ nhằm mục đích nghỉ ngơi, công vụ và các mục đích khác trong một khoảng thời gian nhất định (không quá một năm) Nhu cầu du lịch gắn liền với nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong môi trường mà người ta đến Họ sử dụng và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ khác tại nơi đến, phần lớn là những hàng hóa, dịch vụ mà tại nơi mình không sống, không có để phục vụ cho chuyến hành trình của mình Nhu cầu du lịch được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, là sự cần thiết phải thỏa mãn nhiều nhu cầu trong cùng một chuyến đi Vì vậy, trong nhu cầu du lịch, các chuyên gia về lĩnh vực du lịch đã phân chia thành 3 nhóm bao gồm nhóm nhu cầu cơ bản (gồm đi lại (vận chuyển), lưu trú,
ăn uống), nhóm nhu cầu đặc trưng (nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu, thưởng thức cái đẹp, tự khẳng định, giao tiếp…) và nhóm nhu cầu
hỗ trợ (thẩm mỹ, làm đẹp, thông tin,…) Các nhóm nhu cầu này thường được kết hợp lại để đạt nhiều mục đích khác nhau trong cùng một chuyến đi, và tương ứng với mỗi loại nhu cầu, cần thiết phải có những hoạt động dịch vụ nhằm đáp ứng và thỏa mãn cho khách du lịch
1.2.2.2 Nhu cầu du lịch văn hóa tâm linh
Nhìn chung, du lịch tâm linh hiện nay được thể hiện trên nhiều cung bậc, nhiều dạng Dạng thứ nhất, đó là những hoạt động tham quan, vãn cảnh tại các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng Đây là dạng hẹp nhất, chưa thể hiện được ý nghĩa của hoạt động du lịch này nhưng lại là hoạt động phổ biến nhất hiện nay; Dạng thứ hai được mở rộng hơn với cách hiểu
là tìm đến các địa điểm, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo bên cạnh tham quan vãn cảnh thì còn để cúng bái, cầu nguyện Dạng này có mở rộng hơn nhưng mới chỉ phù hợp với những đối tượng có theo tôn giáo, tín ngưỡng; Dạng thứ ba có mục đích chính là tìm hiểu các triết lý, giáo pháp khiến cho con người trầm tĩnh, để tâm hồn thư thái, cải thiện sức khỏe và cảm nhận chính bản thân mình
Đối với một số khách du lịch, sự hài lòng đối với nhu cầu tâm linh
có ý nghĩa là họ đã đi đến hết cuộc hành trình Đáp ứng tinh thần là một phần của cuộc hành trình Khái niệm du lịch cũng như tâm linh đến lúc được mở rộng, xác định Nếu ý định trở về nhà mạnh hơn và nhiều hơn
Trang 7thì chứng tỏ cuộc hành hương của họ đã thành công Du lịch có thể không có tính năng thiêng liêng, mặc dầu mục đích của nó có thể có được
Du lịch và tâm linh là hai nhu cầu có tác động một cách ngang bằng nhau, có khi nhu cầu tâm linh là động cơ chính, có khi nhu cầu du lịch
là động cơ chính Tuy nhiên kết quả hưởng thụ của khách du lịch tâm linh luôn luôn là cùng một mức độ mặc dù đi với động cơ nào
2 CÁC MÔ HÌNH DU LỊCH TÂM LINH TRÊN THẾ GIỚI
2.1 Mô hình du lịch tôn giáo (hay mô hình hành hương)
Du lịch tôn giáo là du lịch tâm linh với điều kiện là khi đến các cơ
sở tôn giáo đó, con người được trải nghiệm, hướng đến tâm linh Bởi vì đặc điểm của du lịch tâm linh là phải “mang tính cá nhân sâu sắc” nhằm tìm kiếm các giá trị tâm linh tốt đẹp và tìm kiếm chính mình thông qua con đường nội tâm riêng của chính mình Khách du lịch tâm linh có mục đích chính là vượt qua các khuôn phép tôn giáo một cách có ý thức
để tìm kiếm các giá trị về tâm linh và các cảm nhận tốt đẹp về con người
Đặc điểm của mô hình:
- Mô hình này khá phổ biến ở các quốc gia trên thế giới Bởi vì trước hết, nó gắn bó chặt chẽ với loại hình du lịch khác, nó khá tương tự như du lịch di sản ở chỗ là đến các cơ sở tôn giáo (chùa chiền, nhà thờ)
để tham quan Đó là hành trình tham quan các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa, vườn cảnh, hay cảm thụ âm nhạc… tại các địa điểm tín ngưỡng tôn giáo Nó hơi thiêng về nhu cầu tìm hiểu văn hóa - lịch sử, thưởng thức nghệ thuật và cảm giác lĩnh hội tính thần bí tâm linh chỉ là một phần rất nhỏ
- Thời lượng dành cho một điểm tham quan thường không kéo dài
để dàn trải cho những điểm tham quan khác trong lịch trình
- Với mô hình này, độ thẩm thấu về mặt tâm linh của du khách đối với địa điểm tham quan chủ yếu phụ thuộc sự hứng thú của họ với điểm đến, phụ thuộc vào niềm tin, sự quan sát, cũng như cảm nhận của từng
du khách trong hành trình
- Mô hình du lịch này đặt du khách vào trong một không gian thấm
đẫm tính tâm linh để mỗi cá nhân tự chiêm nghiệm, cảm nhận tính tâm
Trang 8linh huyền bí, tự tạo ra cho mình những cảm giác thú vị sau chuyến hành trình
2.2 Mô hình du lịch tham quan, tham dự sự kiện tôn giáo
Bên cạnh hành hương, đến tham quan các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng thì việc tham quan, tham dự các sự kiện tôn giáo cũng là một mô hình của du lịch tâm linh Bao gồm các hoạt động du lịch liên quan đến phong tục tập quán dân gian, du lịch lễ hội tôn giáo, du lịch lễ hội và tín ngưỡng dân gian Mô hình này đặc biệt chú ý đến hoạt động mang tính thế tục hóa tôn giáo Phong tục tín ngưỡng dân gian là một khía cạnh quan trọng của thế tục hóa tôn giáo nên các hoạt động du lịch liên quan mảng này được chú ý khai thác
Một số đặc điểm của mô hình:
- Mô hình này cũng khá phổ biến ở các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam Mô hình du lịch có mối gắn kết chặt chẽ với mô hình
du lịch tôn giáo, bởi vì không ít các sự kiện này có gắn với một cơ sở tôn giáo tín ngưỡng nhất định Tuy nhiên, nó không đồng nhất với mô hình đầu tiên bởi không khí và thời điểm linh thiêng của của một lễ hội
Đó là lúc con người dễ nhanh chóng đạt xúc cảm tâm linh
- Không gian động, có chút xáo trộn do đông đúc người tham gia Thời gian tùy vào chuyến đi của từng du khách
- Như vậy, du khách sẽ có cơ hội đạt độ thẩm thấu về tâm linh nếu hòa mình vào lễ hội Tuy nhiên, số lượng này không lớn
2.3 Mô hình thiền
Bao gồm các loại hình du lịch nghỉ dưỡng tâm linh, du lịch sinh thái tâm linh và du lịch thể nghiệm tâm linh Mô hình này là sản phẩm của sự kết hợp cao độ giữa hai phương diện tín ngưỡng tôn giáo và du lịch
Đặc điểm của mô hình:
- Du lịch tâm linh theo mô hình này thường kết hợp với du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng
- Địa điểm để thực hiện du lịch tâm linh theo mô hình này là không gian yên ả, thanh tịnh, giúp cho con người có được cảm giác thư giãn, thoải mái, có điều kiện để tìm về con người của mình Chính vì vậy, du
Trang 9lịch tâm lịnh còn được xem là du lịch sinh thái tâm linh, là sản phẩm của quá trình kết hợp đầy đủ yếu tố du lịch tâm linh và yếu tố du lịch nghỉ dưỡng Thông qua việc tổ chức tham quan các điểm du lịch sinh thái liên quan đến các yếu tố tôn giáo, tâm linh nhằm hướng đến mục
đích “trong cái không gian thuần khiết của thiên nhiên ấy gợi mở cho
du khách hiểu hơn về tín ngưỡng, tâm linh, hiểu hơn về vẻ đẹp các không gian sinh thái linh thiêng ấy”
- So với hai mô hình trên, mô hình thiền là mô hình du lịch tâm linh
có khả năng giúp du khách đạt được mức độ thẩm thấu về tâm linh, đạt được sự cảm nhận về bản thân, sự an vui… nhiều nhất
2.4 Mô hình du lịch mua sắm các sản phẩm tâm linh
Bên cạnh những mô hình du lịch trên, trên thế giới còn có một hình thức du lịch liên quan đến tâm linh nhưng hướng đến việc mua sắm các sản phẩm lưu niệm mang tính tâm linh, tôn giáo, và các hoạt động vui chơi giải trí liên quan đến tâm linh, tôn giáo
3 VẬN DỤNG LÍ LUẬN VÀ MÔ HÌNH DU DỊCH TÂM LINH VÀ
SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TỈNH QUẢNG TRỊ
3.1 Một số đặc điểm về văn hóa lịch sử tỉnh Quảng Trị
Quảng Trị là vùng đất mang đậm bản sắc dân tộc và có dấu ấn riêng của mảnh đất miền Trung “gió Lào - cát trắng” gian truân
Nơi đây có nhiều lễ hội dân gian truyền thống như lễ hội Cầu Ngư,
lễ hội Rước kiệu Đức Mẹ La Vang, Lễ Vu Lan, Lễ hội Tổ đình Sắc Tứ,
lễ hội Chợ đình Bích La… và các lễ hội cách mạng lịch sử cũng đang
được hình thành, phát triển thể hiện truyền thống như: Thả hoa trên
sông Thạch Hãn, Đêm Thành Cổ; Huyền thoại cõi Trường sơn; lễ hội Thống nhất non sông… Ngoài các lễ hội trên, ở Quảng Trị còn có các
trò chơi dân gian thường diễn ra trong Tết Nguyên Đán như: Chạy cù, đánh đu, đánh bài chòi, đua ghe, hát bội…; có các di sản văn hóa phi vật thể độc đáo khác như: Tuồng Chợ Cạn, hò Như Lệ, hát trống quân Triệu Cao, chuyện trạng Vĩnh Hoàng…
Các cảnh quan, di tích, danh thắng tự nhiên và nhân văn được phân
bố rộng khắp trong các địa bàn trong tỉnh Đó là Cửa Tùng, nơi được mệnh danh “Nữ hoàng của các bãi tắm”, Khu danh thắng Đakrông với
Trang 10những nét kỳ vĩ của thiên nhiên và ẩn chứa bao huyền thoại; là suối nước nóng Tân Lâm, rừng nguyên sinh Rú Lịnh, trằm Trà Lộc, thác Ồ Ồ… , đặc biệt là những địa danh tâm linh nổi tiếng của cả nước như: Nhà thờ La Vang (Hải Lăng), chùa Sắc Tứ (Triệu Phong)…
Bên cạnh đó, trải qua hai cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc, lịch sử đã để lại trên mãnh đất Quảng Trị một hệ thống di tích lịch
sử cách mạng có giá trị tiêu biểu, mang tầm vóc quốc gia, quốc tế Qua thống kê 3
toàn tỉnhcó 441 di tích lịch sử cách mạng, 33 di tích được xếp hạng cấp quốc gia có giá trị đối với hoạt động du lịch, thu hút được du khách khi tìm hiểu về chiến tranh cách mạng, bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc và đấu tranh giải phóng tổ quốc Hơn 20 năm là tuyến lửa, ở nơi đây đã xuất hiện hàng loạt kỳ tích oai hùng cùng nhiều địa danh lừng lẫy chiến công, như Khe Sanh, Đường 9, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cửa Việt, Thành Cổ, Làng Vây,
Ái Tử, Cồn Cỏ, Vịnh Mốc, Gio An, Mỹ Thủy, Phường Sắn, Sông Hiếu,
Ba Lòng… Một số điểm du lịch đến các di tích lịch sử cách mạng như quần thể di tích đường Trường Sơn, tuyến du lịch vùng phi quân sự DMZ (Demilitarized Zone), nhà đày Lao Bảo, sân bay Tà Cơn, đồn Không Tên, cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, khu di tích Thành Cổ Quảng Trị, khu di tích đôi bờ Hiền Lương, địa đạo Vịnh Mốc, khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn…
Nhìn chung, trong kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Quảng Trị thì di sản văn hóa chiến tranh cách mạng là rất lớn Đây là tiềm năng và lợi thế trong việc xây dựng mô hình du lịch đặc trưng cho Quảng Trị, đặc biệt là du lịch hồi tưởng, du lịch tâm linh, góp phần thúc đẩy Quảng Trị trở thành một điểm đến hấp dẫn của khách du lịch trong
cả nước
3.2 Định hướng vận dụng
Nên tập trung thực hiện theo hai mô hình:
- Vận dụng theo mô hình du lịch tôn giáo
3 manh-dat-con-nguoi-59/
Trang 11http://40namgiaiphong.quangtri.gov.vn/index.php/vi/news/Gioi-thieu/Quang-Tri-+ Du lịch hành hương đối với trường hợp Trung tâm hành hương Đức mẹ La Vang
+ Du lịch thờ tự đối với các cơ sở chùa chiềng Phật giáo trên địa bàn tỉnh
- Vận dụng theo mô hình du lịch tham quan, tham dự sự kiện đối với trường hợp các di tích lịch sử như nghĩa trang Trường Sơn, nghĩa trang Đường Chín
Bên cạnh đó, theo mô hình này, du khách sẽ tham dự các sự kiện lễ hội mang đậm màu sắc tâm linh của Quảng Trị Đó là các lễ hội đêm Thành Cổ, lễ hội Thống nhất non sông…
Mô hình này có khả năng thu hút khách lớn, đặc biệt là du khách vốn từng tham gia chiến trường xưa Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là tính thế
hệ của nó, bởi đối tượng hướng có thể thỏa mãn được của mô hình du lịch này ở Quảng Trị là những thế hệ từng tham gia, trải qua chiến trường xưa, vì vậy, khi thế hệ này đi qua thì việc nối tiếp, kế thừa có khả năng suy giảm Chính vì vậy, cần có những giải pháp mang tính dài hơi để tạo điều kiện tồn tại cho mô hình du lịch này
Trang 12CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH
VĂN HÓA TÂM LINH Ở QUẢNG TRỊ
1 TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH
Ở QUẢNG TRỊ
1.1 Hệ thống giao thông thuận lợi
Quảng Trị nằm ở điểm phát khởi của Quốc lộ 9 (còn gọi là đường 9
- điểm đầu mối của trục Hành lang kinh tế Đông Tây), đây là con đường thượng đạo xuyên Trường Sơn ngày xưa và là con đường Xuyên Á ngày nay - con đường lịch sử mang trên mình nó nhiều dấu tích của nhiều thời đại Đồng thời, Quảng Trị còn nằm trên Con đường Di sản miền Trung, là cầu nối giữa hai địa phương có di sản văn hóa thế giới là Quảng Bình và Thừa Thiên - Huế nên Quảng Trị là địa phương có khá nhiều lợi thế trong phát triển du lịch
Quảng Trị là một tỉnh nằm trên Hành lang kinh tế Đông Tây là cơ hội thuận lợi cho Quảng Trị phát triển kinh tế về mọi mặt, đặc biệt là phát triển du lịch - dịch vụ, đồng thời phát huy được thế mạnh về du lịch văn hóa tâm linh trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của những tỉnh/thành phố trong khu vực
Với lợi thế này, những tuor du lịch sẽ được hình thành nhằm kết nối giữa Quảng Bình - Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng - Hội An Đồng thời, thông qua cửa khẩu Lao Bảo những tuyến du lịch liên kết hai nước Việt
- Lào cũng được hình thành và phát triển
1.2 Các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng đã hiện diện lâu đời
Quảng Trị là mảnh đất chứa đựng trong mình nhiều di tích tín ngưỡng tôn giáo và lịch sử cách mạng, có giá trị đặc biệt không chỉ của quốc gia mà để lại dấu ấn trong lòng bè bạn trên thế giới
Do đặc điểm về vị trí địa lý cũng như nằm trong dòng chảy lịch sử nên Quảng Trị là một trong những tỉnh, thành ở khu vực miền Trung có điều kiện trong mối giao lưu với các vùng, miền trong nước và các quốc gia trên thế giới, nên Quảng Trị cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập, phát sinh, phát triển của các luồng văn hóa, tư tưởng và các tôn giáo Bởi vậy, ở Quảng Trị, những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như: Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; các tôn giáo có nguồn gốc từ
Trang 13phương Tây như: Công giáo, Tin lành, đã được du nhập, truyền bá, ngày càng phát triển và hoạt động ổn định Sự tồn tại, hoạt động của mỗi tín ngưỡng, tôn giáo đều có đường hướng và phương châm hoạt động riêng mang tính đặc trưng riêng của tôn giáo mình phần nào đã làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân trên địa bản tỉnh Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung
1.2.1 Phật giáo
Quảng Trị nguyên trước đây là phần đất thuộc vương quốc Chămpa Trước khi Quảng Trị được sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt thì nơi đây Phật giáo đã được truyền bá và phát triển thịnh vượng
Ngày nay trên mảnh đất Quảng Trị, những ngôi chùa được dựng lên
từ xưa có ngôi còn ngôi mất, nhưng đều là chỗ dựa tinh thần của con người tìm về sau chặng đường dài mệt mỏi lao vào công cuộc mưu sinh
Một số ngôi chùa tiêu biểu ở Quảng Trị:
1.3 Hệ thống di tích lịch sử cách mạng gắn liền với du lịch tâm linh
Trang 14tỏa những điều chúng ta đã nghiệm sinh và cần nghiệm sinh trong đời sống cũng như tự rút ra những nguyên lý sống cho chính mình Thành
cổ, Nghĩa trang liệt sĩ Trường sơn, Nghĩa trang Đường 9, Đôi bờ cầu Hiền Lương và hàng trăm di tích khác của Quảng Trị đều là những nơi như thế
1.3.2 Hệ thống các nghĩa trang liệt sĩ
Theo thống kê của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị, hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 72 nghĩa trang liệt sĩ, trong
đó có 2 nghĩa trang liệt sĩ cấp quốc gia là nghĩa trang Đường 9 và nghĩa trang Trường Sơn Trong đó, nghĩa trang Trường Sơn là lớn nhất với diện tích 39,6 ha quy tập 10.263 ngôi mộ Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn là nơi quy tập những hài cốt liệt sĩ đã hy sinh dọc đường Trường Sơn (tại đây hy sinh hơn 20.000 liệt sĩ nhưng hiện tại chỉ mới quy tập được 10.263 hài cốt)
1.4 Quảng Trị có hệ thống lễ hội văn hóa đặc sắc mang màu sắc tâm linh
Quảng Trị là một vùng đất giàu lịch sử, văn hóa với rất nhiều lễ hội, trong đó có những lễ hội dân gian đã được hình thành từ xa xưa được gọi là lễ hội cổ truyền hay lễ hội truyền thống, những lễ hội mới được hình thành như lễ hội cách mạng, những lễ hội liên quan đến các tôn giáo Những lễ hội này hoàn toàn là cơ sở, tiềm năng và cũng là lợi thế
để du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh phát triển, trong đó đáng chú ý là hai loại hình lễ hội lịch sử cách mạng và lễ hội thuộc về các tôn giáo
1.4.1 Các lễ hội lịch sử cách mạng
* Lễ hội thống nhất non sông
* Lễ hội Đêm thành cổ
* Lễ hội Hoa đăng trên sông Thạch Hãn
* Lễ hội Tri ân các anh hùng liệt sĩ
1.4.2 Các lễ hội tôn giáo
1.4.2.1 Lễ hội Thiên Chúa giáo:
* Lễ Kiệu hành hương La Vang:
* Lễ Giáng sinh:
1.4.2.2 Lễ hội Phật giáo:
Trang 15* Đối với khách du lịch quốc tế: Qua bảng số liệu (Bảng 1) cho
thấy những năm gần đây khách du lịch quốc tế đến với Quảng Trị tăng lên so với trước Việc nằm trên hành lang kinh tế Đông Tây với thương hiệu “Ngày ăn cơm 3 nước Việt Nam - Lào- Thái Lan” Đây là điều kiện thuận lợi để du lịch văn hóa tâm linh của Quảng Trị phát triển mạnh Khách quốc tế đến với Quảng Trị chủ yếu từ các nước Đông
Trang 16Nam Á, trong đó thị trường Lào, Thái chiếm tỷ lệ tương đối lớn đến 43,1%, tiếp theo là thị trường khách Mỹ, Anh, Pháp đây là những du khách chủ yếu tham gia các chương trình du lịch thăm lại chiến trường xưa và các đoàn khách du lịch cựu chiến binh
Mặc dù, so với cả vùng thì tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến với Quảng Trị thấp hơn các tỉnh trong khu vực và chỉ cao hơn Nghệ
An nhưng so với trước đây đã thể hiện sự phát triển và là dấu hiệu đáng mừng cho du lịch của Quảng Trị nói chung và du lịch văn hóa tâm linh nói riêng Những khách du lịch đến với Quảng Trị chủ yếu thăm quan các địa danh lịch sử cách mạng, viếng các nghĩa trang liệt sĩ Những sản phẩm du lịch này trở thành thương hiệu cho du lịch Quảng Trị mà không một tỉnh/thành phố nào trên cả nước có được
* Khách du lịch nội địa: Quảng Trị là tỉnh đầu tiên tập trung khai
thác và đầu tư loại hình du lịch hoài niệm Với chương trình du lịch này, hằng năm có hàng triệu lượt khách trong nước tới đây tìm hiểu về truyền thống lịch sử cách mạng, về thăm lại chiến trường xưa tri ân các anh hùng liệt sĩ Đặc biệt các dịp lễ lớn như Ngày thương binh liệt sĩ 27-
7, ngày quốc khánh 2-9, ngày quân đội nhân dân Việt Nam 22-12 Mặc dù có nhiều lợi thế nhưng trong những năm qua lượng khách nội địa đến với Quảng Trị còn thấp, chỉ lớn hơn Hà Tĩnh và đứng sau toàn bộ các địa phương khác trong vùng
2.1.2 Doanh thu du lịch và số ngày lưu trú
Số lượt khách lưu trú so với lượt khách du lịch đến với Quảng Trị ngày càng giảm từ 75,5% năm 2007 xuống còn 53,8% tính đến tháng 9/2014 Bên cạnh đó, số ngày lưu trú tại tỉnh cũng ngắn (chỉ từ 01 đến 2 ngày) Với số lượng khách lưu trú thấp và ngày lưu trú ngắn làm ảnh hưởng đến doanh thu du lịch của tỉnh Quảng Trị và thấp hơn so với các tỉnh/thành phố trong khu vực Theo một cuộc điều tra từ dự án EU thì có hơn 70% khách quốc tế sẵn sàng quay trở lại Việt Nam, dựa trên sự hài lòng khi khám phá cảnh quan thiên nhiên và sự thân thiện của người dân Kết quả điều tra cũng đưa ra con số 102,3 USD là mức chi tiêu trong ngày đối với khách quốc tế và 1,3 triệu đồng/ngày (tương đương
62 USD) đối với khách nội địa khi lưu trú qua đêm Cũng theo kết quả điều tra này, ngày khách lưu trú tại địa phương khoảng từ 2,2 đến 2,3
Trang 17ngày (Đà Nẵng 3,7 - 4 ngày; Hội An 4,2 ngày đối với khách quốc tế và 1,7 ngày đối với khách nội địa)
2.2 Đánh giá chung về hiện trạng đối với cơ sở vật chất tại các địa điểm khai thác du lịch văn hóa tâm linh
2.2.1 Những di tích tôn giáo tín ngưỡng
Những di tích này do sự tàn phá của chiến tranh và thời gian nên có nhiều phần bị xuống cấp và cần được bảo tồn, tôn tạo để phục vụ cho hoạt động du lịch và tham quan của du khách và các phật tử từ nơi khác đến Bên cạnh đó, những ngôi chùa này đều nằm ở những khu vực xa trung tâm vì vậy đường đi rất khó khăn và ít phổ biến với các khách du lịch không đi theo tour/đoàn
Ở Quảng Trị có nhiều cơ sở tôn giáo của Công giáo, nhưng di tích
có khả năng khai thác du lịch tâm linh tốt nhất chính là Trung tâm Thánh mẫu/Nhà thờ La Vang của đạo Công giáo
2.2.2 Đối với các di tích lịch sử cách mạng
Việc khai thác và tôn tạo di tích chưa thực sự song hành với nhau, đồng thời do những nguyên nhân khách quan khác khiến cơ sở vật chất của các di tích này đang bị xuống cấp:
Một là, ý thức của khách du lịch chưa cao Khi đến các khu di tích, đặc biệt trong mùa du lịch việc vứt rác bừa bãi, dẫm đạp lên cỏ, vườn hoa và vẽ bậy lên tường trở thành nổi lo chung của hầu hết các di tích trên địa bàn Những việc làm này của khách du lịch đã làm xấu đi cảnh quan khu di tích và gây những tổn hại đối với việc bảo tồn, tôn tạo những di tích này Đơn cử như Khu di tích Đôi bờ Hiền Lương nằm bên Quốc lộ 1A là nơi tiếp giáp giữa hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh Mặc
dù hệ thống khu di tích này đã được xây dựng và tôn tạo hằng năm nhưng việc xuống cấp là không tránh khỏi do nhiều nguyên nhân, trong
đó khí hậu nóng ẩm của miền Trung làm cho các hiện vật được trưng bày trong nhà tưởng niệm dần dần bị hư hại khó phục hồi Bên cạnh đó,
do ý thức của người đi thăm quan như vứt rác bừa bãi, dẫm đạp lên các bãi cỏ, vườn hoa và vẽ bậy lên tường các khu di tích đã gây tổn hại và
hư hại đến khu di tích có ý nghĩa lịch sử đặc biệt này
Hai là, thiếu kinh phí bảo tồn, bảo trì các khu di tích lịch sử cách mạng Mặc dù được sự quan tâm và hỗ trợ của nhà nước, chính quyền
Trang 18địa phương nhưng nguồn kinh phí được cấp rất hạn chế không đủ để tôn tạo và bảo trì định kỳ toàn bộ khi di tích mà chỉ có thể thực hiện bảo tồn, tôn tạo những phần quan trọng hoặc từng hạng mục trong khu di tích
2.2.3 Sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh
Sản phẩm du lịch được khai thác mạnh nhất đối với thị trường nội địa của Quảng Trị hiện nay là các dòng sản phẩm du lịch lịch lịch sử - cách mạng, thăm lại chiến trường xưa, tri ân liệt sỹ
Đối với thị trường khách quốc tế, sản phẩm du lịch được khai thác nhiều nhất là thăm chiến trường xưa và khu phi quân sự trong các touz DMZ
Những sản phẩm này tuy đã được khai thác phát triển tương đối tốt, nhưng vẫn chưa được xây dựng trong các chương trình du lịch háp dẫn
để có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao
Loại hình du lịch tìm hiểu văn hóa – lịch sử cũng có vị trí quan trọng đối với Quảng Trị, tuy nhiên mức độ đầu tư còn hết sức hạn chế
do vậy dòng sản phẩm này vẫn chưa được hình thành một cách có hệ thống và chưa có được sức hấp dẫn tương xứng với tiềm năng
Quảng Trị cũng có những tài nguyên du lịch tâm linh hết sức có giá trị như Trung tâm hành hương Đức mẹ La Vang, chùa Sắc Tứ… tuy nhiên những tài nguyên du lịch này chưa được đầu tư phát triển thành những sản phẩm du lịch thực sự mà mới chỉ là các hoạt động hành hương, tôn giáo đơn thuần, do vậy vẫn chưa mang lại những hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực cho địa phương
2.2.4 Đối với các cơ sở lưu trú
Từ năm 2005-2014, hệ thống cơ sở lưu trú của tỉnh đã phát triển với tốc độ khá nhanh Năm 2005 cả tỉnh có 59 cơ sở lưu trú đi vào hoạt động với 1.050 buồng, thì đến năm 2013 tăng lên 156 cơ sở với 2.423 buồng Tốc độ tăng trưởng trung bình cho giai đoạn này là 12,92%, số buồng tăng 11,02%
Trong tổng số 156 cơ sở lưu trú năm 2013 với 2447 buồng, trong đó
có 62 khách sạn, 94 nhà nghỉ Tính đến năm 2014 cả tỉnh có 02 khách sạn 4 sao là khách sạn Sài Gòn Đông Hà và khách sạn Mường Thanh - Đông Hà
Trang 19Các cơ sơ lưu trú chủ yếu nằm ở thành phố, thị xã như Đông Hà, Quảng Trị, Cửa Tùng, khu kinh tế Lao Bảo, Phần lớn các cơ sở lưu trú trong tỉnh quy mô nhỏ thuộc các hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nhỏ và vừa Trình độ của nhân lực hoạt động trong ngành du lịch còn nghiệp dư và hạn chế về trình độ Chất lượng các cơ sở lưu trú này nhìn chung còn kém và chỉ đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu của khách
du lịch
2.2.5 Hệ thống kinh doanh ăn uống
Cơ sở ăn uống đã có sự đầu tư so với trước đây nên đa dạng, phong phú hơn với nhiều loại hình như Nhà hàng, các quán Cà phê Bar, quán
ăn nhanh , các tiện nghi ăn uống có thể nằm trong các cơ sở lưu trú nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, hội họp và giao lưu của khách đang lưu trú tại các khách sạn Hệ thống nhà hàng có nhiều biến đổi trong cung cách phục vụ, đội ngũ tay nghề qua đào tạo đã được nâng lên đáp ứng những đòi hỏi càng cao của khách du lịch
Tuy nhiên, mặc dù đã có sự đầu tư phát triển dịch vụ kinh doanh ăn uống tại các khách sạn và các cơ sở kinh doanh ăn uống riêng, nhưng nhìn chung còn tồn tại nhiều hạn chế Đặc biệt, chưa có những nhà hàng với các món ẩm thực nổi tiếng của địa phương Bên cạnh đó, những nhà hàng, quán ăn bình dân với cơ sở vật chất bình dân và chưa tinh tế Cùng với đà phát triển du lịch , việc đầu tư phát triển hệ thống các cơ sở
ăn uống phục vụ du lịch cần được chú trọng hơn
Tuy nhiên, lao động tốt nghiệp đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ thấp nhất với chỉ 3,4%, tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp và sơ cấp chiếm 4,5%, trong khi đó tỷ lệ người lao động chưa qua đào tạo lên đến 80,4% Với tỷ lệ lao động không cân xứng này đã gây ra sự kém hiệu quả trong phát triển du lịch của tỉnh
2.2.6 Tổ chức không gian du lịch
Trang 20Hiện nay việc phát triển du lịch tại Quảng Trị chủ yếu diễn ra tại các khu vực dọc các tuyến quốc lộ quan trong như quốc lộ 1A và đường
9, tập trung tại các khu vực đô thị như Đông Hà, thị xã Quảng Trị, Lao Bảo, Khe Sanh, và một số điểm ven biển như Vịnh Mốc, Cửa Tùng và Cửa Việt
Hệ thống các tuyến du lịch tâm linh hiện nay của Quảng Trị dựa trân các trục Bắc - Nam và Đông - Tây Các Trục Bắc - Nam quan trọng
là trục quốc lộ 1A và trục đường Hồ Chí Minh nhành Đông Trục Đông
- Tây quan trọng nhất là trục quốc lộ 9 Xuất phát từ các tuyến trục này cũng như từ các trung tâm đô thị là các tuyến nhanh tới các điểm du lịch như: tuyến Hồ Chí Minh (nhánh Tây) và đường 15D đi cửa khẩu La Lay, tuyến đường tỉnh 588A (đường 9 - Ba Lòng), 571 (Vĩnh Hà - Vĩnh Chấp), 572 (Vĩnh Long - Vịnh Mốc - Cửa Tùng), 574 (QL1A - Cửa Tùng), 576B (Cửa Tùng - Cửa Việt), 581 (TX Quảng Trị - Trằm Trà lộc ) và 582 (Hải Lăng - Hải An)
2.2.7 Đầu tư phát triển du lịch
Tính đến năm 2013, kế hoạch vốn phát triển cơ sở hạ tầng du lịch
từ ngân sách được giao cho Quảng Trị là 17.114 triệu đồng Trong đó,
bố trí 16.993 triệu đồng từ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư hạ tầng
du lịch để thực hiện chuyển tiếp các công trình cơ sở hạ tầng du lịch và
122 triệu đồng từ vốn ngân sách tỉnh để thanh toán trả nợ khối lượng hoàn thành Các hạng mục công trình hoàn thành bảo đảm chất lượng, tiến độ
Nhìn chung, nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tần du lịch trong thoài gian qua còn ít, chưa đáp ứng được như cầu phát triển du lịch của tỉnh Nguyên nhân do Quảng Trị là tỉnh nghèo, nguồn ngân sach hạn hẹp vì vậy trước nhu cầu phát triển của ngành du lịch, mặc dù được tỉnh quan tâm nhưng do điều kiện khó khăn nên mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu
Nguồn vốn lớn nhất đầu tư cho phát triển các khu điểm du lịch là vốn đầu tư tôn tạo và xây dựng các di tích lịch sử - cách mạng
2.2.8 Hệ thống sản phẩm du lịch của Quảng Trị
Các sản phẩm du lịch ở Quảng trị còn rất nghèo nàn, tập trung chủ yếu vào một số loại hình sau :
Trang 21- Tour đường bộ trên tuyến Hành lang Đông Tây, chủ yếu đến từ Thái lan và Lào Đây là nguồn khách quốc tế chính đến với Quảng trị trong nhiều năm qua Tuy nhiên, do điểm đến chưa được quy hoạch tốt,
hệ thống sản phẩm còn nghèo nàn, các dịch vụ phục vụ chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách nên hầu hết nguồn khách này chỉ đi ngang qua Quảng trị, ít sử dụng dịch vụ lưu trú và các dịch vụ khác Vì vậy, doanh thu xã hội từ nguồn khách này chưa cao
- Tour trở lại chiến trường xưa của các cựu chiến binh Mỹ và Việt Nam Tour này được triển khai rất sôi động vào những năm 90 của thế
kỷ trước Đến nay nhu cầu đã giảm đi rất nhiều và khó có thể coi đây là sản phẩm có thể khai thác lâu dài Thay cho sản phẩm này là tour du lịch hoài niệm, tour du lịch chiến tranh nhưng chỉ mới ở giai đoạn sơ khai, chưa định vị và khai thác bền vững
- Các chương trình hành hương tự phát của các tín đồ công giáo về Trung tâm hành hương Đức mẹ La VangTrung tâm hành hương Đức mẹ
La Vang, chưa kết hợp được với hệ thống tài nguyên và dịch vụ điểm đến, nguồn khách thu hút chủ yếu từ trong nước, thường cắm trại ngay tại La Vang hoặc tham quan và trở về Huế trong ngày
- Phần lớn nguồn khách đến Quảng trị là khách công vụ, khách du lịch đi theo tuyến Huế - Quảng Bình, ít lưu trú lại Quảng trị, mà chỉ tham quan các điểm di tích chiến trường xưa (Địa đạo Vịnh mốc, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, thành cổ Quảng Trị, sông Thạch hãn, nghĩa trang Trường Sơn, nghĩa trang đường 9…), khu vực biển Cửa Tùng, bãi tắm Hoàng hậu, Thánh địa La Vang
Như vậy, sản phẩm du lịch được khai thác mạnh nhất của Quảng Trị đối với thị trường nội địa là các dòng sản phẩm du lịch lịch sử - cách mạng Đối với thị trường khách quốc tế, sản phẩm du lịch được khai thác nhiều nhất là thăm chiến trường xưa và khu phi quân sự trong các tuor DMZ
Nhìn chung, những sản phẩm này tuy đã được khai thác phát triển tương đối tốt, nhưng vẫn chưa xây dựng trong các chương trình du lịch hấp dẫn để có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao
2.2.9 Xúc tiến quảng bá