Qua quá trình đó, Ban Lãnh đạo công ty sẽ đánhgiá khái quát tình hình tài chính trong kỳ, sẽ biết được các thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác trên các mặt hoạt động sản xuất kinh doan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐẶNG VĂN LƯƠNG
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn: “Phân tích tình hình tài chính tại công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Hải Yến
1
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên, hướng dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình trong suốt khóa học cao học và trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Đặng Văn Lương, người đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Do hạn chế về thời gian và trình độ bản thân nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định Tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô, bạn bè và các cá nhân, tổ chức quan tâm đến đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
2
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 6
1.1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 6
1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp 6
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp 6
1.1 3 Sự cần thiết phải phân tích đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp 8
1.2 PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN TRONG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 11 1.2.1 Phương pháp so sánh 11
1.2.2 Phương pháp tỷ lệ 12
1.2.3 Phương pháp loại trư 13
1.2.4 Phương pháp Dupont 15
1.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 17
1.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp 17
1.3.2 Chỉ số sử dụng vốn và tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh 19
1.3.3 Tình hình công nợ và khả năng thanh khoản 20
1.3.4 Chỉ số thanh khoản 22
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 26 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI 27
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI 27
3
Trang 62.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội 27
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội 28
2.1.3 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội. 30
2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội 31
2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI 32
2.2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp 32
2.2.2 Cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn, mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn 35
2.2.3 Tình hình sử dụng vốn cho hoạt động kinh doanh 47
2.2.4 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh khoản 49
2.2.5 Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh 60
2.2.6 Suất sinh lời của tài sản (ROA) 65
2.2.7 Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) 66
2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI 72 2.3.1 Một số điểm mạnh 72
2.3.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 73
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 74 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI 76
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI 76
3.1.1 Định hướng phát triển của ngành xây dựng 76
3.1.2 Định hướng phát triển của công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội 78
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI 80
3.2.1 Những yêu cầu cơ bản khi xây dựng giải pháp cải thiện tình hình tài chính 80
3.2.2 Những giải pháp cụ thể nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội 80
3.3 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 96
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 98
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1: Bảng khái quát cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua các năm 2013-201534
Bảng 2.2 Cơ cầu nguồn vốn và tình hình biến động nguồn vốn 39
Bảng 2.3 Bảng cơ cấu tài sản và biến động tài sản 45
Bảng 2.4: Bảng cân đối tài sản và nguồn vốn cuối năm 2013 (đvt: Triệu đồng) 46
Bảng 2.5: Bảng cân đối tài sản và nguồn vốn cuối năm 2014 (đvt: Triệu đồng) 46
Bảng 2.6: Bảng cân đối tài sản và nguồn vốn cuối năm 2015 (đvt: Triệu đồng) 47
Bảng 2.7 Tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh 48
Bảng 2.8 Bảng phân tích quy mô công nợ 2013-2015 52
Bảng 2.9 Bảng phân tích các khoản phải thu khách hàng và phải trả người bán 53
Bảng 2.10 Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn 56 Bảng 2.11 Phân tích khả năng thanh toán dài hạn 59
Bảng 2.12 Khái quát hiệu quả kinh doanh 62
Bảng 2.13 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh 64
Bảng 2.14 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản 66
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Cơ cấu nguồn vốn 2013 - 2015 40 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu tài sản 2013 - 2015 44 SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội .32 HÌNH Hình 2.1 Phân tích chỉ tiêu ROE theo mô hình Dupont năm 2013 69
Hình 2.2 Phân tích chỉ tiêu ROE theo mô hình Dupont năm 2014 70
Hình 2.3 Phân tích chỉ tiêu ROE theo mô hình Dupont năm 2015 71
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
5
Trang 82 CP Cổ phần
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế thị trường cùng với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế đã gây ra không ít khó khăn
và đầy thử thách cho các doanh nghiệp Chính vì thế, mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp là luôn luôn tối đa hóa lợi nhuận hay gia tăng giá trị của doanh
nghiệp Một trong những biện pháp đặt ra để thực hiện mục tiêu nói trên đối với công ty Cổ phần xây dựng số 1 Hà Nội đó là thực hiện tốt công tác quản lý tài chính Và phân tích tài chính doanh nghiệp là một công cụ quan trọng và hữu ích trong quản lý tài chính của công ty Qua quá trình đó, Ban Lãnh đạo công ty sẽ đánhgiá khái quát tình hình tài chính trong kỳ, sẽ biết được các thông tin kịp thời, đầy
đủ, chính xác trên các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cả về kết quả,hiệu quả cũng như các nguyên nhân, các nhân tố ảnh hưởng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố Hơn nữa, đối với một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng với nhiều chi nhánh như công ty cổ phần xây dựng số 1 Hà Nội, việc nắm bắt được thực trạng tài chính của cả công ty là vô cùng phức tạp và quan trọng Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, so với yêu cầu đặt ra thì việc phân tích tài chính của công
ty chưa được đáp ứng một cách hiệu quả Phân tích tài chính tại công ty chưa được thực hiện một cách kỹ càng và do đó chưa nhận dạng được một cách toàn diện các điểm yếu, khiến năng lực tài chính của công ty trong những năm vừa qua còn yếu Các điểm yếu này nếu không được phát hiện và khắc phục kịp thời sẽ kìm hãm sự phát triển của công ty, giảm vị thế của công ty trong ngành
Sau một thời gian tìm hiểu về Công ty cổ phần xây dựng số 1 Hà Nội, tác giả thấy rằng việc phân tích tài chính tại công ty có ý nghĩa rất quan trọng, giúp ban lãnh đạo công ty kịp thời nhận ra những vướng mắc trong hoạt động tài chính, từ đóđưa ra những giải pháp khắc phục Mặt khác, hiện tại chưa có 1 công trình khoa họcnào về nghiên cứu thực trạng tình hình tài chính tại đơn vị này Vì những lý do trên,
tác giả chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính tại công ty Cô phần Xây dựng
số 1 Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vấn đề tài chính trong các doanh nghiệp nói chung đã được nhiều tác giả quan tâm, đề cập đến trong các sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu, cụ thể như sau:
1
Trang 10Thứ nhất, Bùi Văn Lâm: “Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Vinaconex
25”, luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, trường Đại học Đà Nẵng (năm 2011)
Luận văn đã tiến hành phân tích thực trạng tài chính của Công ty Cổ phần
Vinaconex 25, đánh giá công tác phân tích tài chính của công ty, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty Tuy nhiên, luận văn lại chưa nhận dạng được đầy đủ những thành tựu cũng như hạn chế trong thực trạng tài chính của công ty, chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể nhằm nâng caonăng lực tài chính của công ty, mà mới chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện công tác phân tích tài chính
Thứ hai, Hoàng Ngọc Phương: “Hoàn thiện báo cáo tài chính và phân tích
báo cáo tài chính tại Tổng công ty cổ phần công trình giao thông II Thanh Hóa”,
luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Tài chính (năm 2013) Trong luận văn, tác giả đã nghiên cứu hai nội dung chính đó là: Thực trạng lập báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ phần công trình giao thông II Thanh Hóa, trên cơ sở
đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình phân tích báo cáo tài chính của công ty Tuy nhiên, trong luận văn này, ta chưa thể thấy rõ được việc phân tích một cách có hệ thống các chỉ tiêu tài chính để giúp các nhà quản lý có thể đánh giá thực trạng tài chính của công ty, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp
Thứ ba, Đỗ Thị Thu Hiền: “Phân tích tình hình tài chính của Công ty Xây
dựng số 2”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế (2011) Luận văn đã đi sâu
vào nghiên cứu, phân tích thực trạng tài chính của công ty thông qua việc phân tích các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính tại công ty cổ phần xây dựng số 2 Tuy nhiên các giải pháp này còn chung chung, một số giải pháp chưa gắn liền với những hạn chế trong thực trạng tài chính của công ty
Thứ tư, Phạm Thu Hằng:“Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần
sữa Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường đại học Thương Mại (2015) Tác giả
luận văn đi vào phân tích thực trạng tài chính của công ty Cổ phần sữa Hà Nội qua việc phân tích các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính tại công ty cổ phần Tuy nhiên các giải pháp này còn
2
Trang 11chung chung, một số giải pháp chưa gắn liền với những hạn chế trong thực trạng tài chính của công ty.
Các công trình khoa học trên đều đã đề cập đến việc phân tích tài chính trong các doanh nghiệp ở một giác độ nhất định Trong điều kiện kinh tế thị trường vận động liên tục, luôn luôn đổi mới và phát triển nên mỗi công trình nghiên cứu lại có giá trị tại một thời điểm nhất định Hơn nữa, chưa có tác giả nào xem xét đến việc phân tích tình hình hình tài chính công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội là công ty
Cổ phần hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Vì vậy, luận văn sẽ làm sáng tỏ thực trạng tài chính trong công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội cũng như thông tin về đặc điểm, mô hình hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực tài chính cho công ty
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm:
Nghiên cứu nêu rõ thực trạng tình hình tài chính tại công ty cổ phần Xây dựng số
1 Hà Nội, từ đó đưa ra các giải pháp để cải thiên tình hình tài chính của công ty
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, nghiên cứu, hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận cơ bản về tình hình tài chính doanh nghiệp và tầm quan trọng của nó;
Thứ hai, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng tài chính tại công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội
Thứ ba, trên cơ sở khảo sát, phân tích và đánh giá, đưa ra các kết luận về những mặt được và tồn tại, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện tình hình tài chính của công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến tình hình tài chính doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu:
Dựa vào các báo cáo tài chính: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, các báo biểu kế toán tiến hành:
+ Phân tích khái quát tình hình tài chính
3
Trang 12+ Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
+ Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
+ Phân tích hiệu quả kinh doanh
+ Phân tích hệ số lãi ròng (ROS )
+ Phân tích suất sinh lời của tài sản (ROA)
+ Phân tích khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
- Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu tại công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội
- Về mặt thời gian: Đề tài sử dụng số liệu các năm tài chính 2013, 2014 và
2015 của công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội để tiến hành phân tích
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề đặt ra cần nghiên cứu đề tài của luận văn: “Phân tích tình
hình tài chính tại công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội”, tác giả sử dụng phương
pháp định tính và định lượng để nghiên cứu thông qua các công cụ và phương pháp
cụ thể là thu thập dữ liệu và tổng hợp phân tích dữ liệu:
Phương pháp thu thập số liệu
Do hạn chế về thời gian và kinh phí, số liệu phục vụ cho phân tích trong luận văn được lấy từ nguồn số liệu thứ cấp với các phương pháp chủ yếu sau:
- Tác giả tiến hành nghiên cứu các giáo trình giảng dạy, nghiên cứu các nội dung của phân tích tài chính doanh nghiệp, các công trình nghiên cứu khoa học từcác tài liệu tìm kiếm được, tác giả chắt lọc và nghiên cứu những nội dung liên quan đến phân tích tài chính
- Tác giả tiến hành thu thập các số liệu trong các Báo cáo tài chính hợp nhất của công ty các năm 2013, 2014, 2015 để làm nguồn số liệu phân tích Ngoài ra, tácgiả còn thu thập các số liệu tài chính về công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội trêncác Báo cáo thường niên của công ty, Báo cáo tài chính của ngành xây dựng Việt Nam, Tạp chí chuyên ngành
Phương pháp phân tích dữ liệu
Để thực hiện đề tài luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích tài chính để tiến hành phân tích các số liệu đã thu thập được Đây là một phương pháp hết sức quan trọng, là khâu trọng yếu trong quá trình viết bài luận Các phương
4
Trang 13pháp phân tích tài chính được sử dụng ở đây là phương pháp so sánh, phương pháp phân chia chi tiết và phương pháp liên hệ đối chiếu.
Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để xem xét, tính toán sự biến động của các chỉ tiêu, các hệ số tài chính giữa các năm tiến hành nghiên cứu; hay học viên sử dụng để so sánh kết quả chỉ tiêu tính toán được của đơn vị đang tiến hành nghiên cứu với đối thủ cạnh tranh của đơn vị đó trong cùng ngành nghề sản xuất kinh doanh Việc sử dụng phương pháp so sánh trong phân tích tài chính giúp học viên nắm bắt được sự thay đổi tình hình tài chính của đơn vị nghiên cứu qua các năm, từ đó rút ra được những đánh giá, nhận xét
Phương pháp phân chia chi tiết được tác giả sử dụng để chia nhỏ chỉ tiêu tài chính lớn thành các chỉ tiêu nhỏ hơn giúp thuận lợi hơn cho quá trình phân tích Việc phân chia thành các chỉ tiêu nhỏ hơn giúp học viên có thể đi sâu hơn vào các vấn đề nghiên cứu, đưa ra được những nhận xét có chiều sâu
Phương pháp liên hệ đối chiếu được học viên sử dụng khi đưa ra các nhận xét đánh giá về chỉ tiêu phân tích Với mỗi kết quả được tính toán của chỉ tiêu tài chính của đơn vị đang nghiên cứu, học viên phải tiến hành đưa ra những nhận xét, đánh giá gắn liền với bối cảnh chung của nền kinh tế cũng như chiến lược kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp Từ đó giúp học viên đưa ra những nhận xét một cách khách quan và hợp lý
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu; kết luận; phụ lục; danh mục chữ viết tắt; danh mục bảngbiểu; danh mục các hình, sơ đồ, đồ thị; tài liệu tham khảo; luận văn được chia thành
3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tình hình tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng tình hình tài chính tại công ty Cổ phần Xây dựng số 1
1.1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp
5
Trang 14Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giátrị (quan hệ kinh tế) phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệnhằm phục vụ quá trình tái sản xuất trong mỗi doanh nghiệp và góp phần tích luỹ vốn.
Nội dung của những quan hệ kinh tế thuộc phạm vi tài chính doanh nghiệpbao gồm:
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước: Mối quan hệkinh tế này được thể hiện trong quá trình hoạt động kinh doanh các doanh nghiệpphải có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước theo luật định và ngược lại nhà nước cũng
có sự tài trợ về mặt tài chính cho các doanh nghiệp để thực hiện chính sách kinh tế
vĩ mô của mình
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và thị trường: Kinh tế thị trường có đặctrưng cơ bản là các mối quan hệ kinh tế đều được thực thi thông qua hệ thống thịtrường Thị trường hàng hoá tiêu dùng, thị trường hàng hoá tư liệu sản xuất, thịtrường tài chính và do đó, với tư cách là người kinh doanh, hoạt động của doanhnghiệp không thể tách rời hoạt động của thị trường, các doanh nghiệp vừa là ngườimua các yếu tố của hoạt động kinh doanh, người bán các sản phẩm hàng hoá, dịch
vụ, đồng thời vừa là người tham gia huy động và mua bán các nguồn tài chính nhànrỗi của xã hội
- Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp gồm: Quan hệ kinh tế giữadoanh nghiệp với các phòng ban, phân xưởng, tổ, đội sản xuất trong việc tạm ứng,thanh toán Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên trong quátrình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng,tiền phạt, lãi cổ phần
Quan hệ thanh toán, cấp phát và điều hoà vốn giữa các đơn vị trực thuộctrong nội bộ doanh nghiệp, với tổng công ty
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
- Vai trò huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinhdoanh của doanh nghiệp và tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cáo nhất: Để có đủ vốncho hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghiệp phải thanh toán nhu cầuvốn, lựa chọn nguồn vốn, bên cạnh đó phải tổ chức huy động và sử dụng đúng đắnnhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh ở
6
Trang 15doanh nghiệp - đây là vấn đề có tính quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp
trong quá trình cạnh tranh " khắc nghiệt" theo cơ chế thị trường.
- Vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh: Thu nhậpbằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phân phối Thu nhập bằngtiền mà doanh nghiệp đạt được do thu nhập bán hàng trước tiên phải bù đắp haomòn máy móc thiết bị, trả lương cho người lao động và để mua nguyên vật liệu đểtiếp tục chu kỳ sản xuất mới, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước Phần còn lạidoanh nghiệp hình thành các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn, hoặctrả lợi tức cổ phần Chức năng phân phối tài chính doanh nghiệp là quá trình phânphối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp và quá trình phân phối đó luôn gắn liềnvới những đặc điểm vốn có của hoạt động sản xuất kinh doanh và hình thức sở hữudoanh nghiệp
Ngoài ra, nếu người quản lý biết vận dụng sáng tạo các chức năng phân phốicủa tài chính doanh nghiệp phù hợp với quy luật sẽ làm cho tài chính doanh nghiệptrở thành đòn bẩy kinh tế có tác dụng trong việc tạo ra những động lực kinh tế tácđộng tới tăng năng suất, kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc đẩy tăngvòng quay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội
- Vai trò là công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Tàichính doanh nghiệp thực hiện việc kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hành thườngxuyên, liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính Cụ thể các chỉ tiêu đó là:chỉ tiêu về kết cấu tài chính, chỉ tiêu về khả năng thanh toán, chỉ tiêu đặc trưng vềhoạt động, sử dụng các nguồn lực tài chính; chỉ tiêu đặc trưng về khả năng sinhlời Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép doanh nghiệp có căn cứquan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu làm lành mạnh hoá tình hình tàichính - kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.3 Sự cần thiết phải phân tích đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nềnkinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển thì phải
7
Trang 16bảo đảm một tình hình tài chính vững mạnh và ổn định Thông qua phân tích tàichính doanh nghiệp sẽ thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp
Phân tích tài chính là quá trình tìm hiểu các kết quả của sự quản lý và điềuhành tài chính ở doanh nghiệp được phản ánh trên các báo cáo tài chính đồng thờiđánh giá những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra trên cơ sở đó kiến nghịnhững biện pháp để tận dụng triệt để những điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu.Hay nói cách khác, “Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phươngpháp cho phép đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, dự đoán tình hình tàichính trong tương lai của doanh nghiệp, giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định hợp
lý, chính xác, phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp.”
(Theo PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ, TS Nghiêm Thị Thà, Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tài Chính)
Nhiệm vụ của phân tích tài chính của doanh nghiệp là sử dụng các công cụ, phương pháp và kỹ thuật để làm các con số nói lên thực chất của tình hình tài chính của doanh ngiệp
Các quyết định của người quan tâm sẽ chính xác hơn nếu như họ nắm bắt được cơ chế hoạt động tài chính thông qua việc sử dụng thông tin của phân tích tài chính Mặc dù việc sử dụng thông tin tài chính của một nhóm người trên những góc
độ khác nhau, song phân tích tài chính cũng nhằm thỏa mãn một cách duy nhất cho các đối tượng quan tâm, cụ thể là:
Đối với những người quản lý doanh nghiệp
Hoạt động phân tích tài chính của những người quản lý doanh nghiệp được gọi là phân tích tài chính nội bộ Do ở doanh nghiệp họ nắm được đầy đủ và chính xác các thông tin, kèm theo sự hiểu rõ về doanh nghiệp nên họ có lợi thế để phân tích tài chính một cách tốt nhất Phân tích tài chính có ý nghĩa để dự báo tài chính
và là cơ sở cho các nhà quản lý đưa ra quyết định phù hợp không chỉ trong vấn đề tài chính mà còn nhiều vấn đề khác Phân tích tài chính nội bộ thực sự cần thiết để xác định giá trị kinh tế, các mặt mạnh, yếu và đưa ra những quyết định đúng đắn cho sự phát triển của một doanh nghiệp
Đối với các cơ quan chức năng, cơ quan Nhà nước có liên quan
8
Trang 17Dựa vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phân tích đánh giá, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước hay không, có tuân theo pháp luật hay không đồng thời sự giám sát này giúp cơ quan thẩm quyền có thể hoạch định chính sách một cách phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả Giúp Nhà nước đưa những kế hoạnh phát triển ở tầm vĩ mô sao cho mang lại lợi ích thiết thực nhất.
Đối với các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư là các doanh nghiệp và cá nhân quan tâm trực tiếp đến các giá trị của doanh nghiệp vì họ là người đã giao vốn cho doanh nghiệp và có thể phải chịu rủi ro Thu nhập của họ là tiền chia lợi tức và giá trị gia tăng thêm của vốn đầu tư Hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp Các nhà đầu tư thường không hài lòng với lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được theo tính toán trên sổ sách Dự kiến trước lợi nhuận sẽ đạt được là mối quan tâm thực sự của nhà đầu tư Thông qua sự phân tích dựa trên các báo cáo tài chính,phân tích khả năng sinh lời, mức độ rủi ro và sự phân tích diễn biến giá cả, các nhà đầu tư sẽ đưa ra các quyết định của chính mình
Đối với ngân hàng, các nhà cho vay tín dụng, các đối tác kinh doanh và các tổ chức khác
Những đối tượng này quan tâm đến khả năng thanh toán công nợ, khả năng hợp tác liên doanh của doanh nghiệp, cho nên cũng cần phân tích và đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt đối với các chủ nợ, họ quan tâm tới khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp nếu đó là các khoản vay ngắn hạn, đối với khoản vay dài hạn họ phải tin chắc khả năng hoàn trả khi xem xét khả năng sinh lời của doanh nghiệp Song quan trọng nhất đó là cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay Các đối tác kinh doanh còn xem xét đến khả năng hợp tác của doanh nghiệp thông qua tình hình chấp hành các chế
độ, khả năng, tiềm năng kinh tế tài chính của doanh nghiệp
Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp
9
Trang 18Những người hưởng lương trong doanh nghiệp cũng quan tâm đến tình hình tài chính, bởi lợi ích của họ gắn liền với hoạt động tài chính của doanh nghiệp Người lao động quan tâm đến các thông tin và số liệu tài chính để đánh giá, xem xéttriển vọng của nó trong tương lai Những người đi tìm việc đều có nguyện vọng được vào làm việc trong các công ty có triển vọng với tương lai lâu dài để hy vọng
có mức lương xứng đáng và chỗ làm việc ổn định
Những nhà phân tích tài chính nghiên cứu và đưa ra các dự đoán về kết quả của hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng trong tương lai Phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính Ngoài ra phân tích tài chính được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: Đưa ra quyết định phục vụ nghiên cứu hay để kiểm tragiám sát chặt chẽ hơn Hiện nay với sự phát triển lớn mạnh của doanh nghiệp cùng với quá trình cạnh tranh khốc liệt thì phải có chiến lược kinh doanh cụ thể hợp lý vàchính xác Phân tích tài chính sẽ có tác dụng to lớn trong việc thực hiện điều đó
Như vậy, có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dưới những gốc độ khác nhau Song nhìn chung họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa, Bởi vậy, việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp phải đạt đượccác mục tiêu nhất định:
- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp cho các chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin khác trong việc đánhgiá khả năng và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào, ra và tình hình sử dụng có hiệu quả nhất vốn kinh doanh, tình hình khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp phải cung cấp những thông tin
về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của công ty
Như vậy, hoạt động tài chính tập trung vào việc mô tả mối quan hệ mật thiết giữa các khoản mục và nhóm các khoản mục nhằm đạt được mục tiêu cần thiết phục
vụ cho chủ doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm khác nhằm đưa ra quyết định
10
Trang 19hợp lí, hiệu quả phù hợp với mục tiêu của đối tượng này Mục đích tối cao và quan trọng nhất của phân tích tài chính là giúp cho nhà quản trị lựa chọn được phương ánkinh doanh tối ưu và đánh giá chính xác tiềm năng của doanh nghiệp.
1.1.4 Đặc điểm tình hình tài chính ngành xây dựng
Ngành xây dựng là một ngành kinh tế thâm dụng vốn, những nguyên liệu ban đầu của nó là những tài sản nặng vốn, và chi phí cố định của ngành khá cao Đặc tính nổi bật của ngành là nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ
mô Khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh số và lợi nhuận của ngành sẽ tăng cao do nhu cầu xây dựng được mở rộng Ngược lại, tình hình sẽ tồi tệ khi nền kinh tế suy thoái, các công trình xây dựng sẽ bị trì trệ vì người dân không còn bỏ nhiều tiền ra
để xây dựng nhà cửa, chính phủ không mở rộng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng như cầu cống, sân bay, bến cảng, trường học, bệnh viện Điều này làm cho doanh số, lợi nhuận của ngành xây dựng sụt giảm nhanh chóng Một đặc tính khác của ngành vật liệu xây dựng là có mối tương quan rõ rệt với thị trường bất động sản.Khi thị trường bất động sản đóng băng thì ngành xây dựng gặp khó khăn và ngược lại Lý do đơn giản là thị trường bất động sản phản ánh nhu cầu về ngành
1.2 PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN TRONG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.2.1 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính doanh nghiệp Phương pháp này dùng để xây dựng xu hướng phát triển và mức độ biến động của các chỉ tiêu phát triển
Để có thể áp dụng phương pháp này cần phải đảm bảo các điều kiện: phải có
sự thống nhất về thời gian, không gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán nghĩa
là các chỉ tiêu phải được tính trên cùng một khoảng thời gian hạch toán, phải cùng phản ánh một nội dung kinh tế, phải cùng một phương pháp tính toán, phải cùng một đơn vị đo lường và các chỉ tiêu cần phải quy đổi về cùng một quy mô và điều kiện kinh doanh tương đương nhau
Tùy theo từng mục đích phân tích mà nhà phân tích sẽ lựa chọn gốc so sánh cho phù hợp Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về mặt thời gian hoặc không
11
Trang 20gian Tuỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch Giá trị so sánh
có thể lựa chọn là số tương đối hoặc số tuyệt đối hoặc số bình quân Nội dung so sánh gồm:
- So sánh kỳ này với kỳ trước để thấy rõ hơn xu thế thay đổi về tình hình tài chính của doanh nghiệp Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- So sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu của doanh nghiệp khác hoặc với
số liệu trung bình của ngành để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp là tốt hay xấu, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể,
so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số tương đối
và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Đây là một phương pháp đơn giản, dễ tính toán, dễ thực hiện Sử dụng phươngpháp này giúp cho các nhà phân tích đánh giá được vị thế của doanh nghiệp, tình hình tài chính của doanh nghiệp, xem xét việc thực hiện kế hoạch đã đề ra Thông qua đó nhà quản lý đưa ra được kế hoạch chiến lược hoạt động cho thời gian tới Tuy nhiên kết quả thu được khi sử dụng phương pháp này chưa phản ánh một cách tổng quát nhất thực trạng tài chính của doanh nghiệp Do vậy khi tiến hành phân tích tài chính nhà phân tích thường sử dụng phối hợp nhiều phương pháp
1.2.2 Phương pháp tỷ lệ.
Là phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính doanh nghiệp Để áp dụng phương pháp này cần xác định được các ngưỡng, các tỷ
số tham chiếu Để đánh giá tình trạng tài chính của doanh nghiệp cần so sánh các tỷ
số của doanh nghiệp với tỷ số tham chiếu
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Đó là:
+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán: Được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứngcác khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
12
Trang 21+ Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêu nàyphản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính.
+ Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng choviệc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp
+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợpnhất của doanh nghiệp
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau tùy theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ cho mục tiêu phân tích của mình
1.2.3 Phương pháp loại trư
Phương pháp loại trừ được sử dụng để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích Bằng cách, khi xác định sự ảnh hưởng của nhân tố này thì loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại
Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý tới hai điều kiện sau:
- Các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích được biểu hiện dưới dạng một tích số (hoặc một thương số)
- Việc sắp xếp và trình tự xác định ảnh hưởng lần lượt trong từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích dựa trên quan điểm tích lũy về lượng sẽ dẫn đến biến đổi về chất (nhân tố số lượng sắp xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau)
Có hai phương pháp được sử dụng, đó là:
+ Phương pháp thay thế liên hoàn;
+ Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp thay thế liên hoàn
Thay thế liên hoàn là phương pháp xác định ảnh hưởng của từng nhân tố đến
sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu bằng cách thay thế lần lượt (mỗi nhân tố một lần) các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu nghiên cứu khi trị số của nhân tố thay đổi; rồi so sánh trị số của chỉ tiêu nghiên cứu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu nghiên cứu trước khi thay thế nhân tố Từ đó rút
ra được nhận xét về ảnh hưởng của nhân tố thay thế đến chỉ tiêu nghiên cứu
Có thể khái quát mô hình chung của phương pháp này như sau:
13
Trang 22Giả sử có đối tượng phân tích (đối tượng nghiên cứu) là Q và Q chịu ảnh hưởng của các nhân tố a,b,c,d và các nhân tố này có quan hệ tích số với
chỉ tiêu cần phân tích Q => Q = a.b.c.d
Ta có:
Chỉ tiêu nghiên cứu kỳ phân tích: Q1 = a1 b1 c1 d1
Chỉ tiêu nghiên cứu kỳ gốc : Q0 = a0 b0 c0 d0
Phương pháp số chênh lệch
Với những điều kiện, trình tự vận dụng và giả sử như trên phương pháp chênh lệch để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh lệch
về giá trị kỳ phân tích so với kỳ gốc của nhân tố đó để xác định Có thể khái quát
mô hình chung của phương pháp số chênh lệch như sau:
Trang 231.2.4 Phương pháp Dupont
Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thànhtích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đối với các tỷ số tổng hợp Phương pháp phân tích Dupont có ưu điểm lớn là giúp nhà phân tích phát hiện và tập trung vào các yếuđiểm của doanh nghiệp Nếu doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thấp hơn các doanh nghiệp khác trong cùng ngành thì nhà phân tích có thể dựa vào hệ thống các chỉ tiêu theo phương pháp phân tích Dupont để tìm ra nguyên nhân chính xác Ngoài việc được sử dụng để so sánh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành, các chỉ tiêu đó có thể được dùng để xác định xu hướng hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ, từ đó phát hiện ra những khó khăn doanh nghiệp có thể sẽ gặp phải Nhà phân tích nếu biết kết hợp phương pháp phân tích tỷ lệ và phương pháp phân tích Dupont sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân tích tài chính doanh nghiệp
Ngoài các phương pháp phân tích chủ yếu trên, người ta còn sử dụng một số
phương pháp khác: phương pháp đồ thị, phương pháp biểu đồ, phương pháp toán tàichính, kể cả phương pháp phân tích các tình huống giả định
Trong quá trình phân tích tổng thể thì việc áp dụng linh hoạt, xen kẽ các phương pháp sẽ đem lại kết quả cao hơn khi phân tích đơn thuần, vì trong phân tích tài chính kết quả mà mỗi chỉ tiêu đem lại chỉ thực sự có ý nghĩa khi xem xét nó trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác Do vậy, phương pháp phân tích hữu hiệu cần đi từ tổng quát đánh giá chung cho đến các phần chi tiết, hay nói cách khác là lúcđầu ta nhìn nhận tình hình tài chính trên một bình diện rộng, sau đó đi vào phân tích đánh giá các chỉ số tổng quát về tình hình tài chính và để hiểu rõ hơn ta sẽ phân tích các chỉ tiêu tài chính đặc trưng của doanh nghiệp, so sánh với những năm trước đó, đồng
15
Trang 24thời so sánh với tỷ lệ tham chiếu để cho thấy được xu hướng biến động cũng như
khả năng hoạt động của doanh nghiệp so với mức trung bình ngành ra sao
Phân tích tổng hợp tình hình tài chính bằng phương trình Dupont
- Trước hết Doanh nghiệp cần xem xét mối quan hệ giữa tỷ số lợi nhuận sau thuế trên doanh thu và tỷ số vòng quay tổng tài sản thông qua ROA ( tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn )
LNsau thuế LNsau thuế Doanh thu
ROA = = x
Tổng tài sản Doanh thu Tổng tài sản + Đẳng thức trên cho thấy tỷ suất Lợi nhuận sau thuế trên Tổng tài sản (ROA) phụ thuộc vào hai yếu tố là Tỷ suất doanh lợi doanh thu và vòng quay tổng tài sản Phân tích đẳng thức này cho phép doanh nghiệp xác định được chính xác nguồn gốc làm giảm lợi nhuận của Doanh nghiệp
+ Để tăng ROA có thể dựa vào tăng Tỷ suất doanh lợi doanh thu, tăng Vòng quay tổng tài sản, hoặc tăng cả hai
Để tăng tỷ suất doanh lợi doanh thu ta có thể dựa vào việc tăng lợi nhuận sau thuế nhiều hơn tăng doanh thu (ví dụ doanh thu tăng 10% thì lợi nhuận sau thuế phải tăng > 10% mới đảm bảo được việc tăng tỷ số này )
Để tăng vòng quay tổng vốn ta có thể dựa vào tăng doanh thu và giữ nguyên tổng tài sản (nhưng khi tăng tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ để tăng ROE lại phải tăng tổng tài sản, nên ta có thể đảm bảo việc tăng tỷ số này bằng cách tăng doanh thu nhiều hơn tăng tổng tài sản (ví dụ doanh thu tăng 10% thì tổng tài sản phải tăng
< 10% )
- Doanh nghiệp cũng cần tính tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tổng tài sảnROE = ROA x
Vốn chủ sở hữu
Trang 25
1ROE = ROA x Vòng quay tổng vốn x
1 – hệ số nợ
1 ROE = Tỷ suất doanh lợi doanh thu x Vòng quay tổng vố x
Hệ số nợ
- Để tăng ROE có thể dựa vào tăng ROA, tăng tỷ số Tổng tài sản trên vốn chủ
sở hữu, hoặc tăng cả hai Để tăng Tỷ số Tổng tài sản trên vốn chủ ta có thể hoặc tăng tổng tài sản, hoặc giảm vốn chủ sở hữu, hoặc vừa tăng tổng tài sản vừa giảm vốn chủ
1.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính cho thấy được tỷ trọng của các yếu tố tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp sử dụng vốn đầu tư chủ yếu vào những tài sản nào và nguồn vốn nào là nguồn vốn quan trọng mà doanh nghiệp đang sửdụng.Phân bổ nguồn vốn của một doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, trình độ quản lý và đầu tư của doanh nghiệp đó
Cơ cấu tài sản
Là việc so sánh sự biến động của tổng tài sản cũng như của từng loại tài sản cuối kỳ so với đầu năm và tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tổng tài sản và
xu hướng biến động của chúng để thấy được mức độ hợp lý của việc phân bổ
Tỷ trọng của từngbộ phận tài
sản chiếm trong tổng tài sản =
Giá trị của từng bộ phận tài sản
Tổng tài sản
Việc đánh giá phải dựa trên tính chất kinh doanh và tình hình biến động của từng bộ phận, ngành nghề sản xuất kinh doanh, tính thời vụ hoặc chính sách đầu tư của doanh nghiệp
Cơ cấu nguồn vốn.
Phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự như phân tích cơ cấu tài sản Ngoài việc so sánh tổng số vốn cuối kỳ so với đầu năm, cần phải xem xét từng khoản vốn của doanh nghiệp chiếm trong tổng số tài sản, để thấy được mức độ đảm
Trang 26bảo và xu hướng biến động của chúng nhằm đánh giá được khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ chủ động trong kinh doanh Việc đánhgiá cơ cấu nguồn vốn phải dựa trên chính sách huy động vốn của doanh nghiệp trong từng thời kỳ gắn với điều kiện kinh doanh cụ thể, tính chất và ngành nghề kinh doanh Kết hợp với việc xem xét tác động của từng loại tài sản đến quá trình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh đạt được trong kỳ Có như vậy mới đưa ra được quyết định hợp lý về việc phân bổ vốn cho từng giai đoạn, từng loại tài sản của doanh nghiệp.
Tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng số được xác định như sau:
Một số chỉ tiêu thường được sử dụng để thấy rõ hơn khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp là:
- Hệ số tài trợ: Đây là một chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết, nguồn vốn chủ sởhữu chiếm bao nhiêu trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp Trị số của chỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
Hệ số tài trợ = Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
- Tỷ trọng nợ phải trả/ tổng nguồn vốn là chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất về
cơ cấu nguồn vốn của DN Tỷ trọng này càng cao thể hiện cơ cấu nguồn vốn càng rủi ro của doanh nghiệp
Tỷ trọng nợ phải trả /Tổng nguồn vốn (Hệ số tài trợ) =
Tổng nợ phải trả Tổng nguồn vốn
1.3.2 Chỉ số sử dụng vốn và tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tài sản bao gồm:
Trang 27TSCĐ và đầu tư dài hạn; TSLĐ và đầu tư ngắn hạn Để hình thành hai loại tài sản này, phải có các nguồn vốn tài trợ tương ứng, bao gồm nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong khoảng thờigian dưới 1 năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, nợ phải trả nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác
Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạtđộng kinh doanh bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay nợ trung, dài hạn
Vì vậy, từ phương trình kế toán cơ bản được trình bày lại như sau:
TSNH + TSDH = Nguồn tài trợ thường xuyên + Nguồn tài trợ tạm thời
Phương trình này giúp đánh giá tính cân bằng, ổn định và bền vững của các nguồn tài trợ cũng như việc sử dụng các nguồn tài trợ trong việc phân bổ vào các loại TS Dựa vào đó, các nhà phân tích có thể xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến cân bằng tài chính để có biện pháp phù hợp trong việc huy động cũng như sử dụng nguồn vốn
Từ công thức trên ta có thể biến đổi lại như sau:
TSNH – Nguồn tài trợ tạm thời = Nguồn tài trợ thường xuyên – TSDH
Vế trái của phương trình là chỉ tiêu vốn hoạt động (hoặc kinh doanh) thuần Chỉ tiêu này phản ánh số vốn tối thiểu để DN duy trì các hoạt động thường xuyên
Từ phương trình này mà vốn hoạt động thuần được xác định lại như sau:
Vốn hoạt động thuần = TSNH – nguồn tài trợ tạm thời
Hoặc:
Vốn hoạt động thuần = Nguồn tài trợ thường xuyên - TSDH
Lượng vốn hoạt động thuần này có thể mang lại nhiều giá trị khác nhau, cụ thể:
- Nếu lượng vốn hoạt động thuần lớn hơn không (>0) là trường hợp toàn bộ TSNH được tài trợ bằng nguồn tài trợ tạm thời và một phần nguồn tài trợ thường xuyên Ở mô hình này tình hình tài trợ của DN có thể đánh giá là ổn định, bền vững tuynhiên chi phí sử dụng vốn cao hơn do sử dụng nhiều khoản vay dài hạn và trung hạn
- Chỉ tiêu này bằng không (= 0) chứng tỏ TSNH được đảm bảo bằng nguồn tàitrợ ngắn hạn và toàn bộ TSDH được đảm bảo bằng nguồn tài trợ dài hạn
Trang 28- Chỉ tiêu này nhỏ hơn không (<0) là trường hợp được tài trợ bằng nguồn vốn tạmthời và TSDH được đảm bảo bằng nguồn tài trợ thường xuyên và một phần nguồn tài trợ tạm thời Ở mô hình này tình hình tài trợ của DN có dấu hiệu mạo hiểm.
1.3.3 Tình hình công nợ và khả năng thanh khoản
Thông qua phân tích tình hình công nợ sẽ đánh giá được vốn của doanh
nghiệp bị chiếm dụng như thế nào và doanh nghiệp đi chiếm dụng ra sao Trong thực tế nếu các khoản công nợ phải thu lớn hơn các khoản công nợ phải trả thì doanh nghiệp đó đã bị chiếm dụng vốn nhiều hơn àm tăng nhu cầu cần tài trợ và ngược lại Nội dụng phân tích như sau:
a Phải thu của khách hàng:
Trong các khoản phải thu, phải thu của khách hàng thường chiếm tỷ trọng đáng kể, phải thu của khách hàng có ý nghĩa quan trọng đối với tình hình tài sản củadoanh nghiệp Khi các khoản phải thu của khách hàng có khả năng thu hồi thì chỉ tiêu giá trị tài sản thuộc Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa cho quá trình phân tích Phân tích tình hình phải thu của khách hàng thường tiếp cận trên những góc độ sau:
Số vòng quay phải thu của khách hàng:
Số vòng quay phải thu của khách hàng
=
Tổng số tiền bán hàng chịu (DT hoặc DTT)
Số dư bình quân phải thu khách hàng
Chỉ tiêu này cho biết trong kì phân tích các khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời,
ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên chỉ tiêu này cao quá có thể phương thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng hàng tiêu thụ Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý các khoản phải thu đối với từng mặt hàng
cụ thể của doanh nghiệp trên thị trường
Thời gian một vòng quay phải thu khách hàng
Thời gian 1 vòng quay
Phải thu khách hàng =
Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng quay phải thu khách
hàng
Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền càng nhanh, doanh nghiệp
ít bị chiếm dụng vốn và ngược lại Khi phân tích chỉ tiêu này có thể so sánh thời
Trang 29gian của 1 vòng quay kỳ phân tích với kỳ kế hoạch hoặc so sánh thời gian bán hàng quy định ghi trong hợp đồng kinh tế đối với khách hàng mua chịu Qua phân tích cóthể thấy được tình hình thu hồi các khoản công nợ của doanh nghiệp, để từ đó có các biện pháp thu hồi nợ nhằm góp phần ổn định tài chính Thời gian của kỳ phân tích có thể là quý 90 ngày, năm 365 ngày.
b Tình hình phải trả người bán.
Trong các khoản phải trả, phải trả người bán thường có ý nghĩa quan trọng đốivới khả năng thanh toán và uy tín doanh nghiệp Khi các khoản phải trả người bán không có khả năng thanh toán, dấu hiệu rủi ro xuất hiện, uy tín doanh nghiệp giảm
đi Do vậy doanh nghiệp thường xuyên phân tích tình hình phải trả người bán trên những phương diện sau:
Số vòng quay phải trả người bán
Số vòng quay phải trả người bán = Tổng tiền hàng mua chịu (GVHB)
Số dư bình quân phải trả người bán
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải trả người bán quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ thanh toán tiền hàng kịp thời,
ít đi chiếm dụng vốn của các đối tượng Tuy nhiên chỉ tiêu này cao quá có thể do doanh nghiệp thừa tiền luôn thanh toán trước thời hạn, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý các khoản phải trả đối với từng mặt hàng cụ thể của doanh nghiệp mua trên thị trường
Thời gian của một vòng quay phải trả người bán
Thời gian của một vòng
quay phải trả người bán =
Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng quay phải trả người bán
Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ khả năng thanh toán tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít đi chiếm dụng vốn của các đối tác Ngược lại thời gian của 1 vòng quay càng dài, chứng tỏ khả năng thanh toán chậm, số vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng nhiều ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu trên thị trường
Khi phân tích chỉ tiêu này có thể so sánh thời gian của 1 vòng quay kỳ phân tích với kỳ kế hoạch hoặc so sánh thời gian mua hàng quy định ghi trong hợp đồng kinh tế đối với nhà cung cấp Qua phân tích có thể thấy được tình thanh toán công
nợ của doanh nghiệp, để từ đó có các biện pháp huy động vốn, đáp ứng nhu cầu thanh toán góp phần ổn định tình hình tài chính Thời gian của kỳ phân tích có thể
là quý 90 ngày, năm 365 ngày
Trang 301.3.4 Chỉ số thanh khoản
Vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, các chủ nợ là liệu số vốn họ bỏ
ra đầu tư có thu hồi lại được không, mức độ rủi ro là bao nhiêu Phân tích chỉ số thanh khoản của doanh nghiệp sẽ cho phép các nhà quản lý, nhà đầu tư, chủ nợ và ngân hàng… đánh giá được sức mạnh tài chính hiện tại, tương lai cũng như dự đoánđược tiềm lực trong thanh toán và an ninh tài chính của doanh nghiệp; từ đó có những quyết định đúng đắn
Để phân tích khả năng thanh toán, các nhà phân tích thường dùng các chỉ tiêu liên quan đến hệ số thanh toán sau:
Hệ số khả năng thanh toán nợ hiện thời (hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn)
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn với khoản nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Tổng tài sản ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn
Trị số của chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan Ngược lại, nếu trị số của chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp Có tác giả cho rằng, “chỉ tiêu này được các chủ nợchấp nhận là bằng 2” Tuy nhiên, không phải hệ số này càng lớn càng tốt Để đánh giá hệ số này của doanh nghiệp tốt hay xấu cần phải quan tâm tới tính chất ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, cơ cấu tài sản ngắn hạn, hệ số quay vòng của từng loại tài sản ngắn hạn Ví như các công ty thương mại thường có tài sản lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản, do đó hệ số này thường lớn và ngược lại
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Là thước đo về việc huy động các tài sản có khả năng chuyển đổi ngay thành tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà các chủ nợ yêu cầu hay đây là chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Trang 31Hệ số khả năng thanh toán nhanh = TSNH – Hàng tồn kho
Tổng số nợ ngắn hạn
Có nhiều cách tính tử số của Hệ số khả năng thanh toán nhanh như: Theo hầu hết các tài liệu về phân tích báo cáo tài chính thì tử số này bằng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn trừ (-) giá trị thuần của hàng tồn kho Còn theo các nhà khoa học của trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì tử số được xác định bằng “Tiền, các khoảntương đương tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn”
Nhìn chung, nếu hệ số thanh toán nhanh lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp gặp khó khăn trongviệc thanh toán công nợ, và có thể công ty phải bán tài sản với giá bất lợi để trả nợ
và giảm uy tín với bạn hàng Nếu hệ số này quá lớn lại phản ánh lượng tiền tồn quỹ nhiều, giảm hiệu quả sử dụng vốn, mất cân đối của tài sản ngắn hạn do tập trung quá nhiều vốn bằng tiền và các chứng khoán ngắn hạn Cũng giống như hệ số khả năng thanh toán hiện thời, giá trị của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, kỳ hạn thanh toán của món nợ phải thu, phải trả trong kỳ
Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền
Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán tức thời đối với các khoản công nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ khả năng thanh toán của DN dồi dào, tuy nhiên chỉ tiêu này cao quá kéo dài có thể dẫn tới vốn bằng tiền nhàn rỗi, ứ đọng, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp Chỉ tiêu này thấp quá kéo dài chứng tỏ DN không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ, ảnh hưởng đến uy tín của DN
Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn
Nợ dài hạn đó là các khoản nợ có thời gian trả nợ trên một năm hay một chu kỳ kinh doanh Việc phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn giúp cho DN lên kế hoạch trả nợ đúng hạn, tăng uy tín của doanh nghiệp và lành mạnh hóa tình hình tài chính
Hệ số khả năng thanh toán nợ
Tổng tài sản dài hạn Tổng nợ dài hạn
Điều này cho biết khả năng bù đắp cho các chủ nợ dài hạn từ các tài sản dài hạn Chỉ tiêu này càng cao, thể hiện các khoản nợ dài hạn càng được đảm bảo an toàn
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Trang 32Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả sử dụng vốn vay như thế nào, đưa lại một khoảnlợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không và mức độ sẵn sàng trả lãi vay của công ty ra sao.
Đây là hệ số giữa nguồn dùng để trả lãi vay với số lãi vay phải trả Hệ số này được tính như sau:
Hệ số khả năng thanh toán lãi
Lợi nhuận trước thuế + lãi vay phải trả
Lãi vay phải trả
Nếu hệ số này > 1 phản ánh doanh nghiệp có khả năng thanh toán lãi vay, hoạtđộng kinh doanh có lãi, sử dụng vốn vay có hiệu quả và ngược lại
Đánh giá hiệu quả kinh doanh, khả năng sinh lời
Mục tiêu cuối cùng của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận Để có được lợi nhuận cao thì quá trình kinh doanh phải được tiến hành một các có hiệu quả cả trong tổ chức và quản lý sản xuất Phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
sẽ giúp cho các nhà quản lý và người sử dụng thông tin có thể đánh giá được thực trạng tài chính, tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai, và triển vọng của doanh nghiệp, đáng giá được khả năng sinh lời và tính ổn định
và bền vững về tài chính của doanh nghiệp cũng như những nhân tố, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng sinh lời Việc phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách xem xét, kiểm tra, đối chiếu và
so sánh số liệu về kết quả kinh doanh hiện thời với quá khứ Để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh, các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu như: Sức sinh lời của tài sản, sức sinh lời của vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận so với chi phí, lãi
cơ bản trên mỗi cổ phiếu
Chỉ số sinh lời của tài sản:
Chỉ tiêu này phản ánh sử dụng bình quân 1 đồng tài sản thì tạo ra mấy đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay Chỉ tiêu này cho biết tài sản được sử dụng hiệu quả như thế nào, đồng thời cho biết việc thực hiện chức năng của ban quản lý trong việc
sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Sức sinh lời của = Tổng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh x 100
Trang 33tài sản (ROA) nghiệp
Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản tốt, đó là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Chỉ tiêu này rất quan trọng với người cho vay
vì lợi nhuận trước thuế và lãi vay là nguồn để trả lãi vay
Chỉ số sinh lời của vốn chủ sở hữu:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn chủ sở hữu sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng về lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu càng tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp
Sức sinh lời của
Tổng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
Vốn chủ sở hữu bình quân x 100
Tỷ suất lợi nhuận so với chi phí:
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phíthì thu được bao nhiêu động lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao mức lợi nhuận trong kỳ.Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tỷ suất lợi nhuận so với chi phí = Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
Tổng chi phí trong kỳ x 100
Chỉ tiêu này đánh giá trình độ tổ chức sản xuất, sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất
Lãi cơ bản trên cổ phiếu:
Chỉ tiêu này cho biết, các cổ đông đầu tư 1 đồng cổ phiếu phổ thông theo mệnh giá thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao thì càng hấp dẫn các nhà đầu tư
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Lãi cơ bản trên cổ phiếu = Lãi (lỗ) được chia cho các cổ phiếu phổ thông
Tổng cổ phiếu phổ thông trong kỳ
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1 này đã làm rõ vấn đề cơ bản liên quan đến phân tình hình tài chính doanh nghiệp, đó là:
Trang 34- Bản chất vai trò của tài chính doanh nghiệp, những vấn đề cơ bản trong phântích tài chính doanh nghiệp , sự cần thiết của phân tích đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp đối với các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: Nhà quản lý doanh nghiệp, cơ quan chức năng, cơ quan Nhà nước có liên quan, các nhà đầu tư, ngân hàng, các nhà cho vay tín dụng, đối tác kinh doanh
và các tổ chức khác, đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp Mục tiêu của phân tích tài chính để có thể là công cụ đắc lực nhất để giúp các bên có thể đưa ra quyết định đúng đắn nhất trong kinh doanh) Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp
- Trình bày các phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp như: Phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp loại trừ, phương pháp dupont, các phương pháp khác
- Khái quát được những nội dung chủ yếu về thực trạng tình hình tài chính doanh nghiệp: Khái quát tình hình tài chính, cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán, hiệu quả kinh doanh, tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời của nguồn vốn (ROE), doanh lợi doanh thu (ROS)
Trong chương 1 đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tình hình tài chính doanh nghiệp là tiền đề để tiếp tục nghiên cứu thực trạng tình hình tài chính tại công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội trong chương 2 và đề ra những giải pháp hoàn thiện tình hình tài chính của công ty ở chương 3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI
Trang 352.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần Xây dựng
số 1 Hà Nội
* Thông tin chung về công ty
Tên giao dịch: HANOI CONSTRUCTION JOINT STOCK COMPANY
*Quá trình hình thành và phát triển
Được thành lập từ năm 1958 với nhiệm vụ xây dựng những cơ sở vật chất đầu tiên của đất nước, đến nay, HACC1 đã trở thành doanh nghiệp hàng đầu của ngành xây dựng Việt Nam
Trải qua 50 năm xây dựng và trưởng thành, công ty ghi dấu ấn tại các công trình gắn liền với sự phát triển của đất nước như Khu công nghiệp Thượng Đình, Nhà máy nước Yên Phụ, Pháp Vân, Hội trường Ba Đình, khách sạn Deawoo, Tháp
Hà Nội… và gần đây nhất là Trung tâm hội nghị Quốc gia, Tháp Ngân hàng Đầu tư
và phát triển Việt Nam, Tháp Keangnam Hanoi… Công ty đạt được nhiều huân chương khen thưởng từ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như:
Huân chương Lao động hạng Ba (ngày 21 tháng 08 năm 1978)
Huân chương Lao động hạng Nhì (ngày 04 tháng 09 năm 1982).
Huân chương Lao động hạng Nhất (ngày 16 tháng 11 năm 1985)
Huân chương Độc lập hạng Ba (ngày 27 tháng 11 năm 1998 ).
Huân chương Độc lập hạng Nhì (ngày 24 tháng 02 năm 2004).
Cờ thi đua của Chính phủ (ngày 05 tháng 01 năm 2004).
Và các bằng khen của các Sở, Ban, Ngành, Bộ Xây dựng…
Trang 36Cùng với thành công của các dự án lớn, công ty đã xây dựng được một đội ngũ nhân lực hùng hậu, có trình độ khoa học kĩ thuật, trình độ quản lý cao và dày dạn kinh nghiệm Với tâm niệm con người vừa là cốt lõi vừa là mục tiêu của doanh nghiệp, công ty đã thường xuyên và liên tục đầu tư cho hoạt động tuyển dụng và đào tạo lực lượng kế cận, đào tạo nâng cao cho lực lượng nhân lực cao cấp của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Với lợi thế là lực lượng nòng cốt trong các dự án lớn của đất nước, công ty đã tích lũy và đầu tư được một lực lượng thiết bị thi công hùng hậu như giáo, cốp pha, cẩu tháp, thiết bị làm đường, thiết bị thi công móng… đáp ứng tốt nhu cầu cơ giới hóa sản xuất và công tác thi công các kết cấu đặc biệt Chuyển sang hoạt động theo hình thức cổ phần, Công ty đứng trước cơ hội rất lớn nhưng cũng phải chấp nhận môi trường mới có tính cạnh tranh hết sức khắc nghiệt Để duy trì vị trí dẫn đầu, công ty luôn phải cập nhật cho mình những phương pháp quản lý mới, công nghệ mới, thiết bị mới và tư duy mới Và đầu tiên là tư duy hướng tới khách hàng Mọi hoạt động của Công ty và của mỗi thành viên công ty đều hướng tới mục tiêu cung cấp cho khách hàng những sản phẩm hơn cả sự mong đợi
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội Chức năng của công ty:
+ Tổ chức kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng kí với cơ quan chức năng Nhà nước Lĩnh vực hoạt động chính của Công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội như sau:
Xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông (cầu, đường, sân bay, bến cảng), thuỷ lợi (đê, đập, kênh, mương), bưu điện, các công trình kỹ thuật
hạ tầng đô thị và khu công nghiệp, đường dây, trạm biến áp
Đầu tư kinh doanh phát triển nhà, thương mại du lịch (lữ hành nội địa, quốc tế).Sản xuất, kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng (gạch, ngói, cấu kiện bê tông, cấu kiện và phụ kiện kim loại, đồ mộc, thép)
Đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng các khu đô thị, khu công nghiệp.Đầu tư kinh doanh bất động sản, nhà hàng, nhà nghỉ, khách sạn (Không bao
Trang 37gồm kinh doanh quán bar, phòng hát karaoke, vũ trường).
Đầu tư xây dựng, kinh doanh và chuyển giao (BOT) các dự án giao thông, thuỷ điện
Xây dựng và lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy, các công trình cấp thoát nước và trạm bơm
Lắp đặt và sửa chữa các thiết bị cơ điện nước công trình, thiết bị điện dân dụng, công nghiệp, điện máy, điện lạnh và gia nhiệt
Kinh doanh xuất nhập khẩu máy móc, thiết bị, các loại vật tư, xăng dầu, vật liệu xây dựng
Nhiệm vụ:
Để thực hiện duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, lãnh đạo công ty cam kết:Thi công các công trình xây dựng đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật, chất lượng phù hợp với thiết kế và các tiêu chuẩn, quy định, quy phạm
Không ngừng nâng cao chất lượng công trình, sản phẩm nhằm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng Đó là cách duy nhất để công ty duy trì và phát triển kinh doanh
Nhận biết và cung cấp đầy đủ các nguồn lực (Nhân lực, vật tư…) để đảm bảo thực hiện có hiệu quả hệ thống chất lượng
Các giải pháp thực hiện nhiệm vụ:
Đảm bảo chính sách chất lượng của công ty và cam kết của lãnh đạo đều được tất cả cán bộ công nhân viên công ty hiểu, duy trì và thực hiện
Thường xuyên duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001-2008 để nâng cao chất lượng công trình, không ngừng đáp ứng sự mong đợi và nhu cầu của khách hàng
Tạo điều kiện nâng cao kiến thức cho đội ngũ cán bộ công nhân viên làm chủ với các kỹ thuật tiên tiến để họ đủ trình độ và làm tốt các nhiệm vụ được giao và không ngừng cải tiến công việc của mình
Phát huy mọi nguồn lực, mở rộng đầu tư, ứng dụng và đổi mới thiết bị công nghệ xây dựng nhằm nâng cao chất lượng công trình, rút ngắn thời gian thi công.Thường xuyên quan hệ chặt chẽ với khách hàng để đảm bảo đáp ứng nhu cầu của họ
Trang 382.1.3 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Xây dựng
số 1 Hà Nội.
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt có khả năng táisản xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế Quốc dân Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Hoạt động kinh doanh của công
ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội có những đặc điểm sau:
Về sản xuất:
- Sản xuất xây dựng là một dạng đặc thù của sản xuất công nghiệp (công nghiệp chế tạo) Bởi vậy, nó cũng có những đặc điểm chung của sản xuất công nghiệp: Quá trình biến đổi, kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm với giá trị sử dụng mới
- Sản xuất xây dựng nếu xét về phương diện kỹ thuật sản xuất là tổng hợp các yếu tố: Vật liệu, kết cấu, kiến trúc và phương pháp thi công Nếu xét theo quá trình lao động gồm có quá trình lao động trực tiếp và quá trình tự nhiên, xét theo quá trình đầu tư và xây dựng thì đây là giai đoạn triển khai thực thi dự án đầu tư đã được phê duyệt
- Nét đặc thù của sản xuất xây dựng so với hoạt động khác biểu hiện ở chỗ:+ Sản xuất xây dựng mang tính đơn chiếc, có chu kì sản xuất dài và thường di chuyển địa điểm Do đó sản xuất trong xây dựng tính ổn định không cao, lưu động hết công trình này sang công trình khác
+ Tổ chức sản xuất và quản lý sản xuất xây dựng luôn biến đổi theo giai đoạn xây dựng và theo trình tự công nghệ xây dựng
+ Sản xuất xây dựng thực hiện ngoài trời, chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên, thời tiết (mùa mưa, mùa khô) và điều kiện địa phương Cách thức tổ chức sản xuất phụ thuộc vào mặt bằng Kiểu bố trí sản xuất cố định vị trí
+ Sản xuất xây dựng có công nghệ và tổ chức sản xuất phức tạp, khó áp dụng tiến độ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất hơn so với các ngành sản xuất khác
Sản phẩm mang những đặc điểm cụ thể như sau:
+ Sản phẩm xây dựng thường mang tính đơn chiếc, thường được sản xuất theođơn đặt hàng của chủ đầu tư
+ Sản phẩm xây dựng rất đa dạng, có kết cấu phức tạp, khó chế tạo, khó sửa chữa, yêu cầu chất lượng cao
Trang 39+ Sản xuất xây dựng thường có quy mô lớn, chi phí nhiều, thời gian tạo ra sản phẩm dài và thời gian khai thác cũng khéo dài Nên không thể làm ẩu và cần quan tâm đến công tác bảo trì, bảo dưỡng, tính toán thời gian bỏ vốn cho hợp lí.
+ Sản phẩm xây dựng gắn liền với việc sử dụng đất đai, là công trình gắn liền với những vị trí nhất định nào đó, có thể là mặt nước, đất liền, thềm lục địa Nên
nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện địa phương và thường đặt ngoài trời
+ Sản phẩm xây dựng là sản phẩm kết tinh kết quả hoạt động của nhiều hoạt động, nhiều lĩnh vực, nhiều ngành như: Kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, an ninhquốc phòng
+ Trong các gói thầu lớn với giá trị hàng nghìn tỷ đồng, hầu như công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội là nhà thầu chính hoặc chủ đầu tư Với các gói thầu đa dạng đáp ứng nhu cầu xây dựng của các ngành nghề, lĩnh vực trong nền kinh tế, trong đó có các gói thầu hoàn thiện từ đầu đến cuối, song cũng có những gói thầu chỉ làm một phần như phần móng hoặc phần thô Một số sản phẩm mà công ty đã hoàn thiện như các công trình dân dụng: nhà ở, công trình công cộng, công trình văn hóa, công trình giáo dục, công trình y tế, công trình thương mại, văn phòng làmviệc, khách sạn nhà hàng, nhà phục vụ giao thông, công trình viễn thông, truyền thanh, truyền hình, công trình thể thao, công trình công nghiệp, công trình giao thông, các công trình thủy lợi, hạ tầng kĩ thuật Với các công trình trên, công ty có thể là: Nhà thầu (bên B): đi xây lắp, bảo hành sản phẩm Hoặc Chủ đầu tư (bên A):
từ khâu đầu tư, xây dựng, bán sản phẩm, bảo hành sản phẩm
2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Cổ phần Xây dựng số 1
Hà Nội.
Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty được xây dựng dựa trên nguyên tắc phân công, quản lý theo các khối chức năng công việc, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Cơ cấu bộ máy quản lý như sau:
* Đại hội cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất của công ty Đại hội cổ đông bầu ra Hội đồng quản trị của công ty, Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất giữa hai kỳ đại hội cổ đông, có trách nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện các nghị quyết của đại hội cổ đông cùng kỳ, có toàn quyền nhân danh công ty thay mặt cổ đông để quyết định mọi vấn đề liên quan tới mục đích, quyền lợi của công ty, trừ
Trang 40những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông được quy định trong điều lệ của công ty.
* Ban kiểm soát do đại hội cổ đông bầu ra và chịu trách nhiệm trước các cổ đông và pháp luật về những kết quả công việc của Ban kiểm soát với công ty
* Ban điều hành hiện tại của công ty bao gồm: Tổng giám đốc điều hành, 04 phó tổng giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm Là cơ quan quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của công ty theo mục tiêu, định hướng chiến lược và kế hoạch mà Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị đã thông qua
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức công ty Cổ phần Xây dựng số 1 Hà Nội
2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI
2.2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính là những hoạt động gắn liền với sự vận động và chuyểnhoá các nguồn lực tài chính, tạo ra sự chuyển dịch giá trị trong quá trình kinh doanh
và làm biến động vốn cũng như thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp Nói cáchkhác, hoạt động tài chính là những hoạt động gắn với việc xác định nhu cầu, tạo lập,tìm kiếm, tổ chức, huy động và sử dụng vốn một cách hợp lý, có hiệu quả