Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là cơ sở quan trọng giúp nhà quản trị thực hiện tốt chức năng của mình.Việc thường xuyên tiến hành phân tích tìnhhình tài chính sẽ giúp cho các
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu: 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
4 Phương pháp nghiên cứu: 4
5 Kết cấu khóa luận 4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 5
1.1 Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính 5
1.1.2 Vai trò của việc phân tích tài chính doanh nghiệp 5
1.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp 10
1.1.4 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 11
1.1.5 Tài liệu sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp 13
1.2 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 13
1.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài sản, nguồn vốn và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp 13
1.2.2 Phân tích các hệ số tài chính cơ bản 14
1.2.3 Phân tích tài chính Dupont 20
1.2.4 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 21
1.2.5 Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh 21
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp 22
1.3.1 Nhân tố khách quan 22
1.3.2 Nhân tố chủ quan 23
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XĂNG DẦU DẦU KHÍ HÀ NỘI 26
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội 26
2.1.1 Những nét cơ bản về Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội 26
Trang 22.1.2 Các hoạt động kinh doanh cơ bản của Công ty 28
2.1.3 Ảnh hưởng của đặc điểm lĩnh vực kinh doanh của Công ty tới hoạt động phân tích tài chính của doanh nghiệp 29
2.2 Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội 29
2.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài sản, nguồn vốn của Công ty 29
2.2.2 Phân tích tình hình thu nhập, chi phí, lợi nhuận của Công ty 32
2.2.3 Phân tích khả năng thanh toán 34
2.2.4 Phân tích hiệu quả kinh doanh 36
2.2.5 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 38
2.3 Đánh giá chung về tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội 40
2.3.1 Những kết quả đã đạt được 40
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 41
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XĂNG DẦU DẦU KHÍ HÀ NỘI 42
3.1 Định hướng hoạt động của Công ty trong thời gian tới 42
3.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội 42
3.1.2 Mục tiêu và định hướng hoạt động của công ty 42
3.2 Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính đối với công ty 43
3.2.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 43
3.2.2 Nâng cao khả năng thanh toán 47
3.2.3 Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty 49
3.2.4 Tăng cường vốn tài trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh 52
3.2.5 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính 53
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại vàphát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải có lãi Để đạt được mục tiêu này nhà quảntrị phải lựa chọn vàđưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện những quyếtđịnh đó nhằm đặt mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trịdoanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Trong hoạtđộng sản xuất cũng như kinh doanh, có rất nhiều vấn đề nảy sinh mà phần lớn là cácvấn đề về tài chính Do đó, cơ sở của hầu hết mọi quyết định quản trịđều dựa trênnhững kết luận rút ra từ những đánh giá về mặt tài chính trong hoạt động của doanhnghiệp và bằng các công cụ khác nhau
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là cơ sở quan trọng giúp nhà quản
trị thực hiện tốt chức năng của mình.Việc thường xuyên tiến hành phân tích tìnhhình tài chính sẽ giúp cho các doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy
rõ thực trạng hoạt động tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanhnghiệp cũng như xác định một cách đầy đủ, đúng đắn nguyên nhân và mức độảnhhưởng của các nhân tốđến tình hình tài chính Qua đó, giúp người sử dụng thôngtin có thểđánh giáđược tiềm năng, hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như rủi ro vàtriển vọng trong tương lai của doanh nghiệp, để họ có thểđưa ra các giải pháp hữuhiệu, những quyết định chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh
tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Báo cáo kế toán rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp đồng thời là
nguồn thông tin tài chính cơ bản đối với người ngoài doanh nghiệp Do đó, sự phântích tài chính trước hết tập trung vào các số liệu được cung cấp trong các báo cáo kếtoán kết hợp thông tin bổ sung của các bộ phận quản lý Chính vì thế, việc lập cácbáo cáo này một cách có hệ thống, số liệu phản ánh kịp thời sẽ là cầu nối quan trọnggiữa doanh nghiệp với các đối tác liên quan
Trong bối cảnh đó, hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ
phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội là một yêu cầu bức thiết Đề tài “Phân tích tài
Trang 4chính tại Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội” được lựa chọn nghiên cứu
nhằm góp phần đáp ứng đòi hỏi trên của thực tiễn
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân tíchtài chính tại Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung cơ bản về công tác phân tích tài
chính của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Phạm vi nghiên cứu: Công tác phân tích tài chính trên giác độ của nhà quản
lý và các chủ sở hữu tại Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: Phân tích tình hình tài chính công ty giai đoạn 2014- 2016
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện khóa luận, những phương pháp nghiên cứu chủyếu được sử dụng là:
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp,…
- Sử dụng bảng biểu, đồ thị minh hoạ
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài lời mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mụcchữ viết tắt, phụ lục, khóa luận có bố cục như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội
Trang 5CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1.1 Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công
cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lýnhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ vàchất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực củadoanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyếtđịnh quản lý phù hợp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phásản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánhgiá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanhnghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ranhững dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng củadoanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoántài chính - một trong các hướng dự đoán doanh nghiệp Phân tích tài chính có thểđược ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau : với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị cácquyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phântích( trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp )
1.1.2 Vai trò của việc phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việc phântích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánhcác số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mụcđích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tươnglai Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn vàcông nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanhnghiệp Báo cáo tài chính rất hữu ích đối việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời lànguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người bên ngoài doanh nghiệp Do
Trang 6đó, phân tích báo cáo tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhaunhư nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các kháchhàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ quan chính phủ, người lao động Mỗi nhómngười này có những nhu cầu thông tin khác nhau.
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tàichính doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bìnhđẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy
sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như : chủdoanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng kể cả các cơ quan Nhà nước
và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanhnghiệp trên các góc độ khác nhau
Đối với người quản lý doanh nghiệp :
Đối với người quản lý doanh nghiệp mối quan tâm hàng đầu của họ là tìmkiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệtcác nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khảnăng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý doanh nghiệp phảigiải quyết ba vấn đề quan trọng sau đây :
Thứ nhất : Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu cho phù hợp với loại hình sản
xuất kinh doanh lựa chọn Đây chính là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp
Thứ hai : Nguồn vốn tài trợ là nguồn nào?
Để đầu tư vào các tài sản, doanh nghiệp phải có nguồn tài trợ, nghĩa là phải
có tiền để đầu tư Các nguồn tài trợ đối với một doanh nghiệp được phản ánh bênphải của bảng cân đối kế toán Một doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặcvay nợ dài hạn, ngắn hạn Nợ ngắn hạn có thời hạn dưới một năm còn nợ dài hạn cóthời hạn trên một năm Vốn chủ sở hữu là khoản chênh lệch giữa giá trị của tổng tàisản và nợ của doanh nghiệp Vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp sẽ huy độngnguồn tài trợ với cơ cấu như thế nào cho phù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất.Liệu doanh nghiệp có nên sử dụng toàn bộ vốn chủ sở hữu để đầu tư hay kết hợp
Trang 7với cả các hình thức đi vay và đi thuê? Điều này liên quan đến vấn đề cơ cấu vốn vàchi phí vốn của doanh nghiệp
Thứ ba : Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như
thế nào?
Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ đếnvấn đề quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp Hoạt động tài chính ngắn hạn gắnliền với các dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ Nhà quản lý tài chính cần xử lý sự lệchpha của các dòng tiền
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi khía cạnh về tài chính doanh nghiệp,nhưng đó là những vấn đề quan trọng nhất Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ
sở để đề ra cách thức giải quyết ba vấn đề đó
Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính vàdựa trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các quyết định vì lợiích của cổ đông của doanh nghiệp Các quyết định và hoạt động của nhà quản lý tàichính đều nhằm vào các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp : đó là sự tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, cókhả năng cạnh tranh và chiếm được thị phần tối đa trên thương trường, tối thiểu hoáchi phí, tối đa hoá lợi nhuận và tăng trưởng thu nhập một cách vững chắc Doanhnghiệp chỉ có thể hoạt động tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các quyếtđịnh của nhà quản lý được đưa ra là đúng đắn Muốn vậy, họ phải thực hiện phântích tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp lànhững người có nhiều lợi thế để thực hiện phân tích tài chính một cách tốt nhất
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khả năngthanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi,nhà quản lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanhlợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Từ đó, họ có thể định hướng chogiám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư, tài trợ,phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính Cuối cùng phân tích tàichính còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý
Trang 8Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn,mức sinh lãi và sự rủi ro Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tìnhhình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của các doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp Cổ phần, các cổ đông là người đã bỏ vốn đầu tư vàodoanh nghiệp và họ có thể phải gánh chịu rủi ro Những rủi ro này liên quan tới việcgiảm giá cổ phiếu trên thị trường, dẫn đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp.Chính vì vậy, quyết định của họ đưa ra luôn có sự cân nhắc giữa mức độ rủi ro vàdoanh lợi đạt được Vì thế, mối quan tâm hàng đầu của các cổ đông là khả năngtăng trưởng, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị chủ sở hữu trong doanh nghiệp.Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu tư và nguồn tài trợ Trên cơ sở phân tích cácthông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽđánh giá được khả năng sinh lợi và triển vọng phát triển của doanh nghiệp; từ đóđưa ra những quyết định phù hợp Các nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một
dự án nếu ít nhất có một điều kiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương Khi đólượng tiền của dự án tạo ra sẽ lớn hơn lượng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp mộtmức lãi suất yêu cầu cho nhà đầu tư Số tiền vượt quá đó mang lại sự giàu có chonhững người sở hữu doanh nghiệp Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức và cơcấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề được các nhà đầu tư hết sức coitrọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Ta biết rằng thu nhập của cổđông bao gồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần giá trị tăng thêm của cổphiếu trên thị trường Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và vốn chủ sở hữu hợp lý sẽtạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh nghiệp tăng vốn đầu tư vừa làm tănggiá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) Hơn nữa các cổ đông chỉ chấpnhận đầu tư mở rộng quy mô doanh nghiệp khi quyền lợi của họ ít nhất không bịảnh hưởng Bởi vậy, các yếu tố như tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng đểtrả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếutrên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệuquả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực hiệnphân tích tài chính
Trang 9Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thựchiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của doanh nghiệp thìphân tích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng thương mạicho doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp đượcxem xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn Nếu là những khoản cho vayngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh củadoanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ khiđến hạn trả Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khảnăng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽtuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họchủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ chú ý đặc biệt đến
số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với
số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Bêncạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới sốvốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợpdoanh nghiệp bị rủi ro Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất vàtheo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạnthì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểmcủa doanh nghiệp đi vay
Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, họ phảiquyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không, họcần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và trong thời giansắp tới
Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, ngườiđược hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chínhcủa doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Trang 10có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động.Ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn muamột lượng cổ phần nhất định Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệpnên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhànước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt độngkinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúngchính sách, chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giáthành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng
Tóm lại, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phântích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thốngcác phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từcác góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xétmột cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh vàđiểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phánđoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp
1.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài
chính là việc cung cấp những thông tin chính xác về moị mặt tài chính của doanhnghiệp, bao gồm:
- Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt đảm bảo vốncho sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn, tình hình nguồn vốn
- Đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình kinh doanh vàkết quả tài chính của hoạt động kinh doanh, tình hình thanh toán
- Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hoá của các nhân tố ảnhhưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biện pháp cóhiệu quả để khắc phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực tiềmtàng của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 111.1.4 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Trình tự phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
- Xác định mục tiêu phân tích
Mỗi chủđềđều có những yêu cầu khác nhau đối với công tác phân tích tài chính
Vì vậy, họ cần đi sâu vào những nội dung khác nhau trong quá trình phân tích Xácđịnh mục tiêu phân tích sẽ giúp nhà phân tích sử dụng những phương pháp thíchhợp và tập trung vào những vấn đề cụ thể hơn Những người sử dụng khác nhausẽđưa ra các quyết định khác nhau theo những mục đích khác nhau :
- Quyết định quản lý doanh nghiệp
- Quyết định mua bán tín phiếu
- Quyết định chấp nhận hay từ chối tín dụng
- Quyết định mua toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp
Phân tích tài chính của nhóm người sử dụng khác nhau đòi hỏi phải đáp ứngvấn đề chuyên môn của mỗi nhóm
- Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyếtminh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dựđoántài chính nó bao gồm cả những thông tin nội bộđến những thông tin bên ngoài,những thông tin kế toán và các thông tin khác nhau, những thông tin về số lượng
và giá trị trong đó: các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong báo cáo kế toáncủa doanh nghiệp, là những thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích tàichính trên thực tế là phân tích các báo cáo kế toán trong doanh nghiệp
- Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của quá trình phân tích tình hình tài chính là quá trình xử lýthông tin đã thu thập được Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở góc độnghiên cứu khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêuphân tích đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mụctiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích đánh giá xác định nguyên nhâncủa các kết quảđãđược phục vụ cho quá trình dựđoán và quyết định
Trang 12Trong việc xử lý thông tin, người ta chú trọng đến việc sử dụng các phươngpháp phân tích thích hợp để làm việc với thông tin đó.
Phương pháp phân tích tài chính: bao gồm một hệ thống các công cụ và biệnpháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng các mối quan hệ bên trongchỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp
- Có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp trong thực tế người
ta có thể sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp so sánh
- Đểáp dụng phương pháp so sánh cần phải bảo đảm các điều kiện có thể so sánhđược các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, nội dung tính chất vàđơn vịtính toán ) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh Gốc so sánh đượcchọn là là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được chọn bàng sốtuyệt đối, số tương đối huặc số bình quân, nội dung so sánh gồm :
+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướngthay đổi về tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự thâm hụt hay thụt lùi trong hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số với số thực hiện kỳ trước để thấy mứcphấn đấu của doanh nghiệp
+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành, của cácdoanh nghiệp khác nhau đểđánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốthay xấu, được hay chưa được
+ So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, sosánh theo chiều ngang của nhiều kỳđể tháy sự biến đổi cả về số lượng tương đối vàtượng đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực, các tỷ lệ của đại lượng tài chínhtrong quan hệ tài chính Sự biến đổi các tỷ lệ là sự biến đổi của các đại lượng tàichính Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định các định mức để
Trang 13nhận xét, đánh giá tinh hình tài chính trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ tài chính đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm, tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ
lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm
tỷ lệ về khả năng sinh lời
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích người phân tích lựa chọn các nhóm tỷ lệ khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình
1.1.5 Tài liệu sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
- Báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp bao gồm 4 biểu mẫu sau:
+Bảng cân đối kế toán
+Bảng kết quả hoạt động kinh doanh
+Lưu chuyển tiền tệ
+Thuyết minh báo cáo tài chính
Ngoài ra ,để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế tài chính,yêu cầu chỉđạo điều hành các nghành,các Tổng công ty ,các tập đoàn sản xuất, liên hiệp xí nghiệp, các công ty liên doanh có thể quy định thêm các báo cáo tài chính chi tiết khác
1.2 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài sản, nguồn vốn và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Để xem xét tình hình và xu hướng biến động của qui mô và cơ cấu tài sản, nguồn vốn và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, các nhà phân tích thường căn
cứ vào các số liệu trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh để tính toán các tỷ trọng của từng khoản mục, so sánh các khoản mục và tỷ trọng của chúng theo các mốc thời gian khác nhau để có thể đưa ra những nhận định về tình hình tài chính doanh nghiệp Thông thường, các nhà phân tích xem xét biến động bằng cách
so sánh các khoản mục, các chỉ tiêu tài chính giữa cuối kỳ so với đầu kỳ hoặc của
Trang 14năm nay so với năm trước để thấy được mức độ tăng, giảm của tài sản, công nợ,nguồn vốn chủ sở hữu cũng như mức độ và xu hướng thay đổi của tỷ trọng cáckhoản mục này Khi so sánh các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh giữa các kỳ, các nhàphân tích sẽ đánh giá được mức độ biến động của các chỉ tiêu doanh thu, giá vốnhàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và lợi nhuận của doanhnghiệp.
1.2.2 Phân tích các hệ số tài chính cơ bản
Khi đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, các nhà phân tích tàichính thường so sánh giữa giá trị các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền dùng đểtrả nợ với số nợ phải trả Tùy theo khoảng thời gian và sự cần kíp của các khoản nợ
mà người ta có thể hình thành các chỉ số khác nhau phản ánh khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp Thông thường, các chỉ số phản ánh khả năng thanh toán củadoanh nghiệp bao gồm:
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Hệ sổ này được xác định bằng cách lấytổng tài sản chia cho tổng nợ phải trả và được thể hiện qua công thức sau: Khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản
Tổng nợ phải trả
Hệ số khả năng thanh toán cho biết khả năng của doanh nghiệp có thể sử dụngcác nguồn lực để đảm bảo trả nợ Nếu hệ số này lớn hơn hoặc bằng 1 thì có thểkhẳng định doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán tổng quát Ngược lại, khi hệ
sổ này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp chưa đảm bảo khả năng thanh toán chung
Khả năng thanh toán tổng quát mới chỉ cho biết một cách tổng thể về khả nănghuy động mọi nguồn lực hiện có để đảm bảo trả nợ, trong đó không phân biệt là nợngắn hạn hay dài hạn và cũng không phân biệt tài sản của doanh nghiệp có khả năngchuyển đổi thành tiền trong ngắn hạn hay dài hạn Vì vậy, nếu mất cân đối về thờihạn giữa nguồn lực huy động với nhu cầu trả nợ thì doanh nghiệp vẫn có thể khôngđảm bảo được việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Có thể xảy ra trường hợp khảnăng thanh toán tổng quát rất tốt nhưng doanh nghiệp vẫn lâm vào tình trạng mấtkhả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Do đó, trong thực tế, người ta thườngquan tâm trước hết đến hệ số khả năng thanh toán hiện thời
Trang 15- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời (còn gọi là hệ số khả năng thanh toán nợngắn hạn): Được xác định bằng cách lấy tài sản ngắn hạn chia cho nợ ngắn hạn, thểhiện qua công thức như sau:
Khả năng thanh toán hiện thời (Khả
năng thanh toán nợ ngắn hạn) =
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạnCăn cứ vào kết quả tính toán được, nếu hệ số trên lớn hơn hoặc bằng 1 thì cóthể khẳng định doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán hiện thời Ngượclại, nếu hệ số đó nhỏ hơn 1 thì có thể khẳng định khả năng thanh toán hiện thời củadoanh nghiệp chưa đảm bảo hay còn yếu kém
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh: khi đánh giá khả năng thanh toán hiệnthời, người ta đem so sánh tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn bởi lẽ tài sản ngắn hạn
là những tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền để trả nợ trong vòng 1 năm và
nợ ngắn hạn có thời hạn thanh toán cũng trong vòng 1 năm Tuy nhiên, trong tài sảnngắn hạn, hàng tồn kho kém thanh khoản hơn cả và cũng có thể xảy ra tình huốngxấu là không thể tiêu thụ được Do đó, để đánh giá sát thực hơn khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp, người ta loại trừ hàng tồn kho ra khỏi tài sản ngắn hạn và đem sosánh với nợ ngắn hạn Khi ấy chỉ số này được gọi là khả năng thanh toán nhanh vàđược biểu thị thành công thức như sau:
Khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn khoNợ ngắn hạn
- Khả năng thanh toán lãi vay: Đối với các doanh nghiệp có sử dụng vốn vay,việc đánh giá khả năng thanh toán lãi vay sẽ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối vớicác tổ chức tín dụng, nhà cung cấp vốn để thấy được mức độ đảm bảo an toàn khicung cấp vốn cho doanh nghiệp Người ta so sánh giữa nguồn tài chính có thể huyđộng để trả lãi vay với số lãi vay phải trả, được thể hiện qua công thức sau:
Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Số lãi vay phải trảTương tự như thế, dựa vào kết quả tính toán, nếu hệ số trên lớn hơn hoặc bằng
1 thì có thể khẳng định doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán lãi vay.Ngược lại, nếu hệ số đó nhỏ hơn 1 thì có thể khẳng định doanh nghiệp chưa đảmbảo khả năng trả lãi vay
Trang 16- Hệ số khả năng thanh toán tức thời: Trong tình huống, một số chủ nợ ngắnhạn có thể quan tâm đến khả năng trả nợ trong kỳ hạn rất ngắn Khi đó, người ta sửdụng hệ số khả năng thanh toán tức thời:
Khả năng thanh toán tức thời =
Tiền và tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán tức thời cho biết doanh nghiệp có thể huy độngngay lập tức các nguồn lực có thể để đảm bảo khả năng trả nợ Nếu hệ số này lớnhơn hoặc bằng 1 thì doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán tức thời, ngược lạithì doanh nghiệp chưa đảm bảo hay còn yếu kém về khả năng thanh toán tức thời
- Vốn luân chuyển ròng: Để đánh giá an toàn hay rủi ro tài chính của doanhnghiệp, các nhà phân tích tài chính thường kết hợp việc xem xét các chỉ tiêu về khảnăng thanh toán với việc xem xét cách thức tài trợ tài sản ngắn hạn thông qua chỉtiêu vốn luân chuyển ròng (NWC-Net Working Capital)
Vốn luân chuyển ròng được xác định theo công thức:
Vốn luân chuyển ròng = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn
Hoặc Vốn luân chuyển ròng = Nguồn vốn dài hạn - Tài sản dài hạn
Để đánh giá về khả năng vận động, quay vòng cùa các loại tài sản hay vốnkinh doanh (còn gọi là hiệu suất hoạt động), các nhà phân tích thường sử dụng cácthước đo hay các hệ số cơ bản sau
- Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bánTrị giá hàng tồn kho bình quân
Trị giá hàng tồn kho bình quân được xác định theo cách tính sổ bình quântrong thống kê Chẳng hạn, nếu có các số liệu về số dư đầu kỳ và cuối kỳ về hàngtồn kho thì số liệu bình quân của hàng tồn kho được tính bằng cách lấy số dư đầu kỳcộng với số dư cuối kỳ và chia hai
Hệ số vòng quay hàng tồn kho cho biết khả năng quay vòng hay luân chuyểncủa hàng tồn kho của doanh nghiệp Hệ số này cao hay thấp sẽ phụ thuộc vào đặcđiểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh, trình độ tổ chức quản lý kinh doanh và
Trang 17các yếu tố khác Nếu kết quả tính toán cho thấy vòng quay hàng tồn kho của doanhnghiệp được cải thiện qua các kỳ thì điều này thường biểu thị rằng doanh nghiệp đã
tổ chức dự trữ, sản xuất và tiêu thụ hàng tồn kho tốt hơn và ngược lại
- Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho:
Số ngày của một vòng quay hàng
Số ngày trong kỳ (365 ngày)
Số vòng quay hàng tồn kho trong kỳ
Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho cho biết khoảng thời gian bình quântính từ lúc nắm giữ hàng tồn kho đến lúc tiêu thụ hàng tồn kho Nói cách khác, nócho biết hàng tồn kho tồn tại bao nhiêu ngày trước khi tiêu thụ Khoảng thời giannày sẽ phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh, trình độ tổchức quản lý kinh doanh và các yếu tố khác Nếu kết quả tính toán cho thấy số ngàycủa một vòng quay hàng tồn kho giảm đi qua các kỳ thì điều này có nghĩa là doanhnghiệp đã tổ chức dự trữ, sản xuất và tiêu thụ hàng tồn kho tốt hơn và ngược lại
- Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu + VAT đầu ra tương ứngCác khoản phải thu bình quânThông thường, trong phần tử số của công thức tính vòng quay các khoản phảithu, chúng ta chỉ tổng hợp phần doanh thu bán chịu, bởi lẽ bộ phận doanh thu nàymới được ghi nhận là công nợ phải thu Tuy nhiên, theo chế độ kế toán hiện nay, bộphận VAT đầu ra phát sinh tương ứng với phần doanh thu bán chịu vẫn được theodõi chung trên tài khoản phản ánh các khoản phải thu từ khách hàng Nói cách khác,trong phần số dư các khoản phải thu đã bao gồm cả VAT đầu ra Do đó, để đảm bảo
sự phù hợp, trong phần tử số của công thức kể trên phải bao gồm cả số VAT đầu ratương ứng với bộ phận doanh thu bán chịu
Hệ số vòng quay các khoản phải thu cho biết trong kỳ thì các khoản phải thuquay vòng được bao nhiêu lần Nó cho biết mức độ nhanh chậm trong việc thu hồi
nợ phải thu
- Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền thu bình quân = Số ngày trong kỳ (365 ngày)
Số vòng quay các khoản phải thu trong
Trang 18- Vòng quay tài sản ngắn hạn:
Vòng quay tài sản ngắn hạn
(vòng quay vốn lưu động) =
Doanh thuTài sản ngắn hạn (vốn lưu động) bình quânThông thường, tử số của công thức trên là doanh thu thuần bán hàng hóa dịch
vụ Tuy nhiên, trong trường hợp có phát sinh doanh thu tài chính, để đảm bảo tínhhợp lý khi tính toán, ngoài doanh thu thuần về bán hàng hóa dịch vụ, người ta còntính cả doanh thu tài chính
Vòng quay tai sản ngắn hạn cho biết hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn hayvốn lưu động trong mối quan hệ với doanh thu đạt được Nói cách khác, hệ số nàycho biết mỗi đồng tài sản ngắn hạn hay vốn lưu động sử dụng trong kỳ tạo ra đượcbao nhiêu đồng doanh thu thuần
Trang 19- Vòng quay tài sản dài hạn:
Vòng quay tài sản dài hạn
(vòng quay vốn cố định) =
Doanh thuTài sản dài hạn (vốn cố định) bình quânVòng quay tài sản dài hạn cho biết hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn của doanhnghiệp Nói cách khác, hệ số này cho biết mỗi đồng tài sản dài hạn hay vốn cố định
sử dụng trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Điểu này đặc biệt có
ý nghĩa quan trọng dối vã những doanh nghiệp mà cơ cấu tài sản nghiêng về tài sảndài hạn chẳng hạn như các doanh nghiệp hoạt động trong ngành khách sạn, dịch vụ
Vòng quay tổng tài sản cho biết hiệu suất sử dụng tài sản hay vốn kinh doanhcùa doanh nghiệp Nói cách khác, hệ số này cho biết mỗi đồng tài sản hay vốn kinhdoanh sử dụng trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Khi phân tích, đánh giá khả năng hoạt động của một doanh nghiệp, ngoài việc
so sánh các kết quả tính toán giữa các kỳ với nhau để xác định xu hướng biến độngcủa các hệ số, người ta còn có thể so sánh với các hệ số trung bình về khả năng hoạtđộng của ngành cũng như so sánh với các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh trongngành để xác định vị thế của doanh nghiệp
Trang 201.2.3 Phân tích tài chính Dupont
- Triển khai Dupont đối với ROA:
ROA = Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu
Như vậy, có thể viết lại công thức trên như sau:
ROA = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x Vòng quay Tổng tài sảnTheo cách triển khai trên, ROA phụ thuộc và tỷ lệ thuận với sự thay đổi của
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vòng quay tổng tài sản Như vậy, nếu tỷ suất lợinhuận sau thuế trên doanh thu hoặc vòng quay tổng tài sản được cải thiện thì sẽ làmcho ROA gia tăng với mức độ tương ứng Từ đây, nhà quản trị doanh nghiệp có thể
đề ra các biện pháp thích hợp để gia tăng ROA
- Triển khai Dupont đối với ROE:
ROE = Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu x Tổng tài sản
Chia cả tử số và mẫu số của phân số thứ ba trong công thức kể trên cho tổngtài sản, rồi thay Tổng tài sản = Nợ phải trả + Vốn CSH, ta sẽ có được :
Nói cách khác, ROE có thể viết lại như sau :
1ROE = Tỷ suất lợi nhuận doanh thu x Vòng quay tổng tài sản x
1 - Hệ số nợNhư vậy qua khai triển chỉ tiêu ROE chúng ta có thể thấy chỉ tiêu này đượccấu thành bởi ba yếu tố chính là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu, vòngquay tổng tài sản và hệ số nợ Từ đây, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể địnhhướng giải pháp tác động đến ba yếu tố này để gia tăng ROE, trong đó, việc giatăng hệ số nợ hay đòn bảy tài chính đơn thuần chỉ là thay đổi cách thức tài trợ vốn
Trang 21theo chiều hướng sử dụng nợ nhiều hơn sẽ có tác động khuếch đại khả năng sinh lợivốn chủ sở hữu
1.2.4 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chính là biểu kê nguồnvốn và sử dụng vốn (Bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn) Nó giúp nhàquản lý xác định rõ các nguồn cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn vốn đó
Để lập được biểu này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trênBảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở haicột: sử dụng vốn và nguồn vốn theo nguyên tắc:
- Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hoặc các khoản mục bên nguồn vốngiảm thì điều đó thể hiện việc sử dụng vốn
- Nếu các khoản mục bên tài sản giảm hoặc các khoản mục bên nguồn vốntăng thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn
Việc thiết lập Bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là cơ sở để chỉ ranhững trọng điểm đầu tư vốn và những nguồn vốn chủ yếu được hình thành để đầu tư
1.2.5 Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh
Trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho thấy chỉ tiêu doanh thu, chiphí và lợi nhuận có mối quan hệ ràng buộc nhau Khi tốc độ tăng doanh thu lớn hơntốc độ tăng chi phí dẫn đến lợi nhuận tăng và ngược lại Để đánh giá chung kết quảsản xuất kinh doanh ta lập bảng phân tích kết quả sản xuất kinh doanh qua các năm,qua đó ta thấy được xu hướng phát triển cũng như tổng thu nhập của doanh nghiệp,sau đó ta so sánh các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh Ngoài ra ta có thể phântích các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của từng hoạt động như chi phí bán hàng, chiphí quản lý, giá vốn hàng bán Từ đó đưa ra các biện pháp để làm tăng yếu tố có lợi,giảm yếu tố có hại cho doanh nghiệp
Ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng các khoản chi phí,các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp:
- Tỷ suất giá vốn hàng bán:
Tỷ suất giá vốn hàng bán = Giá vốn hàng bánDoanh thu thuần X 100%
Trang 22Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số doanh thu thu được, trị giá vốn hàng bánchiếm bao nhiêu phần trăm, hay cứ 100 đồng doanh thu thuần thu được doanhnghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng giá vốn hàng bán.
- Tỷ suất CPBH và CPQLDN trên DTT:
Doanh thu thuầnChỉ tiêu này phản ánh để thu được 1 đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệpphải mất bao nhiêu đồng chi phí bán hàng và chi phí quản lý
- Tỷ suất LNTT trên DTT:
Doanh thu thuầnChỉ tiêu này phản ánh 1 đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệp thu được baonhiêu đồng lợi nhuận trước thuế
- Tỷ suất LNST trên DTT:
Doanh thu thuần
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Nhân tố khách quan
Tự nhiên - Cơ sở hạ tầng
Yếu tố này tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, về cơbản thường tác động bất lợi đối với các hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt lànhững doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có liên quan đến tự nhiên
Để chủ động đối phó với các tác động của yếu tố tự nhiên, các doanh nghiệpphải tính đến các yếu tố tự nhiên có liên quan thông qua các hoạt động phân tích, dựbáo của bản thân doanh nghiệp và đánh giá của các cơ quan chuyên môn Các biệnpháp thường được doanh nghiệp sử dụng : dự phòng, san bằng, tiên đoán và cácbiện pháp khác Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp như vấn đềtiếng ồn, ô nhiễm môi trường và các doanh nghiệp phải cùng nhau giải quyết
Các yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn địnhcủa nền kinh tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hố đoái tất cả
Trang 23các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả những tháchthức với doanh nghiệp Để đảm bảo thành công của hoạt động doanh nghiệp trướcbiến động về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi, phân tích, dự báo biến độngcủa từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chính sách tương ứng trong từng thờiđiểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy cơ và
đe dọa Khi phân tích, dự báo sự biến động của các yếu tố kinh tế, để đưa ra kếtluận đúng, các doanh nghiệp cần dựa vào một số căn cứ quan trọng: các số liệu tổnghợp của kì trước, các diễn biến thực tế của kĩ nghiên cứu, các dự báo của nhà kinh
tế lớn
Văn hóa - Xã hội
Văn hóa - xã hội có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh doanhcủa một doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng tới năng lực tài chính của DN Doanhnghiệp cần phải phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội nhằm nhận biết các cơ hội vànguy cơ có thể xảy ra Mỗi một sự thay đổi của các lực lượng văn hóa có thể tạo ramột ngành kinh doanh mới nhưng cũng có thể xóa đi một ngành kinh doanh
Chính trị - Pháp luật
Chính trị - Pháp luật gồm các yếu tố chính phủ, hệ thống pháp luật, xu hướngchính trị Các nhân tố này ngày càng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanhnghiệp Sự ổn định về chính trị, nhất quán về quan điểm, chính sách lớn luôn là sựhấp dẫn của các nhà đầu tư
1.3.2 Nhân tố chủ quan
1.3.2.1 Đặc điểm kinh tế - kĩ thuật của ngành kinh doanh
Mỗi ngành nghề kinh doanh khác nhau có đặc điểm kinh tế - kĩ thuật riêng cóảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Do những đặc điểm
đó chi phối đến tỷ trọng đầu tư cho các loại tài sản trong doanh nghiệp, nhu cầu vốnlưu động…Bên cạnh đó, mỗi ngành nghề kinh doanh lại chịu tác động khác nhautrước những biến động của nền kinh tế vĩ mô
Đối với những doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm có chu kì kinh doanh ngắnthì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm không có biến động lớn, doanh
Trang 24nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng nên dễ dàng đảm bảo cân đối thuchi, cũng như đảm bảo nhu cầu vốn lưu động Còn đối với những doanh nghiệp sảnxuất sản phẩm có chu kì kinh doanh dài thì nhu cầu vốn lưu động lớn hơn Nhữngdoanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ thì vốn lưu động chiếm tỷtrọng cao hơn, tốc độ chu chuyển vốn lưu dộng cũng nhanh hơn so với ngành côngnghiệp, nông nghiệp
Định hướng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Đây là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanhnghiệp Nếu doanh nghiệp có định hướng phát triển đúng đắn và phù hợp với khảnăng tài chính của mình thì sẽ giảm thiểu các rủi ro tài chính và tránh thất thoátnguồn vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,giúp doanh nghiệp phát triển ổn định, bền vững
1.3.2.2 Trình độ tổ chức quản lý tài chính
Bên cạnh hai yếu tố trên, một yếu tố bên trong doanh nghiệp có ý nghĩa quyếtđịnh đến tình hình tài chính của doanh nghiệp là trình độ tổ chức quản lý của cácnhà quản trị trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vậnhành theo cơ chế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh nào đềuphải lựa chọn cho doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh của mình một cơ cấu tổ chứcquản lý riêng Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp, tổ chức làm ăn thua lỗ, phásản, phát triển chậm đều là do cơ cấu tổ chức quản lý chưa hợp lý, chưa phù hợp vớithực tiễn Vì vậy vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp , tổ chức là làm sao tìm chomình một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý Bởi lẽ khi có một cơ cấu tổ chức quản lýhợp lý thì mới cho phép sử dụng tốt các nguồn lực, giúp cho việc ra các quyết địnhđúng đắn và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quyết định đó, điều hoà phối hợp cáchoạt động nhằm đạt được mục đích chung đề ra
Doanh nghiệp có quy mô càng lớn, càng phức tạp thì hoạt động của của doanhnghiệp cũng phức tạp theo Do đó các nhà quản lý cần phải đưa ra một mô hình cơcấu quản lý hợp lý sao cho đảm bảo quản lý được toàn bộ hoạt động của doanhnghiệp đồng thời phải làm sao để bộ máy quản lý không cồng kềnh và phức tạp về
Trang 25mặt cơ cấu Còn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì bộ máy quản lý phảichuyên, tinh tế, gọn nhẹ để dễ thay đổi phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả SXKD cũng như cải thiện tình hình tàichính cho doanh nghiệp.
Để làm được điều đó, trước hết, lãnh đạo phải nhìn nhận được khả năng củatừng nhân viên và bố trí họ vào các công việc phù hợp, tạo điều kiện để họ phát huynăng lực bản thân Qua kinh nghiệm công việc, nhân viên sẽ vững vàng hơn và dầngánh vác bớt trách nhiệm cho lãnh đạo, đảm bảo cho hoạt động nhịp nhàng của bộmáy doanh nghiệp Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần lập hệ thống kiểm soát kế hoạchmột cách hiệu quả, khuyến khích từng phòng ban tự kiểm soát, đồng thời xây dựngbản mô tả công việc rõ ràng để mỗi nhân viên tự chấn chỉnh mình Doanh nghiệpcũng phải thúc đẩy sự chia sẻ thông tin giữa các cá nhân và các bộ phận trong doanhnghiệp, phải lấy sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban làm một trong những
cơ sở để điều chỉnh sơ đồ tổ chức
Trang 26CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XĂNG
DẦU DẦU KHÍ HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội
2.1.1 Những nét cơ bản về Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội
- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN XĂNG DẦU DẦU KHÍ HÀ NỘI
- Tên Tiếng Anh: Petrovietnam Oil Ha Noi Joint Stock Company
- Tên giao dịch: PV Oil Hà Nội
- Tên viết tắt: PV Oil Hà Nội
- Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân phù hợp với
pháp luật Việt Nam
- Địa chỉ: 194 Thái Thịnh, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
- Điện thoại: (84-4) 38563321 Fax: (84-4) 38563319
- Ngày thành lập: 1/12/2010 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế
Hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp: số 0105029292 cấp ngày 1/12/2011
- Logo: Sử dụng logo chung của Tổng Công ty Dầu Việt Nam – PV Oil
Quá trình hình thành và phát triển
Năm 1996, Công ty Chế biến và Kinh doanh sản phẩm dầu mỏ (PDC) đượcthành lập trên cơ sở sáp nhập Công ty dầu mỡ nhờn Vidamo và Ban quản lý Lọcdầu Dung quất với chức năng nhiệm vụ chính là bao tiêu và phân phối sản phẩmdầu mỏ từ nhà máy Lọc dầu Dung Quất để cung cấp cho thị trường trong nước vàđảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Tuy nhiên, giai đoạn 1996 – 2000, quá trìnhtriển khai xây dựng Nhà máy Lọc dầu Dung quất gặp phải những khó khăn kháchquan, nên hoạt động chính của Công ty PDC giai đoạn này là kinh doanh sản phẩmdầu mỡ nhờn
Năm 2000, Công ty PDC phát triển thêm một lĩnh vực kinh doanh mới, đó làkinh doanh xăng dầu Bắt đầu từ năm 1999, Công ty PDC đã phát triển mạng lướicác CHXD tại các Tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hoá, NghệAn
Trang 27Năm 2001, Công ty PDC chuyển trụ sở chính vào Thành phố Hồ Chí Minh và
đã thành lập tại phía Bắc Xí nghiệp Kinh doanh sản phẩm dầu Miền Bắc có nhiệm
vụ trực tiếp khai thác các thị trường dầu mỡ nhờn và xăng dầu tại khu vưc Bắc Bộthông qua tổng kho nhiên liệu đầu mối phía Bắc tại đảo Đình Vũ - Hải Phòng cócông suất 45.000m3
Tháng 6/2002, Hội đồng quản trị Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam tổ chức lạihoạt động của Công ty PDC, theo đó đã phê duyệt thành lập Xí nghiệp Dầu mỡnhờn Đông Hải trên cơ sở tách bộ phận sản xuất và kinh doanh Dầu mỡ nhờn từ Xínghiệp Kinh doanh sản phẩm dầu Miền Bắc đồng thời thành lập Xí nghiệp Xăngdầu Dầu khí Hà Nội với chức năng, nhiệm vụ chính là kinh doanh xăng dầu
Tháng 8/2007, Tổng Giám đốc Công ty PDC quyết định tổ chức lại hoạt độngcủa Xí nghiệp Xăng dầu dầu khí Hà Nội theo mô hình các Phòng chức năng, theo
đó bộ máy tổ chức của Xí nghiệp gồm 5 phòng Tổ chức Hành chính, Tài chính kếtoán, Kinh doanh xăng dầu, Kinh doanh Tổng hợp và Kỹ thuật đầu tư
Tháng 6/2008, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có Quyết định số 1250/QĐ-DKVNngày 06/6/2008 thành lập Tổng Công ty Dầu Việt Nam trên cơ sở hợp nhất giữaCông ty TNHH một thành viên Chế biến và Kinh doanh Sản phẩm Dầu mỏ (PDC)
và Tổng Công ty TNHH một thành viên Thương mại Dầu khí (Petechim)
Ngày 1/7/2008, Công ty Xăng dầu Dầu khí Miền Bắc được Hội đồng thành viênTổng Công ty Dầu Việt Nam thành lập theo Quyết định số 68/QĐ-DVN trên cơ sởhợp nhất Xí nghiệp Xăng dầu Dầu khí Hà Nội và Chi nhánh Tổng Công ty Thươngmại Dầu khí Petechim tại Hà Nội nhằm nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh củacác đơn vị thành viên Tổng Công ty Dầu Việt Nam tại thị trường xăng dầu trongnước và quốc tế
Ngày 16/11/2010, Công ty cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội được thành lậptrên cơ sở góp vốn của 3 cổ đông sáng lập gồm Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL); Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương (Ocean Bank) và Ngân hàngthương mại cổ phần Đông Nam Á (Seabank); Công ty cổ phần Xăng dầu Dầu khí
Hà Nội kế thừa nền tảng của Công ty Xăng dầu Dầu khí Miền Bắc
Ngày 01/12/2010, Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Hà Nội được Sở Kếhoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vàchính thức đi vào hoạt động
Trang 282.1.2 Các hoạt động kinh doanh cơ bản của Công ty
- Xuất nhập khẩu và kinh doanh sản phẩm dầu ở trong và ngoài nước
- Xuất nhập khẩu thiết bị, vật tư máy móc và dịch vụ thương mại
- Xây dựng hệ thống bồn chứa, phân phối và kinh doanh sản phẩm dầu
- Tổ chức liên doanh liên kết với các đối tượng trong và ngoài nước chế biến
và kinh doanh sản phẩm dầu
- Xuất nhập khẩu sản phẩm dầu và các sản phẩm có nguồn gốc từ dầu, hóa
chất, vật tư, thiết bị và phương tiện phục vụ công tác chế biến và kinh doanhsản phẩm dầu
- Kinh doanh vật tư, thiết bị, hóa chất trong lĩnh vực chế biến sản phẩm dầu
- Môi giới và cung ứng tàu biển vân tải dầu thô và sản phẩm dầu, Đại lý tàu
biển, môi giới và cung ứng tàu biển
- Dịch vụ cho thuê bồn, bể chứa xăng dầu cho thuê kho bãi
- Mua bán phân bón, các sản phẩm hóa dầu
Nguồn: Phòng Tổ chức Hành chính của Công ty
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty