Bài viết giới thiệu 3 mô hình quy nạp, từ đó thiết kế ví dụ minh họa vận dụng các mô hình trên vào dạy học một số khái niệm giải tích trong chương trình lớp 11 trung học phổ thông theo hướng tăng cường tính tích cực, chủ động của học sinh và đặc biệt giúp học sinh hiểu được sâu sắc nghĩa của khái niệm.
Trang 1TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
THEO HƯỚNG KIẾN TẠO KHI DẠY HỌC CÁC KHÁI NIỆM GIẢI TÍCH
TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI CÁC MÔ HÌNH QUY
NẠP
Lê Thị Bạch Liên1, Phạm Thị Sen Giang1
1 Trường Đại học Quảng Bình
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 16/03/2018
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
18/05/2018
Ngày chấp nhận đăng:
06/2018
Title:
Motivating active learning of
students through teaching
Analytics concepts of the 11th
grade within inductive models
Keywords:
Concepts teaching, Analytics,
inductive, positive, learning
activities, constructive
Từ khóa:
Dạy học khái niệm, giải tích,
quy nạp, tích cực, hoạt động
học tập, kiến tạo
ABSTRACT
Nowadays, motivating active learning among students is one of the teaching trends not only in Viet nam but also on over the world There are many ways
to enhance the positivity of students when teaching mathemitical concepts, in which, the inductive method plays an important role, especially through teaching constructive theories This paper presents three inductive models, then represents examples in order to apply those models into teaching Analytics concepts in the 11th-grade program at high school to motivate the positivity and initiation of students, especially to help students understand the meaning of the concepts deeply
TÓM TẮT
Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh là một trong những xu hướng dạy học hiện nay không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới Có nhiều con đường để phát huy tính tích cực của học sinh khi hình thành khái niệm toán học, trong đó con đường quy nạp đóng một vai trò quan trọng, đặc biệt trong
xu hướng dạy học theo lý thuyết kiến tạo hiện nay Bài viết giới thiệu 3 mô hình quy nạp, từ đó thiết kế ví dụ minh họa vận dụng các mô hình trên vào dạy học một số khái niệm giải tích trong chương trình lớp 11 trung học phổ thông theo hướng tăng cường tính tích cực, chủ động của học sinh và đặc biệt giúp học sinh hiểu được sâu sắc nghĩa của khái niệm
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp
dạy học và kiểm tra đánh giá ở các trường phổ
thông theo định hướng phát triển năng lực học
sinh trên tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi
mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo, việc thay
đổi từ dạy học theo cách tiếp cận nội dung
sang dạy học phát triển năng lực cho học sinh là
một hệ quả tất yếu Nếu như dạy học tiếp cận nội
dung là dạy cho học sinh biết cái gì thì dạy học phát triển năng lực là dạy học sinh làm được những gì trên cơ sở các em đã biết Trong dạy học nên tránh các cách dạy mà qua đó học sinh tiếp thu kiến thức toán học như “đã làm sẵn” hay “đã hình thành” Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn, quy nạp có vai trò lớn trong việc rèn luyện trí thông minh cho học sinh, ông chỉ ra rằng, việc dạy toán chỉ với mục đích “truyền thụ kiến thức” sẽ dẫn tới
Trang 2việc coi trọng suy diễn và coi nhẹ quy nạp Nhưng
nếu đặt vấn đề “rèn luyện óc thông minh sáng
tạo” cho học sinh thì vai trò của “quy nạp” sẽ lên
ngang với “suy diễn” (Nguyễn Cảnh Toàn, 1997)
Lý thuyết kiến tạo như là một triết học không phải
là mới, nhưng việc thực hành lý thuyết đó vào nền
giáo dục hiện đại vẫn còn đang ở giai đoạn định
hình Đến nay đã có nhiều nghiên cứu về các
phương pháp dạy học đổi mới theo hướng kiến
tạo Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu tập
trung bàn về việc sử dụng các mô hình quy nạp để
làm rõ hơn con đường kiến tạo khái niệm cho học
sinh khi dạy học các khái niệm giải tích trong
chương trình lớp 11 trung học phổ thông (THPT)
hiện nay ở Việt Nam Các tài liệu hiện hành về
phương pháp dạy học Toán hiện nay đưa ra chưa
nhiều mô hình cụ thể cho việc hình thành khái
niệm toán theo con đường quy nạp nên sinh viên
ngành Sư phạm Toán và giáo viên Toán đã gặp
nhiều khó khăn trong quá trình hình thành khái
niệm cho học sinh theo con đường quy nạp Vì
vậy, việc đưa ra nhiều mô hình hình thành khái
niệm trong Toán học nói chung và trong giải tích
nói riêng theo con đường quy nạp là một yêu cầu
cần thiết hiện nay Các khái niệm giải tích khá
mới mẻ với học sinh lớp 11 khi từ trước đến nay
các em chỉ quen thuộc với khái niệm đại số Việc hiểu và vận dụng được các khái niệm này lại càng khó khăn Mặt khác, các khái niệm về giới hạn và đạo hàm là những khái niệm cơ bản của giải tích, việc nắm vững các khái niệm này vừa giúp các em tiếp cận thành công một khía cạnh mới của Toán học vừa là tiền đề giúp các em tìm hiểu các nội dung khác của giải tích
2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trước hết, chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt các quan điểm về lý thuyết kiến tạo, quy nạp khoa học và các mô hình hình thành khái niệm theo con đường quy nạp (Nguyễn Phú Lộc, 2010) Từ đó, chúng tôi sẽ làm rõ quy trình vận dụng các mô hình quy nạp theo quan điểm kiến tạo vào dạy học một số khái niệm giải tích trong chương trình toán lớp 11 THPT
2.1 Lý thuyết kiến tạo
Lý thuyết kiến tạo (constructivism) được đề xuất
vào khoảng những năm 60 của thế kỷ 20 bởi Jean Piaget (1896 – 1980), nhà tâm lý học và triết học người Thụy Sĩ Từ đó cho tới nay, nó đã ảnh hưởng sâu rộng trong giáo dục và trở thành một
xu hướng hiện đại được nhiều nước phát triển trên thế giới quan tâm
Trang 3Hình 1 Chu trình kiến tạo tri thức mới
Lý thuyết kiến tạo cơ bản được trình bày dựa trên
hai nguyên tắc sau (Von Glasersfeld, 1989):
• Tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi
chủ thể nhận thức chứ không phải được tiếp
thu một cách thụ động từ môi trường bên
ngoài
• Nhận thức là quá trình điều ứng và tổ chức lại
thế giới quan của chính mỗi người Nhận thức
không phải là khám phá một thế giới độc lập
đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể
Như vậy, theo quan điểm kiến tạo, kiến thức được
học sinh hình thành chứ không phải áp đặt lên học
sinh qua môi trường bên ngoài Giáo viên không
thể truyền đạt sự hình thành khái niệm của mình
đến đầu óc của học sinh mà chỉ có thể truyền tải
các thông tin cần thiết để các em sử dụng các
thông tin đó như một nguồn có ích cho sự hình
thành khái niệm (Trần Vui, 2017) Học sinh xây
dựng nên kiến thức cho chính mình bằng cách thử
nghiệm các ý tưởng từ những kinh nghiệm và hiểu
biết đã có, từ đó áp dụng những hiểu biết này vào
tình huống mới và liên kết với những kiến thức
mới Con đường kiến tạo tri thức của học sinh
được mô tả như trong Hình 1 Chu trình này bắt
đầu từ kiến thức đang có của học sinh để hình thành kiến thức mới Kiến thức “mới” nhanh chóng trở thành kiến thức “cũ” và chu trình kiến tạo mới lại bắt đầu và phát triển không ngừng theo nhiều vòng rộng dần ra để làm giàu tri thức cho người học Trong quá trình kiến tạo tri thức, học sinh có thể phải trải qua nhiều lần thất bại để có được một tri thức mới Người giáo viên cần động viên, hỗ trợ học sinh để các em có đủ niềm tin và động lực trong quá trình kiến tạo tri thức
2.2 Quy nạp khoa học
Quy nạp khoa học là phép quy nạp không hoàn toàn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu một bộ phận cần khái quát Song quy nạp khoa học có đặc trưng là kết luận của nó phản ánh chính xác các dấu hiệu bản chất của cả lớp rút ra từ một bộ phận đối tượng thông qua mối liên hệ tất yếu của các đối tượng trong lớp Quy nạp khoa học dựa trên
cơ sở thiết lập các mối liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng Để xây dựng các mô hình hình thành khái niệm theo con đường quy nạp, chúng tôi dựa vào ba phương pháp để xác định mối liên hệ nhân quả của các hiện tượng của John Stuart Mill
(1843) sau đây: phương pháp tương đồng, phương
pháp cộng biến và phương pháp loại trừ
Hình 2 Sơ đồ mô tả phương pháp tương đồng
Phương pháp tương đồng được Mill xem là
phương pháp quan sát bởi dựa vào việc quan sát
các trường hợp để rút ra những yếu tố nào đó có
mặt trong mọi trường hợp đang xét Sơ đồ của
phương pháp này được mô tả tóm tắt như trong Hình 2
Phương pháp cộng biến và phương pháp loại trừ
được mô tả theo các sơ đồ như sau:
Hiện tượng a xuất hiện trong
các điều kiện A,
Hiện tượng a xuất hiện trong
các điều kiện A,
Hiện tượng a xuất hiện trong
các điều kiện A,
Có thể điều kiện A là nguyên nhân của hiện tượng a
Trang 4Hình 3 Sơ đồ mô tả phương pháp cộng biến
Hình 4a Sơ đồ mô tả phương pháp loại trừ
Hiện tượng a xuất hiện trong
các điều kiện A,
B, C
Hiện tượng a1 xuất hiện trong các điều kiện
A 1 , B, C
Hiện tượng a2 xuất hiện trong các điều kiện
A 2, B, C
Có thể điều kiện A là nguyên nhân của hiện tượng a
Hiện tượng a, b, c xuất hiện trong các
điều kiện A, B, C
Hiện tượng b xuất hiện trong điều kiện B
Hiện tượng c xuất hiện trong điều kiện C
Có thể điều kiện A là nguyên nhân của hiện tượng a
Trang 5Hình 4b Sơ đồ mô tả phương pháp loại trừ
2.3 Các mô hình hình thành khái niệm theo con đường quy nạp
2.3.1 Mô hình quan sát – tìm kiếm
Mô hình gồm ba bước được mô tả như trong Hình 5 Bước chính yếu nhất trong mô hình này là học sinh tìm kiếm các tính chất chung trong các ví dụ được giáo viên đưa ra trước
Hình 5 Mô hình quan sát – tìm kiếm
Mô hình quan sát – tìm kiếm có thể được tiến hành theo sơ đồ kiến tạo tri thức như sau:
Hình 6 Sơ đồ kiến tạo khái niệm với mô hình quan sát – tìm kiếm
2.3.2 Mô hình quan sát – tìm đoán
Mô hình này được đề xuất dựa trên phương pháp
tương đồng (Hình 2) và phương pháp loại trừ theo
sơ đồ thứ hai của Mill (Hình 4b), cũng gồm ba
bước tương tự như trong mô hình quan sát – tìm
kiếm (Hình 7) Tuy nhiên, nếu trong mô hình
quan sát – tìm kiếm học sinh có thể quan sát các
ví dụ để nhận ra các đặc điểm chung cần thiết thì
trong mô hình này, học sinh cần phải tích cực tư
duy hơn để phán đoán ra các đặc trưng (theo định hướng của giáo viên) ẩn chứa bên dưới các ví dụ
Do vậy, điểm cần chú ý trong mô hình này là ở bước thứ nhất, giáo viên nên đưa số lượng ví dụ ít hơn nhưng có nhiều đặc điểm chung hơn so với
mô hình quan sát – tìm kiếm và nên có nhiều yếu
tố gây “nhiễu” nhằm kích thích học sinh tư duy, tìm tòi, phán đoán
Hiện tượng a xuất hiện trong các điều
kiện A, B, C
Hiện tượng a xuất hiện trong các
điều kiện A, C
Có thể điều kiện A là nguyên nhân của hiện tượng a
Hiện tượng axuất hiện trong các điều
kiện A, B
Bước 1 Quan sát
Học sinh quan sát
các ví dụ liên quan
đến khái niệm
Bước 2 Tìm kiếm
Học sinh tìm ra thuộc tính chung, đặc trưng của các đối tượng đang xem xét
Bước 3 Kết luận
Khái quát hóa từ đặc điểm chung để được định nghĩa khái niệm
Giáo viên đặt vấn đề, đưa
ra các ví dụ phù hợp để
hình thành khái niệm mới
Giáo viên nhận xét, đánh giá các ý kiến của học sinh, kết luận tên khái niệm và các đặc trưng của khái niệm
Học sinh dựa trên những kiến thức đã biết, thảo luận theo nhóm tìm các tính chất chung
Giáo viên khuyến khích học sinh trình bày, bảo vệ ý kiến
trước lớp
Học sinh phát biểu định nghĩa khái niệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên Tri thức mới
Trang 6Hình 7 Mô hình quan sát – tìm đoán cho dạy học khái niệm
Bước quan trọng nhất trong mô hình này là bước
2, giáo viên nên khuyến khích, động viên học sinh
đưa ra ý kiến cá nhân nhận xét về các đặc điểm
chung của các đối tượng đang xem xét và hướng
về đặc điểm mà người giáo viên mong muốn bằng
câu hỏi: “Trong các ví dụ trên có chung tính chất
a (hay một số tính chất) mà thầy (cô) đặc biệt chú
ý, các em hãy đoán xem đó là tính chất gì?” Mỗi
khi học sinh chỉ ra một tính chất không là a, giáo
viên cho thêm ví dụ có tính chất a mà không có tính chất học sinh vừa đưa ra nhằm bác bỏ ý kiến của học sinh Cứ như thế, đến khi học sinh rút ra đúng tính chất a cần dùng để định nghĩa (Hình 8) Nếu sau một thời gian nhất định (theo kế hoạch của giáo viên) học sinh không tìm ra tính chất a để định nghĩa thì giáo viên có thể tự cho thêm một ví
dụ và phản ví dụ, hoặc giáo viên gợi ý (nếu cần) sao cho học sinh dễ nhận ra tính chất a
Hình 8 Sơ đồ kiến tạo khái niệm với mô hình quan sát – tìm đoán
Bước 1 Quan sát
Học sinh quan sát
các ví dụ liên quan
đến khái niệm
Bước 2 Tìm đoán
Học sinh phân tích để
phán đoán ra thuộc tính
đặc trưng theo định hướng của giáo viên
Bước 3 Kết luận
Khái quát hóa từ đặc điểm chung để được định nghĩa khái niệm
Thuộc tính a phù hợp
Thuộc tính a không phù hợp
Giáo viên đặt vấn đề, đưa ra các ví dụ phù
hợp để hình thành khái niệm mới
Học sinh dựa trên những kiến thức đã biết,
thảo luận theo nhóm, dự đoán một tính chất
chung a theo định hướng của giáo viên
Giáo viên kết luận, giới thiệu tên và các thuộc
tính đặc trưng của khái niệm
Cho ví dụ không chứa thuộc tính a
Trang 72.3.3 Mô hình cộng biến
Hình 9 Mô hình cộng biến cho dạy học khái niệm
Mô hình này được đề xuất trên cơ sở tư tưởng
phương pháp cộng biến (Hình 3) và phương pháp
loại trừ theo sơ đồ thứ nhất của Mill (Hình 4a)
Trong mô hình cộng biến, việc dạy học một khái
niệm có thể tiến hành theo ba bước: quan sát, phát
hiện và kết luận (Hình 9) Điểm cần lưu ý khi vận
dụng mô hình này là ở bước thứ nhất, giáo viên
cần khéo léo thiết kế các ví dụ sao cho học sinh
thấy được khi thay đổi các điều kiện quan trọng
thì hiện tượng cũng thay đổi theo Và ở bước thứ hai, giáo viên nên dẫn dắt học sinh phát hiện ra các đặc điểm của từng ví dụ, từ đó phân tích, so sánh để thấy đâu là nguyên nhân gây ra sự thay đổi của hiện tượng và đó cũng chính là thuộc tính bản chất của khái niệm cần định nghĩa Có thể kiến tạo khái niệm theo mô hình này như sơ đồ ở Hình 10
Hình 10 Sơ đồ kiến tạo khái niệm theo mô hình cộng biến
2.4 Vận dụng các mô hình hình thành khái
niệm theo con đường quy nạp vào dạy học
một số khái niệm giải tích trong chương
trình môn Toán lớp 11 THPT
Trong phần này, chúng tôi sẽ vận dụng các mô
hình vừa trình bày ở phần trên để thiết kế một số
tình huống dạy học các khái niệm giải tích trong
chương trình môn Toán lớp 11 THPT: cấp số
cộng, hàm số liên tục và đạo hàm của hàm số tại
một điểm
2.4.1 Dạy học khái niệm cấp số cộng
2.4.1.1 Sử dụng mô hình quan sát - tìm kiếm
Bước 1 Quan sát
Cho ba dãy số (1), (2), (3) như sau:
(1) 1, 2, 3, 4, 5, 6,…
(2) 3, 1, -1, -3, -5,…
(3) -5, -2, 1, 4, 7, 10,…
Bước 2 Tìm kiếm Giáo viên: Ba dãy số này cùng có chung một tính chất
Dựa vào các tính chất về dãy số đã được học, các em hãy tìm xem tính chất chung đó là gì?
Học sinh thảo luận theo nhóm để đưa ra các đặc điểm chung như: số nguyên, dãy tăng, bị chặn dưới, số hạng đứng sau bằng số hạng đứng kề trước cộng cùng một số…
Bước 1 Quan sát
Học sinh quan sát một số ví
dụ trong đó có một nguyên
nhân gây ra sự thay đổi của
một hiện tượng
Bước 2 Phát hiện
Dẫn dắt học sinh phân tích để rút ra nguyên nhân của hiện tượng
Bước 3 Kết luận
Khái quát hóa từ đặc điểm chung để được định nghĩa khái niệm
Giáo viên đặt vấn đề, đưa ra lần lượt
các ví dụ, ví dụ sau mở rộng từ ví dụ
trước bằng cách thêm (bớt) một vài
giả thiết phù hợp để học sinh quan sát
sự thay đổi
Học sinh dựa trên những kiến thức đã biết, phân tích, dự đoán nguyên nhân làm thay đổi các đặc điểm của đối tượng đang
xem xét
Giáo viên kết luận, giới thiệu tên và các thuộc tính đặc trưng của khái niệm
Học sinh phát biểu định nghĩa khái niệm Tri thức mới
Trang 8Giáo viên khuyến khích học sinh đưa ra các ý
kiến, đưa ra các lập luận để bảo vệ ý kiến của
mình, không nên vội vàng kết luận tính đúng sai
các ý kiến của học sinh
Bước 3 Kết luận, phát biểu định nghĩa
Giáo viên kết luận tính chất chung chính xác của ba
dãy số đã cho là: dãy số nguyên có tính chất kể từ
số hạng thứ hai trở đi, mỗi số hạng đều bằng số
hạng đứng kề trước cộng với một số không đổi
Giáo viên nêu tên khái niệm “cấp số cộng” và tổ
chức cho học sinh phát biểu định nghĩa
Lưu ý rằng để học sinh có thể dễ dàng khái quát
hóa chính xác định nghĩa, giáo viên có thể đưa ra
một dãy số không nguyên có cùng tính chất đó ở
trong ví dụ ban đầu Nếu học sinh không nêu ra
được đặc điểm cần dùng để định nghĩa cấp số
cộng thì giáo viên có thể gợi ý: tìm mối liên hệ
giữa số đứng sau với số đứng kề trước nó?
Như vậy, vấn đề quan trọng nhất khi vận dụng mô
hình này là giáo viên cần thiết kế các ví dụ sao
cho các tính chất chung của các đối tượng trong ví
dụ vừa đủ để định nghĩa khái niệm, nếu thiếu hoặc
thừa tính chất thì dễ gây khó khăn cho học sinh
Và người giáo viên cần khéo léo dẫn dắt để học
sinh phát biểu được định nghĩa chính xác
2.4.1.2 Sử dụng mô hình quan sát – tìm đoán
Bước 1 Quan sát
Cho hai dãy số (1), (2) như sau:
(1) 1, 2, 3, 4, 5, 6,…
(2) 3, 6, 9, 12, 15,…
Bước 2 Tìm đoán
Giáo viên: Hai dãy số trên có một đặc điểm giống
nhau mà thầy cô đặc biệt chú ý, các em thử dự
đoán xem đặc điểm đó là đặc điểm gì?
Khả năng 1: Nếu học sinh phát hiện ra ngay đặc
điểm: số hạng đứng sau bằng số hạng đứng kề
Khả năng 2: Nếu học sinh đưa ra đặc điểm: dãy số
dương, giáo viên cho biết đó là một đặc điểm chung của hai dãy số đó nhưng chưa phải là đặc điểm mà thầy cô muốn nhắc tới và đưa ra thêm dãy thứ ba cũng có tính chất này mà không phải dãy số dương để phủ nhận ý kiến học sinh: (3) -5, -2, 1, 4, 7, 10,…
Khả năng 3: Nếu học sinh đưa ra đặc điểm: dãy số
tăng, giáo viên cũng nhận xét như trên và đưa ra thêm dãy thứ tư cũng có tính chất này mà không phải dãy số tăng để phủ nhận ý kiến học sinh: (4) 10, 5, 0, -5, -10,…
Nếu học sinh dự đoán chưa đúng, giáo viên lặp lại quá trình tương tự như trên sao cho cuối cùng học sinh dự đoán đúng (gợi ý nếu cần)
Bước 3 Kết luận, phát biểu định nghĩa
Giáo viên nêu tên khái niệm “cấp số cộng” và tổ chức cho học sinh phát biểu định nghĩa
Như vậy, điểm khác biệt khi vận dụng mô hình quan sát – tìm kiếm và mô hình quan sát – tìm đoán là cách người giáo viên thiết kế ví dụ và tạo tình huống có vấn đề Tùy vào nội dung khái niệm, đối tượng học sinh, mục đích dạy học,… để người giáo viên lựa chọn mô hình phù hợp
2.4.2 Dạy học khái niệm hàm số liên tục
Khi dạy học khái niệm hàm số liên tục, chúng ta có thể sử dụng mô hình cộng biến như sau
Bước 1 Quan sát
Giáo viên đưa ra bài toán sau: Tính
1
lim ( ),
trong đó
2 1
1
x
f x x
Giáo viên gọi một học sinh lên bảng tính giới hạn này Trong khi học sinh tính giới hạn, giáo viên vẽ
đồ thị của hàm số (1) (Hình 11)
Trang 9
Hình 11 Đồ thị hàm số
2 1
1
x
y f x
x
Bây giờ mở rộng hàm số (1) thành hàm số (2) như
sau:
2
1
1
x
khi x
khi x
Bước 2 Phát hiện
Giáo viên yêu cầu học sinh nêu các đặc điểm, tính chất của hàm số (2), so sánh với hàm số (1)
Học sinh: hàm số (2) xác định tại x = 1; f(1) = 3,
và 1
lim ( ) 2,
Giáo viên vẽ đồ thị hàm số (2) (Hình 12) và nhận xét: hàm số (2) xác định tại x = 1 với f(1) = 3, và 1
lim ( ) 2,
nhưng đồ thị của (2) vẫn bị “đứt”
tại (1,2) Tại sao?
Học sinh: Vì
1
lim ( ) (1).
Giáo viên: Vậy, cần thay f(1) của hàm số trên
bằng bao nhiêu để đồ thị trên không bị “đứt”?
Học sinh: Đồ thị của hàm số là một đường thẳng
không bị “đứt” tại điểm (1,2) khi f(1) = 2
Hình 12 Đồ thị hàm số (2) Hình 13 Đồ thị hàm số (3)
Bước 3 Kết luận
Giáo viên: Như vậy chúng ta xét hàm số
2
1
1
x
khi x
khi x
có đồ thị như ở Hình
13 là một đường liền nét và
1
lim ( ) 2 (1).
Trong trường hợp này, người ta nói rằng hàm số (3)
liên tục tại x = 1 Một cách tổng quát, các em thử phát biểu định nghĩa hàm số liên tục tại một điểm
2.4.3 Dạy học khái niệm đạo hàm
Khi dạy học khái niệm đạo hàm, ta có thể sử dụng mô hình quan sát – tìm kiếm như sau:
Bước 1 Quan sát
Xét hai ví dụ sau đây:
Trang 10Ví dụ 1
Cho hàm số f(x) = - x 2 +4 có đồ thị (P) như hình vẽ, điểm A thuộc
(P) có hoành độ bằng 1 Xét điểm M thuộc (P) có hoành độ 1 + h,
h là một số khác 0, nhưng rất gần với số 0
a Chứng minh hệ số góc của đường thẳng AM là:
1 1
m
h
b Tính giới hạn k của m khi h dần tới 0?
c Vẽ đường thẳng d đi qua A, có hệ số góc k tìm được ở câu b
Nhận xét về đường thẳng AM khi h dần tới 0
Giáo viên dẫn dắt học sinh làm câu a và tính được giới hạn:
h
Từ đó viết được phương trình của đường thẳng d:
y x
Học sinh nhận xét được khi h dần tới 0 thì đường thẳng AM
trùng vào đường thẳng d (Giáo viên có thể sử dụng các phần
mềm hình học động để cho học sinh quan sát thấy)
Giáo viên giới thiệu đường thẳng đó được gọi là tiếp tuyến của
đồ thị hàm số f(x) tại điểm x = 1 và yêu cầu học sinh nhận xét về
hệ số góc của tiếp tuyến
Học sinh: Hệ số góc của tiếp tuyến của đồ thị hàm số f(x) tại
Ví dụ 2 Cho một ô tô chuyển động thẳng Quãng đường s của ô tô chuyển động
là một hàm số của thời gian t: s = s(t) Hãy tìm một đại lượng đặc trưng cho độ nhanh chậm của chuyển động tại thời điểm t 0
Giáo viên: Trong khoảng thời gian từ 0
t đến t, ô tô đi được quãng đường bao nhiêu?
Học sinh: Quãng đường đi được là
0 ( ) ( ).0
Giáo viên: Xét
0 0
Có nhận xét gì về tỉ số này khi ô tô chuyển động đều?
Học sinh: Tỉ số trên là một hằng số Giáo viên nhận xét nếu chuyển động không đều thì tỉ số trên là vận tốc trung bình của chuyển động trong khoảng thời giant t 0 Khi t càng gần t0 , tức là t t 0 càng nhỏ thì vận tốc trung bình càng thể hiện được chính xác hơn mức độ nhanh chậm của chuyển động tại thời điểm t0
Từ đó, ta có đại lượng đặc trưng cho
độ nhanh chậm của chuyển động tại thời điểm t0, hay còn gọi là vận tốc tức thời vtt của chuyển động tại thời điểm t0 được tính bằng công thức:
0