Cần có sự thay đổi nhanhchóng trong cách quản lý nhà nước trong Công nghệ thông tin 1.4 Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủđiện tử Đẩy mạnh phát triển Chín
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ “Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài
liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích daẫn và thamchiếu đầy đủ
Học viên
Lương Thị Nguyên An
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC HÌNH VẼ v
MỞ ĐẦU 1
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tới đề tài 1
2 Tính cấp thiết của đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6
6 Đóng góp của luận văn 8
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 9
1.1 Khái niệm, nội dung Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước 9
1.1.1 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước 12
1.1.2 Nội dung ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước 18
1.2 Ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước các cấp Trung ương, Tỉnh, Quận (huyện) 20
1.2.1 Ứng dụng CNTT ở Trung ương 20
1.2.2 Ứng dụng CNTT ở Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương 22
1.2.3 Ứng dụng CNTT ở cấp Quận, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh 24
1.3 Kinh nghiệm ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước 26
1.3.1 Nước ngoài 26
1.3.2 Trong nước 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 36
2.1 Khái quát về hệ thống quản lý nhà nước thành phố Cẩm Phả 36
Trang 32.1.1 Khái quát chung về thành phố Cẩm Phả 36
2.1.2 Hệ thống quản lý của chính quyền 38
2.1.3 Khái quát thực trạng triển khai ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh 40
2.2 Thực trạng của việc triển khai ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả 44
2.2.1 Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước 44
2.3.2 Các chương trình Ứng dụng công nghệ thông tin đang được triển khai tại địa bàn thành phố 45
2.3.3 Trình độ nhân lực 48
2.3 Đánh giá chung của ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả 49
2.3.1 Thành quả đạt được 49
2.3.2 Hạn chế 53
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 58
3.1 Phương hướng của ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh 58
3.1.1 Trong nội bộ cơ quan nhà nước 58
3.1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp 59
3.2 Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả 62
3.2.1 Bài học kinh nghiệm từ nước bạn 62
3.2.2 Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả 63
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 1 2
PHIẾU KHẢO SÁT 2
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
Chính phủ điện tử: CPĐT
Công nghệ thông tin: CNTT
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1: Mô hình các cơ quan chuyên môn tổ chức hành chính của Việt Nam 20
Hình 2: Khung Kiến trúc Chính quyền điện tử 20
Hình 3: Khung Kiến trúc Chính quyền điện tử cấp tỉnh 22
Hình 4: Mô hình Khung kiến trúc Chính quyền điện tử cấp huyện 24
Hình 6: Sơ đồ hệ thống cơ quan quản lý tại thành phố Cẩm Phả 38
Hình 7: Mô hình Chính phủ điện tử ở thành phố Cẩm Phả 39
Hình 7: Mô hình kiến trúc Chính quyền điện tử của tỉnh Quảng Ninh 41
DANH MỤC HÌNH VẼ Bảng 1: Chất lượng công chức, viên chức đối của thành phố Cẩm Phả 48
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tới đề tài
1.1 Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh VĩnhPhúc – Thực trạng và giải pháp (2006), Luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý củaNguyễn Bá Hiến, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chính Minh
Sau khi đưa ra các vai trò và một số đặc điểm về công nghệ thông tin, tác giảđưa ra kinh nghiệm của một số địa phương trong nước, rồi đến thực trạng ứng dụngcông nghệ thông tin của tỉnh Vĩnh Phúc Đánh giá kết quả đạt được và hạn chế tồnđọng Cuối cùng tác giá đưa ra được đề xuất giải pháp nhằm ứng dụng công nghệthông tin trong phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc
Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, tính cập nhật của đề xuấtnày đã không còn tối ưu Cần được nghiên cứu và phát triển trong thời gian sắp tới.1.2 Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin vàtruyền thông”
Theo đó, mục tiêu tổng quát của đề án là phát triển nguồn nhân lực công nghệthông tin đạt tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng công nghiệp công nghệ thông tin, đặcbiệt là công nghệ phần mềm, nội dung số và dịch vụ trở thành ngành kinh tế mũinhọn, góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP và xuất khẩu; thiết lập hạ tầngviễn thông băng rộng trên phạm vi cả nước; ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tintrong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
1.3 Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ chính trị Về đẩy mạnh ứng dụng
và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Chỉ thị 58 đã xác định được “Công nghệ thông tin là một trong các động lựcquan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đanglàm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại Ứngdụng và phát triển công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triểnnhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của cácdoanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc dân,nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng và tạo khả
Trang 7năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.Đây là một trong những bước tiền đề quan trọng trong sự phát triển công nghệthông tin ở nước ta.
Tuy nhiên, cho đến nay khi việc bùng nổ của Internet và các mạng xã hộiGoogle, Facebook…tại các thị trường phát triển, khi đánh giá sự phát triển của côngnghệ thông tin, người ta nhìn vào thị trường nơi các công ty công nghệ chạy đua vớinhau tung ra các sản phẩm sáng tạo, chứ không nhìn vào quản lý nhà nước vì quản
lý nhà nước thường đi sau sự phát triển của thị trường Cần có sự thay đổi nhanhchóng trong cách quản lý nhà nước trong Công nghệ thông tin
1.4 Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủđiện tử
Đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạtđộng của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốthơn Nâng vị trí của Việt Nam về Chính phủ điện tử theo xếp hạng của LHQ Côngkhai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng
1.5 Quyết định số 1819/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/10/2015phê duyệt “Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt độngcủa cơ quan nhà nước giai đoạn 2016-2020.”
Chương trình hướng tới mục tiêu cung cấp các dịch vụ công cơ bản trực tuyếnmức độ 4 để đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc,mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau, giúp giảm thời gian thực hiện cácthủ tục hành chính; Ứng dụng hiệu quả Công nghệ thông tin trong hoạt động của cơquan nhà nước, nhằm tăng tốc độ xử lý công việc, giảm chi phí hoạt động; Pháttriển hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo nền tảngphát triển Chính phủ điện tử, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, tích hợp, kết nốicác hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trên quy mô quốc gia, tạo lập môi trường chia
sẻ thông tin qua mạng giữa các cơ quan trên cơ sở Khung kiến trúc Chính phủ điện
tử Việt Nam
1.6 Kế hoạch ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin tỉnh Quảng Ninh giaiđoạn 2016-2020
Trang 8Kế hoạch của tỉnh đã đánh giá được tình hình tổng quát về ứng dụng côngnghệ thông tin của toàn tỉnh, đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu và đề ra nhữngmục tiêu mà tỉnh cần đạt được trong ứng dụng công nghệ thông tin Cụ thể mục tiêutrong các mảng về Hạ tầng công nghệ thông tin, Ứng dụng công nghệ thông tin,Đảm bảo an toàn thông tin, Xây dựng và phát triển doanh nghiệp điện tử, Côngnghiệp công nghệ thông tin, Nguồn nhân lực công nghệ thông tin Trong kế hoạch,tỉnh cũng đưa ra được những nội dung cần thực hiện và giải pháp để đẩy mạnh thựchiện từng giai đoạn của mục tiêu, phân bổ các nguồn lực và ngân sách thực hiện 1.7 Quy hoạch phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin Quảng Ninh đếnnăm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Bản quy hoạch đã đánh giá tổng quan về tình hình phát triển kinh tế củaQuảng Ninh, qua đó đánh giá vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trên đia bàn.Việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay ra sao, tồn tại những hạn chế, khó khăn
gì để đưa ra những định hướng giải pháp và xu hướng phát triển
Tuy nhiên, về cơ chế chính sách tỉnh chưa có cơ chế hỗ trợ, ưu đãi cho cán bộchuyên trách công nghệ thông tin nên rất khó khăn trong việc tuyển dụng, thu hútnguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc trong cơ quan nhà nước tại tỉnh Ngoài
ra tỉnh chưa có chính sách phát triển và bảo hộ tác quyền để phát triển công nghiệpphần mềm
1.8 Government and E-Governance: Definitions/Domain Framework andStatus around the World by C Jain Palvia and S Sharma, 2007
Cuốn sách phân tích đầy đủ và chi tiết về Khái niệm Chính phủ điện tử, các
mô hình giao dịch của Chính phủ điện tử… cho tác giả cái nhìn tổng quan nhất vềChính phủ điện tử cũng như những lợi ích của nó đem lại
Nhìn chung, hầu hết các công trình nghiên cứu trên chỉ khái quát các vấn đềchung, chưa liên quan trực tiếp đến ứng dụng quản công nghệ thông tin trong quản
lý nhà nước đối với từng địa phương cụ thể
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ kế thừa có chọn lọc một số ý trong côngtrình nghiên cứu có liên quan, kết hợp với phân tích thực trạng tại thành phố CẩmPhả để thực hiện nhiệm vụ đề tài
Trang 92 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghệ thông tin đóng vai trò ngày càng thiết yếu trong cuộc sống hàngngày của mỗi chúng ta Trong những năm gần đây, sự bùng nổ của công nghệ thôngtin cùng với một số ngành công nghệ cao khác đã tác động làm biến đổi mọi thóiquen làm viêc, giải trí thậm chí ngay cả hình thức kinh doanh cũng thay đổi theo.Nhằm hòa nhập với xu thế chung của thời đại, cải tiến đổi mới trong hoạt độngquản lý nhà nước, thông tin cập nhật nhanh chóng, chính xác, chỉ đạo và điều hànhtrong công tác chuyên môn một cách khoa học, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữaviệc ứng dụng công nghệ thông tin để mang lại hiệu quả cao trong công việc Tuynhiên, qua thực tiễn thấy rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt độngquản lý, chỉ đạo, điều hành như thế nào cho hiệu quả vẫn là một bài toán khó Bởi
lẽ, việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ dừng lại ở việc mua sắm trang thiết
bị, xây dựng hạ tầng kỹ thuật mà còn đòi hỏi nhiều ở những định hướng mang tínhlâu dài, có tầm chiến lược, các yêu cầu, đòi hỏi về trình độ của nguồn nhân lực cùngvới các chính sách và thể chế thích hợp
Nhận thức về tin học hóa quản lý hành chính nhà nước chỉ là công việc mangtính khoa học công nghệ, không được đặt trong một chương trình cải cách hànhchính, vì vậy, việc tổ chức thực hiện rất khó khăn và không hiệu quả Ðề án Tin họchóa quản lý hành chính nhà nước (Ðề án 112) ra đời và được triển khai trong bốicảnh đó, sau khi có Quyết định số 137/2001/QÐ-TTg ngày 17-9-2001 và Quyếtđịnh số 27/2002/QÐ-TTg, ngày 5-2-2002 của Thủ tướng Chính phủ Thực tế chothấy, quá trình triển khai Ðề án 112 cũng gặp không ít khó khăn Chưa hình thànhđược nguồn thông tin (dữ liệu) điện tử đủ nhiều và có chất lượng cao để phục vụcông tác chỉ đạo điều hành, hỗ trợ lãnh đạo ra quyết định hành chính kịp thời; nhất
là kết quả tin học hóa chưa hỗ trợ đắc lực cho việc ra quyết định hành chính cũngnhư đáp ứng đầy đủ các bức xúc thông tin của doanh nghiệp và nhân dân; hỗ trợ cácngành kinh tế - xã hội khác phát triển Mặc dù hệ thống thông tin điện tử của Chínhphủ đã hình thành, nhưng việc vận hành các hệ thống thông tin điện tử đã triển khaitrong thời gian qua còn có nhiều hạn chế, không đồng đều giữa các địa phương
Trang 10Bên cạnh những khó khăn về hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin chưa đủ,kinh phí vận hành còn eo hẹp, khó khăn lớn là quá trình cải cách hành chính nhànước còn chậm, chưa hỗ trợ việc thay đổi phương thức làm việc trong môi trườngcông nghệ mới Ðội ngũ cán bộ lãnh đạo, đội ngũ cán bộ công chức chưa có đủtrình độ, nhận thức, thói quen chưa bắt kịp với yêu cầu làm việc chặt chẽ của hệthống thông tin điện tử trong các cơ quan hành chính nhà nước.
Việc nhận thức vai trò của ứng dụng Công nghệ thông tin mang lại hiệu quảcho công tác quản lý điều hành hành chính nói chung còn thấp, thể hiện ở đầu tưcho tin học hóa, bố trí thời gian, nguồn nhân lực của bộ, tỉnh cho chương trình tinhọc hóa quản lý hành chính nhà nước, tình trạng cát cứ thông tin vẫn diễn ra Côngtác thông tin tuyên truyền hiểu rõ lợi ích của nền hành chính điện tử, chính phủ điện
tử còn chậm, tỷ lệ tham gia dịch vụ điện tử của chính phủ còn thấp Tình trạng chậmban hành văn bản quy phạm pháp luật đã làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các
dự án ứng dụng công nghệ thông tin, không tổ chức được nguồn nhân lực côngnghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước; không giải phóng được lưulượng thông tin điện tử trao đổi trên mạng
Trong thời gian qua Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chínhsách về ứng dụng Công nghệ thông tin: Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nướcmạnh về công nghệ thông tin”; Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 01/7/2014 của BộChính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầuphát triển bền vững và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụngCông nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016-2020.Tại Quảng Ninh, một trong những địa phương được đánh giá tốt trong việc ứngdụng công nghệ thông tin trong giải quyết các dịch vụ hành chính công và các dịch
vụ khác của cơ quan nhà nước Tuy nhiên, việc ứng dụng chưa được đồng bộ hiện tạichỉ được thí điểm ở một vài nơi, và chất lượng nguồn nhân lực trong việc sử dụngcông nghệ thông tin còn nhiều hạn chế, trong đó có thành phố Cẩm Phả - thành phốđóng góp một phần không nhỏ trong sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh
Trang 11Nhận rõ được sự cần thiết này tác giả xin lựa chọn đề tài “Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Quản lý kinh
tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích của luận văn: Tìm hiểu thực trạng ứng dụng công nghệ thông tintrong hoạt động cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả Qua đó, sẽ đề xuất giảipháp để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin có hiệu quả hơn
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Tìm hiểu các vấn đề liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạtđộng quản lý của cơ quan nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh nói chung và thành phốCẩm Phả nói riêng
+ Phân tích, đánh giá thực trạng của việc ứng dụng công nghệ thông tin tronghoạt động cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả
+ Đề xuất giải pháp đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạtđộng cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả và khắc phục các hạn chế còn tồn đọng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn
- Đối tượng nghiên cứu đề tài luận văn: các chính sách, chương trình ứng dụng
có liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý cơ quan nhànước
- Phạm vi nghiên cứu: Vì giới hạn nghiên cứu nên tác giả đi sâu tập trung vàoứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động khối các cơ quan quản lý nhà nướcthuộc chính quyền thành phố Cẩm Phả (không bao gồm Hội đồng nhân dân) và một
số giải pháp, chính sách có liên quan Thời gian nghiên cứu và đánh giá từ năm
2010 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn:
Căn cứ vào Quyết định, Nghị quyết của chính phủ, thủ tướng Chính Phủ vềcác chương trình, đề án, kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà
Trang 12nước, cải cách hành chính đến năm giai đoạn 2010 – 2020
Căn cứ vào kế hoạch của tỉnh Quảng Ninh về ứng dụng công nghệ thông tintrong hoạt động tổ chức của cơ quan nhà nước tại các địa bàn thuộc tỉnh QuảngNinh giai đoạn 2010 – 2020
- Phương pháp nghiên cứu của luận văn: chủ yếu sử dụng phương pháp khảosát, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, diễn giải,… và kế thừa kết quả của một
số nghiên cứu khác để làm rõ các vấn đề của luận văn nhằm đảm bảo các giải pháp
đề ra hiệu quả mong muốn
- Tác giả có sử dụng điều tra phát phiếu câu hỏi cho cán bộ, công chức, viênchức tại thành phố, trung tâm hành chính công, phường, xã về Ứng dụng công nghệthông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả
Số lượng mẫu: 100 người
Đối tượng điều tra: cán bộ, công chức, viên chức đang làm việc tại các cơquan nhà nước thuộc chính quyền thành phố Cẩm Phả
Tuổi: 22 – 55
Giới tính: Nam, nữ
Phương pháp chọn mẫu: phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trong các cơ quannhà nước thuộc chính quyền thành phố Cẩm Phả Đây là những cá nhân áp dụngCNTT thường xuyên để giải quyết các công việc hành chính
Căn cứ vào thực trạng hiện tại của địa bàn, tác giả chia thành 9 câu hỏi và tổngkết lại số lượng các phương án trả lời của người được được hỏi Với mỗi một lựachọn vào phương án nào sẽ được đánh dấu để tính tỷ lệ lập bảng tính trong Excel
Trang 136 Đóng góp của luận văn
Luận văn phân tích và làm rõ thưc trạng của việc ứng dụng công nghệ thôngtin trong hoạt động cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả Từ đó đề ra các giảipháp khắc phục và đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơquan nhà nước được hiệu quả hơn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các địa bàn trên tỉnh QuảngNinh cũng như một số địa phương khác hoạt động ứng dụng công nghệ thông tinhiệu quả hơn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu, Phụ lục, Luận văn được kếtcấu thành các chương:
Chương 1: Một số vấn đề về ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động
cơ quan nhà nước
Chương 2: Thực trạng của việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động
cơ quan nhà nước tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quannhà nước tại thành phố Cẩm Phả
Trang 14CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG HOẠT ĐỘNG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC.
1.1 Khái niệm, nội dung Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước
*Khái niệm Công nghệ thông tin
Trên thế giới thuật ngữ “Công nghệ Thông tin” được xuất hiện lần đầu vàonăm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giảcủa bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: “Công nghệ mới chưa thiết lập mộttên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)”.Tuy nhiên thời kỳ này thuật ngữ IT ít được sử dụng
Cũng tài liệu Information Technology and New Growth Opportunities Paris:OECD, 1989, (trang 11) Từ “Information Technology” (Công nghệ thông tin), được
sử dụng để chỉ chung tất cả những kỹ thuật/công nghệ liên quan đến việc thu thập, lưutrữ, xử lý và truyền đạt thông tin, bao gồm cả dữ kiện, âm thanh, và hình ảnh
Tại Việt Nam trước đây khái niệm Công nghệ thông tin được định nghĩa trongnghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển Công nghệ thông tin của chínhphủ Việt Nam: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, cácphương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễnthông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thôngtin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xãhội” Năm 2006, theo Luật Công nghệ thông tin 2006 được ban hành đã định nghĩa:
“Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ
kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thôngtin số”
Theo Gs.Phan Đình Diệu, Công nghệ thông tin là việc nghiêm cứu, thiết kế,phát triển, triển khai thực hiện, hỗ trợ hoặc quản lý các hệ thống thông tin điện tử,chủ yếu là các phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền vànhận thông tin an toàn
Trang 16Nhìn chung các định nghĩa đều có điểm tương đồng cho rằng công nghệ thôngtin là ngành khoa học và công nghệ về thông tin bao gồm sản xuất, xử lý và sử dụngthông tin bằng các phương tiện, chủ yếu là máy tính điện tử Tuy nhiên, về địnhnghĩa theo Luật Công nghệ thông tin cần lưu ý rằng thuật ngữ thông tin số ở đây chỉ
là một dạng biểu diễn thông tin được xử lý và lưu trữ bằng các phương pháp số Nókhông bao quát được cả quá trình xử lý của công nghệ thông tin đầu vào thông tin,
và đầu ra là thông tin hoặc tri thức Với đề tài luận văn này, tác giả xin được chọnđịnh nghĩa theo Luật Công nghệ thông tin để làm cơ sở lý thuyết
*Sự phát triển của công nghệ thông tin đối với Quản lý nói chung và Quản lý nhà nước nói riêng.
- Quản lý nhìn từ góc độ của thông tin
Thông tin quản lý khác với tin tức thông thường của các phương tiện thông tinđại chúng Thông tin quản lý đòi hỏi người nhận phải hiểu đúng ý nghĩa của thôngđiệp Bởi vậy thông tin quản lý bên cạnh tính thông điệp còn phải có địa chỉ cụ thểcủa người gửi và người nhận, phải có tác dụng giúp người nhận ra được các quyếtđịnh quản lý, làm thay đổi trạng thái bất động của hệ thống
Thông tin quản lý là sản phẩm của lao động quản lý, đồng thời là những thôngđiệp tin tức có lợi cho hệ thống quản lý Giống như tri thức và nhiều sản phẩm trítuệ, giá trị thông tin của thông tin quản lý không bị mất đi mà thậm chí còn đượctăng lên trong quá trình tiêu dùng, thông tin quản lý rất dễ sao chép và nhân bản,những giá trị kinh tế của thông tin quản lý lại có xu hướng giảm dần theo thời gian.Thông tin quản lý gắn liền với quyền uy, quyền lực lãnh đạo Trên bình diện
xã hội, việc lắm giữ thông tin đại chúng được xem như quyền lực thứ tư nhiều khiquyền lực của nó mạnh hơn những quyền lực cơ bản trong tam quyền phân lập.Trong thời đại kinh tế tri thức, những nghành sử dụng thông tin nhiều để tạo đượcnhững sản phẩm có hàm lượng thông tin cao đều chờ thành những nghành có vai tròngày càng quan trọng Quá trình đưa ra thông tin quản lý bao gồm:
Thu thập thông tin;
Xử lý thông tin;
Trang 17Với việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp cho các nhà quản lý giải quyếtđược các vấn đề sau:
Người quản lý được cung cấp đầy đủ thông tin
Hệ thống thông tin có thể chứa thông tin về đối tượng mà doanh nghiệp quantâm điển hình như các thông tin về con người, thị trường kinh doanh, nơi chốn, sự kiện,hiện tượng và các hoạt động trong phạm vi một cơ quan hay trong môi trường hoạtđộng Trong một hệ thống thông tin doanh nghiệp môi trường có thể là khách hàng,nhà cung cấp, các cơ quan quản lý nhà nước, các cổ đông và các đối thủ cạnh tranh
Tính kịp thời của thông tin
Trong hoàn cảnh hiện nay, khi mà những thay đổi đang diễn ra ngày càngnhanh ở cả môi trường bên trong và bên ngoài, với nhiều yếu tố khó lường như đãtừng xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm2007; do vậy, nhu cầu nhạy cảm nắm bắt thông tin để ứng phó kịp thời với nhữngthay đổi, ngày càng là một yêu cầu khẩn thiết và dường như không có giới hạn đối
Trang 18với nhà quản lý Nếu không có sự chủ động thu thập sẽ không mang lại hiệu quảtrong kinh doanh, thậm chí có thể là những thông tin sai lệch gây ảnh hưởng đếntoàn bộ hệ thống của doanh nghiệp Việc sử dụng công nghệ thông tin sẽ đảm bảocung cấp cho người quản lý những thông tin đầy đủ, chính xác, cập nhật liên tục vàcần thiết trong mọi trường hợp.
Sắp xếp theo hệ thống, dễ dàng phân loại thông tin: mục tiêu, nhiệm vụ, mụcđích… của quản lý
Trước đây, khi tiếp nhận thông tin thông thường để phân loại các thông tin sẽrất khó bởi cách làm thủ công trên giáy tờ Với việc sử dụng công nghệ thông tin, sẽgiúp nhà quản lý phân chia các nguồn thông tin theo ý muốn của mình
Tiết kiệm thời gian, chi phí nguồn nhân lực
Thông thường, khi một doanh nghiệp đi vào hoạt động, các chi phí phải trảbao gồm: chi phí quản lý nhân sự, chi phí marketing, chi phí quản lý sản xuất, chiphí thuê văn phòng Làm cách nào để tiết giảm chi phí là điều các nhà quản lý luôntrăn trở, nhưng điều đó chỉ thực sự có ý nghĩa khi việc làm này không ảnh hưởngđến mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Thực tế cho thấy, nếukhông có sự phân bổ nguồn nhân lực hợp lý thì sẽ dẫn đến tình trạng lúc thừa, lúcthiếu, gây bất ổn và lãng phí cho doanh nghiệp Để khắc phục tình trạng đó, biệnpháp hữu hiệu nhất là tối ưu hóa bộ máy nhân sự bằng cách sử dụng các phần mềm
hỗ trợ Với một số doanh nghiệp sản xuất có nhiều cơ sở hoặc nhà máy ở cách xanhau, việc ứng dụng công nghệ thông tin còn giúp ban lãnh đạo nắm bắt được thôngtin kinh doanh một cách liên tục và nhanh nhất để từ đó có thể đưa ra những quyếtđịnh chính xác và kịp thời
1.1.1 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước
Có thể hiểu “Ứng dụng công nghệ thông tin hoạt động của cơ quan nhà nước
là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằmnâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước và giữacác cơ quan nhà nước, trong giao dịch của cơ quan nhà nước với tổ chức và cácnhân, hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính vào bảo đảm công khai, minh bạch” 1
1 Nghị định 64/2007/CP Ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước
Trang 19Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện mạnh mẽ chủtrương ứng dụng CNTT nhằm cải cách hành chính, hiện đại hóa cơ quan chính phủ,xây dựng một Chính phủ hiệu lực, hiệu quả hơn, thực sự của dân, do dân và vì dân,nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo môi trường thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội.Điều này được thể hiện rõ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các chươngtrình về cải cách hành chính của đất nước.
Xác định vai trò quan trọng của Công nghệ thông tin trong phát triển đất nước,Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của hạ tầng kinh tế- xã hội và toàn bộ nềnkinh tế Coi phát triển và Ứng dụng công nghệ thông tin là nhiệm vụ ưu tiên hàngđầu trong lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa từng ngành, từng lĩnh vực”
Ứng dụng công nghệ thông tin giúp tăng cường tính minh bạch trong công tácquản lý nhà nước, khiến nhà nước trở nên “trong suốt” trước mắt người dân Trong
đó, Chính phủ điện tử là cốt lõi nhất của đổi mới quản lý nhà nước
Về ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ của Cơ quan nhà nước nhưtriển khai hệ thống thư điện tử chính thức (tên miền.gov.vn) để trao đổi thông tin,tài liệu qua mạng và hệ thống quản lý văn bản và điều hành phục vụ công việc.Hình thức họp trực tuyến đã được triển khai phổ biến tại các Cơ quan nhà nước, baogồm các cuộc họp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các bộ, ngành, địaphương; cuộc họp giữa các cơ quan thuộc các bộ, ngành, địa phương dã giúp tiếtkiệm chi phí, thời gian tổ chức họp
Ứng dụng Công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp: Một sốứng dụng chuyên ngành phát huy được hiệu quả rõ rệt, phục vụ tốt cho người dân
và doanh nghiệp, đó là: ứng dụng CNTT trong công tác quản lý thuế; ứng dụngCNTT trong công tác hải quan…
a) Lợi ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
- Tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp
Công nghệ thông tin có thể đóng góp cho một thay đổi về chất trong cách côngdân tương tác với chính phủ và các biện pháp điều hành nền kinh tế và quản lý xãhội của chính phủ Thông qua hệ thống mạng, bằng cách kết nối những người sống
Trang 20ở vùng sâu, vùng xa của đất nước để họ có thể gửi và nhận thông tin dễ dàng hơntới và từ chính phủ Thêm vào đó, có thể gia tăng những người trẻ tuổi tham giađóng góp ý kiến đối với chính phủ bởi thế hệ công dân ngày nay hiểu biết về chínhtrị, xã hội đã lớn lên với Internet và các công nghệ truyền thông kỹ thuật số trongcuộc sống hàng ngày, tương tự như những công dân, người mà họ được sử dụng chocác hoạt động chuyên nghiệp trong công việc và các hoạt động cá nhân khác Qua
sự mở rộng khả năng tương tác và chia sẻ thông tin, Công nghệ thông tin cũng cóthể tăng cường tương tác “công dân với công dân” bằng cách cung cấp cơ hội chonhững người có cùng quan điểm và mối quan tâm nhưng bị ngăn cách bởi các điềukiện về địa lý
- Giảm chi phí, tiết kiệm nguồn nhân lực
Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để tự động hóa, số hóa các thủtục, giấy tờ, dịch vụ hành chính truyền thống Trước đây, với các văn bản được lưutrữ trên giấy tờ chỉ lưu trữ trong một khoảng thời gian nhất định Nếu không bảoquản cẩn thận sẽ bị hư hỏng Sẽ tốn rất nhiều không gian để lưu trữ và bảo quản.Đặc biệt nếu tìm kiếm một hồ sơ lâu năm sẽ tốn nhiều thời gian, có khi bị thất lạc
do các điều kiện khách quan Với công nghệ thông tin sẽ khắc phục được nhữngkhuyết điểm này Tiết kiệm được thời gian giải quyết các công việc cho cơ quannhà nước
- Tăng cường tính minh bạch, chống tham nhũng
Đối với các cơ quan nhà nước, nhờ vào khả năng số hóa, xử lý và tái tạo thôngtin một cách tự động, Công nghệ thông tin giúp cho việc tự động hóa các quy trình,thủ tục giấy tờ hiện hành Từ đó, sẽ đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo raphong cách lãnh đạo mới, các cách thức mới trong việc xây dựng và quyết định chiếnlược, cải tiến các hình thức cung cấp dịch vụ công Kết quả làm tăng tính hiệu quảcủa quá trình phê duyệt và cung cấp dịch vụ công, tiết kiệm thời gian cũng như đápứng kịp thời cho người dân, doanh nghiệp và cả hệ thống cơ quan nhà nước đồng thờigóp phần chống quan liêu và tham nhũng trong bộ máy cơ quan nhà nước
Trang 21Mặt khác, tính minh bạch của thông tin trong môi trường số sẽ giúp cho việcnâng cao tính minh bạch và tin cậy của thông tin trong quản lý điều hành, cũng như
mở ra các cơ hội mới cho người dân được chủ động tham gia góp ý vào các vấn đềđiều hành và hoạch định chính sách Thông qua intermet và một số phương tiệntruyển thông khác, việc phổ biến rộng rãi thông tin sẽ hỗ trợ việc trao quyền chongười dân cũng như quá trình đưa quyết định của cơ quan nhà nước Như vậy tínhminh bạch của thông tin không chỉ thể hiện sự dân chủ mà còn gây dựng nên sự tincậy giữa những nhà lãnh đạo
Như vậy, đối với chính phủ nói chung và cơ quan nhà nước nói riêng, Côngnghệ thông tin chính là công cụ, phương tiện để nâng cao vai trò, hiệu quả và chấtlượng quản lý của mình bằng cách tiếp cận và cung cấp các dịch vụ công nhằm đemlại lợi ích tốt nhất cho người dân Công nghệ thông tin còn tăng cường năng lựcquản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch trong các cơ quan nhànước nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh tế, xã hội
Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để tự động hóa, số hóa các thủ
tục, Thay đổi phong cách lãnh đạo, quản lý, tạo ra cách thức mới trong việc xây
dựng và quyết định chiến lược, giao dịch kinh doanh, lắng nghe người dân và cộngđồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông tin Tạo điều kiện cho ngườidân cũng như các doanh nghiệp được tiếp cận dịch vụ công một cách bình đẳng vàcông khai
Tăng cường năng lực của chính phủ theo hướng quản lý, điều hành có hiệuquả và nâng cao tính công khai, minh bạch nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh
tế và xã hội của đất nước vì mục tiêu phát triển
b) Những thách thức đang gặp phải:
Nguồn nhân lực: Có một điều dễ có thể thấy được, nếu áp dụng công nghệ
thông tin hiện đại thì số lượng công chức - viên chức mất việc làm sẽ gia tăng hoặccác quyền lợi, luồng thu thập ngoài luồng khác thừ cách thức thanh toán truyềnthống Điều này có thể là một trong những lý do kháng cự không muốn thay đổitrong bộ phận công quyền Cũng có thể xuất phát từ thói quen làm việc lâu nay và
Trang 22việc ngại áp dụng, cập nhật những công nghệ mới từ những cán bộ có tuổi Hay việcmột số cá nhân có tư tưởng “tham nhũng” việc ứng dụng công nghệ thông tin trongquản lý sẽ làm họ mất đi cơ hội được chuộc lơi Điều này sẽ gây khó khăn cho sựứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cơ quan nhà nước Thêm vào đó đàotạo là công việc quan trọng để giúp nhân viên làm quen với các kỹ năng mới cầnthiết cho quản lý Tuy nhiên các khóa học như hành chính công hiện đại, thay đổiquy trình nghiệp vụ, thay đổi cách quản lý… thường tiêu tốn một lượng lớn ngânsách và nhiều nguồn lực của nhà nước
Hạ tầng công nghệ: Chúng ta cần phải xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin
và truyền thông, hạ tầng công nghệ Internet, công nghệ điện tử và áp dụng các tiêuchuẩn công nghệ quốc tế trong trao đổi dữ liệu điện tử Những công nghệ này giúpcho việc hình thành mạng lưới lưu trữ và trao đổi thông tin trên phạm vi cả nước.Tuy nhiên điều này vẫn còn hạn chế, phần lớn những trang bị hiện đại tập trung ởTrung ương, các tỉnh, thành phố lớn Đối với những vùng kinh tế khó khăn phần lớnchưa có đủ trang thiết bị hạ tầng công nghệ dể phục vụ trong quản lý
Hạ tầng pháp lý: Công nghệ thông tin luôn luôn thay đổi và phát triển, các
văn bản hệ thống pháp luật khó có thể lường trước sự thay đổi này Các văn bảnluật hiện nay chưa đáp ứng được về các giao dịch điện tử, bảo vệ bí mật thôngtin cá nhân…
Thói quen của người dân, doanh nghiệp: xuất phát từ những thói quen cũ
muốn được gặp mặt trực tiếp công chức, viên chức mới giải quyết được công việc,không tin tưởng qua môi trường làm việc Internet khiến cho những nhà lãnh đạokhó có thể thực hiện được chính phủ điện tử
c) Ứng dụng Chính phủ điện tử (CPĐT) trong quản lý
* Khái niệm Chính phủ điện: Chính phủ hoạt động trực tuyến (online) 24/24h;
7 ngày/tuần; 365 ngày/năm Chính phủ không ồn ào, không giấy tờ, tạo sự tintưởng, tin cậy cao với hai nguyên tắc hỗ trợ cơ bản: Giải quyết công việc một cáchcông khai và đảm bảo an ninh Tuy nhiên, định nghĩa của Ngân hàng thế giới(World Bank) cho chúng ta thấy cách hiểu rõ ràng về chính phủ điện tử: “Chính phủ
Trang 23điện tử là việc các cơ quan của chính phủ sử dụng một cách có hệ thống công nghệthông tin và viễn thông để thực hiện các quan hệ với công dân, với doanh nghiệp vàcác cơ quan hành chính Những công nghệ này nhằm cải thiện giao dịch giữa Nhànước với công dân và doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chi phí và bớttham nhũng thông qua tăng cường công khai và minh bạch”.
*Lợi ích của Chính phủ điện tử 2
Thứ nhất, sự vận hành của chính phủ truyền thống diễn ra thủ công, nhiều thủ
tục, tốn nhiều công sức và tài chính cho cả nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân;người dân chỉ có thể liên hệ với Chính phủ 5 ngày/tuần, 8h/ngày tại trụ sở của các
cơ quan nhà nước Với lợi thế của việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyềnthông, Chính phủ điện tử có thể khắc phục được những hạn chế trên của Chính phủtruyền thống Thông qua CPĐT, người dân có thể thực hiện nhiều dịch vụ hànhchính như đăng ký kinh doanh, làm khai sinh, khai tử hay đóng thuế trước bạ 365ngày/năm, 7 ngày/tuần, 24 giờ/ngày ở bất kỳ nơi nào
Thứ hai, xét về tốc độ xử lý các dịch vụ giữa CPĐT và Chính phủ truyền
thống, việc tin học hóa và tự động hoá thủ tục hành chính của Chính phủ điện tửcho phép giải quyết các dịch vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, gọn hơn, đơn giản hơnrất nhiều CPĐT làm đơn giản hóa các thủ tục, giảm bớt các khâu rườm rà trong thủtục và nâng cao hiệu quả của quá trình phê duyệt, chú trọng việc cung cấp các dịch
vụ nhanh chóng, hiệu quả Hơn nữa, người dân và doanh nghiệp còn được cung cấpthông tin đầy đủ, chính xác, dễ dàng hơn, và giảm được các chi phí cho việc thuthập thông tin Đối với các cơ quan khác của chính phủ và cán bộ chính phủ, CPĐT
sẽ giúp các cơ quan chính phủ phối hợp một cách hiệu quả là sự hỗ trợ hợp tác giữacác cơ quan nhằm để đảm bảo đưa ra các quyết định một cách chính xác và kịp thời
Thứ ba, với những khách hàng trực tuyến, CPĐT sẽ giúp làm giảm thiểu sự
tham gia của các cán bộ chính phủ trong việc cung cấp một cách hiệu quả các dịch
vụ công cộng cho người dân Thông quả việc tham gia rộng rãi của người dân,CPĐT cũng giúp nâng cao tính minh bạch và tin cậy của chính phủ, đồng thời có
Trang 24thể thu thập rộng rãi ý kiến của người dân trong quá trình hoạch định, thực thi vàgiám sát chính sách của chính phủ.
Thứ tư, CPĐT sẽ khắc phục và đẩy lùi những tiêu cực diễn ra trong hoạt động
công vụ đó là cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, trì trệ, quan liêu …., các “thủ tụcbôi trơn” Với việc cung ứng các dịch vụ công trực tuyến, CPĐT sẽ giải quyết cáccông việc của người dân, doanh nghiệp theo đúng thủ tục, trình tự, thời gian, chấtlượng đã được quy định sẵn theo tiêu chuẩn Người dân, doanh nghiệp không phảilãng phí các khoản chi phí về thời gian, công sức, tiền bạc để có thể thụ hưởng cácdịch vụ công ngoài khoản lệ phí sử dụng dịch vụ Qua đó, tính hiệu quả và chấtlượng quản lý của bộ máy nhà nước và sự hài lòng của người dân đối với nhà nướcđược nâng lên
Thứ năm, CPĐT là nên tảng để chuyển từ nên hành chính truyền thống sang
nền hành chính phát triển, mà thực chất là chuyển từ nền hành chính cai trị sang nềnhành chính phục vụ Trong CPĐT, công dân là khách hàng; quan hệ “xin - cho” phổbiến trong Chính phủ truyền thống được chuyển thành quan hệ “phục vụ, cung ứngdịch vụ” trong CPĐT
1.1.2 Nội dung ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước
a) Xây dựng cơ sở hạ tầng
Xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ cơ quan nhà nước:xây dựng khai thác, duy trì và nâng cấp cơ sở hạ tầng cơ quan theo tiêu chuẩn, xâydựng và duy trì cơ sở dữ liệu quốc gia đáp ứng giao dịch điện tử thông qua cácphương tiện truy cập thông tin Internet thông dụng của xã hội, tạo điều kiện thuậnlợi để tổ chức, cá nhân dễ dàng truy cập thông tin và dịch vụ hành chính công trênmôi trường mạng
b) Triển khai chương trình ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước
Quy định về Chính phủ điện tử của Chính phủ
- Nghị quyết 36a/2015 NĐ-CP về chính phủ điện tử
Mục tiêu của của Chính phủ điện tử “Đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử,nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người
Trang 25dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn Nâng vị trí của Việt Nam về Chính phủđiện tử theo xếp hạng của Liên hợp quốc Công khai, minh bạch hoạt động của các
cơ quan nhà nước trên môi trường mạng.”
- Nội dung của Chương trình Quốc gia về ứng dụng CNTT của cơ quan nhànước giai đoạn 2016-2020
Một số hoạt động cụ thể sẽ được triển khai thực hiện trong giai đoạn 2016
-2020 như sau:
Một là, đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp, trong
đó chú trọng cung cấp các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 4 Đẩy mạnh ứngdụng CNTT toàn diện tại bộ phận một cửa, một cửa liên thông, tăng cường trao đổi,
xử lý hồ sơ qua mạng Phát triển các hệ thống thông tin thiết yếu cho công tác ứngdụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp tại các địa phương; Bảo đảm triểnkhai đồng bộ với việc phát triển các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia;Tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin Đồng thời nâng cao nhận thức, năng lực, hỗtrợ người dân và doanh nghiệp sử dụng hiệu quả dịch vụ công trực tuyến Triển khai
đô thị thông minh ít nhất tại 3 địa điểm theo các tiêu chí do Bộ Thông tin và Truyềnthông hướng dẫn
Hai là, phát triển và hoàn thiện các ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhànước, bao gồm: hệ thống quản lý thông tin tổng thể để tiến tới xây dựng cơ quanđiện tử, bảo đảm kết nối liên thông dữ liệu điện tử từ Chính phủ đến cấp Xã; Cácứng dụng CNTT trong hoạt động nghiệp vụ, đáp ứng công tác đặc thù tại từng cơquan, đơn vị; Các hệ thống ứng dụng CNTT khác trong công tác nội bộ theo hướnghiệu quả, mở rộng kết nối
Ba là, phát triển và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống thông tin, cơ sở
dữ liệu quốc gia để tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử: Bảo đảm hạ tầng triểnkhai Chính phủ điện tử các cấp, đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, kết nối, chia sẻ
dữ liệu; Phát triển hạ tầng kiến trúc Chính phủ điện tử; Triển khai chứng thực điện
tử và chữ ký số trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị; Kết nối, liên thông các
hệ thống thông tin ở Trung ương và địa phương; Hỗ trợ các tổ chức, cá nhân truycập đến thông tin, dữ liệu của các cơ quan nhà nước
Trang 26c) Phát triển đội ngũ nhân lực trong quản lý nhà nước
Phát triển nguồn nhân lực CNTT cơ quan nhà nước và tạo điều kiện cho cán
bộ, công chức, vien chức được đào tạo về kỹ năng ứng dụng CNTT trong xử lýcông việc
1.2 Ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước các cấp Trung ương, Tỉnh, Quận (huyện) 3
Hình 1: Mô hình các cơ quan chuyên môn tổ chức hành chính của Việt Nam
Mô hình cho thấy sự kết hợp theo chiều dọc và chiều ngang của hệ thống quản lý.Việc phân quyền trong quản lý Chính phủ điện tử cũng căn cứ theo mô hình tổ chức này
1.2.1 Ứng dụng CNTT ở Trung ương
Hình 2: Khung Kiến trúc Chính quyền điện tử
3 Khung kiến trúc chính phủ Việt Nam, Bộ thông tin và truyền thông
Trang 27- Kết nối từ cơ quan chuyên ngành của các Bộ cấp Trung ương xuống các cơquan chuyên ngành của Bộ đặt tại các địa phương (như kết nối từ tổng cục xuống cáccục, chi cục tại địa phương): Thông qua các hình thức như: Trực tiếp; qua nền tảngchia sẻ, tích hợp của Bộ; qua Hệ thống kết nối, liên thông các HTTT ở TW và ĐP;
- Kết nối từ các cơ quan chuyên ngành của tỉnh (sở chuyên ngành) với các đơn
vị chuyên môn cấp dưới (huyện, xã) Thông qua các hình thức như: Trực tiếp; quanền tảng chia sẻ, tích hợp của tỉnh
- Kết nối giữa các tỉnh: Thông qua các hình thức như: Thông việc kết nối giữanền tảng chia sẻ, tích hợp của các tỉnh; hoặc qua Hệ thống kết nối, liên thông cácHTTT ở TW và ĐP;
- Kết nối giữa các cơ quan chuyên ngành cấp tỉnh (các sở, ban, ngành):Thông qua các hình thức như: Trực tiếp; kết nối giữa nền tảng chia sẻ, tích hợpcủa tỉnh;
- Kết nối giữa các cơ quan chuyên môn cấp huyện (các phòng, ban): Thôngqua các hình thức như: Trực tiếp; kết nối qua nền tảng chia sẻ, tích hợp của tỉnh
Trang 281.2.2 Ứng dụng CNTT ở Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Hình 3: Khung Kiến trúc Chính quyền điện tử cấp tỉnh
Chú thích: Hệ thống/nền tảng kết nối quy mô quốc gia (viết tắt là NGSP)
*Ứng dụng và Cơ sở dữ liệu của Tỉnh
- Ứng dụng cấp tỉnh:
Bao gồm các ứng dụng nghiệp vụ cấp tỉnh, phục vụ việc cung cấp các dịch vụcông cấp tỉnh, trong đó có các dịch vụ công trực tuyến Cụ thể như các ứng dụng:Đăng ký kinh doanh; Cấp giấy phép đầu tư; Cấp giấy phép lái xe; Cấp phép xâydựng;…
Để hỗ trợ công tác xử lý các thủ tục hành chính, tại các CQNN cấp tỉnh có thể
có các ứng dụng/hệ thống thông tin phục vụ hoạt động của bộ phận một cửa (mộtcửa điện tử) Ứng dụng này hỗ trợ quá trình nhận hồ sơ thủ tục, lưu chuyển, xử lý
hồ sơ qua mạng; theo dõi, tổng kết, thông báo tình trạng xử lý hồ sơ
Hiện nay, người dân và doanh nghiệp có thể lựa chọn các hình thức nộp hồ sơqua mạng, hoặc trực tiếp tại bộ phận một cửa Chính vì vậy, phải có sự kết nối giữaứng dụng CNTT tại bộ phận một cửa và cổng thông tin điện tử của tỉnh Khi ngườidân nộp hồ sơ qua mạng (qua cổng/trang thông tin điện tử) thì hồ sơ đó được gửitrực tuyến tới bộ phận một cửa, hoặc trực tiếp đến tổ chức, cá nhân xử lý; ngược lạinhững thông báo, tình trạng, kết quả xử lý thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa
có thể gửi tới người dân, doanh nghiệp bằng hình thức trực tuyến
Trang 29-Ứng dụng nội bộ:
Thành phần này bao gồm các ứng dụng phục vụ công tác quản lý, điều hành,
hỗ trợ các hoạt động trong nội bộ các CQNN Những ứng dụng tiêu biểu của nhómnày bao gồm: Quản lý tài chính; Quản lý tài sản; Quản lý CBCC; Quản lý văn bản
*Nền tảng chia sẻ, tích hợp cấp tỉnh
Ở một số tỉnh có điều kiện, nên xây dựng một nền tảng chia sẻ, tích hợp dùngchung cấp tỉnh (LGSP), tối thiểu bao gồm các dịch vụ chia sẻ và tích hợp như đãnêu trên Thành phần này đóng vai trò là nền tảng CNTT liên cơ quan cho các sở,ban, ngành, quận, huyện và các CQNN trực thuộc tỉnh.Với nền tảng này, thông tinnghiệp vụ có thể được trao đổi theo chiều ngang và theo chiều dọc giữa các CQNNthuộc tỉnh Thành phần này cũng hoạt động như một cổng nghiệp vụ, cùng với cácdịch vụ cấp tỉnh để trao đổi thông tin với các Bộ, tỉnh khác, hoặc với các cơ quanĐảng, hay các hệ thống thông tin của doanh nghiệp, tổ chức khác khi cần thiết
*Hạ tầng kỹ thuật
Thành phần này cung cấp phần cứng/phần mềm máy tính, mạng, thiết bị, antoàn thông tin, cơ sở vật chất để triển khai các ứng dụng CNTT Bao gồm các thànhphần chính sau đây:
+ Thiết bị phần cứng/phần mềm cho người dùng cuối:
Bao gồm máy tính cá nhân, máy tính xách tay và thiết bị hỗ trợ cá nhân
+ Cơ sở hạ tầng mạng bao gồm:
Trang 30 Mạng diện rộng của tỉnh (WAN, MAN);
Mạng cục bộ (LAN);
Mạng riêng ảo (VPN);
Kết nối Internet
*Quản lý chỉ đạo: Bao gồm công tác chỉ đạo, tổ chức, xây dựng các chính
sách, các chuẩn, hướng dẫn, đào tạo, truyền thông để triển khai Kiến trúc CQĐTcấp tỉnh
1.2.3 Ứng dụng CNTT ở cấp Quận, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh
Nội dung phần trên mô tả các thành phần chính trong Kiến trúc CQĐT cấptỉnh, ở các cấp thấp hơn như quận, huyện, các thành phần cũng tương tự như vậy.Tuy nhiên, việc dùng chung, chia sẻ tài nguyên và thông tin của các CQNN là cầnthiết để giảm đầu tư trùng lặp, tăng khả năng kết nối, liên thông Chính vì vậy cácCQNN cấp dưới phải sử dụng những thành phần chia sẻ, dùng chung của cấp trên
Hình 4: Mô hình Khung kiến trúc Chính quyền điện tử cấp huyện
Hình trên mô tả cổng thông tin điện tử của huyện là một cổng con của cấptỉnh Tỉnh có thể xây dựng một cổng thông tin điện tử tập trung và xây dựng các
Trang 31cổng con cho mỗi huyện Hạ tầng CNTT của huyện là hạ tầng được chia sẻ của tỉnh,ngoại trừ máy tính và mạng LAN Các dịch vụ công ngày càng có xu hướng đượctích hợp, liên thông cho cả tỉnh Nhiều phần mềm ứng dụng được dùng chung, sửdụng lại ở nhiều CQNN.
Kiến trúc CQĐT cấp quận, huyện và các thành phần dùng chung, chia sẻ vớicấp tỉnh sẽ phụ thuộc nhu cầu, lộ trình phát triển thực tế của các tỉnh
Hướng tới năm 2015, Cơ quan nhà nước cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơbản trực tuyến tối thiểu mức độ 34 tới người dân và doanh nghiệp; cho phép người sửdụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ
Cụ thể, tại các tỉnh, thành phố sẽ ưu tiên cung cấp 11 dịch vụ công trực tuyếntối thiểu mức độ 3 gồm: Đăng ký kinh doanh; cấp giấy phép thành lập chi nhánh,văn phòng đại diện; cấp giấy phép xây dựng; chứng chỉ hành nghề hoạt động xâydựng; giấy phép đầu tư; giấy đăng ký hành nghề y, dược; lao động, việc làm; cấp,đổi giấy phép lái xe; giải quyết khiếu nại, tố cáo; đăng ký tạm trú, tạm vắng và dịch
vụ đặc thù Ngoài ra, sẽ có 207 dịch vụ công trực tuyến tối thiểu mức độ 3 được ưutiên thực hiện tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ như: Cung cấp thông tin và khai báo hộkhẩu, hộ tịch, tạm trú, cư trú; cấp hộ chiếu; cung cấp thông tin và khai báo chứngminh nhân dân,thủ tục cấp giấy phép, bằng lái xe ô tô, xe máy; tiếp nhận hồ sơ Hảiquan điện tử; tra cứu thông tin về thuế, trạng thái hồ sơ hải quan
Như vậy, đối với các vấn đề quan trọng sẽ do Trung ương và Tỉnh (thành phốtrực thuộc Trung ương) quản lý và giải quyết trực tiếp thông qua chính phủ điện tử.Đồng thời, ban hành các chính sách, quy định cho phía cấp quản lý phía dưới thựchiện Đối với cấp quận, huyện, thành phố trực thuộc Tỉnh sẽ giải quyết các vấn đềthủ tục chi tiết như công thương, tư pháp hộ tịch, tài chính kế hoạch; xây dựng, quyhoạch; giao thông vận tải, bảo hiểm, đất đai, môi trường, thuế…Các cơ quan cấpdưới trong quá trình thực hiện sẽ đề xuất các đổi mới, cải tiến nâng cao chất lượng
4 Mức độ 1: cổng thông tin điện tử có đầy đủ thông tin về quy trình thủ tục thực hiện dịch vụ, các giấy tờ cần
thiết, các bước tiến hành, thời gian thực hiện, chi phí thực hiện dịch vụ.
Mức độ 2: Ngoài thông tin đầy đủ như mức độ 1, cổng thông tin điện tử cho phép người sử dụng tải về các
mẫu đơn, hồ sơ để người sử dụng có thể in ra giấy, hoặc điền vào các mẫu đơn.
Mức độ 3: Ngoài thông tin đầy đủ như ở mức độ 1 và các mẫu đơn, hồ sơ cho phép tải về như ở mức độ 2,
cổng thông tin điện tử cho phép người sử dụng điền trực tuyến vào các mẫu đơn, hồ sơ và gửi lại trực tuyến
Trang 32dịch vụ Sự ra đời của Chính phủ điện tử đang làm thay đổi các hoạt động vănphòng từ chỗ dựa nhiều vào giấy tờ dần được thay thế bằng các văn bản điện tử.Phương thức tổ chức, phối hợp hoạt động không còn là phương thức theo trục dọcnhư trước đây mà thay vào đó là xu thế phối hợp theo phương ngang giữa các tổchức trong một bộ máy ít hệ thống thứ bậc hơn
Theo như PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu và Ths.Nguyễn Thanh Tùng trong bài
“Chính phủ điện tử và những tác động của nó tới lý thuyết và thực tiễn hành chính”
có nhận xét “Sự ra đời của Chính phủ điện tử là một cuộc cách mạng trong tiếntrình phát triển hành chính công Tiềm năng lớn nhất của Chính phủ điện tử là nó cókhả năng thách thức và làm thay đổi các lý thuyết tổ chức bộ máy truyền thống,thay đổi phương thức sản xuất và cung ứng dịch vụ công Tuy đang trong giai đoạnhoàn thiện và còn cần nhiều thời gian nữa mới chứng minh được chính nó mới là
mô hình tương lai của Chính phủ thì Chính phủ điện tử cũng đã cho thấy đượcnhững kết quả ban đầu trong việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của cácChính phủ nhằm phục vụ người dân tốt hơn.” Ta không thể khẳng định được việc sửdụng Chính phủ điện tự trong quản lý từng cấp là hiệu quả hơn so với cách quản lýtruyền thống trước đây, bởi lẽ với sự thay đổi chóng mặt của Công nghệ thông tinnhư hiện nay, nếu không có những hướng đi đúng đắn sẽ dẫn đến những thách thứckhông lường trước được
1.3 Kinh nghiệm ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước
1.3.1 Nước ngoài
1.3.1.1 Singapore
Điều kiện ra đời của Chính Phủ điện tử tại Singapore
Singapore có diện tích nhỏ hơn Hà Nội và nhiều thành phố khác của các nướctrong khu vực, dân số cũng chỉ hơn 5 triệu người (kể cả dân nhập cư, du học) Làmột đảo quốc không có tài nguyên thiên nhiên gì, thậm chí nước ngọt cũng phải đimua của Malaysia nhưng họ lại có công nghệ chế tác nước sạch từ nước thải, nướcmưa và nước biển rất hiện đại Đất, cát, sỏi cũng phải mua từ nước ngoài về để làm
Trang 33nguyên vật liệu xây dựng Họ chỉ có tài sản duy nhất đó là con người, vì vậy họ đặcbiệt coi trọng nhân lực, nhân tài
Có thể nói Chính phủ điện tử ở Singapore ra đời bắt nguồn từ quyết định tinhọc hóa bộ máy hành chính nhà nước 1981 Tuy nhiên, do đây là chương trình pháttriển chỉ tập trung vào bộ máy hành chính nhà nước nên Chính phủ điện tử ở Singaporengày nay không phát triển sớm tới mức độ mà đáng lẽ ra với thời gian triển khai sớmnhư vậy nước này phải có một Chính phủ điện tử lớn mạnh hơn nhiều
Mục tiêu của Chính phủ điện tử của Singapore
Bảo vệ quyền lợi của người dân và thi hành pháp luật nghiêm minh, giảmthiểu đến mức thấp nhất chi phí và các hành vi tham nhũng, hối lộ của chính phủ
là sự nhầm lẫn vì tựu trung lại đó là các vấn đề kỹ thuật - một thành phần rất nhỏ,thứ yếu của chính phủ điện tử
Trong thời gian đầu triển khai, những ứng dụng công nghệ thông tin và viễnthông trong cuộc sống thường gặp phải những hạn chế tâm lý e ngại cái mới trong bộphận dân chúng hay những khó khăn nhỏ thường xảy ra với các cơ quan Chính phủtrong giai đoạn đầu cung cấp dịch vụ công Do vậy, khi triển khai xây dựng và pháttriển chính phủ điện tử việc làm trước tiên là cần khắc phục loại bỏ tâm lý lo sợ này
Chính phủ Singapore đã khắc phục như thế nào?
- Chiến lược G2G
Thông thường, đối với các chính trị gia các quan chức chính phủ được ngườidân bầu ra và được trả lương để phục vụ cho người dân họ tự coi mình là bề trên, làcha mẹ dân chứ không phải đầy tớ của dân Họ tự đặt quyền lợi của mình lên trênquyền lợi của dân Họ coi việc làm thế nào để cai trị thoải mái, có lợi cho bản thân
Trang 34hơn là lắng nghe dân muốn gì Do đó, coi công dân là khách hàng của chính phủ làcách mà Singapore tạo lập quan hệ với Chính phủ - Công dân theo chiều hướngphục vụ lợi ích của người dân.
Điều kiện tiên quyết để Chính phủ có thể hoạt động một cách hiệu quả là sựkết nối điện tử đến mọi người dân Sự kết nối đa chiều “Singapore One” là mộtđiểm đột phá mang lại khả năng ứng dụng công nghệ bao trùm tới 99% phạm vịlãnh thổ
Trong một xã hội điện tử, công nghệ phải phù hợp với mọi lứa tuổi, ngôn ngữ,sức khỏe và khả năng kinh tế Chính phủ Singapore đã xây dựng được chương trìnhnhằm cải thiện khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông các người dân,không để một người dân nào cảm thấy khó khăn khi triu cập các dịch vụ điện tử
- Chiến lược B2E
Các nhân viên Chính phủ chịu trách nhiệm thực thi chính sách và phân phốidịch vụ, do vậy mục tiêu của chiến lược này là trao quyền cho các quan chức chínhphủ, sử dụng công nghệ thông tin viễn thông để giữ cho mình không ở ngoài lề củanền kinh tế điện tử Chính phủ Singapore đã xây dựng chương trinhg giáo dục côngnghệ thông tin và viễn thông cho tất cả các nhân viên Chính phủ những kỹ năng cầnthiết để tận dụng cơ hội sáng tạo ra một chính phủ điện tử thực sự
Thành tựu đạt được
Báo cáo Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) năm 2016 có chủ đề
“Chính phủ điện tử hỗ trợ phát triển bền vững” vừa được Liên hợp quốc chính thứcphát hành Singapore đứng vị trí thứ 4/193 nước
Trang 35Người dân Singapore đang càng ngày càng truy cập trực tuyến để thể hiệnnhững quan điểm của họ về rất nhiều vấn đề thông qua các nền tảng phương tiệntruyền thông xã hội như Facebook và các diễn đàn thảo luận, cũng như thông quaphương tiện chính thức Do đó, Chính phủ Singapore đã nỗ lực một cách toàn diện
và sâu rộng trong quá trình tham gia điện tử để có thể chạm đến sự tinh hoa và tàinguyên của người sử dụng Internet thông qua sự tham gia điện tử về sự phản hồi đốivới các chính sách, ý tưởng đóng góp và các vấn đề chung Sự tư vấn trực tuyến làmột cách thức để kết nối đến cộng đồng Bên cạnh đó, Chính phủ thu thập các phảnhồi thông qua các cuộc thảo luận của các nhóm tập trung, các cuộc gặp gỡ vớingười dân và các phương thức truyền thống khác Sự tham gia không chỉ giới hạnđối với việc là đầu vào cho việc xây dựng chính sách, mà còn cung cấp cơ hội chongười dân để đưa ra các ý tưởng để làm sao có thể cung cấp dịch vụ công một cáchtốt hơn đến cộng đồng
Bài học rút ra5
Chính phủ Singapore khẳng định, muốn triển khai thành công CPĐT thì trướctiên phải xác định thật rõ mục tiêu cần phải đạt được, những việc cần làm, cácnguồn lực cần huy động, kế hoạch và lộ trình thực hiện rồi đặt tất cả trong mộttổng thể chung Nói cách khác, cần xây dựng tốt kế hoạch tổng thể CPĐT (e-government masterplan) Các đồng nghiệp Singapore cho rằng kế hoạch tổng thểnày chỉ có thể xây dựng tốt khi dựa trên 5 nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc một: CPĐT là cơ chế thực hiện các hoạt động nghiệp vụ của Chính
phủ trên nền CNTT-TT (ICT) Điều này có nghĩa là các hoạt động nghiệp vụ củacác cơ quan Chính phủ là chủ thể dẫn quá trình tự động hóa dựa trên ICT (businessdriven, ICT enabled) Nói cụ thể hơn là những quy trình xử lý công việc của các cơquan quản lý nhà nước nhằm cung cấp các dịch vụ công đến người dân là đối tượngtin học hóa chủ yếu theo suốt quá trình phát triển của chúng
Nguyên tắc hai: CPĐT chỉ có thể thành công khi mục tiêu và tầm nhìn chung
phải được thống nhất từ cấp cao nhất của quốc gia đến cấp thừa hành thấp nhất Nói
Trang 36cách khác, nhận thức về CPĐT phải nhất quán, rộng khắp và như nhau trong toàn
bộ bộ máy (người Singapore gọi nguyên tắc này là nguyên tắc "đồng hàng – alignedgovernment")
Nguyên tắc ba: Nguyên tắc "đồng hàng" dẫn đến yêu cầu chia sẻ thông tin và
tích hợp các quá trình quản lý giữa các bộ, ngành, các cơ quan của chính phủ Nóicách khác, CPĐT phải là CP tích hợp (integrated government)
Nguyên tắc bốn: Cơ cấu của Chính phủ cần được điều hướng đến việc cung
cấp các dịch vụ theo nhu cầu của người dân một cách đơn giản và hiệu quả Ngườidân tiếp xúc với Chính phủ thông qua một giao diện đơn giản nhưng đồng thời tiếpxúc được với nhiều cơ quan và quá trình tham gia phục vụ Nói cách khác, CPĐT là
CP hướng đến người dân, người dân là trung tâm (citizen-centric)
Nguyên tắc năm: Chính phủ cần ra được những quyết định kịp thời và hiệu
quả trong mọi tình huống Điều này có thể thực hiện khi tất cả những kinh nghiệm
và tri thức tích tụ trong toàn bộ bộ máy được tổ chức khai thác tốt Nói cách khác,CPĐT là Chính phủ dựa trên nền tảng tri thức (knowledge-based)
1.3.1.2 Hàn Quốc
Điều kiện ra đời của Chính phủ điện tử
Phong trào “cộng đồng tự phát triển” đã dấy lên ở Hàn Quốc những năm 1970.Sang những năm 1980, từ thành thị đến nông thôn đều tràn đầy mong muốn thayđổi Và đến thời điểm này, Chính phủ bắt đầu đẩy mạnh chính sách phát triểnCNTT dẫn đến thay đổi sâu sắc toàn xã hội
Chính phủ điện tử của Hàn Quốc được bắt đầu xây dựng từ năm 1987 Giaiđoạn đầu triển khai chủ yếu xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin, mạng lướiinternet tốc độ cao và thu thập, xây dựng một hệ thống thông tin quốc gia, tạo cơ sở
dữ liệu nền tảng và hình thành thói quen tra cứu thông tin liên quan đến Chính phủqua mạng, đồng thời tiến hành xây dựng hệ thống pháp luật liên quan
Mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử
Khi bắt đầu triển khai chính phủ điện tử, mục tiêu của Hàn Quốc là trở thànhquốc gia số một thế giới về chính phủ điện tử, hướng tới sự thuận tiện cho người
Trang 37dân, tốn ít công sức và thời gian nhất thông qua tin học hóa các dịch vụ hành chínhcông Không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý điều hành, đặc biệt là nỗ lựckiểm soát chi phí thông qua các ứng dụng CNTT mang tính liên ngành, trực tuyếnhóa hoạt động hành chính công còn giúp chia sẻ thông tin và cung cấp nhiều hìnhthức tiếp cận dịch vụ hành chính công khác nhau vượt qua giới hạn về thời gian vàđịa lý
Khó khăn gặp phải
Hàn Quốc cũng gặp những vấn đề tương tự như chúng ta hiện nay: Có quánhiều giải pháp được đưa ra từ các nhà cung cấp – chủ yếu là các công ty CNTT lớn– và tất cả đều là nguồn đóng hoặc mang tính đóng (dùng nguồn mở nhưng khôngchia sẻ, biến thành của riêng) Sự lệ thuộc ngày càng nhiều vào các nhà cung cấp vìchỉ có họ mới có thể chỉnh sửa, mở rộng, phát triển hệ thống, nguy cơ không thể kếtnối giữa các hệ thống ứng dụng do được phát triển từ những giải pháp độc lập, sựbất bình đẳng đối với các doanh nghiệp CNTT vừa và nhỏ vì những doanh nghiệpnày khó có thể chen chân vào thị trường quan trọng này vì không đủ lực đầu tư tạo
ra khung phát triển CPĐT riêng,
Chính phủ Hàn Quốc đã giải quyết như thế nào?6
Bài toán đặt ra cho các cơ quan chức năng của chính phủ Hàn Quốc là: Thứnhất: Cần phải thiết lập khung phát triển CPĐT chuẩn của quốc gia để phát triển tất
cả các hệ thống CPĐT trong nước một cách thống nhất Như thế sẽ đảm bảo đượctính thống nhất trong toàn bộ hệ thống CPĐT Hàn Quốc, tất cả các hệ thống ứngdụng có thể tích hợp được vào hệ thống chung Thứ hai: Khung phát triển CPĐTchuẩn đó phải được phát triển trên nền tảng mã nguồn mở để nhà nước không bị lệthuộc vào nhà cung cấp, tăng khả năng bảo vệ an toàn thông tin và tạo điều kiện chocác DN CNTT vừa và nhỏ tham gia phát triển các ứng dụng CPĐT cho nhà nước
Để làm việc này, cơ quan chủ trì triển khai xây dựng CPĐT của Hàn Quốcthực hiện việc khảo sát chi tiết các khung phát triển CPĐT nguồn đóng hiện hữunhằm tìm ra những chức năng chung nhất, những công cụ phù hợp nhất cho việc
6 Nguyễn Tuấn Hoa, Những bài học trong xây dựng chính phủ điện từ ở Hàn Quốc
Trang 38phát triển từng phân hệ chức năng trong bộ công cụ phát triển hệ thống CPĐT vàchuẩn hóa chúng để lập thành khung phát triển CPĐT chuẩn quốc gia.
Sau đó, chính phủ Hàn Quốc tổ chức nghiên cứu, lấy ý kiến và nguyện vọng
từ những người trong cuộc gồm các doanh nghiệp CNTT lớn, nhỏ và vừa, các tổchức xã hội, các cơ quan chính phủ và người dân – đối tượng sử dụng các dịch vụcủa chính phủ - nhằm xác định chiến lược phát triển CPĐT ở Hàn Quốc
Tất cả hướng đến tầm nhìn: Cải thiện chất lượng của các dịch vụ CPĐT vànâng cao hiệu quả đầu tư vào CNTT-TT của chính phủ
Chính phủ Hàn Quốc chủ trương xây dựng một khung phát triển CPĐT nguồn
mở dựa trên 4 nền tảng là “hợp tác”, “đối thoại”, “mở” và “cộng sinh” Dựa trênkhung này thực hiện:
- Thuê ngoài phát triển nguồn mở: Sử dụng 40 phần mềm nguồn mở đượcphát triển bởi 11 công ty CNTT lớn và các công ty CNTT vừa và nhỏ
- Quy trình mở: Thu thập ý kiến từ hơn 500 đầu mối, tổ chức hơn 20 cuộcgặp với các doanh nghiệp tư nhân
- Đầu ra mở: Ứng dụng khung phát triển CPĐT nguồn mở để phát triển 283
dự án CPĐT, đào tạo miễn phí cho 3.204 chuyên viên phát triển, công bố công khai430.000 dòng lệnh nguồn mở cho hơn 200.000 lượt tải về sử dụng
- Hệ sinh thái mở: Thành lập Hiệp hội nguồn mở gồm các doanh nghiệpphần mềm lớn, vừa và nhỏ Thành lập trung tâm hợp tác Công – Tư để phối hợp lựclượng phát triển các ứng dụng CPĐT
Cuối cùng, chính phủ Hàn Quốc đã tạo ra một khung phát triển CPĐT chuẩndùng để phát triển và vận hành các hệ thống CPĐT Khung này cung cấp:
- Các chức năng cơ bản dùng để phát triển hệ thống CPĐT
- Tích hợp khung phát triển CPĐT với các chức năng mới để hình thành hệthống CPĐT
- Môi trường cạnh tranh lành mạnh được tạo ra cho mọi đối tượng tham gianhờ chia sẻ các chức năng cơ bản
Thành tựu đạt được
Trang 39Đến nay, những thành tựu đạt được của Chính phủ Hàn Quốc khi triển khaichính phủ điện tử gồm: Thứ nhất, nâng cao hiệu quả và minh bạch của công táchành chính: Việc sử dụng văn bản điện tử đã trở thành tiêu chuẩn, 100% sử dụngvăn bản điện tử trao đổi giữa các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp trong côngtác quản lý hành chính như quản lý nhân sự, tài chính, mua sắm công Các cơ quanchính phủ cung cấp các văn bản pháp lý, thủ tục, giấy tờ cũng như quá trình xâydựng chính sách pháp luật công khai trên mạng cho người dân; Thứ hai, cung cấpdịch vụ công hướng đến người dân và doanh nghiệp: người dân có thể ở nhà sửdụng các dịch vụ công trên mạng như các thủ tục dân sự, khai báo thuế (hiện có
5000 dịch vụ công trên mạng) và các hoạt động của doanh nghiệp được hỗ trợ qua
hệ thống một cửa trên mạng như thủ tục hải quan, kinh doanh trực tuyến; Thứ ba,tăng cường sự liên kết của người dân với chính sách của chính phủ: Người dân cóthể tham gia vào quá trình xây dựng chính sách pháp luật dễ dàng thông qua hệthống dịch vụ hành chính công cung cấp các dịch vụ dân sự và nhận các góp ý quamạng; Thứ tư, tăng cường hiệu quả quản lý thông tin với toàn bộ hệ thống thông tinchính phủ được quản lý bởi trung tâm điện toán dữ liệu quốc gia nhằm bảo mật, bảođảm toàn vẹn và được khai thác rất hiệu quả nhằm liên kết, chia sẻ thông tin của hệthống các cơ quan chính phủ
Bài học rút ra
Sự thành công và kinh nghiệm triển khai mô hình chính phủ điện tử tại HànQuốc là một bài học rất cần thiết cho Việt Nam trong quá trình nỗ lực xây dựng hệthống chính phủ điện tử Những bài học đó gồm: Trước hết cần hoàn thiện pháp luật
và kiến trúc tiêu chuẩn hệ thống thông tin quốc gia nhằm chia sẻ thông tin, quản lýchất lượng thông tin thống nhất, trong đó việc xây dựng trung tâm dữ liệu số quốcgia là rất cần thiết; Hoàn thiện cơ chế tài chính đầu tư cho dự án công nghệ thôngtin nhằm thúc đẩy việc triển khai dự án; Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợpgiữa các cơ quan chính phủ trong việc triển khai chính phủ điện tử (cải cách hànhchính nhà nước); Tăng cường năng lực và nâng cao nhận thức về chính phủ điện tửđến các cán bộ chính phủ để hiểu được tầm quan trọng của chính phủ điện tử và sự
Trang 40cần thiết thay đổi ngay từ bên trong nội bộ chính phủ, đồng thời đổi mới nhận thứccủa tầng lớp lãnh đạo trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động củachính phủ; Đẩy mạnh đào tạo, tuyên truyền về chính phủ điện tử, công nghệ thôngtin để người dân hiểu và ủng hộ chính phủ trong công tác triển khai chính phủ điệntử; Xây dựng đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm triển khai chính phủ điện tử tạiViệt Nam.
đô thị để cung cấp các ứng dụng và dịch vụ chính quyền điện tử cho cán bộ Nhànước và công dân Mạng lưới wifi công cộng miễn phí bao phủ nội đô với 430 điểmphát sóng, băng thông đạt 1Gbps, trung bình 20.000 lượt người sử dụng/ngày Bêncạnh đó, hệ thống Một cửa đã được triển khai cho tất cả cơ quan Nhà nước, cungcấp 1.196 thủ tục hành chính, bảo đảm việc liên thông quy trình và dữ liệu giữa các bộphận và phòng ban trong cùng một quận/phường, và giữa quận/phường với các sởngành Bên cạnh các cơ sở dữ liệu dùng chung và các hệ thống Mô hình hệ thốngthông tin chính quyền điện tử Đà Nẵng được triển khai trên nền tảng phát triển ứngdụng Chính phủ điện tử nguồn mở eGov Platform, học tập kinh nghiệm từ Hàn Quốc.Nền tảng eGov Platform tại Đà Nẵng được xây dựng trên công nghệ Java vớikhả năng mở rộng cao và giao diện thân thiện với người dùng, đã có đủ các chứcnăng hỗ trợ dịch vụ công liên thông trực tuyến Sử dụng nền tảng này, chính quyềnđịa phương có thể cung cấp dịch vụ công đa kênh một cách đồng bộ qua cổng dịch
vụ trực tuyến một cửa, trung tâm dịch vụ một cửa, tin nhắn SMS, điện thoại thông