1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp: Tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội

102 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội thực hiện với mục đích nhằm đề xuất giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1- Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hiện nay hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn (NHNo&PTNT) Việt Nam nói chung và NHNo&PTNT chi nhánh huyện Phúc Thọ nói riêng vẫn là hoạt động chủ yếu

Trong những năm qua, hoạt động tín dụng của chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế chung của Huyện, danh mục tín dụng được thay đổi tích cực, tăng tỷ trọng cho vay đối với hộ nông nghiệp cũng như doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, quy trình tín dụng từng bước được thực hiện theo chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng, Chi nhánh luôn phải đối diện với nhiều loại rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng Do vậy, để đảm bảo an toàn trong hoạt động, quản trị rủi ro tín dụng đã được Chi nhánh đặc biệt quan tâm Mặc dù vậy, quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu: rủi ro tín dụng vẫn xảy ra và gây ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế - xã hội

Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhu cầu tăng trưởng tín dụng lớn, rủi ro tín dụng có nguy cơ gia tăng, Chi nhánh sẽ khó phát triển bền vững nếu không chú trọng hơn tới quản trị rủi ro tín dụng

Chính vì tính cấp thiết như trên, tôi chọn đề tài: “Tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn góp phần đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn

2- Mục đích nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội Để đạt được mục tiêu đó, các nhiệm vụ cụ thể cần được thực hiện:

Trang 2

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội

3- Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu: Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng

thương mại

4- Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2012 đến 2014

5- Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, các phương pháp nghiên cứu được

sử dụng: Phương pháp phân tích tổng hợp; Phương pháp thống kê, so sánh;

6- Kết cấu

Luận văn được kết cấu theo 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng

thương mại

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và

Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội

Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội

Trang 3

3

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại

* Khái niệm

Thuật ngữ “Ngân hàng” đã có từ rất lâu, hoạt động ngân hàng được chứng minh là gắn bó cùng với sự hình thành đời sống kinh tế và xã hội loài người, nhiều tài liệu và di chứng khảo cổ cho thấy hoạt động ngân hàng đã ra đời từ 3 - 4 ngàn năm trước công nguyên Tại Hy Lạp các nhà đổi tiền được gọi là Trapezita - tiếng Hy lạp có nghĩa là cái bàn Các Trapezita ngồi trước các bàn đổi tiền để nhận tiền của giai cấp quí tộc, người giầu có, vv Ở Ý các hoạt động mua, bán trao đổi vay tiền được tiến hành trên các bàn dài gọi là Banca, đây cũng là từ xuất phát gốc của từ Banque (Pháp), Bank ( Anh, Mỹ , Đức ), Banco (Ý) có nghĩa là ngân hàng sau này

Từ thế kỷ XVIII trở về trước, hoạt động ngân hàng chưa thực sự phát triển và chưa có vai trò quan trọng Tuy nhiên, từ đó trở lại đây đặc biệt là trong thời đại ngày nay ngân hàng được xem như là “mạch máu” của nền kinh

tế, hoạt động ngân hàng thể hiện sức mạnh và tiềm lực của nền kinh tế

Cùng với chiều dài lịch sử phát triển của ngành ngân hàng, trong mỗi giai đoạn, hoạt động ngân hàng cũng có sự thay đổi, bên cạnh đó với các hoạt động đa dạng lại luôn biến động với sự thay đổi chung của nền kinh tế Mặt khác, do tập quán luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác nhau dẫn đến quan niệm về Ngân hàng thương mại không thống nhất giữa các nước

và khu vực trên thế giới:

Trang 4

Tại Mỹ, nơi có thị trường tài chính phát triển nhất thế giới: "Ngân

hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”

Nước Pháp coi “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề

thường xuyên, nhận của công chứng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, Tín dụng hay tài chính”

Đan Mạch thì coi “Ngân hàng là nơi thực hiện các nghiệp vụ thiết

yếu bao gồm: thu nhận tiền ký thác; buôn bán vàng bạc; hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện Tín dụng và hối phiếu; bảo lãnh các món nợ; thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân; đứng ra bảo hiểm, bảo đảm ký quỹ; tham dự vào thiết lập các xí nghiệp”

Tại Việt Nam, cũng có nhiều quan niệm khác nhau về NHTM, nhưng tôi đồng ý với quan niệm cho rằng:

- Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu

- NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà các hoạt động chủ yếu và

thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán

* Đặc điểm của Ngân hàng thương mại

Hoạt động ngân hàng thương mại là hình thức kinh doanh kiếm lời, theo đuổi mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu Ngân hàng thực hiện hai hình thức hoạt động là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau Ngân hàng thương mại là người “đi vay để cho vay” nhằm

Trang 5

5

qua các nghiệp cụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối, chứng khoán, để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời gian nhất định nhằm mục đích thu phí dịch vụ hoặc hoa hồng

Hoạt động ngân hàng thương mại phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, nghĩa là chỉ khi ngân hàng thương mại thoả mãn đầy đủ các điều kiện khắt khe do pháp luật qui định như điều kiện về vốn, phương án kinh doanh thì mới được phép hoạt động trên thị trường

Là một trung gian tài chính, NHTM thường phải đối diện với nhiều rủi

ro NHTM hoạt động chủ yếu dựa vào lượng vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư Do vậy, khi rủi ro xảy ra, sự đổ vỡ của một NHTM có thể kéo theo sự đổ vỡ của nhiều ngân hàng khác, thậm chí cả hệ thống Nhằm tránh tình trạng đó, hoạt động của NHTM chịu sự quản lý chặt chẽ hơn hoạt động của bất kỳ một tổ chức kinh tế nào trong nền kinh tế

* Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại

- Huy động vốn:

Hoạt động huy động vốn là hoạt động cơ bản của NHTM NHTM huy động vốn dưới các hình thức khác nhau như: nhận tiền gửi (tiền gửi thanh toán, tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm không kỳ hạn), đi vay, phát hành giấy tờ

có giá, vốn tiếp nhận tài trợ, vốn ủy thác đầu tư Nguồn vốn huy động dồi dào

sẽ giúp NHTM chủ động trong hoạt động kinh doanh, giảm rủi ro thanh khoản Tuy nhiên, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên việc huy động nguồn vốn như thế nào sẽ được các NHTM đưa ra trên cơ sở chiến lược kinh doanh và diễn biến thị trường trong từng thời kỳ

- Hoạt động tín dụng:

Hoạt động tín dụng của các NHTM được hình thành từ rất sớm, ngay từ khi thành lập các ngân hàng Những người tổ chức ra NHTM, ngay từ đầu đã luôn tìm kiếm các cơ hội để tiến hành cho vay, coi đó như là một nhu cầu chủ yếu trong việc duy trì và mở rộng hoạt động của mình Các NHTM đã góp

Trang 6

phần thúc đẩy phát triển kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng vốn đầu tư đựơc mở rộng và từ đó làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên

Tín dụng ngân hàng cung ứng cho những người cần vốn để mua, chế biến, tổng hợp và cất trữ sản phẩm, sau đó bán trực tiếp cho người tiêu dùng Người nông dân nhờ có vốn vay, có thể mua hạt giống, thức ăn, phân bón và các nhu cầu cần thiết khác cho việc thu hoạch và trồng trọt Tín dụng ngân hàng còn tạo cho họ khả năng để mua sắm vật tư, thiết bị, máy móc và thuê mướn lao động Việc dự trữ, vận chuyển hàng hóa của hệ thống thương nghiệp đến tay người tiêu dùng, không thể không có yếu tố vốn tín dụng được các NHTM cung ứng Bên cạnh các hoạt động tài trợ cho nông nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp, NHTM còn tài trợ cho người tiêu dùng thông qua việc mở rộng tín dụng tiêu dùng với việc mua nhà, phương tiện đi lại và các trang thiết bị khác

Cùng với tín dụng ngắn hạn, NHTM còn thực hiện tín dụng đầu tư, nhằm mở rộng và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật; hoặc cho Chính phủ vay trong trường hợp ngân sách thiếu hụt thông qua việc mua các chứng khoán của Chính phủ

- Hoạt động trung gian khác:

Ngoài hai hoạt động cơ bản là hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng thì Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các dịch vụ trung gian cho khách hàng của mình Các dịch vụ này được coi là hoạt động trung gian bởi vì khi thực hiện các hoạt động này ngân hàng không đứng vai trò là con nợ hay chủ nợ mà đứng ở vị trí trung gian để thoả mãn nhu cầu khách hàng về dịch

vụ mà khách hàng cần

Ngày nay, các dịch vụ của ngân hàng không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, các dịch vụ ngày càng đa dạng Hoạt động trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ khác nhau: như dịch vụ thu hộ chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản

Trang 7

7

hàng khác nhau; dịch vụ tư vấn cho khách hàng các vấn đề tài chính, dich vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá dịch vụ chi lương cho các doanh nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động Đây là những khoản chi thường xuyên trong tháng, nếu không có dịch vụ này khách hàng sẽ tốn nhiều thời gian và phiền toái khi thanh toán các khoản này, cung cấp các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt

Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ ngân hàng theo đó cũng phát triển theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng thực hiện nghiệp vụ trung gian mang tính dịch sẽ đem lại cho ngân hàng những khoản thu nhập khá quan trọng Điều cần lưu ý là dịch vụ ngân hàng sẽ giúp ngân hàng phát triển toàn diện.Tại các nước phát triển, các ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau bằng con đường “phi giá”, tức là luôn có những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng, không ngừng tìm tòi những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng Dịch vụ ngân hàng càng phát triển, thể hiện xã hội càng văn minh, nền công nghiệp càng phát triển Lợi nhuận các ngân hàng không chỉ ở nghiệp vụ cho vay, mà phân nửa từ các hoạt động dịch vụ mang lại, nhưng lại là lĩnh vực ít rủi ro

Ba lĩnh vực hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng, thực hiện các hoạt động trung gian là các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Ba hoạt động đó có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển, tạo uy tín cho ngân hàng Có huy động vốn thì mới có nghiệp vụ cho vay, cho vay có hiệu quả phát triển kinh tế thì mới có nguồn vốn để huy động vào, đồng thời muốn cho vay và huy động vốn tốt thì ngân hàng phải làm tốt vai trò trung gian, chính sự kết hợp đồng bộ đó tạo thành quy luật trong hoạt động của ngân hàng và tạo thành xu hướng kinh doanh tổng hợp đa năng của các Ngân hàng thương mại

1.1.1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

Tín dụng là thuật ngữ chỉ giao dịch tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay, trong

Trang 8

đó, bên cho vay chuyển giao tài sản của mình cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định đã được thỏa thuận, bên đi vay sử dụng khoản tiền đó

và sẽ phải hoàn trả vô điều kiện đầy đủ gốc, lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

Tín dụng của NHTM là quan hệ tín dụng, trong đó bên cho vay là các NHTM, bên đi vay là các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế có nhu cầu sử dụng vốn và đáp ứng đầy đủ các điều kiện của NHTM để được vay vốn

Hoạt động tín dụng của NHTM là việc NHTM sử dụng vốn huy động được để cho vay đối với các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng vốn để phục

vụ tiêu dùng, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó NHTM thu lợi nhuận từ lãi cho vay sau khi bù đắp chi phí huy động vốn

* Phân loại hoạt động tín dụng

Có nhiều tiêu chí để phân loại tín dụng ngân hàng, tuy nhiên có thể phân loại theo một số tiêu chí thông dụng sau:

- Căn cứ vào thời hạn:

Tín dụng ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng Thông thường loại hình tín dụng này sẽ đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của tổ chức và nhu cầu chi tiêu cá nhân

Tín dụng trung hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng Loại hình tín dụng này nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đầu tư các dự án có quy

mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Thông thường biện pháp bảo đảm cho các khoản tín dụng này là khách hàng thế chấp chính tài sản hình thành từ vốn vay

Tín dụng dài hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư dây chuyền máy móc thiết bị đồng bộ, giá trị lớn, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Thông thường biện pháp bảo đảm cho các khoản tín dụng này là khách hàng thế chấp chính

Trang 9

9

- Căn cứ vào biện pháp bảo đảm, có thể phân chia thành

Tín dụng có bảo đảm đầy đủ bằng tài sản: là các khoản tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ khách hàng được bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay hoặc bên thứ ba hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Loại hình tín dụng này giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, trong trường hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng có toàn quyền xử lý tài sản để thu hồi nợ

Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là các khoản tín dụng mà theo

đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng không được bảo đảm bằng tài sản cầm cố thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Ngân hàng cấp tín dụng hoàn toàn dựa trên đánh giá năng lực và uy tín của khách hàng Loại hình tín dụng này khá rủi ro với ngân hàng, do đó chỉ thực hiện đối với những khách hàng mà ngân hàng đánh giá có uy tín, có đầy đủ năng lực

* Qui trình tín dụng

Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng

Một quy trình tín dụng căn bản gồm các bước:

Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn

Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như: năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng; khả năng sử dụng vốn vay; khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)

Bước 2: Phân tích tín dụng

Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lại của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay Mục tiêu là:

Trang 10

Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng,

dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng

Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm

cơ sở cho việc ra quyết định cho vay

Bước 3: Ra quyết định tín dụng

Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng

Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản:

Đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt

Từ chối cho vay với một khách hàng tôt

Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng

Bước 4: Giải ngân

Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng

Nguyên tắc giải ngân: phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ Nhưng đồng thời cũng phải tạo

sự thuận lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng

Bước 5: Giám sát tín dụng

Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng, để đảm bảo khả năng thu nợ

Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng

Trang 11

11

Trong hoạt động tín dụng, Ngân hàng thương mại phải đối diện với nhiều rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng

1.1.2 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại

Có nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng (RRTD) có thể đưa ra là :

- Theo quan điểm của A.Saunders và H Lange định nghĩa : “Rủi ro tín

dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, nghĩa

là khả năng luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời gian”

Quan điểm của TimmothyW.Koch : “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi

tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn”

Theo đinh nghĩa của Uỷ ban Basel thuộc ngân hàng thanh toán quốc tế:

“Rủi ro tín dụng là khả năng là khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận”

Theo quyết định 493/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam tại

khoản

1, điều 2: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng là khả

năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Như vậy có thể thấy rằng có nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng

(RRTD), song về bản chất RRTD là : Khả năng (xác suất) xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được nợ vay (gồm gốc

và /hoặc lãi)

1.1.2.3 Hậu quả khi xảy ra rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại

Trang 12

Khi rủi ro tín du ̣ng xảy ra sẽ làm ảnh hưởng xấu đến rất nhiều chủ thể Đầu tiên là bản thân các ngân hàng và khách hàng, sau đó là tác động đến cả nền kinh tế

a Hậu quả đối với Ngân hàng thương mại

Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) làm cho nguồn vốn của các NHTM bị thất thoát, trong khi đó, các ngân hàng này vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút Nếu lợi nhuận không đủ thì ngân hàng còn phải dùng chính vốn tự có của mình để bù đắp thiệt hại Điều này có thể làm ảnh hưởng đến quy mô hoạt động của các NHTM

Mặt khác, tỷ lệ nợ quá hạn cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị suy giảm, dẫn đến làm giảm khả năng huy động vốn của ngân hàng, nghiêm trọng hơn nó có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản, đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản và đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng

b Hậu quả đối với khách hàng

Đối với bản thân chủ thể không có khả năng hoàn trả vốn (lãi) cho ngân hàng thì họ gần như không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là cả những nguồn khác trong nền kinh tế do đã mất đi uy tín

Cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các chủ thể đi vay khác cũng bị hạn chế hơn khi rủi ro tín du ̣ng buộc các NHTM hoặc thắt cho vay hay thậm chí phải thu hẹp quy mô hoạt động

Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền gửi và lãi nếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản

c Hậu quả đối với nền kinh tế

Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và cung cấp tiền cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế Do đó, rủi ro tín du ̣ng có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế

Trang 13

13

Ở mức độ thấp, rủi ro tín du ̣ng khiến cơ hội tiếp cận vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng xấu đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế

Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản, thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước

1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản trị và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hiệu quả cho vay cả ngắn, trung và dài hạn của NHTM

Theo Uỷ ban Basel thì: “Hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng là một bộ

phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử cho sự thành công của Ngân hàng trong dài hạn”.(Basel Committee on Banking Supervision, 2000)

Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng có thể được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng bản chất là giống nhau, và đứng trên góc độ quản trị học,

chúng ta có thể hiểu: quản trị rủi ro tín dụng là quá trình các ngân hàng tiến

hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận được

Như vậy, quản trị rủi ro tín dụng gắn liền với quản trị và kinh doanh tín dụng Quản trị rủi ro tín dụng phải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt

Trang 14

động tín dụng ngay cả khi thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không ngừng gia tăng Nói cụ thể hơn quản trị rủi ro tín dụng phải nhằm vào hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàn trong kinh doanh của mỗi ngân hàng bằng các chính sách, biện pháp quản trị, giám sát các hoạt động tín dụng một cách khoa học và hiệu quả

Hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động có tính nhạy cảm cao, nó chịu ảnh hưởng của mọi biến động kinh tế - xã hội và cũng ảnh hưởng mạnh đến sự ổn định của kinh tế - xã hội Nếu một ngân hàng nào đó gặp rủi ro tín dụng, lâm vào tình trạng thiếu khả năng thanh toán, có nguy cơ đi đến phá sản, sẽ gây tâm lý hoảng loạn khiến mọi người đổ xô đi rút tiền để tránh tổn thất, điều đó có thể gây đổ vỡ mang tính hệ thống

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 tại châu Á đã làm cho nhiều ngân hàng mất hàng tỷ đô la Mỹ, bị phá sản, sáp nhập, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất đó là tỷ lệ nợ quá hạn tại các ngân hàng thời điểm đó tăng cao Gần đây nhất là cuôc khủng hoảng tài chính kinh tế Mỹ có căn nguyên từ việc ngân hàng cho vay thế chấp nhà đất rủi ro cao, đã gây nên khủng hoảng tài chính toàn cầu

Nếu rủi ro tín dụng xảy ra trong phạm vi nhỏ, thuộc mức kiểm soát của ngân hàng thì ngân hàng có thể xử lý từ quỹ dự phòng rủi ro tín dụng Nhưng nếu rủi ro tín dụng vượt quá khả năng kiểm soát của ngân hàng thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, không chỉ dừng ở việc phá sản của ngân hàng đó mà còn gây tác động tiêu cực đến các tổ chức tín dụng khác, các doanh nghiệp có liên quan, cao hơn là tới toàn bộ nền kinh tế và gây khủng hoảng tài chính

Do đó quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề sống còn của bất kỳ NHTM nào

Mức độ rủi ro tín dụng tại các NHTM ngày càng tăng cao Ngày càng nhiều những ngân hàng được thành lập đã tạo ra cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các NHTM để chiếm lĩnh thị phần Ngoài việc nâng cao

Trang 15

15

rộng quy mô, phát triển đa dạng các loại hình sản phẩm cấp tín dụng hoặc vô hình chung nới lỏng điều kiện cấp tín dụng; và điều kiện này đồng nghĩa với việc rủi ro tín dụng ngày một tăng cao

Do đó, để phát triển một cách bền vững các ngân hàng phải đồng thời tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng tương ứng Quản trị rủi ro tốt nhất chính là lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng và là công cụ để tạo ra giá trị của ngân hàng

1.2.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro tín dụng là điều mà tất cả những nhà quản lý ngân hàng đều rất quan tâm, vì nếu quản trị được thì việc hạn chế và phòng ngừa rủi ro trở nên dễ dàng hơn

Quản trị rủi ro tín dụng bao gồm nhiều cấu phần như chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, các công cụ đo lường RRTD, chấm điểm khách hàng vv Một cách tổng quát theo thông lệ, quản trị RRTD được phân chia thành 4 nội dung lớn: nhận dạng RRTD, đo lường RRTD, kiểm soát, ngăn ngừa RRTD và xử lý tổn thất Mặc dù có sự phân đoạn trong qui trình quản lý RRTD song một nguyên tắc có tính xuyên suốt là các khâu được phân ra trong qui trình phải luôn so sự liên hệ gắn bó với nhau, tạo thành một chu trình liên tục có vậy mới bảo đảm kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã định RRTD một khi đã xác định thì cần phải được phân tích, đo lường và đưa

ra các biện pháp quản lý theo dõi Cũng trong quá trình quản lý theo dõi, hệ thống quản trị RRTD phải có khả năng xác định tìm ra các nguy cơ mới và công việc quản trị rủi ro được lặp lại

Quản trị RRTD hiệu quả không có nghĩa là rủi ro không xảy ra mà là rủi ro có thể xảy ra nhưng xảy ra trong mức độ đoán trước được và Ngân hàng

đã chuẩn bị đủ nguồn lực để bù đắp các rủi ro có thể xảy ra đó

1.2.2.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng

Nhận biết RRTD là việc phát hiện, xác định được các nguy cơ rủi ro tồn tại trong hoạt động tín dụng Sự phát triển của công nghệ, thị trường và xu

Trang 16

hướng toàn cầu hóa làm cho số lượng rủi ro ngày càng gia tăng và khả năng xảy ra rủi ro sẽ thường xuyên hơn Vì vậy, một hệ thống quản trị rủi ro có hiệu quả phải là hệ thống có khả năng nhận biết hầu hết các rủi ro của danh mục tín dụng và trả lời được các câu hỏi sau:

RRTD là do đánh giá tín dụng chưa tốt hay do thoái trào kinh doanh hay do gian lận hay chất lượng tài sản thế chấp kém

Ngân hàng có thể thấy RRTD tăng dần trong thời điểm này do cho vay tập trung không đúng thị trường?

Ngân hàng có thể đạt được mục tiêu dài hạn về RRTD có thể chấp nhận?

Để đánh giá RRTD tiềm tàng của mỗi khách hàng ngay từ khâu phân tích hồ sơ xin vay, ngân hàng thường tiến hành nghiên cứu chi tiết sáu khía cạnh (6 "C", chữ cái đầu của tiếng Anh) của hồ sơ xin vay: tính cách, năng lực, dòng tiền mặt, tài sản thế chấp, các điều kiện và sự kiểm soát Tất cả phải thỏa mãn các yêu cầu đối với một khoản cho vay tốt theo quan điểm của người cho vay

Tính cách (Character): cán bộ tín dụng phải có được những bằng chứng cho thấy rằng khách hàng có mục tiêu rõ ràng khi xin vay và có kế hoạch trả

nợ nghiêm túc

Năng lực (Capacity): cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng khách hàng

có đủ tư cách pháp lý trong việc ký kết hợp đồng vay vốn

Dòng tiền mặt (Cash flow): đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng đối với một yêu cầu xin vay và thường tập trung vào câu hỏi: liệu người vay có khả năng tạo ra một dòng tiền mặt đủ lớn để đáp ứng yêu cầu hoàn trả cho ngân hàng món vay không?

Tài sản thế chấp (Collateral): trong việc đánh giá tài sản thế chấp cho khoản vay, cán bộ tín dụng phải đặt câu hỏi: người vay có sở hữu một tài sản nào với giá trị ròng tương xứng với khoản vay không?

Trang 17

17

Các điều kiện môi trường (Conditions): cán bộ tín dụng và các chuyên gia phân tích tín dụng phải nhận biết được những xu hướng tiến triển gần đây của khách hàng cũng như của ngành mà khách hàng hoạt động, thấy được mức độ tác động của những thay đổi trong nền kinh tế đối với khoản cho vay

Sự kiểm soát (Control): nhân tố cuối cùng trong việc đánh giá độ tin cậy của một khách hàng là sự kiểm soát, nó tập trung vào các câu hỏi như: liệu những thay đổi khi chính sách đưa ra qui định mới có ảnh hưởng bất lợi đến người vay không và liệu khách hàng có đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng tín dụng do các cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra?

1.2.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng

Đo lường RRTD là bước tiếp theo sau khi phát hiện được nguy cơ rủi

ro Trên thực tế các bước này khá gần gũi với nhau và thường được gộp chung lại trong quá trình thực hiện tác nghiệp Mục đích của các bước này là giúp cho toàn bộ bộ máy quản trị rủi ro hiểu chính xác và nhất quán nguy cơ rủi ro đã xác định, phân tích rõ nguyên nhân và quan trọng nhất là lượng hóa mức độ rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng để định giá rủi ro có thể chấp nhận được; trích lập dự phòng rủi ro

Để duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp, theo thông lệ tốt nhất do ủy ban Basel (2000) đề xuất, ngân hàng phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 1: ngân hàng cần có hệ thống quản lý liên tục các danh mục đầu tư có RRTD

Nguyên tắc 2: ngân hàng cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng khoản tín dụng, bao gồm xác định mức độ đủ dự phòng và dự trữ

Nguyên tắc 3: khuyến khích các ngân hàng phát triển và sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý RRTD Hệ thống xếp hạng cần thống nhất với bản chất, quy mô và mức độ phức tạp của các hoạt động của ngân hàng

Trang 18

Nguyên tắc 4: ngân hàng cần có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích để cho phép lãnh đạo đo lường được RRTD trong mọi hoạt động nội bảng và ngoại bảng Hệ thống thông tin quản lý phải cung cấp đầy đủ thông tin về cơ cấu của danh mục đầu tư tín dụng, bao gồm xác định sự tập trung rủi

1.2.2.3 Kiểm soát ,ngăn ngừa rủi ro tín dụng

Đây là khâu thể hiện rõ nhất tính chiến lược của ngân hàng về RRTD Trước hết, ngân hàng cần xây dựng được hệ thống các công cụ hạn chế rủi ro như chính sách thiết lập giới hạn tín dụng, mức ủy quyền, các tiêu chuẩn cấp tín dụng, xếp hạng tín dụng

Chính sách thiết lập giới hạn tín dụng được xây dựng đề cập vào ba giới hạn cơ bản đó là: giới hạn tín dụng một khách hàng; giới hạn tín dụng nhóm khách hàng có liên quan; giới hạn tín dụng theo ngành, lĩnh vực hay khu vực địa lý

Xây dựng và tuân thủ tiêu chuẩn cấp tín dụng là việc ngân hàng đặt ra các điều kiện về năng lực khách hàng, tài chính, phương án/dự án , tuân thủ quy định của pháp luật và quy định nội bộ của ngân hàng

1.2.2.4 Xử lý tổn thất khi để xảy ra rủi ro tín dụng

Đây là khâu cuối cùng của quá trình quản trị RRTD Theo đó, tổn thất

dự kiến được coi là chi phí hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó thường được tính vào giá của khoản tín dụng và được bù đắp bằng nguồn dự phòng Tổn thất ngoài dự kiến nếu quỹ dự phòng không đủ bù đắp thì phải bù đắp

Trang 19

19

Để đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng và dự phòng đầy đủ cho các RRTD, thị trường, tác nghiệp, hiệp ước Basel II quy đinh: vốn tự có của ngân hàng tối thiểu phải đạt 8% tổng tài sản có rủi ro (được xác định bằng cách nhân số vốn cần thiết cho rủi ro thị trường và tác nghiệp với 12.5, sau đó cộng với tổng tài sản có RRTD) Trong đó, tổng tài sản có RRTD được tính toán theo phương pháp tiêu chuẩn hóa hoặc phương pháp tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ

1.2.3 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng

Mô hình quản trị rủi ro tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm

mô hình tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý tín dụng của ngân hàng Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi có rủi ro xảy ra

Những mô hình quản trị RRTD đang được áp dụng hiện nay như sau:

a Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung

Mô hình quản trị RRTD tập trung được hiểu là công tác thẩm định khách hàng, quản lý rủi ro của ngân hàng được tập trung tại hội sở chính theo vùng miền Mô hình này tách biệt độc lập giữa 3 chức năng: chức năng kinh doanh, chức năng quản lý, chức năng quản lý rủi ro và chức năng tác nghiệp

Ưu điểm:

Quản trị rủi ro một cách hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, đảm bảo tính cạnh tranh lâu dài

Trang 20

Thiết lập duy trì môi trường quản trị rủi ro đồng bộ, phù hợp với quy trình quản lý gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh nâng cao năng lực, đo lường giám sát rủi ro

Xây dựng chính sách quản trị rủi ro thống nhất cho toàn hệ thống

Tách biệt độc lập chức năng kinh doanh, tác nghiệp, quản lý

Đội ngũ cán bộ phải có kiến thức chuyên môn sâu

b Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán

Mô hình này được hiểu là công tác thẩm định khách hàng, quản trị rủi

ro của ngân hàng được thực hiện tại từng chi nhánh riêng biệt Hội sở chính chỉ có nhiệm vụ là chỉ đạo định hướng chung và thẩm định những khách hàng vượt quá khả năng cho phép của chi nhánh Mô hình này chưa tách biệt độc lập 3 chức năng: chức năng kinh doanh, quản trị rủi ro và chức năng tác nghiệp

Ưu điểm:

Cơ cấu tổ chức đơn giản, gọn nhẹ

Giải quyết hồ sơ nhanh, tiết kiệm thời gian cho khách hàng

Xây dựng và triển khai mô hình không mất nhiều thời gian công sức

Nhược điểm:

Thiếu sự chuyên sâu

Không tách biệt hoàn toàn, độc lập chức năng kinh doanh, tác nghiệp Việc quản lý hoạt động tín dụng theo phương thức từ xa dựa trên số liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc gián tiếp thông chính sách tín dụng dẫn đến quản lý tín dụng gặp nhiều khó khăn

Trang 21

21

1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá quản trị rủi ro tín dụng

Có nhiều chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động quản trị RRTD của các NHTM, thông thường người ta sử dụng các chỉ tiêu sau:

Tỷ lệ nợ quá hạn:

Dư nợ cho vay quá hạn

Tổng dư nợ cho vay

Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp nhất kết quả hoạt động quản trị RRTD của ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp và/hoặc tỷ lệ nợ quá hạn có xu hướng giảm qua các năm càng phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại đó tốt hay hoạt động quản trị RRTD đạt hiệu quả cao

Không một ngân hàng nào không có nợ quá hạn, nhưng ngân hàng phải thực hiện quản trị rủi ro để duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở một mức độ hợp lý chấp nhận được theo thông lệ Để làm được điều đó, các ngân hàng cần có sự nhìn nhận đúng đắn về nợ quá hạn, cần minh bạch hóa số liệu nợ quá hạn, không che giấu nợ quá hạn và nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn;cần có sự liên kết thông tin giữa các tổ chức tín dụng để có biện pháp giải quyết đúng đắn

Trang 22

Cũng giống như tỷ lệ nợ quá hạn, một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu càng thấp và/hoặc tỷ lệ nợ xấu có xu hướng giảm qua các năm càng phản ánh chất lượng tín dụng của NHTM đó tốt hay hoạt động quản trị RRTD đạt hiệu quả cao Theo ngân hàng thế giới, tỷ lệ này ở mức dưới 5% là có thể chấp nhận được, tốt ở mức 1 - 3%

Quy mô dư nợ và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay

Dư nợ cho vay năm nay Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay = x 100%

Dư nợ cho vay năm trước Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đáp ứng vốn của ngân hàng đối với nền kinh tế Khi sử dụng chỉ tiêu này cần phải có sự kết hợp so sánh với tốc độ tăng trưởng của các ngành nghề khác, so với tốc độ tăng trưởng của các năm trước, hoặc xác định để đánh giá thị phần cấp tín dụng so với các tổ chức tín dụng khác trên cùng địa bàn

Một NHTM có quy mô dư nợ và/hoặc tốc độ tăng trưởng dư nợ năm sau cao hơn năm trước, trong khi tỷ lệ nợ quá hạn/nợ xấu giảm hoặc duy trì ở mức cho phép thể hiện hoạt động quản trị RRTD có hiệu quả

Mức độ tập trung trong cơ cấu tín dụng Nhìn vào sự thay đổi trong cơ cấu tín dụng của một NHTM sẽ thể hiện định hướng và kết quả hoạt động quản trị RRTD của ngân hàng đó Một cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng đa dạng về ngành nghề kinh tế, giảm thiểu sự tập trung ở những yếu tố rủi ro hoặc có tỷ trọng cho vay có bảo đảm cao trong cơ cấu tín dụng, sẽ phản ánh định hướng cấp tín dụng thận trọng

và hoạt động quản trị RRTD bước đầu có hiệu quả

Tính tuân thủ trong việc thực hiện chính sách, chế độ về cấp tín dụng

Là việc chấp hành các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng ngân hàng thông qua các chỉ tiêu như hệ số an toàn vốn tối thiểu 9% (theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010), giới hạn cho vay đối

Trang 23

23

định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005), quy định về giao dịch bảo đảm tiền vay (theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP) Ngân hàng thương mại thực hiện tốt hoạt động quản trị RRTD trước hết phải là một ngân hàng tuân thủ, đáp ứng các quy định về quản trị RRTD của Chính phủ, NHNN

Vốn tự có

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) =

Tổng tài sản "Có" rủi ro quy đổi Tổng tài sản có rủi ro quy đổi bao gồm cả tài sản có nội bảng và tài sản

có ngoại bảng, chỉ tiêu này thể hiện mức độ mạo hiểm của ngân hàng không chỉ trong kinh doanh không chỉ ở các khoản vay của ngân hàng mà còn ở các tài sản có khác như đầu tư tài chính, các tài sản có khác Tuy nhiên, trong hoạt động của các ngân hàng thì tỷ trọng các khoản cho vay chiếm khá lớn, hơn 50% hệ số an toàn vốn tối thiểu phản ánh một đồng vốn tự có bảo vệ được bao nhiêu đồng tài sản có rủi ro của NHTM, nên có thể nói rằng hệ số này càng cao thì càng thể hiện chất lượng tín dụng tốt hơn Hệ số này quản lý tài sản có của ngân hàng, theo quy định của NHNN hiện nay thì tỷ lệ này không được thấp hơn 9% Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thì lợi nhuận luôn tỷ lệ thuận với rủi ro Các NHTM vì tối đa hóa lợi nhuận có thể chấp nhận mức độ rủi ro cao nhưng khi đó thì giá trị tài sản có rủi ro quy đổi của

họ sẽ cao làm tăng nguy cơ RRTD và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng vì hoạt động cho vay luôn chiếm 70% tổng tài sản của các NHTM nước

ta

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan

1.3.1.1 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng

Quy trình quản trị rủi ro tín dụng của NHTM lỏng lẻo tạo điều kiện cho khách hàng lợi dụng để vay vốn và sử dụng vốn không đúng mục đích

Trang 24

Quy trình quản trị rủi ro tín dụng cần được cụ thể hóa việc phân rõ chức năng, nhiệm vụ của từng đối tượng tham gia trong xuyên suốt quá trình tìm kiếm khách hàng, thẩm định hồ sơ cấp tín dụng, kiểm soát sau khi cấp tín dụng Nếu một ngân hàng thực hiện chuẩn các bước của quy trình quản lý rủi

ro thì chất lượng công tác quản trị rủi ro tín dụng sẽ được nâng cao và ngược lại

1.3.1.2 Trình độ cán bộ tín dụng

Con người là yếu tố quyết định đến thành công hay thất bại của một ngân hàng Yếu tố con người gồm các mặt: số lượng, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, cơ cấu nhân sự, phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý và tác nghiệp

Muốn có hoạt động kinh doanh ngân hàng tốt, trước hết phải có đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý giỏi, giàu kinh nghiệm, năng động, phẩm chất đạo đức tốt Mặt khác phải có đội ngũ cán bộ tác nghiệp giỏi nghiệp vụ, hiểu biết rộng về pháp luật, tinh thần trách nhiệm cao với công việc, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, đặc biệt là phải am hiểu và có kinh nghiệm về lĩnh vực tín dụng mà mình quản

lý Một CBTD chuyên quản các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hay hộ sản xuất muốn chuyển sang quản lý các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp hay dịch vụ đô thị, thì cần phải có thời gian mới có thể thích nghi

và tích lũy kinh nghiệm, điều mà một NHTM muốn chuyển từ cho vay khu vực nông thôn về đô thị phải lưu ý khi hoạch định quản trị tín dụng

Đạo đức nghề nghiệp ảnh hưởng đến quản trị tín dụng của NHTM Thực tế cho thấy rằng, phần lớn các sai phạm nổi cộm trong hoạt động ngân hàng những năm qua là do đạo đức nghề nghiệp, những người được giao nhiệm vụ đã đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của ngân hàng

1.3.1.3 Chất lượng thông tin tín dụng

Hệ thống thông tin tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng Thông tin phân tích, dự báo xu thế phát triển và tiềm năng của ngành hàng, chỉ số trung bình ngành, thông tin về thị trường,

Trang 25

25

dụng khách hàng của các cơ quan xếp hạng bên ngoài sẽ giúp người quản

lý, cán bộ thẩm định có thể đưa ra những quyết định cần thiết liên quan đến việc cho vay, quản lý đảm bảo tiền vay, giảm thiểu rủi ro tín dụng

Ngoài ra sự liên kết giữa có NHTM trong việc quản lý thông tin tín dụng khách hàng cũng có tác động không nhỏ Hiện tại sự liên kết này còn lỏng lẻo, chưa có sự kết nối chặt chẽ, dẫn đến việc một khách hàng với một phương án kinh doanh có thể vay vốn tại nhiều ngân hàng với tổng số vốn vượt nhiều lần nhu cầu thực tế

1.3.1.4 Công cụ đo lường rủi ro tín dụng

Việc đo lường mức độ tổn thất dự kiến trước khi quyết định cấp tín dụng cho khách hàng là rất quan trọng Ngân hàng có công cụ và phương pháp đo lường càng chính xác thì xác suất rủi ro xảy ra càng được giảm thiểu

Hiện nay, các ngân hàng thường đo lường mức độ rủi ro thông qua việc chấm điểm xếp hạng tín dụng khách hàng Kết quả chấm điểm phản ánh khả năng trả nợ của khách hàng và là cơ sở để đo lường mức rủi ro dự kiến của ngân hàng Mức độ xếp hạng càng thấp đồng nghĩa với việc khả năng trả nợ của khách hàng thấp và rủi ro cho ngân hàng tăng

1.3.1.5 Hệ thống công nghệ của ngân hàng

Trong lĩnh vực tài chính thì ngân hàng là ngành có mức độ ứng dụng công nghệ thông tin rất cao Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại đáp ứng yêu cầu về độ chính xác trong công việc đánh giá khách hàng, đo lường rủi

ro, kiểm soát khách hàng và khoản vay, giúp ngân hàng ra các quyết định ứng

xử tín dụng phù hợp

1.3.2 Nhóm nhân tố khách quan

* Nhóm nhân tố từ phía khách hàng vay vốn

Bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng

Tình hình tài chính, năng lực quản trị của khách hàng

Năng lực tài chính của khách hàng là một yếu tố rất quan trọng trong quyết định cấp tín dụng của ngân hàng Một doanh nghiệp có tiềm lực tài

Trang 26

chính mạnh, hoạt động kinh doanh ổn định, có uy tín thì khi có rủi ro xảy ra khách hàng có khả năng chống đỡ rủi ro bằng nguồn vốn chủ sở hữu, hạn chế ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng

Ngược lại nếu năng lực tài chính của khách hàng yếu, nguồn vốn hoạt động của khách hàng chủ yếu là nợ vay và vốn chiếm dụng thì khi có rủi ro xảy ra, khả năng khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ với ngân hàng là rất lớn

Bên cạnh năng lực tài chính thì năng lực quản trị điều hành của khách hàng cũng rất quan trọng Khách hàng có năng lực, họ sẽ biết cách sử dụng đồng vốn tự có và vốn vay ngân hàng sao cho có hiệu quả nhất, họ sẽ có khả năng đánh giá để lựa chọn những cơ hội đầu tư có hiệu quả nhưng cũng an toàn cho bản thân họ và cho ngân hàng; từ đó sẽ hạn chế được rủi ro tín dụng cho ngân hàng

Đạo đức của người đi vay

Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố liên quan đến khả năng của người vay trong cách thức sử dụng vốn vay và việc hoàn trả nợ Tuy nhiên, những thông tin này có thể bị thay đổi sau khi doanh nghiệp nhận tiền vay, thực tế đã xảy ta những vụ việc khách hàng lừa đảo, chiếm dụng vốn ngân hàng để sử dụng sai mục đích và không có thiện chí trả nợ ngân hàng

Triển vọng phát triển của ngành nghề mà khách hàng hoạt động

Thể hiện qua vị thế của lĩnh vực, ngành sản xuất kinh doanh của khách hàng, uy tín của khách hàng trên thị trường, mức độ ổn định của các yếu tố đầu vào và thị trường đầu ra; tình hình chính trị và chính sách của các nước tham gia thị trường xuất nhập khẩu chính đối với sản phẩm của doanh nghiệp

* Môi trường chính trị, pháp lý, kinh tế

Môi trường chính trị ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của người đi vay và hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tình hình

Trang 27

Môi trường kinh tế phản ánh qua chu kỳ kinh tế, chính sách kinh tế vĩ

mô từng thời kỳ Khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì hoạt động tín dụng sẽ tăng trưởng và ít rủi ro hơn Ngược lại nếu nền kinh tế trong giai đoạn suy thoái, mất ổn định thì hoạt động tín dụng sẽ gặp rủi ro cao, biểu hiện ở khía cạnh hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng bị thu hẹp, không hiệu quả, nhiều khách hàng bị thua lỗ, phá sản, mất khả năng trả nợ ngân hàng

Chính sách kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ thông qua những quy định

về thuế, chính sách xuất nhập khẩu, sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, qua đó tacs động đến hoạt động tín dụng của NHTM

1.4 KINH NGHIỆM VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

1.4.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số ngân hàng trên thế giới

Mô hình quản trị rủi ro tín dụng từng ngân hàng sẽ không còn hoàn toàn giống nhau, nó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển, tính chất hoạt động, hình thức sở hữu của ngân hàng Để có một chuẩn mực, ta có thể tham khảo một số ngân hàng ở các quốc gia

Trang 28

a Citibank của Mỹ

Để quản trị rủi ro tín dụng, Citibank đã có những biện pháp sau:

Thứ nhất, Citibank có sự phân định rõ chức năng các ban trong cơ cấu

tổ chức có liên quan đến quy trình tín dụng:

- Ban lãnh đạo: Đây là bộ phận có quyền quyết định cao nhất của Citibank Ban lãnh đạo phân bổ nguồn vốn, điều hành hoạt động của cả ngân hàng trong đó có hoạt động tín dụng Ban lãnh đạo có trách nhiệm đề ra mức rủi ro của ngân hàng; đề ra những mục tiêu chiến lược và các quy định chung

áp dụng trong toàn ngân hàng; kiểm tra lại quyết định cấp tín dụng của các cán bộ tín dụng nếu thấy nghi ngờ có khả năng gây ra thiệt hại về vật chất, hoặc ảnh hưởng tới uy tín của ngân hàng

- Ban hoạch định chính sách tín dụng: Bao gồm các cán bộ cao cấp, đứng đầu là trưởng ban Ban này phải chịu trách nhiệm trong việc duy trì một hình thức quản trị rủi ro tín dụng hoàn chỉnh, có hiệu quả; tham gia vào việc lập kế hoạch đầu tư gián tiếp, dự đoán những tổn thất tín dụng; thiết lập các chính sách và tiêu chuẩn tín dụng phù hợp với luật, với quy định chung của ngân hàng; xem xét và chỉnh sửa chính sách tín dụng nếu xét thấy chúng có thể gây ra rủi ro bất thường; xem xét trao quyền cấp tín dụng cho những cán

bộ có đủ năng lực; lập các báo cáo về đầu tư gián tiếp, tập trung đánh giá chất lượng các thông tin rủi ro, tiến trình xử lý rủi ro đối với tất cả các trường hợp quá hạn mức tín dụng cho phép

- Ban quản trị hạn ngạch tín dụng: Những người quản trị hạn ngạch tín dụng có nhiệm vụ điều hành và phát triển các kế hoạch kinh doanh, xem xét

và thông qua các khoản tín dụng, chịu trách nhiệm về chất lượng của khoản tín dụng đó Những người quản trị hạn ngạch tín dụng còn có trách nhiệm phát triển chiến lược kinh doanh, xét và duyệt cho vay các chương trình tín dụng, quản trị đầu tư gián tiếp và kiểm tra chất lượng, sửa chữa các thiếu sót khi cần

Trang 29

29

- Ban đánh giá rủi ro kinh doanh: Nhân viên của ban này ít nhất phải có

10 năm làm việc về nghiệp vụ tín dụng và luân phiên nhau làm trong ban theo yêu cầu phát triển nghiệp vụ Ban này thực hiện việc đánh giá tình hình kinh doanh của các đơn vị và cung cấp thông tin rủi ro trong đầu tư gián tiếp; đưa

ra sự đánh giá độc lập về các hoạt động tín dụng, về các chính sách, sự thi hành và các thủ tục trong quản trị tín dụng; phối hợp hoạt động với giám sát viên và kiểm toán viên độc lập

Thứ hai, Citibank thực hiện đánh giá độ tin cậy của người đi vay: việc

đánh giá độ tin cậy của người đi vay tập trung vào những điểm chủ yếu theo

truyền thống “ Tín dụng 5 chữ C ” như sau:

- Character of management: Năng lực quản trị của người vay;

- Financial capacity of the venture: Năng lực tài chính của người vay;

- Collateral security: Thế chấp đảm bảo khoản vay;

- Condition of the industry: Lĩnh vực mà người vay hoạt động;

- Condition of terms: Các điều khoản và điều kiện tín dụng

Để đưa ra một quyết định đúng đắn là chấp thuận hay từ chối cho vay thì phải đánh giá thận trọng dựa vào các chỉ tiêu đề ra Việc xét duyệt cho vay bao gồm quá trình kiểm tra hồ sơ, kiểm tra việc thanh toán đúng hạn của các khoản vay trước đó, kiểm tra và đánh giá tài sản thế chấp và đánh giá mức độ rủi ro của khoản vay

Thứ ba, Citibank có sự phân biệt giữa quyền cấp tín dụng và quyền phê

duyệt:

- Quyền cấp tín dụng được uỷ nhiệm cho cán bộ tín dụng dựa trên năng lực và tư cách, kỹ năng và kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ học vấn và đào tạo của nhân viên, chứ không dựa vào chức vụ của cá nhân đó trong ngân hàng

- Quyền phê duyệt: Ở Citibank, việc cấp tín dụng không do một người

quyết định, mà được quyết định bởi 3 cán bộ tín dụng, những người chịu trách

Trang 30

nhiệm về cho vay và phải thông qua các chương trình tín dụng hay giao dịch tín dụng riêng lẻ

b Ngân hàng ING bank

ING Bank được coi là ngân hàng hàng đầu Châu âu về hiệu quả trong quản trị rủi ro tín dụng Mô hình mà ngân hàng này áp dụng có một số điểm chính như sau:

Cơ cấu bộ máy: Mô hình hiện đại đều có sự tách bạch rõ ràng giữa

nhiệm vụ quản trị rủi ro và việc thực hiện kinh doanh, đây là nguyên tắc hàng đầu để đảm bảo hiệu quả trong quản trị rủi ro Hệ thống quản trị rủi ro tại ngân hàng này được tách bạch hoàn toàn với bộ phận kinh doanh và khách hàng và được báo cáo trực tiếp lên lãnh đạo cao nhất Cơ cấu bộ máy quản trị rủi ro tín dụng được tổ chức riêng bao gồm bộ phận chính sách và bộ phận quản lý rủi ro và bộ phận xây dựng mô hình tính toán lượng hoá rủi ro

Thẩm quyền: ý kiến của bộ phận quản trị rủi ro tín dụng là yêu cầu bắt

buộc của các quyết định tín dụng Ngân hàng có xu hướng áp dụng hình thức cấp hạn mức tín dụng trên cơ sở đề xuất của bộ phận kinh doanh/khách hàng,

bộ phận rủi ro sẽ lập báo cáo đề xuất đánh giá độc lập đề nghị duyệt một hạn mức tín dụng phù hợp cho từng khách hàng trong một thời hạn thường là một năm và bộ phận kinh doanh/khách hàng được sử dụng hạn mức đó Các khoản tín dụng vượt hạn mức này hoặc với các khách hàng chưa có hạn mức thì đều phải qua bộ phận rủi ro

Thẩm quyền của bộ phận rủi ro còn được thể hiện việc tham gia vào hội đồng tín dụng Các ngân hàng đều qui định mọi cấp hội đồng tư vấn tín dụng phải có thành viên từ bộ phận rủi ro và các thành viên phải chiếm 1/2 thành viên của hội đồng này

Kỹ thuật: việc phân tích tín dụng tại đây sử dụng phương pháp định

lượng RAROC kết hợp với phương pháp định tính nhưng đã trình bày ở phần phân tích tín dụng ở luận văn

Trang 31

31

Hệ thống giới hạn tín dụng : Có nhiều loại giới hạn được sử dụng,

với mỗi khách hàng ngân hàng áp dụng một giới hạn rủi ro tổng thể, dưới mức rủi ro tổng thể này, có hạn mức chia theo loại sản phẩm hoặc giao dịch cho vay, bảo lãnh , phát hành thư tín dụng … Để đảm bảo quản lý tổng thể và

linh hoạt việc xây dựng giới hạn này tuân theo nguyên tắc : Mọi giới hạn giao

dịch đều không vượt quá giới hạn tổng nhưng tổng các giới hạn sản phẩm lại luôn lớn hơn hoặc bằng hạn mức tổng thể

c Ngân hàng KasiKorn của Thái Lan

Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 - 1998 hệ thống ngân hàng Thái Lan bị chao đảo, nhiều NHTM bị phá sản hoặc phải sát nhập Tình hình đó buộc các ngân hàng phải xem lại toàn bộ chính sách, cách thức, quy trình trong hoạt động ngân hàng, trong đó đặc biệt là lĩnh vực tín dụng, nhằm giảm thiểu rủi ro Để giải quyết vấn đề này, một loạt thay đổi cơ bản trong tín dụng đã được các ngân hàng Thái Lan triển khai nhanh chóng và triệt để Trong đó trước hết phải kể đến kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của KasiKorn Bank, đó là:

Tách bạch, phân công rõ chức năng các bộ phận và tuân thủ các khâu trong quy trình giải quyết các khoản vay: KasiKorn Bank đã tổng kết

quy trình cho vay cần được tuân thủ như sau:

Phân tích đánh giá rủi ro tín dụng

Quyết định cho vay

Thủ tục giấy tờ, hợp đồng giải ngân

Đánh giá chất lượng xem lại khoản vay Trong quy trình nói trên việc nhân viên tín dụng gặp khách hàng và quyết định cho vay là độc lập với nhau

- Tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng: Tại Kasikorn Bank, trước đây chỉ quan tâm đến tài sản thế chấp, không

quan tâm đến dòng tiền của khách hàng vay, cho nên năm 1997 - 1999 nợ xấu

Trang 32

có lúc lên tới 40% Hiện nay ngân hàng đã thực hiện triệt để nguyên tắc tín dụng, đặc biệt là thông tin tín dụng Khi khách hàng đến vay vốn cán bộ ngân hàng phải giải quyết được các vấn đề sau mới quyết định cho vay: Tư cách của người vay, có tin tưởng họ được không? hiệu quả kinh doanh của khách hàng, hoạt động nào thành công, hoạt động nào không thành công? mục đích của khoản vay là gì? nguồn trả nợ là gì? (dòng tiền tệ và khả năng trả nợ); ngân hàng có kiểm soát được khách hàng sử dụng tiền vay không? khách hàng có năng lực, kiến thức về quản trị, điều hành doanh nghiệp không? thực trạng tài chính của khách hàng?

Để giải đáp được các câu hỏi trên ngân hàng phải phân tích tài chính,

trong đó rất coi trọng đến vòng chu chuyển dòng tiền và vòng thu hồi vốn đầu

tư của khách hàng

- Cho điểm khách hàng: KasiKorn Bank đã áp dụng xếp loại tín dụng

như là một công cụ quyết định tự động đối với các khoản vay tiêu dùng (thẻ tín dụng), cho vay cầm cố, thế chấp, cho vay cá nhân, cho vay doanh nghiệp nhỏ

- Tuân thủ quyền phán quyết tín dụng: Kasikorn Bank quy định việc

quyết định tín dụng theo mức tăng dần từ mức phán quyết của một người, đến một nhóm người, và cao nhất là của hội đồng quản trị, cụ thể như sau:  10 triệu baht: 1 người chịu trách nhiệm;  100 triệu baht: 02 người chịu trách nhiệm;  3 tỷ baht: do hội đồng quản trị quyết định Những khoản vay vượt quá hạn mức quy định trên, phải chuyển cho bộ phận thẩm định độc lập để thẩm định trước khi trình lên cấp có thẩm quyền phê duyệt khoản vay

- Giám sát khoản vay: Sau khi cho vay KasiKorn Bank rất coi trọng

việc kiểm tra, giám sát các khoản vay, bằng cách tiếp tục thu thập thông tin về khách hàng, thường xuyên giám sát và đánh giá khách hàng, xử lý kịp thời các tình huống rủi ro tín dụng

Ngoài ra KasiKorn Bank coi trọng việc cập nhật hiểu biết, liên tục đào

Trang 33

33

thi nhiệm vụ được phân công; đều áp dụng sổ tay tín dụng và có chính sách

cho vay riêng đối với bất động sản là lĩnh vực có rủi ro cao

1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Quản trị rủi ro nói chung, quản trị RRTD nói riêng ngày càng trở nên cần thiết đối với các NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển Quản trị RRTD không chỉ là vấn đề xử lý nợ xấu mà nó còn bao hàm nhiều vấn đề như việc phòng ngừa, kiểm soát rủi ro Từ kinh nghiệm quản trị rủi ro của một số ngân hàng hàng đầu tại các nước phát triển và đang phát triển, bài học kinh nghiệm rút ra cho các ngân hàng ởViệt Nam trong đó có hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là:

Một là, Xây dựng một mô hình quản trị RRTD theo hướng tiếp cận

những phương pháp quản trị rủi ro tín dụng hiện đại, trong đó tập trung hoàn thiện chính sách tín dụng an toàn và hiệu quả Vì nếu chính sách được ban hành chuẩn mực thì sẽ giúp nhà quản trị và các cán bộ tín dụng trực tiếp có một khung chỉ dẫn để ra các quyết định tín dụng và định hướng danh mục đầu

tư tín dụng phù hợp

Hai là, nhanh chóng áp dụng các mô hình đánh giá và lượng hoá rủi ro

tín dụng Thông qua đó giúp những nhà quản trị phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro, nhận biết các nguyên nhân chính để tìm cách khắc phục

Ba là, Hoàn thiện mô hình bộ máy quản trị điều hành, với sự phân công

nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho mỗi cấp từ bộ phận hội sở xuống các chi nhánh rõ ràng cụ thể; xác lập được mối quan hệ về quyền hạn cũng như nghiệp vụ giữa các cấp và bộ phận trong toàn thể hệ thống; đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới, vừa phát huy thế mạnh của chi nhánh trên mỗi địa bàn vừa tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát và chỉ đạo của các cấp trong hoạt động tín dụng

Bốn là, Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tín dụng, qua việc kiểm

tra sẽ phát hiện những biểu hiện và dấu hiệu rủi ro tín dụng để đề xuất những

Trang 34

biện pháp xử lý kịp thời nhằm hạ thấp những thiệt hại trong hoạt động tín dụng

Năm là, thường xuyên đào tạo và bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ Để

nâng cao năng lực đánh giá, phân tích RRTD cho cán bộ thẩm định RRTD, cán bộ rủi ro chuyên trách nhằm từng bước xây dựng đội ngũ chuyên gia về quản trị RRTD vì theo kinh nghiệm của Citibank thì không có phương pháp phân tích phức tạp, hiện đại nào có thể thay thế được kinh nghiệm và đánh giá của chuyên môn về quản trị rủi ro

Sáu là, chú trọng hơn việc đầu tư và nâng cấp hệ thống công nghệ

thông tin Công nghệ thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, tốc độ tiến bộ của công nghệ thông tin là rất nhanh, do đó cần chú trọng hơn nữa đến việc đầu tư và nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin nhằm phục vụ tích cực hơn cho việc phân tích, đánh giá,

đo lường RRTD, thực hiện chấm điểm tín dụng theo tiêu chuẩn quốc tế, giám sát độc lập khoản vay, chú trọng thực hiện phân nhóm khách hàng Ngoài ra

hệ thống công nghệ này hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động tín dụng: từ khâu luân chuyển, lưu trữ hồ sơ giữa chi nhánh và hội sở chính, đến khâu tác nghiệp về giải ngân, thu nợ, nhập/xuất tài sản bảo đảm cũng như hình thức của quyết định tín dụng, họp online thay vì họp trực tiếp, giải trình hồ sơ ký thông qua

hệ thống điện tử, chữ ký điện tử thay vì chữ kí giấy

Bảy là, cân nhắc giữa lợi ích thu được và chi phí Việc xây dựng và

triển khai mô hình tín dụng theo thông lệ quốc tế đòi hỏi tốn kém nhiều thời gian và chi phí Tùy điều kiện của mình mà các ngân hàng có hướng đi và lộ trình riêng Ngoài ra cần linh hoạt trong việc áp dụng chính sách đối với khách hàng Hay nói cách khác từng khách hàng thì Ngân hàng nên có cách ứng xử khác nhau

Trang 35

35

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Rủi ro luôn đi liền với hoạt động kinh doanh, vì vậy quản trị rủi ro tốt

là cơ sở cho sự thành công của các doanh nghiệp; rủi ro và lợi nhuận thường

có quan hệ cùng chiều với nhau Điều này giải thích tại sao các nhà kinh doanh phải tìm cách giảm thiểu rủi ro để tối đa hoá lợi nhuận, nâng cao uy tín

và năng lực cạnh tranh trên thị trường

Trong lĩnh vực kinh doanh của NHTM, rủi ro là điều không tránh khỏi Trong các loại rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt thì rủi ro tín dụng thường xảy ra với tần suất cao nhất, gây ra hậu quả nặng nề nhất Chính vì vậy, việc tăng cường quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà ngân hàng Việc phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải được quan tâm ngay từ khâu điều tra, thẩm định, xét duyệt cho vay của cán bộ tín dụng Các NHTM phải xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng, hệ thống thông tin tín dụng từ cơ sở cho đến trung tâm điều hành Việc đánh giá các khoản nợ, trích lập quỹ dự phòng để xử lý rủi ro, việc xử lý rủi ro tín dụng, thu hồi các khoản

nợ đã được xử lý rủi ro tín dụng phải được các NHTM quan tâm thường xuyên, định kỳ trong năm

Trong chương 1 này, tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản trị rủi ro tín dụng; nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc quản trị rủi ro tín dụng và rút ra bài học để các NHTM của Việt Nam học hỏi, vận dụng

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HUYỆN PHÚC THỌ,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân hàng Nhà nước: tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, Phòng Tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà

nước tỉnh, thành phố Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là

Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông

nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam Ngày

15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động

Trang 37

37

Nhà nước Việt Nam Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Năm 2011, thực hiện Quyết định số 214/QĐ-NHNN, ngày 31/01/2011,

của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Agribank chuyển đổi hoạt động sang mô hình Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu 100% vốn điều lệ

Năm 2012, vượt lên khó khăn của tình hình kinh tế thế giới và trong

nước, hoạt động kinh doanh của Agribank tiếp tục phát triển ổn định Tổng tài sản có của Agribank đạt 617.859 tỷ đồng (tương đương 20% GDP), tăng 10%

so với năm 2011, là Ngân hàng Thương mại có quy mô tổng tài sản lớn nhất, các tỷ lệ an toàn hoạt động kinh doanh được đảm bảo, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát giảm dần

Năm 2013, Agribank kỷ niệm 25 năm ngày thành lập (26/3/1988 -

26/3/2013) Tại Lễ kỷ niệm 25 năm ngày thành lập, Agribank vinh dự được đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước trao tặng - Huân chương Lao động hạng Ba về thành tích xuất sắc phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong thời kỳ đổi mới, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc

Năm 2014, Agribank quyết liệt triển khai Đề án tái cơ cấu; bổ sung,

hoàn thiện cơ chế, quy trình nghiệp vụ; đồng thời công bố thay đổi Logo và sắp xếp lại địa điểm làm việc Cũng trong năm 2014, lần thứ 5 liên tiếp, Agribank là Ngân hàng Thương mại duy nhất thuộc Top 10 VNR500

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Phúc Thọ có trụ sở tại Thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ, thành phố

Hà Nội Chi nhánh bao gồm 7 phòng ban được đặt dưới sự điều hành của Ban

Trang 38

Giám đốc Các phòng ban này đều được chuyên môn hóa theo chức năng và nghiệp vụ cụ thể

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ là đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc của NHNo&PTNT Hà Tây, có con dấu riêng, thực hiện một phần các hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán theo phân cấp, uỷ quyền của NHNo&PTNT Việt Nam và NHNo&PTNT Hà Tây với 4 phòng giao dịch trực thuộc trải rộng khắp trong toàn Huyện với một đội ngũ 42 cán

Phó Giám đốc phụ trách kế toán – ngân quỹ

Phòng Tín dụng

Phòng Hành chính – Tổ chức – Nhân sự

Phòng Kế Toán – Ngân quỹ

Phòng giao dịch Ngọc Tảo

Phòng giao dịch Vân Phúc

Phòng giao dịch Võng Xuyên

Phòng giao dịch Thị Trấn

Trang 39

39

- Ban giám đốc : Giám đốc và 2 Phó Giám đốc

- Các phòng nghiệp vụ tại trung tâm huyện có 02 phòng nghiệp

nghiệp vụ gồm: Phòng Kế hoạch Kinh doanh (phòng Tín dụng) và Phòng kế toán ngân quỹ Trong đó, tại phòng Kế hoạch Kinh doanh có bộ phận cho vay

trực tiếp (đối tượng khách hàng là các doanh Nghiệp) Như vậy, mô hình điều

hành của Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Phúc Thọ vừa làm nhiệm vụ quản

lý các Phòng giao dịch trực thuộc vừa tổ chức kinh doanh trực tiếp

- 04 Phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh ngân hàng NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ (chi nhánh loại III) thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh như

huy động vốn, cho vay và các dịch vụ ngân hàng (trừ nghiệp vụ bảo lãnh) tại

địa bàn các xã trong Huyện

2.1.3 Các hoạt động chủ yếu

2.1.3.1 Huy động vốn

Với nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của nguồn vốn trong hoạt

động kinh doanh, với phương châm "đi vay để cho vay" Chi nhánh

NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ đã hoạch định chiến lược huy động vốn rất cụ thể và luôn coi trọng nguồn vốn tại chỗ của các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế, nhằm đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng tín dụng tại chi nhánh hàng năm

Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ huy động vốn thông qua các kênh tuyên truyền tiếp thị, đa dạng hóa các hình thức huy động phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương như huy động tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm

có quà tặng khuyến mại, tiết kiệm dự thưởng với lãi suất linh hoạt và hấp dẫn, tiết kiệm tăng theo lãi suất cơ bản của NHNN, tiết kiệm đảm bảo bằng vàng Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ đã tạo lập được cơ sở vững chắc trong việc huy động vốn tại địa bàn dân cư Bên cạnh đó, Chi nhánh cũng thường xuyên chủ động tìm kiếm khách hàng, vận động các tổ chức, Doanh nghiệp mở tài khoản thanh toán lương cho cán bộ qua ngân hàng Đẩy mạnh các hình thức huy động hiện đại như phát hành thẻ nghi nợ nội địa và thẻ

Trang 40

quốc tế cho khách hàng Từ năm 2012 trở lại đây, công tác nguồn vốn đã thực

sự được lãnh đạo Chi nhánh tập chung chỉ đạo, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ viên chức trong hiệu quả công tác nguồn vốn, như việc tổ chức khen thưởng và động viên kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích tốt trong việc huy động vốn nhờ đó mà nguồn vốn huy động qua các năm tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ có sự tăng trưởng khá, thị phần huy động của chi nhánh được giữ vững

Chi tiết về nguồn vốn huy động tại Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Phúc Thọ được biểu thị qua bảng sau:

Bảng 2.1: Vốn huy động qua các năm 2012 – 2014

Đơn vị tính : Tỷ đồng

Chỉ tiêu

Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014

Số tiền trọng Tỷ Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Tổng vốn huy động 321,3 100 376,7 100 386,9 100

1 Theo thời gian 321,3 100 376,7 100 386,9 100

- Tiền gửi không kỳ

Tốc độ tăng trưởng

“Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2012- 2014 chi nhánh

NHNo&PTNT Huyện Phúc Thọ

Ngày đăng: 13/01/2020, 08:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. GS.TS. Lê Văn Tư (2005), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: GS.TS. Lê Văn Tư
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2005
9. Peter S.Rose (2004), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: Peter S.Rose
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2004
10. PGS.TS. Lưu Thị Hương, PGS.TS. Vũ Duy Hào (2006), Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS. Lưu Thị Hương, PGS.TS. Vũ Duy Hào
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2006
11. PGS.TS. Nguyễn Liên Hà (2008), Hiệp ước Basel mới và vấn đề kiểm soát rủi ro tín dụng trong các NHTM, Tạp chí Phân tích kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp ước Basel mới và vấn đề kiểm soát rủi ro tín dụng trong các NHTM
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Liên Hà
Năm: 2008
12. PGS.TS. Phan Thị Thu Hà (2007), Ngân hàng thương mại, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại
Tác giả: PGS.TS. Phan Thị Thu Hà
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2007
13. PGS.TS. Phan Thị Thu Hà, Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
15. Quyết định 37/2006/QĐ- NHNN ngày 01/08/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam V/v “ Ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ của TCTD” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ của TCTD
2. Cổng thông tin điện tử của UBND huyện Phúc Thọ: http://phuctho.hanoi.gov.vn/ Link
1. Báo cáo tổng kết hoạt động từ năm 2012 - 2014 của NHNo&PTNT chi nhánh Huyện Phúc Thọ Khác
5. Hệ thống văn bản nghiệp vụ đang áp dụng trong Ngân hàng NHNo&PTNT Việt Nam Khác
6. Nghị định số 178/1999/NĐ- CP(ngày 29/12/1999) của Chính Phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng Khác
7. Nghị định 05/2005/NĐ-CP ngày 18/1/2005 của Chính Phủ về bán đấu giá tài sản Khác
8. Nghị định 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch BĐ Khác
14. Quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN ngày /12/2001 của Thống đốc NHNN ban hành Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng Khác
16. Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005 của Thống đốc NHNN về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM Khác
17. Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng Khác
18. Quyết định 1300/QĐ-HĐQT-TDHo (ngày 03/12/2007) V/v Ban hành qui định thực hiện các biện pháp B ĐTV trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam Khác
19. Quyết định 562/QĐ-HĐTV ngày 18/04/2011 về việc ủy quyền tham gia tố tụng, thi hành án của CT HĐTV NHNo&PTNT Việt Nam Khác
20. Quyết định 666/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 15/06/2010 của Hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam. Về việc qui định cho vay đối với khách hàng trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm