Khóa luận tập trung đánh giá vai trò của hoạt động phân tích tài chính đối với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nghiên cứu các phương pháp và nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp; tìm hiểu thực trạng phân tích tài chính của công ty cổ phần Viglacera Đông Anh trong những năm gần đây, đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục; từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính của công ty.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
CỔ PHẦN VIGLACERA ĐÔNG ANH
SINH VIÊN THỰC HIỆN : DƯƠNG THỊ PHƯỢNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
CỔ PHẦN VIGLACERA ĐÔNG ANH
Giáo viên hướng dẫn : TS Phạm Thị Hoa Sinh viên thực hiện : Dương Thị Phượng
Chuyên ngành : Tài chính-Ngân hàng
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn TS.Phạm Thị Hoa đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này Nhờ sự chỉ bảo của cô em có thể vận dụng những kiến thức đã học để áp dụng vào thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp Những phương pháp, kinh nghiệm mà cô truyền đạt cho em không chỉ giúp khóa luận được hoàn thiện hơn mà còn là hành trang cho công việc thực tế của em sau này
Bên cạnh đó, em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tập thể các thầy cô giáo trường đại học Thăng Long, những bài giảng bổ ích của các thầy cô đã giúp em tích lũy được nhiều kiến thức sâu rộng để em hoàn thành khóa luận này và những kiến thức ấy còn là nền tảng cho nghề nghiệp của em trong tương lai
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Dương Thị Phượng
Trang 4MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH 1
DOANH NGHIỆP 1
1.1 Khái niệm và mục tiêu của phân tích tài chính 1
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính 1
1.1.2 Mục tiêu của phân tích tài chính 1
1.2 Tài liệu và phương pháp phân tích tài chính 3
1.2.1 Tài liệu cần thiết trong phân tích tài chính 3
1.2.1.1 Tài liệu từ hệ thống báo cáo tài chính 4
1.2.1.2 Tài kiệu khác 6
1.2.2 Phương pháp phân tích tài chính 7
1.2.2.1 Phương pháp so sánh 7
1.2.2.2 Phương pháp tỷ số 7
1.2.2.3 Phương pháp Dupont 8
1.3 Nội dung phân tích tài chính 9
1.3.1 Phân tích tình hình biến động về tài sản-nguồn vốn 9
1.3.2 Phân tích tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận 10
1.3.3 Phân tích khả năng thanh toán 11
1.3.4 Phân tích khả năng quản lý tài sản 12
1.3.5 Phân tích khả năng quản lý nợ 15
1.3.6 Phân tích khả năng sinh lời 16
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính 17
1.4.1 Các nhân tố chủ quan 17
1.4.2 Các nhân tố khách quan 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA ĐÔNG ANH 19
2.1 Khái quát về CTCP Viglacera Đông Anh 19
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 19
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh 20
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 21
2.1.4 Tình hình hoạt động của công ty 23
2.2 Thực trạng phân tích tài chính 24
2.2.1 Nguồn số liệu và phương pháp phân tích 24
2.2.2 Nội dung phân tích 28
2.2.2.1 Phân tích tình hình biến động tài sản-nguồn vốn 28
2.2.2.2 Phân tích tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận 38
Trang 52.2.2.3 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính cơ bản 43
2.2.3 Đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty 51
2.2.3.1 Kết quả đạt được 51
2.2.3.2 Tồn tại 52
2.2.3.3 Nguyên nhân 54
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦNVIGLACERA ĐÔNG ANH 56
3.1 Định hướng phát triển của công ty 56
3.2 Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần Viglacera Đông Anh 58
3.2.1 Giải pháp 58
3.2.2 Kiến nghị 63
LỜI KẾT
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
D/E Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu EBIT Lợi nhuận trước thuế và lãi ROA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROS Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lýcủa công ty Viglacera Đông Anh 21
Bảng 2.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chính giai đoạn 2010-2012 23
Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán 25
Bảng 2.3 Báo cáo kết quả kinh doanh 27
Bảng 2.4 Tình hình tài sản 29
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tài sản 30
Biểu đồ 2.2 Biến động các khoản mục của tài sản ngắn hạn 31
Bảng 2.5 Tình hình nguồn vốn 34
Bảng 2.6 Tỷ số D/E 36
Bảng 2.7 Tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận 39
Biểu đồ 2.3 Khả năng thanh toán hiện hành 43
Biểu đồ 2.4 Khả năng thanh toán nhanh 44
Biểu đồ 2.5 Khả năng thanh toán tức thời 45
Bảng 2.8 Hệ số thu nợ, hệ số trả nợ, hệ số lưu kho 46
Biểu đồ 2.6 Hiệu suất sử dụng tài sản 47
Biểu đồ 2.7 Tỷ số nợ 48
Biểu đồ 2.8 Số lần thu nhập trên lãi vay 49
Biểu đồ 2.9 Khả năng sinh lời 50
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu khả năng quản lý tài sản 62
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp cần phải tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường bằng uy tín, chất lượng và tiềm lực tài chính tốt Trong đó, tài chính là lĩnh vực quan trọng, chi phối các hoạt động của doanh nghiệp, việc nắm rõ tình hình tài chính là cơ sở để các nhà quản trị có những quyết định đúng đắn và thành công
Vì vậy vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải thường xuyên tiến hành phân tích tài chính, những kết quả từ công tác này giúp xây dựng một hướng đi đúng đắn để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và cải thiện tình hình tài chính cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, phân tích tài chính còn là công cụ quan trọng giúp các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như nhà đầu tư, chủ nợ, khách hàng, cơ quan chức năng đánh giá được năng lực hiện tại cũng như tiềm năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, kết hợp với những kiến thức lý luận thu nhận được trong trường và kiến thúc thực tế về
công ty cổ phần Viglacera Đông Anh, em chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác
phân tích tài chính tại công ty cổ phần Viglacera Đông Anh” cho khóa luận tốt
nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá vai trò của hoạt động phân tích tài chính đối với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Nghiên cứu các phương pháp và nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
- Tìm hiểu thực trạng phân tích tài chính của công ty cổ phần Viglacera Đông Anh trong những năm gần đây, đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục
- Từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính của công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần
Viglacera Đông Anh
Phạm vi nghiên cứu: thực trạng phân tích tài chính tại công ty cổ phần Viglacera
Đông Anh giai đoạn 2010-2012 và đánh giá chất lượng của công tác phân tích tài chính tại công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9Sử dụng phương pháp khảo sát thực tế về thực trạng phân tích tài chính tại công ty
cổ phần Viglacera Đông Anh, cùng với hệ thống sơ đồ bảng biểu, kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê để đưa ra các nhận định, giả pháp hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính tại công ty cổ phần Viglacera Đông Anh
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần Viglacera Đông Anh
Trang 10CHƯƠNG 1:
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và mục tiêu của phân tích tài chính
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính
Phân tích tài chính là việc sử dụng các công cụ, phương pháp để xử lý thông tin kế toán và các thông tin quản lý khác nhằm đánh giá tình hình tài chính, tiềm lực cũng như mức độ rủi ro và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó giúp người sử dụng thông tin đưa ra quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp Phân tích tài chính giúp ta đánh giá tình hình tài chính của các doanh nghiệp, nó được sử dụng như công cụ khảo sát cơ bản trong lựa chọn quyết định đầu tư Ngoài ra, phân tích tài chính còn cung cấp các dự đoán về điều kiện và kết quả tài chính trong tương lai, là công cụ đánh giá của các nhà quản trị doanh nghiệp Phân tích tài chính sẽ tạo ra các chứng cứ có tính hệ thống và khoa học đối với các nhà quản trị
1.1.2 Mục tiêu của phân tích tài chính
Phân tích tài chính nhằm cung cấp các thông tin tài chính và đề xuất lời khuyên đầu tư” cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư, giảm bớt các nhận định chủ quan và các phán đoán theo trực giác trong kinh doanh, góp phần hạn chế tính không chắc chắn cho các hoạt động kinh doanh
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việc phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh các số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai Những người sử dụng báo cáo tài chính theo đuổi các mục tiêu khác nhau nên việc phân tích tài chính cũng được tiến hành theo nhiều cách khác nhau Điều đó vừa tạo ra lợi ích vừa tạo ra
sự phức tạp của phân tích tài chính
Đối với các nhà quản trị
Nhà quản trị luôn phải đối mặt với việc ra quyết định Để các quyết định đưa ra được hợp lý và chính xác thì họ cần sử dụng nhiều công cụ khác nhau, trong đó các kết quả phân tích tài chính là một công cụ khách quan và hữu ích Phân tích tài chính giúp nhà quản trị đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp Đó là cơ sở để định hướng ra quyết định của ban tổng giám đốc, giám đốc tài chính như quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia cổ tức, là cơ sở cho các dự báo tài chính như kế hoạch đầu tư, ngân quỹ, kiểm soát các hoạt động quản
lý Mặt khác, tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn hoạt động kinh doanh trong quá khứ, tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp Như vậy, phân tích tài chính tạo cơ sở cho các dự báo tài
Trang 112
chính là căn cứ để nhà quản trị đưa ra các quyết định quản lý và các chính sách tài chính hiệu quả
Đối với các nhà đầu tư
Mối quan tâm của các nhà đầu tư là tính toán các giá trị của doang nghiệp vì họ đã giao vốn cho doang nghiệp và có thể phải chịu rủi ro Do vậy, các nhà đầu tư cần biết tình hình thu nhập của mình có tương xứng với mức rủi ro của khoản đầu tư mà họ chịu hay không Nhà đầu tư phân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lời của doanh nghiệp, đây là một trong những căn cứ giúp họ lựa chọn phương thức sử dụng vốn tối ưu nhất để đạt được lợi nhuận như kì vọng
Trong doanh nghiệp cổ phần, các cổ đông là người đã bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là khả năng tăng trưởng, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị chủ sở hữu trong doanh nghiệp Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu tư và nguồn tài trợ Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển vọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra những quyết định phù hợp Nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất có một điều kiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương Khi đó lượng tiền của dự án tạo ra sẽ lớn hơn lượng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp một mức lãi suất yêu cầu cho nhà đầu tư Số tiền vượt quá đó mang lại sự giàu có cho những người sở hữu doanh nghiệp Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức và cơ cấu nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề được các nhà đầu tư hết sức coi trọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Hơn nữa các cổ đông chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy mô doanh nghiệp khi quyền lợi của họ
ít nhất không bị ảnh hưởng Bởi vậy, các yếu tố như tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân tích tài chính
Đối với các chủ nợ
Nếu như các nhà đầu tư quan tâm nhiều đến khả năng sinh lời thì các chủ nợ hướng
sự quan tâm vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Các chủ nợ xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn Việc phân tích tài chính đối với các khoản nợ dài hạn khác với các khoản cho vay ngắn hạn
- Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, chủ nợ đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ đến hạn trả
Trang 12- Nếu là những khoản cho vay dài hạn, chủ nợ phải quan tâm tới cả khả năng thanh toán và khả khả năng sinh lời của doang nghiệp vì việc hoàn trả gốc và lãi sẽ phụ thuộc nhiều vào hai yếu tố này
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng, mối quan tâm của họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Bằng việc so sánh số lượng và loại tài sản với số nợ phải trả theo kỳ hạn, họ có thể xác định được khả năng thanh toán của doanh nghiệp và quyết định có nên cho doanh nghiệp vay hay không Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng còn quan tâm tới vốn của chủ sở hữu của doang nghiệp và coi đó như nguồn bảo đảm cho ngân hàng có thể thu hồi nợ khi doanh nghiệp bị thua lỗ và phá sản Đối với các nhà cung ứng vật tư hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, họ phải quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không, họ cần phải biết được khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay
Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ, người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động Ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước
Trong kinh tế, cơ quan nhà nước có nhiệm vụ quản lý, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp Do vậy các cơ quan quản lý của nhà nước cũng cần thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước có đầy đủ không
Tóm lại, việc thường xuyên tiến hành phân tích tài chính sẽ giúp các nhà quản trị và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ hơn bức tranh về thực trạng hoạt động tài chính, xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Từ đó, có những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2 Tài liệu và phương pháp phân tích tài chính
1.2.1 Tài liệu cần thiết trong phân tích tài chính
Trang 134
Để việc phân tích tài chính được chính xác và khách quan thì nguồn tài liệu đóng vai trò rất quan trọng Tài liệu đầy đủ và trung thực thì phân tích sẽ phản ánh được đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp, từ đó đánh giá và dự báo tài chính mới có hiệu quả Các tài liệu phục vụ cho phân tích tài chính rất đa dạng nhưng hệ thống báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ liệu chính, được các nhà phân tích rất quan tâm Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh hệ thống báo cáo tài chính, khi phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích còn kết hợp sử dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau như: Báo cáo quản trị, báo cáo chi tiết, các tài liệu kế toán, tài liệu thống kê, bảng công khai một số chỉ tiêu tài chính Đây là những nguồn dữ liệu quan trọng giúp cho các nhà phân tích xem xét, đánh giá được các mặt khác nhau trong hoạt động tài chính một cách đầy đủ, chính xác Tuy nhiên, phần lớn nguồn dữ liệu này chỉ được sử dụng trong nội bộ (trừ các chỉ tiêu tài chính công khai) Mặt khác các nguồn dữ liệu bên ngoài như trạng thái nền kinh tế chính sách, pháp lý của nhà nước, ngành nghề kinh doanh cũng tác động tới tình hình tài chính của doanh nghiệp nên việc xem xét tới các yếu tố này sẽ giúp quá trình phân tích được chặt chẽ và sát thực hơn
1.2.1.1 Tài liệu từ hệ thống báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng trong việc phân tích, bao gồm bảng cân đối
kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính
- Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
Kết cấu của bảng cân đối kế toán được chia thành hai phần: tài sản và nguồn vốn Phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo Các tài sản được sắp xếp theo khả năng hoán chuyển thành tiền theo thứ
tự giảm dần hoặc theo độ dài thời gian để chuyển hóa tài sản thành tiền Phần tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Về mặt kinh tế, số liệu các chỉ tiêu phản ánh bên tài sản thể hiện giá trị tài sản theo kết cấu hiện có tại doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo Về mặt pháp lý, số liệu phẩn tài sản thể hiện toàn bộ số tài sản hiện
có đang thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp
Phần nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp, bao gồm nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu Về mặt kinh tế, số liệu phần nguồn vốn thể hiện quy mô vốn và thực trạng tài chính của doanh nghiệp Về mặt pháp lý, số liệu của
Trang 14các chỉ tiêu thể hiện trách nhiêm pháp lý của doanh nghiệp về số tài sản đang quản lý,
sử dụng đối với nhà nước, nhà đầu tư, cổ đông, ngân hàng, khách hàng…
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh tổng hợp các khoản doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh và hoạt động khác
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh và công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu nhập, chi phí và kết quả từng loại hoạt động cũng như kết quả chung toàn doanh nghiệp Số liệu trên báo cáo này còn là cơ sở để đánh giá khuynh hướng hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều năm liền, và dự báo hoạt động trong tương lai Thông qua báo cáo kết quả kinh doanh để đánh giá hiệu quả và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Đây là một trong các nguồn thông tin rất bổ ích cho người ngoài doanh nghiệp trước khi ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cung cấp thông tin về lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên, lợi nhuận kế toán chưa phải là chỉ tiêu đánh giá xác thực khả năng tài trợ bên trong của doanh nghiệp Trong tài chính, người ta thường quan tâm đến dòng tiền Giá trị của một tài sản và rộng hơn là của doanh nghiệp được xác định bởi dòng tiền mà tài sản tạo ra vì dòng tiền cần thiết để đáp ứng nhu cầu thanh toán, đầu tư mua sắm thiết bị, vật tư cho kinh doanh Các nhà quản lý tài chính thường gặp tình trạng doanh nghiệp kinh doanh có lãi nhưng vẫn thiếu tiền cho hoạt động kinh doanh
Do vậy,phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ thấy được sự vận động của vốn bằng tiền ở doanh nghiệp
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo tiền và việc sử dụng tiền đã tạo ra đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
-Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo tài chính tổng quát nhằm giải trình và bổ sung, thuyết minh những thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của doang nghiệp trong kỳ báo cáo mà chưa được trình bày đầy đủ chi tiết hết trong các báo các tài chính khác
Trang 156
Tóm lại, mỗi báo cáo tài chính cung cấp cho người sử dụng một khía cạnh hữu ích khác nhau, nhưng sẽ không thể có được kết quả khái quát về tình hình tài chính nếu không kết hợp phân tích các báo cáo tài chính với nhau
1.2.1.2 Tài kiệu khác
Ngoài tài liệu từ báo cáo tài chính, phân tích tài chính doanh nghiệp còn sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác để các kết luận trong phân tích tài chính có tính thuyết phục hơn Tài liệu đó bao gồm:
- Tài liệu liên quan đến tình hình kinh tế
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều nhân tố thuộc môi trường vĩ mô nên phân tích tài chính cần đặt trong bối cảnh chung của kinh tế trong nước và các nền kinh tế khu vực Kết hợp những tài liệu này sẽ đánh giá đầy đủ hơn tình hình tài chính và dự báo những thách thức, cơ hội đối với họat động của doanh nghiệp Các nhà phân tích nên quan tâm tới các tài liệu về:
+ Tăng trưởng, suy thoái kinh tế
+ Lãi suất ngân hàng, trái phiếu kho bạc, tỷ giá ngoại tệ
+ Các chính sách kinh tế lớn của Chính phủ, chính sách chính trị, ngoại giao của nhà nước
-Tài liệu liên quan đến ngành kinh tế:
Những tài liệu về ngành kinh tế sẽ làm rõ hơn nội dung các chỉ tiêu tài chính trong từng ngành, lĩnh vực kinh doanh, đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp Một số tài liệu cần quan tâm như:
+ Mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành
+ Mức độ cạnh tranh và quy mô của thị trường
+ Tính chất cạnh tranh của thị trường hay mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp và khách hàng
+ Nhịp độ và xu hướng vận động của ngành, các chỉ số ngành
-Tài liệu về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
Do mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng trong tổ chức sản xuất kinh doanh
và trong phương hướng hoạt động nên để đánh giá hợp lý tình hình tài chính, khi phân tích cần nghiên cứu kỹ lưỡng đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp như:
+ Mục tiêu và chiến lược hoạt động của doanh nghiệp, gồm cả chiến lược tài chính
và chiến lược kinh doanh
+ Đặc điểm quá trình luân chuyển vốn trong các khâu kinh doanh ở từng loại hình doanh nghiệp
+ Tính thời vụ, tính chu kỳ trong hoạt động kinh doanh
+ Mối liên hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng, và các đối tượng khác
Trang 16Tóm lại, có rất nhiều tài liệu phục vụ cho việc phân tích tài chính, để công việc phân tích có hiệu quả thì những tài liệu được sử dụng cần được thu thập đầy đủ, chính xác, trung thực, khách quan và đảm bảo theo yêu cầu, mục đích phân tích
1.2.2 Phương pháp phân tích tài chính
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu, làm rõ sự thay đổi của các chỉ tiêu tài chính, nhằm đưa ra các kết luận, đánh giá về tình hình tài chính Có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, em sẽ đề cập một số phương pháp sau:
1.2.2.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến nhất trong phân tích tài chính Để vận dụng phép so sánh trong phân tích tài chính cần quan tâm đến điều kiện, nội dung cũng như như kỹ thuật so sánh
Điều kiện so sánh:
+ Các tỷ số phải thống nhất về nội dung và phương pháp tính toán
+ Các tỷ số phải cùng đơn vị đo lường
+ So sánh bằng số tương đối: thể hiên mối quan hệ tốc độ phát triển
% 100 0
Đây là phương pháp trực quan và đơn giản để thấy được sự thay đổi của các chỉ tiêu tài chính từ đó có thể nhanh chóng đưa ra các nhận xét và đánh giá, tuy nhiên việc
so sánh không thể đạt hiệu quả cao nếu số liệu chỉ bó gọn trong thời gian ngắn, bởi sẽ không biết được xu hướng biến động theo chu kì và từ đó sẽ dễ có các kết luận sai lệch
1.2.2.2 Phương pháp tỷ số
Trang 178
Phương pháp tỷ số cũng thường được sử dụng trong phân tích tài chính Các tỷ số tài chính được thiết lập để phân tích chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác Trong phương pháp này, các tỷ số được chia thành các nhóm đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Một số nhóm tỷ số tài chính:
- Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán: phản ánh khả năng đáp ứng nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp
- Nhóm tỷ số về khả năng quản lý tài sản: phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực
có sẵn của doanh nghiệp
- Nhóm tỷ số về khả năng quản lý nợ: đánh giá việc sử dụng nợ vay của doanh nghiệp
- Nhóm tỷ số về khả năng sinh lời: cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Phân tích tỷ số là công cụ đầy sức mạnh trong việc phát hiện sớm các vấn đề nếu nó được sử dụng đầy đủ Bởi việc tính toán các tỷ số dễ dàng thực hiện, không mất nhiều thời gian và cho cái nhìn trực quan về mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính Hơn nữa, việc tính toán này có thể thực hiện trong nhiều thời điểm, có thể sau 1 tháng, 1 quý hay 1 năm hoặc bất cứ thời điểm nào nên có thể giúp phát hiện sớm các biến động tài chính bất thường Mặc dù vậy, phương pháp này chỉ mang tính thời điểm, không phản ánh được cả một thời kỳ, một giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp Vì thế các tỷ số này phải được xem xét liên tục và phải xác định nguyên nhân gây ra kết quả đó như từ hoạt động kinh doanh, môi trường kinh tế, yếu kém trong tổ chức, quản lý của doanh nghiệp, các nguyên nhân, yếu tố trên mang tính tạm thời hay dài hạn, khả năng khắc phục của doanh nghiệp, biện pháp khắc phục có khả thi hay không
1.2.2.3 Phương pháp Dupont
Phương pháp Dupont được đưa vào sử dụng đầu tiên khoảng Chiến tranh thế giới thứ nhất Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh lợi của doanh nghiệp như ROA, ROE thành tích số của chuỗi các tỷ số có quan hệ với nhau để thấy được tác động của mối quan hệ giữa việc tổ chức, sử dụng vốn và tổ chức, tiêu thụ sản phẩm tới mức sinh lời của doanh nghiệp
Trang 18Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu =
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần
* Doanh thu thuần
Tổng tài sản *
Tổng tài sản Vốn chủ
sở hữu
Phương pháp Dupont có ưu điểm về tính đơn giản, đây là một công cụ rất tốt để cung cấp các thông tin căn bản về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhưng mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết và số liệu đầu vào, do vậy số liệu càng sát thực tế thì các phân tích sẽ phản ánh càng tốt thực trạng tài chính của doanh nghiệp
Như vậy, mỗi phương pháp phân tích có những ưu điểm và hạn chế riêng, do đó cán
bộ phân tích không thể sử dụng đơn lẻ từng phương pháp Việc sử dụng kết hợp các phương pháp giúp phản ánh được thực chất tình hình tài chính cũng như xu hướng biến động của từng chỉ tiêu tài chính qua các giai đoạn khác nhau, từ đó những nhận xét, đánh giá đưa ra có độ tin cậy cao hơn
1.3 Nội dung phân tích tài chính
1.3.1 Phân tích tình hình biến động về tài sản-nguồn vốn
Tài sản và nguồn vốn là hai khía cạnh cơ bản trong tài chính và thường xuyên thay đổi trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích sự biến động của tài sản và nguồn vốn giúp có được các thông tin cần thiết và tổng quan về tình hình tài chính Việc phân tích chủ yếu dựa vào số liệu từ bảng cân đối kế toán và phân tích trên hai phương diện là quy mô và cơ cấu
Tình hình biến động tài sản
Phân tích sự biến động về quy mô tài sản của doanh nghiệp nhằm đánh giá kết quả
và trạng thái tài chính tại thời điểm phân tích đồng thời dự đoán những rủi ro và tiềm năng tài chính trong tương lai
Từ số liệu các khoản mục tài sản trên bảng cân đối kế toán, ta so sánh giữa số đầu
kỳ với cuối kỳ hoặc giữa kỳ này với kỳ khác cả về tuyệt đối, tương đối để xác định sự biến động về quy mô tài sản của doanh nghiệp Nói cách khác là ta xem xét sự thay đổi
về độ lớn của một khoản mục nhất định qua các thời kỳ để thấy được quy mô của nó được mở rộng hay giảm đi
Phân tích cơ cấu tài sản có ý nghĩa hết sức quan trọng Nếu doanh nghiệp có một cơ cấu tài sản hợp lý thì các nguồn lực sẵn có ấy sẽ được tận dụng một cách hiệu quả nhất
và tiết kiệm nhất
Phân tích cơ cấu là so sánh một số khoản mục với một khoản mục nhất định trong cùng một kỳ kế toán Chẳng hạn, có thể tính tỷ trọng của tài sản ngắn hạn với tổng tài sản, tỷ trọng tài sản dài hạn so với tổng tài sản từ đó biết được doanh nghiệp đầu tư
Trang 19Tỷ trọng tài sản dài
hạn =
Tài sản dài hạn Tổng tài sản
Ngoài việc xem xét cơ cấu trong một kỳ thì cũng cần so sánh cơ cấu tài sản giữa các
kỳ khác nhau để thấy được hướng thay đổi trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình biến động nguồn vốn
Phân tích sự thay đổi về quy mô nguồn vốn sẽ đánh giá được khả năng huy động vốn vào kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên hay giảm đi, có đảm bảo duy trì hoạt động hiệu quả không
Phân tích sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn để thấy được tỷ trọng của từng loại vốn hình thành nên nguồn vốn của doanh nghiệp Từ đó đánh giá tính hợp lý về cơ cấu vốn kinh doanh hiện có của doanh nghiệp, khả năng tự tài trợ về mặt tài chính và khả năng đối mặt với những rủi ro tài chính trong tương lai
1.3.2 Phân tích tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận
Để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cần đi sâu phân tích mối quan hệ và tình hình biến động của các khoản mục trong báo cáo kết quả kinh doanh Khi phân tích, cần tính toán, so sánh mức độ và tỷ lệ biến động giữa các kì trên từng chỉ tiêu Đồng thời, so sánh tình hình của từng chỉ tiêu so với doanh thu thuần và
so sánh với số liệu trung bình ngành để đánh giá xu hướng thay đổi từng chỉ tiêu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp với doanh nghiệp khác
Khi phân tích hiệu quả kinh doanh cần quan tâm phân tích một số chỉ tiêu sau:
Phân tích doanh thu: đây là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến kết quả hoạt động
kinh doanh
Doanh thu bán hàng: là toàn bộ giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán trong kỳ
Trang 20Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng sau khi đã trừ các khoản giảm trừ doanh thu
Phân tích chi phí: Chi phí là những khoản tiền bỏ ra để phục vụ hoạt động sản xuất
kinh doanh, chi phí có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành, giá bán và lợi nhuận Do đó phân tích chi phí để biết xu hướng biến động của chỉ tiêu này theo thời gian có hướng
tích cực hay không và việc quản lý chi phí đã hiệu quả chưa
1.3.3 Phân tích khả năng thanh toán
Tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến khả năng thanh toán Để thấy rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai, cần xác định các chỉ tiêu phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, khả năng thanh toán được biểu hiện ở số tiền và tài sản mà doanh nghiệp hiện có dùng để trang trải các khoản nợ
Khả năng thanh toán hiện hành
Khả năng thanh toán hiện hành thể hiện năng lực đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán trong thời gian ngắn của doanh nghiệp, biểu hiện mối quan hệ so sánh giữa tài sản ngắn hạn với các khoản nợ ngắn hạn
Khả năng thanh
toán hiện hành =
Tổng tài sản lưu động Tổng nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển đổi thành tiền, các khoản phải thu và kho, nợ ngắn hạn bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng
và các tổ chức tín dụng khác
Tỷ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm bảo thanh toán bởi bao nhiêu đồng tài sản lưu động Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn, thông thường tỷ số này có giá trị lớn hơn 1 là tích cực Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa
vụ trả nợ của mình khi tới hạn Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn
Tỷ lệ này còn giúp hình dung ra chu kì hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả không, hoặc khả năng biến sản phẩm thành tiền mặt có tốt không Nếu doanh nghiệp
có khó khăn trong vấn đề đòi các khoản phải thu hoặc thời gian thu hồi tiền mặt kéo dài thì khả năng thanh toán sẽ gặp rủi ro
Khả năng thanh toán nhanh
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp đến từ các tài sản có thanh khoản cao sau khi đã loại trừ hàng tồn kho – một khoản mục có mức độ chuyển thành tiền mặt thấp Nói cách khác, tỷ số này đo lường mối quan hệ của các tài sản ngắn hạn có khả năng chuyển đổi thành tiền nhanh so với nợ ngắn hạn
Trang 21Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tức thời đánh giá năng lực đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn bởi các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp
Khả năng thanh
toán tức thời =
Tiền + Các khoản tương đương tiền
Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ số này cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản
có tính thanh khoản cao là tiền và các khoản tương đương tiền Cũng như các chỉ số khả năng thanh toán khác, chỉ số này cao thể hiện khả năng đáp ứng nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp tốt, nhưng nếu ở mức quá cao thì sẽ làm tăng chi phí cơ hội và chi phí lưu trữ, quản lý của việc nắm giữ tiền
1.3.4 Phân tích khả năng quản lý tài sản
Hệ số thu nợ
Hệ số thu nợ = Doanh thu thuần
Phải thu khách hàng
Chỉ số này cho biết các khoản phải thu quay bao nhiêu vòng trong một kỳ nhất định
để đạt được doanh thu trong kỳ đó Tỷ số này lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu cao và nếu thấp thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng nhiều, nhưng nếu quá cao thì sẽ giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu Khoản phải thu thể hiện tín dụng cung cấp cho khách hàng Quan sát chỉ số này sẽ biết chính sách bán hàng trả chậm hay tình hình thu hồi công nợ của doanh nghiệp Hệ số thu nợ cao hay thấp tùy thuộc chính sách bán chịu của doanh nghiệp, đặc thù của mỗi ngành cũng sẽ ảnh hưởng đến chính sách bán hàng của doanh nghiệp trong ngành
Thời gian thu nợ trung bình
Thời gian thu nợ
Trang 22quy định Nếu chỉ số này quá nhỏ chứng tỏ chính sách tín dụng bán trả chậm cho khách hàng của doanh nghiệp quá khắt khe, điều này sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt khi mà doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp mạnh, hoạt động lâu dài, có thị phần lớn
Hệ số lưu kho
Hệ số lưu kho = Giá vốn hàng bán
Giá trị lưu kho
Hệ số lưu kho đo lường khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh, doanh nghiệp bán hàng tốt và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm Tuy nhiên, hệ số này quá nhỏ cũng không tốt, vì như vậy tức là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng Tuy nhiên, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu
Thời gian luân chuyển kho trung bình
Thời gian luân chuyển kho
Hệ số trả nợ
Hệ số trả nợ =
Giá vốn hàng bán +
Chi phí quản lý chung,
bán hàng Phải trả người bán, lương, thưởng, thuế phải
trả
Hệ số trả nợ là chỉ tiêu vừa phản ánh uy tín của doanh nghiệp đối với bạn hàng vừa phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp Các doanh nghiệp thường muốn thu nợ
Trang 2314
nhanh, trả nợ chậm nên họ rất muốn kéo dài thời gian hoàn trả nợ dẫn đến hệ số trả nợ thấp Hệ số này thấp cho thấy công ty có uy tín và là khách hàng tốt của nhà cung cấp nên được cho chậm trả, nhưng cũng có thể là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang khó trả các khoản nợ đến hạn Để khẳng định được khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp cần phân tích chi tiết các khoản phải trả, các khách hàng cho nợ, doanh số phát sinh nợ có và tuổi nợ các khoản phải trả, đối chiếu với hợp đồng mua hàng, xem xét tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận,… để có kết luận về việc hệ số trả nợ thấp là
do được cho chậm trả hay do doanh nghiệp kinh doanh yếu kém mất khả năng thanh toán các khoản nợ
Thời gian trả nợ trung bình
Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền trung bình
Thời gian luân
chuyển vốn bằng
tiền trung bình
=
Thời gian thu nợ trung bình
+
Thời gian luân chuyển kho trung bình
-
Thời gian trả nợ trung bình
Chỉ số này cho biết khoảng thời gian từ khi thanh toán các khoản nợ cho đến khi thu được tiền Thời gian này càng dài thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và cho các hoạt động đầu tư khác Nếu thời gian này nhỏ được coi là khả năng quản lý tiền tốt Như vậy, thời gian luân chuyển vốn bằng tiền có thể được rút ngắn bằng cách giảm thời gian luân chuyển kho qua việc xử
lý và bán hàng hóa nhanh hơn hoặc bằng cách giảm thời gian thu tiền khách hàng qua việc tăng tốc thu nợ hoặc bằng cách kéo dài thời gian thanh toán qua việc trì hoãn trả
Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động
Trang 24Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
1.3.5 Phân tích khả năng quản lý nợ
Trên thực tế, thật khó để tìm ra một doanh nghiệp kinh doanh mà không phải vay
nợ Do đó phân tích khả năng quản lý nợ giúp ta đánh giá công tác vay nợ của doanh nghiệp có hợp lý không và các khoản nợ đang ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động của doanh nghiệp Khi phân tích khả năng quản lý nợ có hai chỉ tiêu cơ bản sau
Số lần thu nhập trên lãi vay
Số lần thu nhập trên
lãi vay =
EBIT Lãi vay
Hệ số này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi như thế nào tức là một đồng lãi vay có thể được doanh nghiệp trả bằng bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay Rõ ràng, khả năng thanh toán lãi vay càng cao thì khả năng thanh toán lãi của doanh nghiệp cho các chủ nợ của mình càng lớn Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì
Trang 2516
doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng trả lãi vay Nếu nhỏ hơn 1 thì chứng tỏ doanh nghiệp đã vay quá nhiều so với khả năng của mình hoặc kinh doanh kém đến mức lợi nhuận thu được không đủ trả lãi vay
1.3.6 Phân tích khả năng sinh lời
Nếu như các chỉ số về khả năng quản lý tài sản, quản lý vốn phản ánh hiệu quả từng hoạt động của doanh nghiệp thì chỉ số về khả năng sinh lời phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
Tỷ suất sinh lời trên
doanh thu =
Lợi nhuận ròng Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng doanh thu thuần của doanh nghiệp thì có bao nhiêu đồng là lợi nhuận ròng Khi phân tích tỷ suất này cần xem xét đến đặc điểm kinh doanh của ngành, kỳ kinh doanh của doanh nghiệp và chi phí ảnh hưởng ra sao tới lợi nhuận của doanh nghiệp
Không phải lúc nào tỷ suất này tăng cũng phản ánh doanh nghiệp đang kinh doanh tốt và giảm thì phản ánh doanh nghiệp đang kinh doanh kém hiệu quả mà việc xem xét tăng giảm tỷ suất sinh lời trên doanh thu là tốt hay xấu còn phụ thuộc vào lý do của việc tăng giảm đó
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Tỷ suất sinh lời trên
tổng tài sản =
Lợi nhuận ròng Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng và trình độ quản lý tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đơn vị tài sản sử dụng trong quá trình kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng Trị số của chỉ tiêu càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản càng lớn và ngược lại
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Tỷ suất sinh lời trên
vốn chủ sở hữu =
Lợi nhuận ròng Vốn chủ sở hữu
Đây là chỉ số được các nhà đầu tư, cổ đông của doanh nghiệp quan tâm nhất vì nó phản ánh những gì mà họ sẽ được hưởng Chỉ số này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra để đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng Kết quả tính toán tỷ suất này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tự có càng cao Ta thường dùng chi phí cơ hội của việc cho vay trên thị trường tiền tệ (trái phiếu kho bạc, tiền gửi tiết kiệm
…) làm mốc so sánh với chỉ số trên để xác định hiệu quả vốn tự có Một doanh nghiệp phải có tỷ số này cao hơn lãi suất tiết kiệm thì mới được coi là đạt hiệu quả Tuy nhiên
Trang 26tỷ số này sẽ không phản ánh đúng thực chất doanh nghiệp nếu doanh nghiệp hoạt động bằng vốn vay là chủ yếu hay vốn chủ sở hữu quá thấp
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính
Việc hoàn thiện phân tích tài chính chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, có thể khái quát thành các nhân tố chủ quan và khách quan như sau:
1.4.1 Các nhân tố chủ quan
Tài liệu dùng trong phân tích
Tài liệu là cơ sở, nền tảng quyết định tới tính chính xác của kết quả phân tích Tài liệu quan trọng nhất là hệ thống các báo cáo tài chính, do đó các số liệu, thông tin từ công tác kế toán phải trung thực và hợp lý thì việc phân tích mới có ý nghĩa Nếu sử dụng các số liệu sai lệch thì các phân tích đưa ra rất dễ dẫn đến sự định hướng sai trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp và quyết định của nhà đầu tư Bên cạnh
đó, tài liệu mà không cung cấp đầy đủ thì công việc phân tích có thể không thực hiện được hoặc độ tin cậy thấp Do vậy, ngoài báo cáo tài chính thì các tài liệu bên ngoài cũng cần được cập nhật và kiểm tra kịp thời để kết quả phân tích có tính toàn diện hơn
Trình độ của cán bộ phân tích
Đây cũng là nhân tố có tính quyết định tới kết quả phân tích Cán bộ phân tích là người sử dụng các công cụ, kỹ thuật phân tích để các dữ liệu ban đầu thể hiện được nội dung và ý nghĩa Cán bộ phân tích được đào tạo đầy đủ về chuyên môn, nghiệp vụ thì phương pháp, nội dung phân tích sẽ đầy đủ, khoa học, đáp ứng được yêu cầu đặt ra Ngoài kiến thức chuyên môn thì người phân tích còn cần có những hiểu biết chung về nền kinh tế, về đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, chính sách pháp luật của nhà nước, có như vậy thì những kết luận đưa ra sẽ mang tính khách quan và tin cậy cao hơn
Công nghệ và phương pháp phân tích
Công nghệ và phương pháp phân tích chính là các công cụ để cán bộ phân tích thực hiện công việc của mình Nếu ứng dụng các công nghệ và phương pháp tốt thì quá trình phân tích tài chính sẽ đem lại kết quả chính xác, khoa học, tiết kiệm thời gian, công sức Tùy vào các đặc trưng riêng của từng doanh nghiệp mà sử dụng các công nghệ và phương pháp khác nhau hoặc kết hợp nhiều phương pháp Chẳng hạn, phương pháp so sánh ngang giúp đánh giá sự tăng giảm của các chỉ tiêu giữa các giai đoạn khác nhau, từ đó cho thấy xu hướng biến động trong một thời kỳ, phương pháp này rất hiệu quả khi phân tích đối với các doanh nghiệp có thời gian hoạt động dài, trải qua nhiều thời kỳ nhưng đối với một doanh nghiệp mới thành lập thì lại không có nhiều ý nghĩa Thế nên, việc lựa chọn công nghệ và phương pháp phân tích tưởng chừng rất đơn giản và theo một khuôn mẫu chung, nhưng thực tế thì công việc này đòi hỏi sự linh hoạt và kinh nghiệm của người phân tích
Trang 2718
Tần suất phân tích
Tình hình kinh tế có sự thay đổi từng ngày, tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể là tốt trong thời kì này nhưng lại suy thoái trong thời kì khác Để kết quả phản ánh đúng thực trạng tài chính thì công tác phân tích phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, tần suất phân tích càng lớn thì các kết luận phân tích có độ tin cậy càng cao Chẳng hạn, công ty tiến hành công tác phân tích theo quý, nếu thấy tình hình tài chính quý này không tốt, ban lãnh đạo có thể tìm hiểu nguyên nhân và tìm giải pháp khắc phục ngay trong quý sau, nhưng nếu cuối năm công ty mới thực hiện phân tích thì những giải pháp đưa ra sẽ không kịp thời và giảm hiệu quả
1.4.2 Các nhân tố khách quan
Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước
Doanh nghiệp là đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước do đó phải tuân thủ chính sách, pháp luật và thực hiện đủ các nghĩa vụ, như vậy mới tạo được môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng Môi trường pháp lý càng rõ ràng, chặt chẽ bao nhiêu thì doanh nghiệp càng thuận lợi trong việc định hướng và thực hiện Chẳng hạn, chế độ kế toán chung được nhà nước quy định nhưng có thể có những sửa đổi, bổ sung trong từng giai đoạn để phù hợp hơn với mục tiêu quản lý tài chính, điều này sẽ làm thay đổi trong công tác lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp, từ đó đòi hỏi các cán bộ phân tích cần bám sát quy định, chuẩn mực chung để đảm bảo tính phù hợp, sát thực của công tác phân tích với pháp luật của nhà nước Ngoài ra, các chính sách đó còn có tính định hướng và là động lực cho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
Hệ thống thông tin của nền kinh tế và của ngành
Các kết quả phân tích sẽ không được đánh giá toàn diện nếu chỉ phân tích dựa trên các tài liệu của bản thân doanh nghiệp Bởi doanh nghiệp không tồn tại độc lập mà còn
có các mối quan hệ, liên kết với các doanh nghiệp khác Nếu có hệ thống chỉ tiêu về trung bình ngành thì doanh nghiệp có thể đánh giá, xem xét tình hình tài chính để nhận thức vị trí của mình nhằm đưa ra những chính sách đúng đắn, phù hợp, cũng như có hướng phấn đấu, khắc phục Một doanh nghiệp có tình hình tài chính giảm sút nhưng nếu trong một nền kinh tế đang trì trệ và toàn ngành đang gặp khó khăn thì những kết quả doanh nghiệp đạt được có thể vẫn khả quan Do đó, những thông tin của nền kinh
tế và các chỉ tiêu của ngành góp phần làm tăng ý nghĩa của phân tích tài chính và cho thấy một bức tranh toàn diện hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trang 28CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
VIGLACERA ĐÔNG ANH 2.1 Khái quát về CTCP Viglacera Đông Anh
Tên công ty: Công ty cổ phần Viglacera Đông Anh
Tên giao dịch quốc tế: Dong Anh Viglacera joint-stock company
Tên viết tắt: DACJSC
Địa chỉ: Tổ 35, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 38832396 /Fax: (84-4) 38835465
Vốn điều lệ: 7.500.000.000 đồng
Mã chứng khoán: DAC
Mệnh giá cổ phiếu: 10.000 đồng
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
- Công ty thành lập tháng 8/1958, tiền thân là xí nghiệp Gạch ngói 382 Đông Anh,
là một đơn vị thuộc Tổng cục hậu cần-Bộ Quốc phòng
- Năm 1959, xí nghiệp Gạch ngói 382 Đông Anh chuyển về Bộ xây dựng thuộc Liên hiệp các xí nghiệp Gạch ngói sành sứ xây dựng-Bộ Xây dựng
- Năm 1995, xí nghiệp Gạch ngói 382 Đông Anh đổi tên thành công ty Gốm xây dựng 382 Đông Anh trực thuộc Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng (Quyết định
số 74/BXD-TCLĐ ngày 18 tháng 02 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ xây dựng)
- Năm 2001, công ty Gốm xây dựng 382 Đông Anh được sáp nhập vào công ty Gốm xây dựng Từ Sơn-là đợn vị trực thuộc công ty Gốm xây dựng Từ Sơn, hạch toán kinh tế phụ thuộc
Khi mới thành lập, xí nghiệp sản xuất với quy mô nhỏ, công nghệ sản xuất gạch ngói thủ công, lạc hậu, năng suất thấp, sản lượng đạt 3-4 triệu viên/năm Năm 1969, đầu tư mở rộng xí nghiệp với công nghệ nung lò vòng tạo hình bằng máy EG5 và hệ tạo hình Tiệp Khắc, phơi tự nhiên ngoài trời dùng phên nứa che đậy, sản lượng được nâng lên 10 triệu viên/năm Từ năm 1993 đến năm 1995, nhà máy đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ sản xuất, đến nay đã hoàn thiện với thiết bị sản xuất đồng bộ, công nghệ lò sấy nung tuynel liên hợp, tạo hình gạch mộc bằng máy đùn ép có hút chân không của Italia, hệ thống nhà phơi kính, công suất thiết kế ban đầu của nhà máy là 40 triệu viên/năm
- Năm 2003, nhà máy Gốm xây dựng Đông Anh được tách ra khỏi công ty Gốm xây dựng Từ Sơn để cổ phần hóa theo quyết định số 1207/QĐ-BXD ngày 09/09/2003 của
Bộ trưởng Bộ xây dựng, đổi tên thành công ty cổ phần Gốm xây dựng Đông Anh (viết tắt là DAC) và chính thức đi vào hoạt động theo mô hình cổ phần hóa từ ngày 01/10/2003 với vốn điều lệ 7,5 tỷ đồng
Trang 2920
Công ty đã chính thức niêm yết 750.000 cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội từ ngày 20/09/2006 theo Quyết định số 16/QĐ-TTGDHN ngày 12/9/2006 của Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
- Công ty đổi tên thành công ty cổ phần Viglacera Đông Anh từ tháng 2/2007
- Công ty đã niêm yết bổ sung lần 1: 254.974 cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội từ ngày 10/03/2009 theo công văn số 264/TB-TTLK, ngày 06/03/2009 của Trung tâm lưu ký chứng khoán về việc lưu ký chứng khoán đăng ký bổ sung cổ phiếu DAC của công ty cổ phần Viglacera Đông Anh
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh
- Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng đất sét nung và các loại vật liệu xây dựng khác
- Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm cơ khí
- Xây lắp các công trình công nghiệp và dân dụng
- Chuyển giao công nghệ kỹ thuật sản xuất vật liệu xây dựng, gạch ngói đất sét nung
- Kinh doanh vận tải
- Kinh doanh và đầu tư bất động sản
- Kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành nội địa, quốc tế
- Khai thác và chế biến nguyên nhiên vật liệu sản xuất vật liệu xây dựng
Hiện tại, lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty là sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng đất sét nung, chuyển giao công nghệ kỹ thuật sản xuất vật liệu xây dựng, gạch ngói đất sét nung Tuy nhiên, trong dài hạn, công ty đã xây dựng một chiến lược kinh doanh đa ngành nghề Theo đó, một mặt, công ty không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng bằng việc đầu tư phát triển theo chiều sâu nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hoá sản phẩm để đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu thị trường
Công ty tiếp tục đầu tư để tham gia các lĩnh vực kinh doanh khác trong thời gian tới Cụ thể là công ty không ngừng nâng cao năng lực trong lĩnh vực cơ khí, xây lắp, kinh doanh thương mại và dịch vụ …
Trang 302.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Viglacera Đông Anh
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2012)
Công ty cổ phần Viglacera Đông Anh tổ chức theo mô hình trực tuyến Người lãnh đạo thực hiện tất cả các chức năng quản trị, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm mọi mặt của đơn vị mình Các bộ phận trong công ty (phòng, phân xưởng) có sự trao đổi, phối hợp để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình đạt hiệu quả nhất
Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất của công ty, bao gồm tất cả các
cổ đông có quyền biểu quyết và người được cổ đông ủy quyền Đại hội đồng cổ đông
có toàn quyền quyết định mọi hoạt động của công ty và có nhiệm vụ:
- Thông qua điều lệ, phương hướng hoạt động kinh doanh của công ty
- Bầu, bãi nhiệm Hội đồng quản trị và ban kiểm soát
- Các nhiệm vụ khác do điều lệ công ty quy định
Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị Giám đốc điều hành
Ban kiểm soát
Kế toán
trưởng
Phân xưởng sản xuất
Phân xưởng CBTH
Phân xưởng nung
Phân xưởng
cơ điện
Phòng TCHC
Phòng KHĐT
Bộ phận maketting Phòng kinh doanh
Phòng
kế toán
Phó giám đốc sản xuất
Trang 3122
- Quyết định cơ cấu tổ chức, bộ máy, quy chế hoạt động và quỹ lương của công ty
- Bổ nhiệm, bãi nhiệm và giám sát hoạt động của ban giám đốc
- Kiến nghị sửa đổi và bổ sung điều lệ của công ty
- Quy định triệu tập Đại hội đồng cổ đông
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra Ban kiểm soát có nhệm vụ kiểm soát mọi hoạt động quản trị và điều hành sản xuất kinh doanh của công ty, hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và ban giám đốc
- Ký các văn bản, hợp đồng, chứng từ theo sự phân cấp của điều lệ công ty
- Báo cáo trước Hội đồng quản trị tình hình hoạt động tài chính, kết quả kinh doanh
và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của công ty trước Hội đồng quản trị
Trang 32Phòng kinh doanh
Chịu trách nhiệm về hoạt động tiêu thụ của công ty, nghiên cứu, phân tích thị trường, xây dựng, quảng bá thương hiệu, lập chiến lược kinh doanh và kế hoạch bán hàng
và dài hạn cho hoạt động kinh doanh và phát triển của công ty
Các phân xưởng sản xuất
Chịu trách nhiệm sản xuất các sản phẩm của công ty theo các tiêu chuẩn chất lượng
và mẫu mã quy định
2.1.4 Tình hình hoạt động của công ty
Do nền kinh tế suy thoái, thị trường bất động sản còn trầm lắng nên nhu cầu xây dựng không cao cùng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong ngành dẫn tới tình hình hoạt động của công ty trong những năm gần đây gặp nhiều khó khăn
Bảng 2.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chính giai đoạn 2010-2012
Thực hiện so với kế hoạch (%)
2010 2011 2012 2010 2011 2012 2010 2011 2012 Lợi nhuận
trước thuế đồng Tỷ 16 13,7 5,5 8,3 4,3 (4,5) 52,03 31,39 (182) Doanh thu Tỷ
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2010,2011,2012)
Năm 2010 là năm mở đầu của giai đoạn khó khăn trong kinh doanh nhưng ban điều
hành đã thực hiện các nghị quyết của đại hội đồng cổ đông thường niên và hội đồng quản trị với quyết tâm của ban lãnh đạo, cùng toàn thể cán bộ công nhân viên công ty
Trang 3324
năm 2010, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã thực hiện đạt 8,3 tỷ đồng, bằng 52% kế hoạch đề ra, giảm 46,11 % so với năm 2009
Năm 2011 là năm công ty chưa đạt các chỉ tiêu như dự kiến do tiếp tục chịu ảnh
hưởng của cơn bão khủng hoảng kinh tế, chi phí sản xuất đầu vào tăng do trượt giá, lạm phát, lãi vay ngân hàng tăng cao, dẫn đến giá thành sản phẩm tăng, lợi nhuận giảm
và chỉ đạt 31,39% so với dự kiến Sản lượng tiêu thụ cũng không đáp ứng được so với chỉ tiêu đặt ra bởi sức mua giảm mạnh
Năm 2012 một năm có nhiều khó khăn hơn nữa đối với công ty do khủng hoảng
kinh tế tiếp diễn và thực hiện nghị quyết XI của Chính phủ đối với các doanh nghiệp ngành sản xuất gạch ngói đất sét nung, bên cạnh đó giá các loại nguyên nhiên vật liệu tăng cao, kinh tế Việt nam suy thoái mặc dù đang hồi phục nhưng nhu cầu xây dựng chưa cao tác động đến tiêu thụ sản phẩm của ngành gạch, lạm phát cao đẩy giá các loại nguyên vật liệu đầu vào của công ty như điện, phụ gia và nhiên liệu tăng theo, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt với các thương hiệu lớn trong nước và ngoại nhập cũng
là một thách thức mà công ty phải đối mặt
2.2 Thực trạng phân tích tài chính
2.2.1 Nguồn số liệu và phương pháp phân tích
- Nguồn số liệu: phân tích tài chính tại công ty Viglacera Đông Anh chủ yếu dựa vào hệ thống báo cáo tài chính do kế toán cung cấp, cụ thể là bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 34Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán
2 Các khản tương đương tiền 15.930.000.000 5.780.000.000
II Các khoản phải thu ngắn
1 Phải thu khách hàng 1.743.885.013 2.939.308.553 2.805.316.351
2 Trả trước cho người bán 429.742.857 2.488.739.545 209.821.595
3 Các khoản phải thu khác 275.628.884 74.652.951 1.632.294
1 Đầu tư dài hạn khác 700.000.000 2.710.000.000 2.710.000.000
III Tài sản dài hạn khác 468.365.138 295.100.770
1 Chi phí trả trước dài hạn 413.365.138 295.100.770
TỔNG CỘNG TÀI SẢN 51.346.538.185 52.275.183.083 48.260.365.736
Trang 353 Người mua trả tiền trước 52.888.266 40.901.212 27.553.617
4 Thuế và các khoản phải nộp
4 Quỹ đầu tư phát triển 9.160.927.247 13.276.488.672 10.378.160.630
Trang 36Bảng 2.3 Báo cáo kết quả kinh doanh
15 Chi phí thuế thu nhập
doanh nghiệp hiện hành 1.040.501.347 1.075.621.891
16 Lợi nhuận sau thuế thu
- Phương pháp phân tích: công ty sử dụng hai phương pháp truyền thống là so sánh
và tỷ số, sử dụng kết hợp hai phương pháp này giúp tiết kiệm thời gian mà đánh giá được khá đầy đủ về tình hình tài chính
Trang 3728
2.2.2 Nội dung phân tích
2.2.2.1 Phân tích tình hình biến động tài sản-nguồn vốn