1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Công nghiệp xây dựng Toàn Phát

67 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 783,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài khóa luận gồm 3 chương chính: Chương 1, cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp; chương 2, thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát; chương 3, giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong cuộc sống không có sự thành công nào mà không có một sự giúp đỡ, sự hỗtrợ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp Để có thể hoàn thành được bài khóa luậntốt nghiệp này, em đã được tạo điều kiện và giúp đỡ rất nhiều

Lời đầu tiên cho phép em được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình củamình Gia đình luôn tạo điều kiện tốt nhất cho em, cho em một môi trường có thể họctập và rèn luyện hiệu quả, cổ vũ động viên em, luôn là động lực để em cố gắng

Lời cảm ơn thứ hai em xin được gửi đến các thầy cô giáo trong trường Đại họcThăng Long, những người thầy cô giáo luôn tạo cho em một môi trường học tập tốtnhất, luôn tận tình chỉ bảo, luôn tâm huyết với sinh viên của mình Những kiến thức

mà các thầy cô đã dạy dỗ là nền tảng để em có thể viết nên những trang khóa luận, lànền tảng để bước tiếp trên con đường sau này Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô

và xin kính chúc các thầy cô luôn mạnh khỏe, luôn tâm huyết mãi với những đứa continh thần của mình

Lời cảm ơn tiếp theo em xin được gửi đến các bác, các cô chú, anh chị trongCông ty Cổ phần công nghiệp Toàn Phát đã tạo điều kiện tốt nhất, tận tình chỉ bảo cho

em trong quá trình tham gia thực tập tại Công ty Xin chúc quý Công ty luôn gặt háiđược nhiều thành công

Lời cảm ơn đặc biệt nhất em xin được gửi đến cô giáo: PGS.TS Lưu Thị Hương

Cô giáo là người đã hướng dẫn cho em từ những bước đầu tiên của khóa luận, là ngườihướng dẫn cho em những bước đi cơ bản nhất và cũng là quan trọng nhất để em có thểhoàn thành không chỉ một bài khóa luận này mà còn là rất nhiều các bài luận văn phíasau nữa Cô cũng là người đã chỉ cho em những lỗi sai, những điều không đúng để em

có thể nhìn nhận lại vấn đề và sửa đổi, để có thể hoàn thiện một cách tốt nhất có thể

Em xin chân thành cảm ơn cô Em xin kính chúc cô sẽ vẫn như bây giờ, luôn mạnhkhỏe, là một người thầy giáo đầy tâm huyết, trách nhiệm với công việc cao cả củamình: Dạy dỗ những lớp thế hệ sau ngày một giỏi giang và thành đạt Một lần nữa, emxin chân thành cảm ơn cô

Hà Nội, ngày 16 tháng 03 năm 2014

Sinh viênNguyễn Thị Thanh Tâm

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗtrợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của ngườikhác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận có nguồn gốc và đượctrích dẫn rõ ràng

Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời cam đoan này

Sinh viên

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối đahóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóahoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp , song tất cả các mục tiêu cụ thể

đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản Sử dụng tài sản cóhiệu quả giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành vớihiệu quả kinh tế cao nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và tăngthêm giá trị tài sản của chủ sở hữu

Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát là một Công ty hoạt động chủyếu trong lĩnh vực xây dựng mới đi vào hoạt động từ năm 2005 Công ty đã chú trọngđến vấn đề hiệu quả sử dụng của tài sản nhưng do lí do chủ quan và khách quan nhấtđịnh, hiệu quả sử dụng tài sản vẫn còn thấp so với mục tiêu đã đề ra Vì vậy, nâng caohiệu quả sử dụng tài sản là vấn đề quan trọng cấp thiết với Công ty hiện nay

Từ đó, đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Côngnghiệp xây dựng Toàn Phát” được lựa chọn để nghiên cứu

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản.

Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần công

nghiệp xây dựng Toàn Phát Từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị để nângcao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp phân tích, tổnghợp, khái quát dựa trên những số liệu mà Công ty cung cấp

4 Kết cấu của khóa luận

Bài khóa luận gồm 3 chương chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần công

nghiệp xây dựng Toàn Phát

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản Công ty Cổ phần công

nghiệp xây dựng Toàn Phát

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA

DOANH NGHIỆP 1

1.1 Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp 1

1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp 1

1.1.2 Tài sản của doanh nghiệp 4

1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 7

1.2.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 7

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 8

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 12

1.3.1 Các nhân tố chủ quan 13

1.3.2 Các nhân tố khách quan 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG TOÀN PHÁT 24

2.1 Giới thiệu Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 24

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 24

2.1.2 Cơ cấu tổ chức – nhân sự của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 26

2.1.3 Kết quả hoạt động của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 29

2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 32

2.2.1 Thực trạng tài sản của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 32

2.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cồ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 37

2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 44

2.3.1 Kết quả đạt được 44

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 45

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG TOÀN PHÁT 49

Trang 5

3.1 Định hướng hoạt động của Công ty 493.1.1 Định hướng phát triển của ngành Xây dựng 493.1.2 Định hướng hoạt động của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát.

503.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần công nghiệpxây dựng Toàn Phát 513.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tổng tài sản của Công ty Cổ phần côngnghiệp xây dựng Toàn Phát 513.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phầncông nghiệp xây dựng Toàn Phát 523.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty Cổ phầncông nghiệp xây dựng Toàn Phát 573.3 Kiến nghị 58

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 2010 – 2012 29

Bảng 2.2 Cơ cấu tài sản của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 32

Bảng 2.3 Cơ cấu TSNH của Công ty Cổ phần xây dựng công nghiệp Toàn Phát 33

Bảng 2.4 Cơ cấu TSDH của Công ty Cổ phần xây dựng công nghiệp Toàn Phát 36

Bảng 2.5 Hiệu quả sử dụng tổng tài sản 38

Bảng 2.6 Khả năng thanh toán của Công ty .39

Bảng 2.7 Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn 40

Bảng 2.8 Hiệu suất sử dụng TSNH và hệ số sinh lời TSNH 42

Bảng 2.9 Hiệu suất sử dụng TSDH và hệ số sinh lời của TSDH .43

Bảng 2.10 Suất hao phí TSCĐ của Công ty .44

Bảng 2.11 Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả sử dụng tài sản .46

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát 26

Trang 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA

DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp

1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp

Doanh nghiệp là chủ thể kinh thể độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinhdoanh trên thị trường làm tăng giá trị của chủ sở hữu

Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân Cónhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ khôngphải các cá nhân

Ở Việt Nam, theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp, Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế cótên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quyđịnh của Pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Kinh doanh làviệc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từsản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng sản phẩm trên thị trường nhằm mụcđích sinh lời

1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp

Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, Công

ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Công ty liên doanh,doanh nghiệp tư nhân

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh:Kinh doanh cá thể, kinh doanh góp vốn và Công ty

Kinh doanh cá thể là loại hình được thành lập đơn giản nhất, không cần phải có

điều lệ chính thức và ít chịu sự quản lí của Nhà nước Kinh doanh cá thể không phảitrả thuế thu nhập doanh nghiệp, nhưng tất cả lợi nhuận bị tính thuế thu nhập cá nhân.Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ và các khoản nợ,không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của doanh nghiệp Tuy nhiên, thờigian hoạt động của doanh nghiệp và khả năng thu hút vốn bị phụ thuộc vào người chủ

Kinh doanh góp vốn là loại hình được thành lập dễ dàng với chi phí thành lập

thấp Đối với các hợp đồng phức tạp cần phải được viết tay Một số trường hợp cần cógiấy phép kinh doanh Các thành viên chính thức chịu trách nhiệm vô hạn với cáckhoản nợ Mỗi thành viên có trách nhiệm với phần tương ứng với phần vốn góp Nếunhư một thành viên không hoàn thành trách nhiệm trả nợ của mình, phần còn lại sẽ docác thành viên khác hoàn trả Và khi một thành viên trong các thành viên chính chết

Trang 9

hay rút vốn thì doanh nghiệp sẽ tan vỡ Ở loại hình này, khả năng về vốn bị hạn chế vàlãi từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập cá nhân

Công ty là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp 3 loại lợi ích: của các cổ

đông (chủ sở hữu), của hội đồng quản trị và của các nhà quản lý Theo truyền thống,

cổ đông kiểm soát toàn bộ phương hướng, chính sách và hoạt động của Công ty Cổđông bầu nên hội đồng quản trị, sau đó hội đồng quản trị sẽ lựa chọn ban quản lý Cácnhà quản lý quản lý hoạt động của Công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho

cổ đông Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý mang lại cho Công ty các ưuthế so với kinh doanh cá thể và góp vốn như là: Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyểncho cổ đông mới, sự tồn tại của Công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng cổđông và trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào Công ty(trách nhiệm hữu hạn)

Mỗi loại hình doanh nghiệp có các ưu, nhược điểm riêng phù hợp với quy mô vàtrình độ phát triển nhất định Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với các tư cách

là các Công ty Đây là loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp

1.1.1.3 Môi trường hoạt động của doanh nghiệp

Để đạt được mức lợi nhuận mong muốn, doanh nghiệp cần phải có những quyếtđịnh về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình trao đổi Mọi quyết định đềuphải gắn kết với môi trường Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xãhội phức tạp và luôn biến động Có thể kể đến một số yếu tố khách quan tác động trựctiếp tới hoạt động của doanh nghiệp

Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ Sự phát triển của công nghệ làmột yếu tố góp phần thay đổi phương thức sản xuất, tạo ra nhiều kỹ thuật mới dẫn đếnnhững thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tài chính doanh nghiệp

Doanh nghiệp là đối tượng quản lý của Nhà nước, chịu sự quản lí của Nhà nước

Sự thắt chặt hay nới lỏng các hoạt động của doanh nghiệp được điều chỉnh bằng Luật,các văn bản quy phạm pháp luật, bằng cơ chế quản lý tài chính

Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phải dự tính được khả năng xảy ra rủi

ro, đặc biệt là rủi ro tài chính để tìm cách ứng phó kịp thời và đúng đắn Hiện nay, cácdoanh nghiệp cạnh tranh ngày càng gay gắt làm các doanh nghiệp phải chuyển đổi dần

từ chiến lược trọng cung cổ điển đến chiến lược trọng cầu hiện đại Những đòi hỏi vềchất lượng, mẫu mã, giá cả hàng hóa, về chất lượng dịch vụ ngày càng cao hơn, tinh tếhơn của khách hàng buộc doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới nâng cao chấtlượng sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả và chất lượng cao

Trang 10

Doanh nghiệp thường phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức vốn chủ

sở hữu trong cơ cấu vốn Sự tăng, giảm vốn chủ sở hữu có tác động đáng kể tới hoạtđộng của doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau

Muốn phát triển bển vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trước được

sự thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó và đưa ra những phương ánphù hợp nhất để tăng mức lợi nhuận của doanh nghiệp

1.1.1.4 Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp

Theo Luật doanh nghiệp năm 2005: Doanh nghiệp hoạt động trong tất cả các lĩnhvực được cấp giấy phép trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp, gồm có:

- Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp

Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành cáchoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánhnguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hóa Nó giống cácloại hàng hóa khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, nhưng lại có đặc điểm là người sởhữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Chi phí của việc

sử dụng vốn chính là lãi suất Chính nhờ có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụngnên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh để sinh lợi

Dưới góc độ doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản kếthợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinhdoanh Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sản xuất vật chất riêngbiệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục trong suốt thời gian tồntại của doanh nghiệp từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc quá trình

Tùy theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp cóthể có các phương thức huy động vốn khác nhau Trong điều kiện kinh tế thị trường,các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hóa nhằm khai thácmọi nguồn vốn trong nền kinh tế Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam, trong hoàncảnh cụ thể của Việt Nam, do thị trường tài chính chưa phát triển hoàn chỉnh nên việckhai thác vốn có những nét đặc trưng nhất định Sự phát triển nhanh chóng của nềnkinh tế và thị trường tài chính sẽ sớm tạo điều kiện để các doanh nghiệp mở rộng khảnăng thu hút vốn vào kinh doanh

- Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoạt động vô cùng quantrọng, xuyên suốt của doanh nghiệp Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 11

tạo ra hàng hóa, của cải, vật chất, phục vụ doanh nghiệp, phục vụ xã hội Và việc hoạtđộng sản xuất kinh doanh loại hình nào, loại hàng hóa nào với tiêu chuẩn, cách thứcsản xuất ra sao sẽ được Ban lãnh đạo đưa ra và chuyển xuống để các bộ phận tiếp tụclàm nhiệm vụ của mình

- Các hoạt động khác của doanh nghiệp

Ngày nay, bên cạnh những hoạt động chủ chốt như hoạt động vốn, hoạt động sảnxuất kinh doanh, các doanh nghiệp vẫn thường tham gia nhiều hoạt động khác nhằmthể hiện sự trách nhiệm, sự quan tâm của doanh nghiệp với cộng đồng Có thể là cáchoạt động từ thiện, ủng hộ đồng bào lũ lụt, quyên góp giúp đỡ các gia đình chính sáchkhó khăn, giúp đỡ trẻ em lang thang cơ nhỡ hay các hoạt động vì môi trường, bảo vệnguồn nước, trồng cây xanh Các hoạt động này sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao uytín, vị thế của doanh nghiệp trong lòng khách hàng

1.1.2 Tài sản của doanh nghiệp

1.1.2.1 Khái niệm tài sản của doanh nghiệp

Theo chuẩn mực Kế toán Quốc tế: Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểmsoát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ, mà từ đó một số lợi ích kinh tếtrong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý

Theo chuẩn mực Kế toán Việt Nam: Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểmsoát được và mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp trong tương lai

1.1.2.2 Phân loại tài sản của doanh nghiệp

Tài sản được phân loại thành nhiều loại, dựa trên những tiêu chí khác nhau:

- Theo hình thái biểu hiện: Tài sản hữu hình và tài sản vô hình

- Theo tính chất sở hữu: Tài sản công cộng và tài sản cá nhân

- Theo khả năng trao đổi: Hàng hóa và phi hàng hóa

- Theo khả năng di dời: Động sản và bất động sản

- Theo đặc điểm tuần hoàn và luân chuyển: Tài sản cố định và tài sản lưu động

- Theo nguồn hình thành: Tài sản được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu và tài sảnđược tài trợ bởi vốn nợ

- Theo đặc điểm về thời gian sử dụng: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.Sau đây là những nghiên cứu khái quát về tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn:

Tài sản ngắn hạn:

Tài sản ngắn hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyểntrong một năm hoặc một chu kì kinh doanh Tài sản ngắn hạn gồm:

Trang 12

Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân

hàng và tiền đang chuyển Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạnkhông quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi

ro trong quá trình chuyển đổi thành tiền

Tài sản tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời gian

thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kì kinh doanh (như: Tín phiếu kho Bạc, kìphiếu kinh doanh ) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếmlời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm

Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng,

phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặcthanh toán dưới một năm

Hàng tồn kho: Bao gồm các nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, sản

phẩm, hàng gửi bán, hàng mua đang đi đường

Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn, thuế giá trị gia tăng

được khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác

Tài sản dài hạn

Tất cả các tài sản khi được xét theo thời gian sử dụng, nếu không là tài sản ngắnhạn thì được xếp vào tài sản dài hạn Tài sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu dàihạn, bất động sản đầu tư, tài sản cố định, các khoản tài sản tài chính dài hạn và các tàisản dài hạn khác

Các khoản phải thu dài hạn: Là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải

thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanhtoán trên một năm

Bất động sản đầu tư: Là những bất động sản, gồm: Quyền sử dụng đất, nhà hoặc

một phần của nhà hoặc của nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người

đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nằm mục đích thu lợi từ việc chothuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa,dịch vụ hay cho các mục đích quản lí hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thôngthường

Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời 2 điềukiện, đó là chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và nguyên giá của bấtđộng sản đầu tư phải được định giá một cách đáng tin cậy Trong đó, nguyên giá củabất động sản đầu tư bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp, như: phí dịch

vụ tư vấn pháp luật liên quan, thuế trước bạ và các chi phí giao dịch liên quan khác

Trang 13

Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các

hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn sau:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó

- Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên

- Nguyên giá của tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy và có giá trị

từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) trở lên

Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định đặc biệt là đối vớithiết bị, công nghệ là một trong các yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của cácdoanh nghiệp, bởi vì:

- Tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp

- Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có được năng suất cao, chất lượng sản phẩmtốt, chi phí tạo ra sản phẩm thấp tạo điều kiện đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tăng doanhthu và do đó doanh nghiệp mới có đủ sức cạnh tranh trên thị trường Xét trên góc độnày, đầu tư đổi mới tài sản cố định kịp thời, hợp lý trở thành vấn đề sống còn đối vớimỗi doanh nghiệp

- Đổi mới tài sản cố định kịp thời, hợp lý còn có ý nghĩa quan trọng trong việcgiảm biên chế, giải phóng lao động thủ công nặng nhọc, đảm bảo an toàn cho ngườilao động, tạo ra tư thế, tác phong của người công nhân sản xuất lớn

- Xét trên góc độ tài chính doanh nghiệp, sự nhạy cảm trong đầu tư đổi mới tàisản cố định là một nhân tố quan trọng để giảm chi phí như: Chi phí sửa chữa lớn tàisản cố định, hạ thấp hao phí năng lượng, giảm chi phí biến đổi để tạo ra sản phẩm và

là biện pháp rất khoa học để hạn chế hao mòn vô hình trong điều kiện cách mạng khoahọc kỹ thuật phát triển nhanh mạnh như hiện nay

Tài sản tài chính dài hạn: Là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng

khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn kinh doanh bằng tiền, bằng hiệnvật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và các loại đầu

tư khác có thời hạn vượt quá một năm Tài sản tài chính dài hạn có thể nói là cáckhoản vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian trên một năm nhằm tạo ra nguồn lợitức lâu dài cho doanh nghiệp

Cụ thể, tài sản tài chính dài hạn bao gồm:

- Các chứng khoán dài hạn: Phản ánh giá trị các khoản đầu tư cho việc mua báncác cổ phiếu và trái phiếu có thời hạn trên một năm và có thể bán ra bất kì lúc nào vớimục đích kiếm lợi nhuận Bao gồm:

Trang 14

- Cổ phiếu doanh nghiệp: Là chứng chỉ xác nhận vốn góp của chủ sở hữu vàodoanh nghiệp đang hoạt động hoặc mới thành lập Doanh nghiệp mua cổ phần đượchưởng lợi tức cổ phần (cổ tức) căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, nhưng đồng thời chủ sở hữu vốn cũng phải chịu rủi ro khi doanh nghiệp đó bịthua lỗ, giải thể hoặc phá sản theo Điều lệ của doanh nghiệp và Luật phá sản củadoanh nghiệp Cổ phẩn của doanh nghiệp có cổ phần thường và cổ phần ưu đãi Mỗi

cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần

- Trái phiếu: Là chứng chỉ vay nợ có kì hạn và có lãi do Nhà nước hoặc doanhnghiệp hay các tổ chức, cá nhân phát hành nhằm huy động vốn cho việc đầu tư pháttriển Có 3 loại trái phiếu:

+ Trái phiếu Chính phủ: Là chứng chỉ vay nợ của Chính phủ do Bộ Tài chínhphát hành dưới các hình thức: Trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu xâydựng Tổ Quốc

+ Trái phiếu địa phương: Là chứng chỉ vay nợ của các chính quyền Tỉnh,Thành phố phát hành

+ Trái phiếu Công ty: Là chứng chỉ vay nợ do doanh nghiệp phát hành nhằmvay vốn để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và đổi mới trang thiết bị, công nghệcủa doanh nghiệp Giá trị chứng khoán đầu tư dài hạn được xác định là giá thực tế (giágốc) bằng giá mua cộng với các chi phí thu mua (nếu có) như: Chi phí môi giới, giaodịch, lệ phí, thuế và phí ngân hàng

- Các khoản góp vốn liên doanh: Là một hoạt động đầu tư tài chính mà doanhnghiệp đầu tư vốn vào doanh nghiệp khác để nhận kết quả kinh doanh và cùng chịu rủi

ro (nếu có tỉ lệ vốn góp) Vốn góp liên doanh của doanh nghiệp bao gồm tất cả các loạitài sản, vật tư, tiền vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp kể cả vốn vay dài hạndùng vào việc góp vốn kinh doanh

Tài sản dài hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập

hoãn lại, tài sản dài hạn khác

1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện cácmục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trongnhững điều kiện nhất định Hiệu quả được xem xét trong bối cảnh hay điều kiện nhấtđịnh, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu.Một doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển được thì phải quan tâm tới hiệuquả kinh tế Bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phảnánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các

Trang 15

nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu và tiền vốn) để đạt được cácmục tiêu xác định trong quá trình sản xuất- kinh doanh Mục đích khi lập ra doanhnghiệp có thể là tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa hoạt động hữuích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Nhưng mục tiêu lớn nhất của các doanh nghiệp

là tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu Và đề làm được điều đó, tất cả các doanhnghiệp đều phải nỗ lực khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả tài sản của mình.Như vậy, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp phản ánh trình độ, năng lựckhai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất kinh doanhtiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

1.2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài sản của doanh nghiệp

- Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản (ROA)

Chỉ tiêu thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của tài sản mà doanh nghiệp

sử dụng cho hoạt động kinh doanh, và được tính bằng công thức:

Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản = Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản bình quân trong kỳChỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tàisản, thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, chỉ tiêunày càng cao càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là tốt, góp phầnnâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp

- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần

Tổng tài sản bình quân trong kỳTrong đó: Tổng tài sản bình quân trong kỳ là bình quân số học của tổng tài sản

có ở đầu kỳ và cuối kỳ

Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thuthuần Chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả sử dụng tài sản càng cao

1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

- Khả năng thanh toán

Tài sản ngắn hạn có đặc điểm là tính thanh khoản cao, nên việc sử dụng hiệu quảtài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản

Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì thường sử dụng các chỉtiêu sau đây:

Trang 16

+ Hệ số thanh toán hiện hành

Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp,được sử dụng rộng rãi nhất là hệ số thanh toán hiện hành

Hệ số thanh toán hiện hành = Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thểchuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này

đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp

Nếu hệ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm, đó làdấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra Nếu hệ số này cao, điều đó

có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ Tuy nhiên, nếu hệ sốnày cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sảnngắn hạn

+ Hệ số thanh toán nhanh

Hệ số thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho

Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán nhanh được tính toán trên cơ sở những tài sản lưu ngắn hạn cóthể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng còn được gọi là tài sản có tínhthanh khoản Tài sản có tính thanh khoản bao gồm tất cả tài sản ngắn hạn trừ hàng tồnkho Do đó, hệ số thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạnkhông phụ thuộc vào hàng tồn kho Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp chỉcho biết mức độ bình thường mà chưa đủ cơ sở để khẳng định doanh nghiệp có khảnăng thanh toán các khoản nợ đáo hạn hay không

+ Khả năng thanh toán tức thời

Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền

Nợ ngắn hạnKhi phân tích về khả năng thanh toán cần phải sử dụng hệ số khả năng thanh toántức thời Hệ số này cho biết, với lượng tiền và tương đương tiền hiện có, doanh nghiệp

có đủ khả năng trang trải các khoản nợ ngắn hạn, đặc biệt là nợ ngắn hạn đến hạn haykhông

- Nhóm các chỉ tiêu hoạt động

Đây là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp Để nâng cao hệ

số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sử dụng, không sửdụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp Vì thế doanh nghiệp cần phải biết

Trang 17

cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi Hệ số hoạt động đôikhi còn gọi là hệ số hiệu quả hoặc hệ số luân chuyển Do đó, khi phân tích các chỉ tiêuhoạt động thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:

+ Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ

Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ = Doanh thu thuần

Tài sản ngắn hạn

Vòng quay TSNH (trong kỳ)Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ là chỉ tiêu phản ánh số lần quay của tài sảnngắn hạn trong một thời kỳ nhất định và thường là một năm Chỉ tiêu này đánh giáhiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất(doanh thu thuần) và số tài sản ngắn hạn bỏ ra trong một kỳ Nói cách khác, chỉ tiêuvòng quay tài sản ngắn hạn cho biết trong một năm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệpluân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản ngắn hạn tạo ra được baonhiêu đồng doanh thu Số vòng quay càng cao thì càng tốt đối với doanh nghiệp

+ Vòng quay các khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải thu= Doanh thu thuần

Các khoản phải thuChỉ tiêu cho thấy tính hiệu quà của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp đã ápdụng với khách hàng Chỉ số vòng quay càng cao cho thấy doanh nghiệp được kháchhàng trả nợ càng nhanh Nhưng nếu so với các doanh nghiệp cùng ngành mà chỉ sốnày vẫn quá cao thì doanh nghiệp có thể bị mất khách hàng do họ sẽ chuyển sang tiêudùng các hàng hóa của đối thủ cạnh tranh mà có thời gian tín dụng dài hơn Do đódoanh số bán hàng của doanh nghiệp sẽ bị sụt giảm

+ Thời gian thu tiền trung bình

Thời gian thu tiền trung bình = 360

Vòng quay các khoản phải thuChỉ số này cho biết bình quân trong bao nhiêu ngày doanh nghiệp có thể bị thuhồi các khoản phải thu của mình Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thutiền bình quân càng nhỏ và ngược lại Kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiềutrường hợp chưa thể có kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét các mục tiêu và chínhsách của doanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường và chính sách tín dụng

Trang 18

số vòng quay hàng tồn kho càng cao cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàngtồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp Nếu chỉ số này quá cao sẽ khôngtốt vì điều đó tương đương với việc hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầuthị trường tăng đột biến thì rất có khả năng doanh nghiệp sẽ không đáp ứng được nhucầu của khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành mất khách hàng Nhưng nếu dự trữnguyên vật liệu không đủ để đáp ứng cho sản xuất thì sản xuất sẽ bị ngừng trệ Vì vậy,chỉ số hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo cho sản xuất và đáp ứng nhu cầukhách hàng.

+ Thời gian luân chuyển kho trung bình

Thời gian luân chuyển kho trung bình = 360

Vòng quay hàng tồn khoChỉ tiêu này cho ta biết số ngày mà lượng hàng tồn kho được chuyển đổi thànhdoanh thu Đó là số ngày cần thiết cho việc luân chuyển kho, vì hàng tồn kho có tínhảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ở khâu dự trữ Hệ số nàychứng tỏ công tác quản lý hàng tồn kho càng tốt, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạncàng cao và ngược lại

+ Chu kỳ kinh doanh = Thời gian thu tiền TB + Thời gian luân chuyển

kho TB

- Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn

Hiệu suất sử dụng TSNH = Doanh thu thuần

TSNH bình quân trong kỳTrong đó: TSNH bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sản ngắn hạn có

ở đầu kỳ và cuối kỳ

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị giá trị của tài sản ngắn hạn sử dụng trong kỳđem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạntrong kỳ Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao, đó là nhân

tố góp phần nâng cao lợi nhuận

Trang 19

- Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn

Tỷ suất sinh lời của TSNH = Lợi nhuận sau thuế

TSNH bình quân trong kỳChỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của tài sản ngắn hạn Nó cho biết mỗiđơn vị giá trị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế.Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng tốt, góp phần nângcao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp

1.2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của doanh nghiệp

- Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn

Hiệu suất sử dụng TSDH = Doanh thu thuần

TSDH bình quân trong kỳTrong đó: Tài sản dài hạn bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sản dàihạn có ở đầu kỳ và cuối kỳ

Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị giá trị tài sản dài hạn trong kỳ tạo ra bao nhiêuđơn vị doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn càngcao, đó là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh

- Hệ số sinh lợi tài sản dài hạn

Hệ số sinh lợi TSDH = Lợi nhuận sau thuế

TSDH bình quân trong kỳChỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của tài sản dài hạn Nó cho biết mỗi đơn

vị giá trị tài sản dài hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế

- Suất hao phí của tài sản cố định

Suất hao phí của TSCĐ =

Nguyên giá bình quân(hay giá trị còn lại bình quân)TSCĐ

Doanh thu thuầnChỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu thuần trong kỳthì cần bao nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ, đó là căn cứ để đầu tư TSCĐ cho phù hợpnhằm đạt được doanh thu như mong muốn

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Khi muốn đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, bên cạnh việc tính toán và phân tíchcác chỉ tiêu trên, doanh nghiệp còn cần phải hiểu rõ các nhân tố tác động tới hiệu quả

sử dụng tài sản Từ đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược và kế hoạch phù hợp với

Trang 20

từng giai đoạn để có thể phát huy hiệu quả sử dụng tài sản một cách tối đa giúp chodoanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã đề ra.

1.3.1 Các nhân tố chủ quan

1.3.1.1 Trình độ cán bộ quản lý và tay nghề của công nhân

Con người là nhân tố quan trọng trong bất cứ hoạt động nào Trong hoạt độngsản xuất kinh doanh cũng vậy, con người đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạtđộng nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng, đặc biệt là trình độ quản lý vàtay nghề người công nhân

Về trình độ cán bộ quản lý: Trình độ cán bộ quản lý đóng vai trò vô cùng quan

trọng đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Trình độ cán

bộ quản lý được thể hiện ở trình độ chuyên môn nhất định, khả năng tổ chức, quản lý

và ra quyết định Nếu khả năng tổ chức, quản lý của người cán bộ quản lý kém, quyếtđịnh sai lầm thì tài sản sẽ không được sử dụng một cách hiệu quả dẫn đến doanhnghiệp có thể thua lỗ, thậm chí phá sản Nhưng nếu cán bộ quản lý có trình độ chuyênmôn nghiệp vụ vững vàng, khả năng tổ chức, quản lý tốt, có tinh thần trách nhiệm cao,sáng tạo, linh hoạt có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với tình hình củadoanh nghiệp và tình hình thị trường thì hiệu quả sử dụng tài sản cao hơn, mang lạinhiều lợi ích cho doanh nghiệp hơn

Về trình độ tay nghề của công nhân: Đây là bộ phận trực tiếp tạo ra sản phẩm,

dịch vụ, chính là bộ phận trực tiếp sử dụng tài sản của doanh nghiệp Nếu công nhânsản xuất có tay nghề cao, có khả năng tiếp thu công nghệ mới, phát huy được tính sángtạo, tự chủ trong công việc, có ý thức giữ gìn và bảo quản tài sản trong quá trình vậnhành thì tài sản sẽ được sử dụng hiệu quả hơn đồng thời sẽ tạo ra sản phẩm, dịch vụchất lượng cao, hạ giá thành góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanhnghiệp Ngược lại, nếu trình độ tay nghề người công nhân thấp, không nắm được cácthao tác kĩ thuật, ý thức bảo quản máy móc kém sẽ dẫn đến sử dụng lãng phí nguyênvật liệu, giảm tuổi thọ máy móc làm tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm Lúc

đó, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sảngiảm

1.3.1.2 Đặc điểm sản xuất kinh doanh

Những đặc điểm sản xuất – kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có ảnh hưởngkhông nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp đó Doanh nghiệp có đặcđiểm khác nhau về ngành nghề kinh doanh sẽ đầu tư vào tài sản ngắn hạn và tài sảndài hạn khác nhau Ví dụ như các doanh nghiệp chuyên về lĩnh vực xây dựng sẽ chútrọng đến tài sản ngắn hạn hơn là tài sản dài hạn Khi tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài

Trang 21

sản dài hạn khác nhau thì hệ số sinh lợi của tài sản cũng khác nhau Doanh nghiệp cóđặc điểm hàng hóa khác nhau và đối tượng khách hàng khác nhau sẽ có những chínhsách tín dụng thương mại cũng khác nhau dẫn đến tỷ trọng khoản phải thu khác nhau.Vậy nên, đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tác động quan trọng đếnhiệu quả sử dụng tài sản, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tài sản, vòng quay và hệ sốsinh lợi của tài sản

1.3.1.3 Khả năng huy động vốn và cơ cấu vốn

Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập vàtiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh Vốn là nguồn hình thành nên tài sản

Vì vậy, khả năng huy động vốn cũng như vấn đề cơ cấu vốn sẽ có ảnh hưởng lớn đếnhiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Nếu doanh nghiệp có khả năng huy động lượng vốn lớn sẽ là cơ hội để mở rộngquy mô sản xuất – kinh doanh, mở rộng thị trường, đa dạng hóa các hoạt động đầu tưlàm tăng doanh thu cho doanh nghiệp và từ đó làm tăng hiệu suất sử dụng tổng tài sản.Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp duy trì được cơ cấu vốn hợp lý thì chi phí vốn sẽ giảm,góp phần làm giảm chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận và do đó hệ số sinh lợi tổng tàisản sẽ tăng

1.3.1.4 Công tác thẩm định dự án

Công tác thẩm định dự án là công việc hết sức quan trọng cần làm trước khi tiếnhành đầu tư của mỗi doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sảncủa doanh nghiệp Thẩm định dự án là để xác định mức độ cần thiết của dự án đối vớidoanh nghiệp, quy mô, chi phí cũng như lợi ích mà dự án mang lại, kể cả những rủi ro

có thể gặp phải trong quá trình đầu tư Từ đó, doanh nghiệp có những bước đi đúngđắn, những quyết định chính xác để mở rộng thị trường, nâng cao sự cạnh tranh, tăngdoanh thu và lợi nhuận, khiến cho hiệu suất sử dụng tổng tài sản và hệ số sinh lời tổngtài sản tăng lên Công tác thẩm định dự án cần phải được tiến hành dưới quy trình chặtchẽ và đội ngũ nhân viên với chuyên môn vững vàng để việc thẩm định đạt được kếtquả tốt nhất Và ngược lại, khi công tác thẩm định dự án không hiệu quả sẽ khiếndoanh nghiệp đưa ra những quyết định sai lầm hoặc bỏ qua những cơ hội đầu tư do dự

án bị đánh giá sai Nếu đầu tư quá nhiều, không đúng hướng, hoặc đầu tư không đồng

bộ sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí vốn, làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.Nếu đầu tư quá ít không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường thì có thể sẽ dẫn đến bị mất thịtrường, giảm khả năng cạnh tranh Tất cả các điều này đều dẫn đến tài sản không đượckhai thác một cách triệt để và làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản

Trang 22

1.3.1.5 Trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh

Hoạt động sản xuất – kinh doanh là hoạt động quan trọng và xuyên suốt trongquá trình hoạt động của doanh nghiệp Vậy nên, tổ chức sản xuất kinh doanh khoa học

và hợp lý là một việc làm hết sức cần thiết với các doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽkhắc phục được tình trạng chồng chéo nhiệm vụ giữa các khâu, góp phần tiết kiệmnguồn lực, tiết kiệm thời gian, tăng năng suất lao động, giảm chi phí bất hợp lý, hạ giáthành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh tốt, có chiến thuậtphù hợp với điều kiện hoàn cảnh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và phù hợp vớinhu cầu thị trường thì hiệu quả sử dụng tài sản sẽ cao

Thêm vào đó, nếu doanh nghiệp tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học,công nghệ để đổi mới trang thiết bị thì sẽ giảm được hao mòn vô hình của tài sản cốđịnh, nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranhcho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

1.3.1.6 Khả năng quản lý tài sản của doanh nghiệp

Nếu doanh nghiệp biết cách quản lý tài sản một cách khoa học, chặt chẽ thì hiệuquả sử dụng tài sản của doanh nghiệp được tăng cao Quản lý tài sản của doanh nghiệpđược thể hiện chủ yếu qua các nội dung sau:

- Quản lý tiền mặt

Tiền mặt là loại tài sản có tính linh hoạt cao và cũng là đối tượng của các hành vitham ô, gian lận, lợi dụng Và một trong những yêu cầu của quản lý tài sản là làm sao

để lượng tiền mặt không ngừng vận động và sinh lời Vậy nên, việc quản lý tiền mặt là

vô cùng quan trọng với mỗi doanh nghiệp

Quản lý tiền mặt là quyết định mức tồn quỹ tiền mặt sao cho tổng chi phí đạt tốithiểu mà vẫn đủ để duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần phải xác định lượng tiền mặt dự trữ chính xác để đảm bảo khảnăng thanh toán bằng tiền mặt cần thiết trong kỳ, tránh được rủi ro không có khả năngthanh toán Đồng thời sẽ giữ được uy tín với các nhà cung cấp và tạo điều kiện chodoanh nghiệp chớp được cơ hội kinh doanh tốt, tạo khả năng thu được lợi nhuận cao.Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp thích hợp đầu tư những khoảntiền nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận như đầu tư chứng khoán ngắn hạn Điều này đòi hỏinhà quản lý phải có năng lực phân tích và phán đoán tình hình trên thị trường tiền tệ,thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó có sự lựa chọn để đưa ra cácquyết định sử dụng ngân quỹ đúng đắn, làm giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷgiá hối đoái, tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn, tăng hiệu quả sử dụng tài sản

Trang 23

+ Tồn kho nguyên vật liệu giúp cho doanh nghiệp chủ động trong sản xuất vànăng động trong việc mua nguyên liệu dự trữ.

+ Tồn kho sản phẩm dở dang giúp cho quá trình sản xuất của doanh nghiệpđược linh hoạt và liên tục, giai đoạn sản xuất sau không phải chờ đợi giai đoạn sảnxuất trước

+ Tồn kho thành phẩm giúp chủ động trong việc hoạch định sản xuất, tiếp thị

và tiêu thị sản phẩm nhằm khai thác và thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường

Tuy nhiện, duy trì tồn kho cũng có mặt trái của nó là làm phát sinh chi phí liênquan đến tồn kho bao gồm chi phí kho bãi, bảo quản và cả chi phí cơ hội do vốn kẹtđầu tư vào tồn kho Vì vậy, quản trị tồn kho cần lưu ý xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích

và phí tổn của việc duy trì tồn kho Căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, khả năng sẵn sàng cung ứng của nhà cung cấp cùng với những dự đoánbiến động của thị trường, doanh nghiệp cần xác định một mức tồn kho hợp lý nhằmnâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệuquả hoạt động doanh nghiệp

- Quản lý các khoản phải thu

Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóahoặc dịch vụ Có thể nói hầu hết các doanh nghiệp đều phát sinh các khoản phải thunhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểmsoát nổi Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi

ro Các chính sách bán chịu giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sảnphẩm, thu hút khách hàng, tăng doanh thu bán hàng, giảm chi phí tồn kho của hànghóa, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản cố định và hạn chế hao mòn vô hình Nếu bán chịu hàng hóa quá nhiều thì sẽ làm tăng chi phí quản lý, chi phí đòi nợ, chiphí bù đắp cho vốn thiếu hụt, và nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó, rủi rokhông thu hồi được nợ cũng gia tăng Vì vậy doanh nghiệp cần có chính sách bán chịu

và chính sách quản lý các khoản phải thu phù hợp để đảm bảo hiệu quả cao nhất

- Quản lý các khoản đầu tư tài chính dài hạn

Trang 24

Mục đích chính của các hoạt động đầu tư tài chính dài hạn là thu về lợi nhuận.Tổng mức lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí hoạt độngđầu tư tài chính của doanh nghiệp Ngoài việc so sánh theo hướng xác định mức biếnđộng tuyệt đối và các mức biến động tương đối chỉ tiêu tổng mức lợi nhuận thu được

từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn, còn phân tích sự biến động của tổng mức lợinhuận do ảnh hưởng của từng nhân tố: Tổng doanh thu hoạt động đầu tư tài chính dàihạn, mức chi phí để tạo ra một đồng doanh thu từ các hoạt động đầu tư tài chính dàihạn, mức lợi nhuận được tạo từ một đồng chi phí hoạt động đầu tư tài chính dài hạn.Trên cơ sở đó, doanh nghiệp đánh giá, phân tích và xem xét trong số các hoạt độngđầu tư tài chính, hoạt động nào mang lại lợi ích về kinh tế cao nhất, nhằm lựa chọnhướng đầu tư, loại hình đầu tư, quy mô đầu tư, danh mục đầu tư hợp lý nhất và đạt kếtquả cao nhất trong kinh doanh của doanh nghiệp

Đặc điểm của đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là phải ứng trước một lượng vốntiền tệ ban đầu tương đối lớn và được sử dụng có tính chất dài hạn trong tương lai, do

đó đầu tư dài hạn luôn gắn liền với rủi ro Các quyết định đầu tư của doanh nghiệpmặc dù đều dựa trên cơ sở đầu tư dự tính về thu nhập trong tương lai do đầu tư đưa lại,tuy nhiên khả năng nhận được thu nhập trong tương lai thường không chắc chắn nênrủi ro trong đầu tư là rất lớn Thời gian đầu tư càng dài thì rủi ro đầu tư càng cao vàngược lại

- Quản lý tài sản cố định

Tài sản cố định được phân loại dựa trên những tiêu thức nhất định nhằm phục vụcho những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Thông thường, có một số phương thứcphân loại chủ yếu sau:

- Phương pháp thứ nhất: Phân loại theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh

tế Toàn bộ tài sản cố định được chia ra thành tài sản cố định vô hình và tài sản cố địnhhữu hình

+ Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chấtnhưng xác định được giá trị của nó, thể hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư cóliên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Thông thường, tàisản cố định bao gồm các loại sau: Quyền sử dụng đất có thời hạn, nhãn hiệu hàng hóa,quyền phát hành, phần mềm máy vi tính, bản quyền, bằng sáng chế,

+ Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụthể do doanh nghiệp sử dụng cho các hoạt động kinh doanh: Nhà cửa, vật kiến trúc,máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị công cụ quản lý,động vật, thực vật

Trang 25

Phương pháp phân loại này giúp người quản lý thấy được cơ cấu đầu tư vào tàisản cố định theo hình thái biểu hiện, là căn cứ để quyết định đầu tư dài hạn hoặc điềuchỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp và có biện pháp quản lý phù hợp

- Phương pháp thứ hai: Phân loại tài sản cố định theo mục đích sử dụng Dựatheo phương pháp này thì toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia thànhhai loại:

+ Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh: Là những tài sản cố địnhđang dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinhdoanh phụ của doanh nghiệp

+ Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốcphòng: Là những tài sản cố định không mang tính chất sản xuất do doanh nghiệp quản

lý sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp, các hoạt động đảm bảo an ninh,quốc phòng

Cách phân loại này giúp cho người quản lý doanh nghiệp thấy được kết cấu tàisản cố định theo mục đích sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý vàtính khấu hao tài sản cố định có tính chất sản xuất, có biện pháp quản lý phù hợp

- Phương pháp thứ ba: Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng Vớiphương pháp này, toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp dựa theo tình hình sử dụng

mà được chia thành các loại sau:

+ Tài sản cố định đang dùng

+ Tài sản cố định chưa cần dùng

+ Tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý

Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tình hình sử dụngtài sản cố định của doanh nghiệp Từ đó đề ra các biện pháp sử dụng tối đa các tài sản

cố định hiện có trong doanh nghiệp, giải phóng nhanh các tài sản cố định không cầndùng và chờ thanh lý để sớm thu hồi sớm

Việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định cho thấy khấu hao có tác động lớnđến các chỉ tiêu Do đó, doanh nghiệp cần xác định phương pháp tính khấu hao tài sản

cố định cho thích hợp Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất- kinh doanh,

do chịu nhiều tác động bởi nhiều nguyên nhân khác nhau nên tài sản cố định bị haomòn dần Có hai loại hao mòn tài sản cố định là hao mòn hữu hình và hao mòn vôhình

- Hao mòn hữu hình là loại hao mòn do quá trình sử dụng và do tác động củamôi trường, hình thái vật chất của tài sản cố định bị mài mòn, biến dạng, gãy, vỡ,hỏng

Trang 26

- Hao mòn vô hình là loại hao mòn do tiến bộ của khoa học công nghệ, một loạimáy móc, thiết bị mới ra đời ưu việt hơn làm tài sản cố định mất giá hoặc lỗi thời.

Để thu hồi lại giá trị của tài sản cố định do sự hao mòn (hao mòn vô hình, haomòn hữu hình) nhằm tái sản xuất, tài sản cố định khi hết thời gian sử dụng cần tínhchuyển giá trị tài sản cố định vào giá trị sản phẩm tạo ra bằng việc khấu hao tài sản cốđịnh Khấu hao tài sản cố định là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải thu hồicủa tài sản cố định trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định đó Nếudoanh nghiệp tổ chức quản lý và sử dụng tốt tiền khấu hao thì sẽ không chỉ có tác dụngtái sản xuất giản đơn mà còn có thể tái sản xuất mở rộng tài sản cố định Khi tài sản cốđịnh chưa khấu hao hết, chưa được thay thế bằng tài sản cố định mới thì khấu haođược tích lũy và doanh nghiệp có quyền sử dụng số khấu hao lũy kế cho hoạt động sảnxuất – kinh doanh của mình

Tuy nhiên, việc xác định mức trích khấu hao là công việc tương đối phức tạp.Trước tiên, doanh nghiệp cần phải xác định tốc độ hao mòn của tài sản Điều này rấtkhó khăn do xác định hao mòn hữu hình đã khó, xác định hao mòn vô hình còn khóhơn, nó đòi hỏi sự hiểu biết, khả năng dự đoán của doanh nghiệp Khi đã xác địnhđược mức độ hao mòn, doanh nghiệp cần phải cân nhắc đến các yếu tố như: tình hìnhtiêu thụ sản phẩm do tài sản cố định đó chế tạo trên thị trường, nguồn vốn đầu tư chotài sản cố định là vốn chủ sở hữu hay vốn vay, ảnh hưởng của thuế đến việc trích khấuhao và những quy định của Nhà nước trong việc tính khấu hao Sau đó, doanh nghiệpmới có thể lựa chọn được phương pháp tính khấu hao phù hợp nhất

Đối với tài sản cố định, bên cạnh việc xác định phương pháp khấu hao thích hợpthì để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, doanh nghiệp cũng cần thường xuyên tiếnhành đánh giá, kiểm kê tài sản cố định Đánh giá tài sản cố định là việc xác định lại giátrị của tài sản cố định tại một thời điểm nhất định Việc đánh giá chính xác giá trị củatài sản cố định là căn cứ để tính khấu hao nhằm thu hồi vốn Điều này giúp cho nhàquản lý nắm được chính xác số tài sản cố định của doanh nghiệp, tình hình sử dụngcũng như giá trị thực tế của tài sản đó Qua đó, người quản lý còn nắm được tình hìnhbiến động về vốn của doanh nghiệp để có biện pháp điều chỉnh thích hợp như: chọnhình thức khấu hao phù hợp, thanh lý, nhượng bán tài sản để thu hồi vốn

Dựa vào kết quả phân tích tình hình cụ thể như: Tình hình biến động giá trên thịtrường, quan hệ cung cầu trên thị trường về loại tài sản đó, xu hướng về tiến bộ kỹthuật trong ngành người quản lý đưa ra quyết định xử lý tài sản một cách chuẩn xácnhư điều chỉnh mức khấu hao hoặc phương pháp khấu hao, thanh lý, nhượng bán đểđổi mới tài sản cố định, hiện đại hóa tài sản cố định thông qua sửa chữa lớn

Trang 27

1.3.2 Các nhân tố khách quan

1.3.2.1 Môi trường kinh tế

Các nhân tố kinh tế có vai trò quan trọng hàng đầu và ảnh hưởng có tính chấtquyết định đến hoạt động kinh doanh của mọi doanh nghiệp Các nhân tố kinh tế ảnhhưởng mạnh nhất đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thường là trạng tháiphát triển của nền kinh tế: tăng trưởng, ổn định hay suy thoái

Nền kinh tế quốc dân tăng trưởng với tốc độ cao sẽ tác động đến các doanhnghiệp theo hai hướng: Thứ nhất, do tăng trưởng làm cho thu nhập của các tầng lớpdân cư tăng dẫn đến tăng khả năng thanh toán cho nhu cầu của họ Điều này dẫn tới đadạng hóa các loại nhu cầu và xu hướng phổ biến là tăng cầu Thứ hai, do tăng trưởngkinh tế làm cho khả năng tăng sản lượng và mặt hàng của nhiều doanh nghiệp đã làmtăng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp này Từ đó làm tăng khả năng tích lũyvốn nhiều hơn, tăng về đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh làm cho môi trường kinhdoanh hấp dẫn hơn

Nền kinh tế quốc dân ổn định, các hoạt động kinh doanh cũng giữ ở mức ổn định.Khi nền kinh tế quốc dân suy thoái nó sẽ tác động theo hướng tiêu cực đối với cácdoanh nghiệp

Tỷ lệ lạm phát, mức độ thất nghiệp cũng tác động đến cả mặt sản xuất và tiêudùng Khi tỷ lệ lạm phát cao nó sẽ tác động xấu đến tiêu dùng, số cầu giảm, làm cholượng hàng tiêu thụ giảm, không khuyến khích sản xuất và đầu tư giảm Tỷ lệ lạm phátcao sẽ làm hiệu quả sử dụng tài sản thực của doanh nghiệp sẽ khó có thể cao được do

sự mất giá của đồng tiền

Chất lượng hoạt động của ngành ngân hàng không chỉ tác động đến kinh doanhcủa bản thân ngành này mà còn tác động nhiều mặt đến hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp, tác động đến công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát của Nhànước Điều này thể hiện ở việc tác động đến huy động và sử dụng vốn kinh doanh, chitiêu, tiết kiệm của dân cư, cầu của người tiêu dùng từ đó ảnh hưởng đến doanh nghiệp.Chính sách tài chính tiền tệ cũng tác động lớn đến hoạt động huy động vốn cũng nhưhiệu quả sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp

Ngoài ra tỷ giá hối đoái cũng tác động đến các doanh nghiệp thông qua nguồnhàng nhập khẩu và xuất khẩu của các doanh nghiệp

Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, doanh nghiệp còn chịu tác động của thịtrường quốc tế Sự thay đổi chính sách thương mại của các nước, sự bất ổn của nềnkinh tế các nước tác động trực tiếp đến thị trường đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp

Trang 28

Như vậy, những thay đổi của môi trường kinh tế ngày càng có tác động mạnhđến hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, tạo ra cho doanh nghiệpnhững thuận lợi đồng thời cả những khó khăn Do đó, doanh nghiệp phải luôn đánh giá

và dự báo những thay đổi để có thể đưa ra biện pháp thích hợp nhằm tranh thủ những

cơ hội và hạn chế những tác động tiêu cực từ sự thay đổi của môi trường kinh tế

1.3.2.2 Cơ chế quản lý và các chính sách kinh tế của Nhà nước

Vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường Sự canthiệp ở mức độ hợp lý của Nhà nước vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanhnghiệp là cần thiết và tập trung ở các nội dung như: duy trì sự ổn định kinh tế, chínhtrị; định hướng phát triển kinh tế, kích thích phát triển kinh tế thông qua hệ thống phápluật; phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội

Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý và điều tiết các nguồn lực trong nềnkinh tế bằng pháp luật và hệ thống chính sách kinh tế Trên cơ sở pháp luật kinh tế vàcác biện pháp kinh tế, Nhà nước tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệpsản xuất – kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch kinh tế vĩ mô Với bất

cứ một sự thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành đều chi phối đến các hoạtđộng của các doanh nghiệp Đối với hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì cácvăn bản pháp luật về tài chính, kế toán, thống kê, quy chế đầu tư đều gây ảnh hưởnglớn trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Việc ban hành hệ thống luật pháp có chất lượng và đưa vào đời sống là điều kiệnđầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng, tạo điều kiện cho mọi doanhnghiệp có cơ hội cạnh tranh lành mạnh; thiết lập mối quan hệ đúng đắn, bình đẳnggiữa người sản xuất và người tiêu dùng; buộc mọi doanh nghiệp phải làm ăn chânchính, có trách nhiệm đối với xã hội và người tiêu dùng

Các chính sách đầu tư, chính sách phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu… sẽ tạo

ra sự ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế cụ thể, do

đó tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thuộc cácngành, vùng kinh tế nhất định

Có thể kể đến chính sách tiền tệ mở rộng sẽ nhằm tăng lượng tiền cung ứng,khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm Trong trường hợpnày chính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái kinh tế, chống thất nghiệp Ngược vớichính sách tiền tệ mở rộng là chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm lượng tiền cungứng, hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá đà của nền kinh tế Trường hợp nàychính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát Chính sách tiền tệ một mặt là cung cấp đầy đủphương tiện thanh toán cho nền kinh tế, mặt khác phải giữ ổn định giá trị đồng bản tệ

Trang 29

Vì vậy, có thể nói rằng cơ chế quản lý và các chính sách kinh tế của Nhà nước có

sự tác động không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hiệuquả sử dụng tài sản của doanh nghiệp nói riêng

1.3.2.3 Khoa học – công nghệ

Các nhân tố khoa học – công nghệ cũng đóng vai trò ngày càng quan trọng, mangtính chất quyết định đối với khả năng cạnh tranh, và hiệu quả kinh doanh của cácdoanh nghiệp

Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, sự phát triển nhanh chóng củakhoa học, kỹ thuật – công nghệ ở mọi lĩnh vực đều tác động trực tiếp đến hoạt độngkinh doanh của các doanh nghiệp có liên quan Với trình độ khoa học công nghệ nhưhiện nay ở nước ta thì hiệu quả của các hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ

đã, đang và sẽ ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới các doanh nghiệp Xu thế hội nhậpbuộc các doanh nghiệp ở nước ta phải tìm mọi biện pháp để tăng khả năng cạnh tranh

là giá cả, doanh nghiệp đạt được điều này nhờ việc giảm chi phí trong đó yếu tố côngnghệ đóng vai trò rất quan trọng Vì vậy, các doanh nghiệp phải chú ý nâng cao nhanhchóng khả năng nghiên cứu và phát triển, không chỉ chuyên giao, làm chủ công nghệngoai nhập mà phải có khả năng sáng tạo được kỹ thuật công nghệ tiên tiến

Sự phát triển của công nghệ hiện nay gắn chặt với sự phát triển của công nghệthông tin Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực quản lý sẽ góp phần nângcao khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin, đặc biệt là những thông tin về thị trường.Xóa bỏ các hạn chế về không gian, tăng năng suất lao động

Tuy nhiên, tiến bộ khoa học – công nghệ cũng có thể làm cho tài sản của doanhnghiệp bị hao mòn vô hình nhanh hơn Có những máy móc, thiết bị, quy trình côngnghệ mới chỉ nằm trên các dự án, các dự thảo, phát minh đã trở nên lạc hậu trongchính thời điểm đó

Như vậy, việc theo dõi cập nhật sự phát triển của khoa học – công nghệ là hết sứccần thiết đối với doanh nghiệp khi lựa chọn dự án đầu tư để có thể đạt được hiệu quảcao nhất trong hoạt động sản xuất – kinh doanh

1.3.2.4 Thị trường

Thị trường là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất – kinhdoanh của doanh nghiệp, đặc biệt là thị trường đầu vào, thị trường đầu ra và thị trườngtài chính

Khi thị trường đầu vào biến động, giá cả nguyên vật liệu tăng lên sẽ làm tăng chiphí đầu vào của doanh nghiệp và do đó làm tăng giá bán gây khó khăn trong việc tiêuthụ sản phẩm Nếu giá bán không tăng lên theo một tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ tăng của

Trang 30

giá cả nguyên vật liệu đầu vào cùng với sự sụt giảm về số lượng sản phẩm tiêu thụ sẽlàm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.

Nếu thị trường đầu ra sôi động, nhu cầu lớn kết hợp với sản phẩm của doanhnghiệp có chất lượng cao, giá bán hợp lý, khối lượng đáp ứng nhu cầu thị trường thì sẽlàm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp

Thị trường tài chính là kênh phân phối vốn từ nơi thừa vốn đến nơi có nhu cầu.Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền và thị trường vốn Thị trường tiền là thịtrường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn được mua bán, còn thị trường vốn làthị trường cung cấp vốn trung và dài hạn Thị trường chứng khoán là nơi mua bán cácchứng khoán ngắn hạn và thị trường vốn, nơi mua bán các chứng khoán trung và dàihạn Như vậy thị trường tài chính và đặc biệt là thị trường chứng khoán có vai trò quantrọng trong việc huy động vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Nếu thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả sẽ là kênh huy động vốn hữuhiệu cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp tập trung quá nhiều vàođầu tư chứng khoán sẽ dẫn đến tình trạng cơ cấu tài sản mất cân đối, gián tiếp làmgiảm hiệu quả sử dụng tài sản

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA CÔNG

TY CỔ PHẦN CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG TOÀN PHÁT 2.1 Giới thiệu Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát

Tên gọi: Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát

Tên tiếng Anh: Toan Phat Construction Industry Joint Stock Company

Tên giao dịch: TOPACO

Tên viết tắt: TOPACO.,JSC

Địa chỉ: Phòng 1003 Tháp B, Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh - Đống Đa - Hà Nội

Số điện thoại: (084) 04.35379421

Fax: (084) 04.35379422

Giấy chứng nhận đầu tư số: 011032001654, chứng nhận lần đầu: ngày 02 tháng 8năm 2012 ( Cấp thay thế Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp số 0101748793 dophòng Đăng ký kinh doanh số 02 - Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp lần đầu ngày03/8/2005, cấp thay đổi lần 10 ngày 03/7/2012)

Tổng vốn đầu tư: 50.000.000.000 VNĐ ( Năm mươi tỷ đồng )

Công ty là đơn vị chuyên hoạt động trong các lĩnh vực sau:

- Sản xuất mua bán vật liệu xây dựng, thiết bị trang trí nội thất công trình

- Khai thác khoáng sản và vật liệu xây dựng

- Lập dự án đầu tư, xây dựng các công trình thủy điện, khu đô thi công nghiệp

- Định giá, môi giới và kinh doanh bất động sản

- Kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ

- Kinh doanh các thiết bị điện, điện tử, điện lạnh, máy móc, thiết bị văn phòng

- Kinh doanh thiết bị trường học

- Xây dựng công trình đường dây và trạm biến áp 35 KW

- Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông vận tải, thủy lợi

- Xuất nhập khẩu các hàng hóa Công ty kinh doanh

- Dịch vụ vui chơi giải trí

- Vận tải hàng hóa, vận chuyển hành khách

- Mua bán hàng thủ công, mỹ nghệ, hàng may mặc

- Nghiên cứu và phát triển cấu trúc tổ chức và lãnh đạo trong doanh nghiệp

- Tư vấn marketing, chiến lược kinh doanh, bán hàng và phân phối hàng hóa

- Tư vấn hệ thống quản lý chất lượng, hệ thống kiểm soát nội bộ

Trang 32

- Tư vấn đấu thầu, giám sát thi công các công trình xây dựng, lắp đặt thiết bị.

- Khảo sát địa hình, địa chất công trình xây dựng, tổng mặt bằng xây dựng

- Tư vấn giám sát khối lượng xây dựng

- Tư vấn thiết kế quy hoạch tổng mặt bằng, kiến trúc, nội thất, ngoại thất, đóivới công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp

Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát (Topaco), tiền thân là Công ty

Cổ phần tư vấn thiết kế, xây dựng và thương mại Nhật Minh, được thành lập ngày 03tháng 08 năm 2005 bởi các cổ đông giàu kinh nghiệm, năng lực và tâm huyết Trongquá trình phát triển và trưởng thành, ban lãnh đạo Topaco luôn chú trọng đến việcnâng cao năng lực tài chính, đầu tư mua sắm thiết bị, đào tạo đội ngũ nhân sự, cải tiếncông nghệ nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng, đáp ứng những yêu cầu ngàycàng khắt khe của khách hàng và mang lại những lợi ích tốt nhất cho cán bộ công nhânviên, cộng đồng và xã hội

Từ khi thành lập đến nay, Công ty đã tham gia thi công nhiều công trình trọngđiểm của quốc gia với chủ đầu tư là tập đoàn Nhà nước, tập đoàn tư nhân như: Nhàmáy thủy điện Sơn La công suất 2.400MW; Nhà máy thủy điện Lai Châu công suất1.200MW; Nhà máy thủy điện Nậm Chiến 1 công suất 200MW; Nhà máy thủy điệnNậm Chiến 2 công suất 32MW; Nhà máy Thủy điện Tà cọ 32MW; Nhà máyThủy điện Nậm Ly 5MW; Nhà máy Thủy điện Sông Bạc 42MW; Nhà máy Thủy điệnBắc Giang 14MW; Nhà máy Thủy điện Pá Chiến 22MW; Đường cao tốc Láng HòaLạc; Nhà máy tủ lạnh JIMEX của Mỹ tại Khu công nghiệp Quang Minh; Nhà máyFancy creation; Các dự án đô thị như Xa La – Hà Đông; Khu biệt thự sinh tháiVincom Village; Khu căn hộ cao cấp Mulberry Land; Công trình xây lắp lưới điệntrung áp các huyện tại Nghệ An và nhiều công trình trọng điểm khác

Cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, Topacoluôn tích cực giao lưu, tìm kiếm cơ hội hợp tác với các đối tác nước ngoài Đặc biệt, từtháng 4/2012, sau hơn 1 năm tìm hiểu, gặp gỡ và đàm phán, Công ty TNHH Taiyukensetsu với hơn 83 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng, một trong những đơn

vị hàng đầu trong lĩnh vực thi công mặt áo đường tại Nhật Bản, đã chính thức trởthành cổ đông chiến lược của Topaco và tham gia vào HĐQT Topaco với giấy chứngnhận đầu tư số: 011032001654, chứng nhận lần đầu: ngày 02 tháng 08 năm 2012 Đây

là một cột mốc vô cùng quan trọng, bước ngoặt trong quá trình phát triển của Topaco,

là cơ hội để hai bên phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm tăng cường năng lực cạnh tranhvới các đối tác trong và ngoài nước

Với mục tiêu xây dựng Công ty ngày càng phát triển vững mạnh, nâng cao hiệuquả đầu tư của các cổ đông, nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên, đóng góp

Trang 33

ngày càng nhiều vào ngân sách Nhà nước, Công ty định hướng kinh doanh chính vàolĩnh vực xây lắp, xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi,

hạ tầng kỹ thuật, đường dây tải điện và trạm biến thế

Thực hiện phương châm hoạt động: “Lấy tiến độ công trình, chất lượng sảnphẩm, an toàn lao động và uy tín làm hàng đầu” và luôn đáp ứng yêu cầu đa dạng củamọi khách hàng đến với Công ty, phấn đấu ngày càng đứng vững đi lên trong thịtrường

2.1.2 Cơ cấu tổ chức – nhân sự của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn

- Tổng Giám đốc

+ Tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị về các kế hoạch kinhdoanh và kế hoạch đầu tư; thay mặt Công ty ký kết các hợp đồng kinh tế, tổ chức vàđiều hành hoạt động sản xuất kinh doanh thường nhật của Công ty

PHÒNG QUẢN LÝ KỸ THUẬT

PHÒNG VẬT TƯ THIẾT BỊ

PHÒNG TÀI CHÍNH

KẾ TOÁN

PHÒNG HÀNH CHÍNH TỔNG HỢP

Ngày đăng: 13/01/2020, 00:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài Chính, Hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện 22 chuẩn mực kế toán, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện 22 chuẩn mực kế toán
Nhà XB: NXB Tài chính
2. PGS.TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (2005), NXB Thống kê, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: NXBThống kê
Năm: 2005
3. PGS.TS Lưu Thị Hương và PGS.TS Vũ Duy Hào, Tài chính doanh nghiệp, (2010), NXB Đại học kinh tế quốc dân,HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS Lưu Thị Hương và PGS.TS Vũ Duy Hào, Tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2010
4. PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm và TS Bạch Đức Hiển, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (2008), NXB Tài chính, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính doanhnghiệp
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm và TS Bạch Đức Hiển, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2008
5. PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ và PGS.TS Nghiêm Thị Thà, Phân tích Tài chính doanh nghiệp lý thuyết và thực hành (2009), NXB Tài chính, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích Tài chínhdoanh nghiệp lý thuyết và thực hành
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ và PGS.TS Nghiêm Thị Thà, Phân tích Tài chính doanh nghiệp lý thuyết và thực hành
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2009
6. TS. Nguyễn Hải Sản, Quản trị tài chính doanh nghiệp(2005), NXB Tài chính, 7. TS Nguyễn Minh Kiều, HN. Tài chính doanh nghiệp căn bản (2006), NXB Thốngkê, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp"(2005), NXB Tài chính,7. TS Nguyễn Minh Kiều,HN. "Tài chính doanh nghiệp căn bản
Tác giả: TS. Nguyễn Hải Sản, Quản trị tài chính doanh nghiệp(2005), NXB Tài chính, 7. TS Nguyễn Minh Kiều, HN. Tài chính doanh nghiệp căn bản
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2006
9. Báo cáo tài chính năm 2010, năm 2011, năm 2012 của Công ty Cổ phần công nghiệp xây dựng Toàn Phát Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm