1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tiềm năng khai thác thông gió tự nhiên hướng đến phát triển bền vững cho loại hình chung cư cao tầng

5 101 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 643,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu và đánh giá tiềm năng khai thác thông gió tự nhiên cho loại hình chung cư cao tầng tại Đà Nẵng. Các kết quả khảo sát và phân tích với các số liệu cụ thể cho thấy đây là khu vực có tiềm năng rất lớn trong việc khai thác thông gió tự nhiên hướng đến sự phát triển bền vững cho loại hình chung cư cao tầng.

Trang 1

Tóm tắt: Khai thác thông gió tự nhiên là một giải pháp

cơ bản và hiệu quả nhằm hướng đến sự phát triển bền vững

cho kiến trúc Việc áp dụng các giải pháp thiết kế nhằm khai

thác thông gió tự nhiên cho công trình phụ thuộc vào các

cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Một trong những cơ sở thực

tiễn quan trọng cho các đề xuất là tiềm năng khai thác thông

gió tự nhiên đối với từng thể loại công trình, ứng với từng địa

điểm xây dựng Bài báo nghiên cứu và đánh giá tiềm năng

khai thác thông gió tự nhiên cho loại hình chung cư cao tầng

tại Đà Nẵng Các kết quả khảo sát và phân tích với các số liệu

cụ thể cho thấy đây là khu vực có tiềm năng rất lớn trong

việc khai thác thông gió tự nhiên hướng đến sự phát triển

bền vững cho loại hình chung cư cao tầng.

Abstract: Exploiting natural ventilation is a basic and

effective solution towards the sustainable development for architecture.

Applying design solutions to exploit natural ventilation for buildings depends on academic and practical theories One of the important practical theories for proposals is the potential to exploit natural ventilation for each kind of buildings on each construction site The article researches and evaluates the potential to exploit natural ventilation for high rise apartment buildings in Da Nang.

The findings of surveying and analyzing data show that this region has a great potential in exploiting natural ventilation towards sustainable development for high rise apartment buildings.

Xây dựng, đặc biệt là xây dựng và phát triển tại các

đô thị là ngành sử dụng nhiều tài nguyên và tiêu tốn nhiều

năng lượng trong suốt vòng đời tồn tại của công trình (có

thể tiêu thụ tới 70% vật liệu tự nhiên và hơn 40% tổng

năng lượng tiêu thụ của mỗi quốc gia [1]) Vì vậy, phát

triển xây dựng bền vững hay kiến trúc bền vững (KTBV)

là giải pháp có vai trò quan trọng trong việc đạt được

mục tiêu phát triển bền vững (PTBV) chung của đất nước

Trong kiến trúc, có nhiều giải pháp thiết kế hướng đến sự

PTBV cho công trình Một trong những giải pháp thiết kế

thụ động cơ bản, thích ứng và thân thiện với môi trường

tự nhiên, tiết kiệm năng lượng là thiết kế thông gió tự

nhiên (TGTN) cho công trình kiến trúc

Chung cư cao tầng (CCCT) là loại hình nhà ở đã và

đang phát triển mạnh tại các đô thị lớn trên thế giới cũng

như ở Việt Nam Cụ thể là tỷ lệ nhà ở CC trong các dự án

phát triển nhà ở đô thị đến năm 2020 được quy định từ

60% và 90% cho các loại đô thị loại I và loại đặc biệt Nếu

các dự án CCCT này được thiết kế, khai thác TGTN hiệu quả

sẽ góp phần tiết kiệm năng lượng, hướng đến sự PTBV cho

loại hình CCCT nói riêng và kiến trúc nói chung Cùng với

các nghiên cứu đề xuất giải pháp thiết kế kiến trúc nhằm

khai thác hiệu quả TGTN cho công trình, vấn đề đánh giá

tiềm năng khai thác và nhu cầu sử dụng TGTN cho các căn

hộ CCCT là hướng nghiên cứu cần thiết Đây chính là các

cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc áp dụng các giải pháp

thiết kế kiến trúc nhằm khai thác hiệu quả TGTN hướng đến PTBV cho loại hình CCCT Thành phố Đà Nẵng - đô thị loại I, trực thuộc Trung ương là đô thị trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung và Tây Nguyên Trong thời gian qua, Đà Nẵng đã có những bước phát triển mạnh

mẽ và đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực, nhất

là trong lĩnh vực chỉnh trang, quy hoạch và phát triển đô thị Nhiều khu dân cư mới với nhiều loại hình nhà ở đa dạng như: CC, nhà liên kề, biệt thự được hình thành, đáp ứng nhu cầu ở và tiện nghi ngày càng cao của người dân

đô thị Vì vậy, các nghiên cứu hoàn thiện hệ thống lý luận thiết kế TGTN cho CCCT, trong đó có nội dung nghiên cứu đánh giá tiềm năng khai thác TGTN ở Đà Nẵng là vấn đề đang được đặt ra cho các nhà nghiên cứu, các kiến trúc

sư nhằm hướng đến sự PTBV cho kiến trúc CCCT tại thành phố

Từ khóa: Thông gió tự nhiên, chung cư cao tầng, phát

triển bền vững, tiện nghi nhiệt.

Nhận ngày 18/2/2019, chỉnh sửa ngày 1/3/2019, chấp

nhận đăng ngày 12/3/2019

Key words: Natural ventilation, high rise apartment

buildings, sustainable development, convenience, heat

Ths KTS Phan Tiến Vinh*

* ĐH SP Kỹ thuật - ĐH Đà Nẵng

Trang 2

Nội dung bài báo đi vào nghiên cứu đánh giá nhu

cầu sử dụng TGTN trong CCCT; xác định các thời gian

trong năm thuận lợi cho khai thác TGTN và đánh giá tiềm

năng khai thác TGTN nhằm tiết kiệm năng lượng, hướng

đến PTBV cho kiến trúc CCCT tại Đà Nẵng

Nhu cầu sử dụng TGTN trong CCCT tại thành phố

Đà Nẵng

Khảo sát xã hội học về “Nhận thức và nhu cầu sử

dụng TGTN trong các CCCT tại thành phố Đà Nẵng”

- Mục đích khảo sát: Tìm hiểu nhận thức của cư dân

về hiệu quả và vai trò của TGTN tại các CCCT; Tìm hiểu nhu

cầu sử dụng TGTN của cư dân tại các CCCT

- Đối tượng tham gia khảo sát:

+ Cư dân trong các CCCT tại Đà Nẵng

+ Các đối tượng khảo sát được chia theo: Nhóm tuổi

(18-23; 24 - 40; 41-60; trên 60); nghề nghiệp (công chức

viên chức; nhân viên văn phòng; kinh doanh; công nhân;

nội trợ; và ngành nghề khác)…

- Tổng số phiếu khảo sát phát ra là 500 phiếu, trong

đó: CC Làng cá Nại Hiên Đông (200 phiếu), CC Blue House

(150 phiếu) và CC Nest Home (150 phiếu)

- Thời gian thực hiện: từ 1/5/2017 đến 18/7/2017

- Địa điểm thực hiện khảo sát: CC Nại Hiên Đông, CC

Blue House và CC Nest Home

- Người thực hiện khảo sát: Tác giả; các giảng viên

và sinh viên Khoa Kỹ thuật Xây dựng, trường Đại học Sư

phạm Kỹ thuật, Đại học Đà Nẵng

Kết quả khảo sát

Số lượng phiếu khảo sát thu về: 327 phiếu Trong đó:

CC Làng cá Nại Hiên Đông (169 phiếu), CC Blue House (69

phiếu), CC Nest Home (89 phiếu) Kết quả thống kê cho thấy:

- Hầu hết cư dân đã có nhận thức về những lợi ích

do TGTN mang lại, như: Làm mát không khí (77.7%); tiết

kiệm điện (43.4%); … xem hình 1

- Trong các giải pháp thông gió làm mát công trình,

giải pháp đang được cư dân sử dụng nhiều nhất là mở

- Xu hướng lựa chọn giải pháp thông gió làm mát cho căn hộ của cư dân là mở cửa đón gió tự nhiên (với 84% cư dân lựa chọn) - xem hình 3

cửa đón gió tự nhiên (với 48% sử dụng) - xem hình 2

Xác định thời gian trong năm thuận lợi cho khai thác TGTN ở Đà Nẵng

Lựa chọn Mô hình tiện nghi nhiệt (TNN)

Một số chỉ số đánh giá TNN được sử dụng phổ biến

- Nhiệt độ hiệu quả thq (Effective temperature - ET): Đánh giá môi trường theo nhiệt độ, độ ẩm và vận tốc của gió (có thể được xác định theo “biểu đồ dải lụa”)

- Nhiệt độ hiệu quả hiệu chỉnh thqhc (Corective Effective temperature - CET): So với thq, thqhc có xét thêm nhiệt độ bức xạ (xác định theo nhiệt độ bức xạ trung bình hoặc nhiệt độ cầu đen)

- Nhiệt độ hiệu quả mới thq* (New Effective temperature

- ET*): Đánh giá môi trường theo nhiệt độ không khí khô, độ

ẩm, nhiệt độ bức xạ và vận tốc của gió [3], [4]

- Nhiệt độ tổng hợp (SH): Là chỉ số điều kiện để đánh giá trạng thái nhiệt của vi khí hậu theo nhiệt độ không khí, nhiệt độ trung bình của các bề mặt kết cấu, dung ẩm và vận tốc của gió [5]

- Nhiệt độ tác dụng (Operative Temperature - To) tích hợp nhiệt độ không khí, nhiệt độ bức xạ và tốc độ gió vào trong một chỉ số duy nhất Trong điều kiện lặng gió (Va<0.2m/s), có thể xem To = 1/2(Ta + Tr); trong đó Ta và

Tr lần lượt là nhiệt độ không khí và nhiệt độ bức xạ trung

0 50 100 150 200 250 300

16 4

142 129 131

254

Hình 1: Nhận thức của cư dân về những lợi ích của TGTN

Hình 2: Các giải pháp thông gió được cư dân sử dụng

Hình 3: Xu hướng lựa chọn giải pháp thông gió làm mát cho căn hộ

0 20 40 60 80 100 120 140 160 180

62 28

113 78

157

0 50 100 150 200 250 300

37

78

275

Trang 3

bình To được áp dụng trong hầu hết các nghiên cứu mới

nhất của Mỹ (ASHRAE 55), Châu Âu (EN 15251) và quốc tế

(ISO 7730) thay vì nhiệt độ không khí Ta [6]

Một số mô hình TNN trên thế giới

- Năm 1963, V Olgyay đề xuất biểu đồ Sinh khí hậu

(SKH) dành cho công dân Mỹ trong vùng khí hậu ôn hòa

Biểu đồ này tích hợp các yếu tố: Nhiệt độ, độ ẩm, vận tốc

gió và bức xạ mặt trời

- Năm 1973, Koenisgberger và đồng sự đề xuất biểu

đồ dải lụa, dựa trên cơ sở nghiên cứu trước đó của Bedford

Các tác giả đã đề xuất vùng tiện nghi cho các vùng khí hậu

nhiệt đới

- Từ năm 1976 đến nay, B Givoni đã tiến hành nghiên

cứu lý thuyết và thực nghiệm để thành lập Biểu đồ SKH

dựa trên các nghiên cứu của ông ở Mỹ, Châu Âu, Israel và

các nước đang phát triển có khí hậu nóng ẩm

- ASHRAE 55 - 2010 đề xuất một mô hình thích ứng

để xác định vùng tiện nghi cho các công trình TGTN với

các điều kiện: Mức nhiệt sinh lý M = 1,0 đến 1,3 Met; nhiệt

trở quần áo Iclo được tự do thích ứng với điều kiện không

khí trong phòng [7]

- EN 15251 - 2007 (tiêu chuẩn của Châu Âu) đề xuất

một mô hình thích ứng để xác định vùng tiện nghi cho

công dân Châu Âu ở trong các công trình TGTN (không

dùng điều hoà hoặc sưởi)

- Các nhà nghiên cứu ở Châu Á cũng đã có các công

trình nghiên cứu với cách tiếp cận hiện đại, đề xuất mô

hình TNN cho một số quốc gia

Một số mô hình TNN ở Việt Nam

- Năm 1966, GS Phạm Ngọc Đăng đã nghiên cứu

TNN cho Hà Nội dựa trên chỉ số ET và chỉ số ΣH

- Năm 2004, PGS Phạm Đức Nguyên - dựa trên một

điều tra quy mô nhỏ - đề xuất Biểu đồ SKH xây dựng cho

Việt Nam với 9 vùng SKH từ: Rất lạnh -Lạnh -Lạnh vừa -Tiện

nghi -Mát khô -Mát ẩm -Nóng -Rất nóng ẩm Rất nóng khô

- Năm 2012, PGS Phạm Đức Nguyên - dựa trên các

nghiên cứu của Givoni - đã kiến nghị Biểu đồ SKH xây

dựng cho Việt Nam với 9 vùng SKH từ: Rất lạnh - Lạnh - Hơi

lạnh - Tiện nghi - Mát khô - Mát ẩm - Nóng vừa - Rất nóng

ẩm - Rất nóng khô Tuy nhiên, kiến nghị này hoàn toàn

chưa được kiểm chứng cho người Việt Nam

- TCXDVN 306: 2004 đề xuất vùng tiện nghi vi khí

hậu tương ứng với miền nhiệt độ trung hòa (trung hòa)

cho cảm giác tiện nghi, dễ chịu Và: 19,80C £ trung hòa <

25,5°C [5]

- Năm 2013, TS Nguyễn Anh Tuấn đã đề xuất mô hình TNN dành cho người Việt Nam trong điều kiện làm việc tĩnh (không được phép có các điều chỉnh cá nhân - thường gặp trong các công trình sử dụng điều hòa không khí) và trong điều kiện tự do (được phép có các điều chỉnh

cá nhân - thường gặp trong các công trình được TGTN) Vùng TNN trên biểu đồ SKH do TS Nguyễn Anh Tuấn

đề xuất (hình 4) được xây dựng dựa trên mô hình trạng thái tĩnh của Fanger và các điều chỉnh cho khí hậu nóng

ẩm Vùng tiện nghi (Comfort) trong hình 4 được thiết lập cho một người bình thường ở trạng thái làm việc tĩnh (ngồi làm việc) có lượng nhiệt sinh lý M = 1 Met, vận tốc không khí V = 0.15m/s, nhiệt trở quần áo Iclo = 0.5 clo vào mùa Hè và Iclo = 1.0 clo vào mùa Đông 80% số người được hỏi cho cảm giác hài lòng về TNN

Trong điều kiện được tự do điều chỉnh, mô hình này được gọi là mô hình TNN thích ứng Mô hình này được TS Nguyễn Anh Tuấn nghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu của 5.176 phiếu điều tra (được tiến hành ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á) và áp dụng cho các công trình được TGTN Mô hình này xây dựng công thức thể hiện mối liên quan giữa nhiệt độ tổng hợp tiện nghi (Ttien-nghi) và nhiệt độ trung bình tháng của không khí ngoài nhà (TTB-thang) như sau

Ttien-nghi = 0.341 x TTB-thang + 18,38 (1) [8]

Lựa chọn mô hình TNN

Căn cứ vào đặc điểm, tính chất công năng và đối tượng sử dụng của CCCT và đặc điểm các mô hình TNN của các học giả đã đề xuất, tác giả lựa chọn mô hình TNN thích ứng của TS Nguyễn Anh Tuấn cho nghiên cứu trong bài báo này

Hình 4: Vùng tiện nghi đề xuất của TS Nguyễn Anh Tuấn [8]

Trang 4

Xác định thời gian có điều kiện thời tiết thích hợp để

khai thác TGTN cho CCCT tại Đà Nẵng

Thời điểm có thể khai thác TGTN cho công trình phụ

thuộc vào điều kiện khí hậu ngoài nhà, đó là: Nhiệt độ, độ

ẩm, vận tốc gió, tình trạng về thành phần không khí, tiếng

ồn… Trong phạm vi nghiên cứu của bài báo, tác giả đi xác

định thời điểm thuận lợi cho TGTN dựa trên các thông số

về nhiệt độ, độ ẩm và vận tốc gió ngoài nhà Các yếu tố

khác của môi trường (thành phần không khí, tiếng ồn, ánh

sáng…) được xem như đã đảm bảo các yêu cầu về tiện

nghi cho người sử dụng

Các thông số (về nhiệt độ, độ ẩm và vận tốc gió ngoài

nhà) Các yếu tố khác của môi trường (thành phần, không

khí, tiếng ồn, ánh sáng…) được xem như đã đảm bảo các

yêu cầu về tiện nghi cho người sử dụng

Các thông số (về nhiệt độ, độ ẩm và vận tốc gió ngoài

nhà) theo từng giờ trong năm hay các giá trị trung bình

tháng được sử dụng - cùng với mô hình TNN thích ứng đã

chọn để xác định các thời điểm đạt tiện nghi hay sử dụng

TGTN để đạt tiện nghi cho công trình được TGTN

Nhiệt độ tiện nghi theo từng tháng

Từ công thức (1) và số liệu về nhiệt độ trung bình

theo từng tháng của Đà Nẵng (nguồn số liệu từ [9]), nhiệt

độ tiện nghi của từng tháng trong năm tại Đà Nẵng được

thể hiện như hình 5

Theo hình 5, nhiệt độ trung bình của tháng thường

thấp hơn nhiệt độ tiện nghi Riêng các tháng 5, 6, 7 và 8,

nhiệt độ trung bình ngoài nhà cao hơn nhiệt độ tiện nghi

Đây là các tháng cần tổ chức thông gió để tăng cường làm

mát bằng đối lưu và bay hơi mồ hôi Đồng thời, cần kết hợp

với thông gió cơ khí (quạt, điều hòa không khí) để tạo tiện

nghi cho người sử dụng

b Biên độ nhiệt độ ngày đêm

Biên độ nhiệt độ ngày đêm trung bình của Đà Nẵng

không cao, từ 5.2°C đến 9.0°C Biên độ này đạt 9°C vào tháng 7

c Vận tốc gió trung bình trong tháng

Hướng gió chủ đạo trong năm tại Đà Nẵng là hướng

Đông (vào các tháng 3, 4, 5, 6, 7 và 8) và hướng Bắc (vào các

tháng 9, 10, 11, 12 và tháng 2)

Vận tốc gió trung bình của tháng tại Đà Nẵng - theo

cáchướng - có giá trị từ 1.5 m/s đến 3.5 m/s (ứng với Cấp 1

đến Cấp 3 trong thang cấp gió Beaufort [9]) Theo số liệu [9],

tần suất xuất hiện trung bình và vận tốc trung bình của gió theo các hướng tại Đà Nẵng được thể hiện như hình

6 (ứng với Cấp 1 đến Cấp 3 trong Thang cấp gió Beaufort [9])

Hình 5: Biểu đồ nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tiện nghi theo tháng của

Đà Nẵng

Hình 7: Biểu đồ tiện nghi SKH của Đà Nẵng theo tháng

Hình 6: Tần suất trung bình và vận tốc trung bình của gió theo các

hướng tại Đà Nẵng (nguồn số liệu [9])

k Tháng 11 l Tháng 12

i Tháng 9 j Tháng 10

g Tháng 7 h Tháng 8

e Tháng 5 f Tháng 6

c Tháng 3 d Tháng 4

a Tháng 1 b Tháng 2

Trang 5

Kết quả về số giờ tiện nghi, số giờ cần thông gió

để đạt tiện nghi trong từng tháng và năm của Đà Nẵng

được tổng hợp ở bảng 1 Theo bảng 1, tại Đà Nẵng, số

giờ trong năm đạt điều kiện tiện nghi là 3.207 giờ và số

giờ cần thông gió làm mát để đạt điều kiện tiện nghi là

1.917 giờ

Như vậy, tổng thời gian trong năm ở Đà Nẵng có thể

sử dụng TGTN để đạt điều kiện tiện nghi có thể lên đến

5.124 giờ - tương đương 58.5% thời gian trong năm

Tiềm năng khai thác TGTN hướng đến PTBV cho

CCCT ở Đà Nẵng

Kết quả điều tra xã hội học tại các CCCT ở Đà Nẵng

(mục 2.1) đã cho thấy, cư dân đã có những nhận thức cơ

bản về vai trò của TGTN và TGTN cũng là giải pháp đang và

sẽ là xu hướng được cư dân tại các CCCT ưu tiên sử dụng

(với 84% cư dân lựa chọn)

Đà Nẵng là thành phố ven biển, thuộc vùng Duyên

hải Nam trung bộ Các phân tích SKH (mục 2.2) cho thấy,

với giải pháp thông gió làm mát, 58.5% thời gian trong

năm ở Đà Nẵng có thể đạt điều kiện tiện nghi cho công

trình Hiện nay, loại hình kiến trúc CCCT có xu hướng phát

triển mạnh và có số lượng dự án được đầu tư xây dựng lớn

tại Đà Nẵng Trong xu thế phát triển chung của KTBV, yêu

cầu đặt ra cho việc phát triển kiến trúc CCCT theo hướng

bền vững càng trở nên bức thiết hơn cho Đà Nẵng

Những phân tích và đánh giá nêu trên đã khẳng

định tiềm năng khai thác TGTN cho thiết kế CCCT ở

thành phố Đà Nẵng là rất lớn Đây là những cơ sở thực

tiễn quan trọng để đề xuất áp dụng các giải pháp thiết kế

nhằm khai thác TGTN hướng đến sự PTBV cho loại hình

công trình CCCT

CCCT là loại hình kiến trúc nhà ở đã và đang phát

triển mạnh mẽ tại các đô thị lớn trên thế giới và Việt Nam

Định hướng PTBV cho loại hình kiến trúc này sẽ góp phần

quan trọng đối với sự PTBV cho kiến trúc của mỗi quốc gia

Đà Nẵng là thành phố có những bước phát triển

mạnh mẽ về quy hoạch và phát triển đô thị Nhiều dự

án xây dựng - trong đó có các dự án CCCT đã, đang và

sẽ được triển khai đầu tư xây dựng tại đây Việc nghiên

cứu hoàn thiện hệ thống lý luận và cơ sở thực tiễn -

trong đó có vấn đề đánh giá tiềm năng khai thác của

khai thác TGTN cho loại hình CCCT đã được đặt ra cho

các kiến trúc sư, nhằm phát triển kiến trúc CCCT theo

hướng bền vững.

Các kết quả khảo sát thực tế cho thấy nhu cầu sử

dụng giải pháp TGTN để thông thoáng làm mát căn hộ là

rất lớn, cụ thể là: 48% cư dân đang sử dụng và 84% cư dân

có xu hướng lựa chọn sử dụng TGTN

Với vị trí ven biển của vùng Duyên hải Nam trung bộ,

Đà Nẵng là thành phố có các yếu tố cảnh quan và điều kiện tự nhiên thuận lợi, với 58.5% thời gian trong năm có thể khai thác TGTN nhằm đạt được điều kiện tiện nghi cho công trình kiến trúc

Như vậy, tiềm năng khai thác TGTN hướng đến PTBV cho kiến trúc CCCT ở thành phố Đà Nẵng là rất lớn Việc áp dụng các giải pháp thiết kế TGTN cho CCCT

sẽ mang lại hiệu quả lớn về tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường và hướng đến sự PTBV cho kiến trúc nói riêng và góp phần hướng đến sự PTBV cho thành phố Đà Nẵng nói chung

[1] Phạm Ngọc Đăng (2012), “Khung chiến lược quốc gia về phát triển xây dựng xanh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, Tài liệu hội thảo “Phát triển công trình xây dựng bền vững” tại Đà Nẵng (tháng 11/2012), Bộ Xây dựng.

[2] Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30 tháng 11 năm 2011 về việc “Phê duyệt Chiến lược phát triển Nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, Hà Nội [3] Phạm Đức Nguyên (2012), Kiến trúc sinh khí hậu: Thiết kế Sinh khí hậu trong Kiến trúc Việt Nam, Nxb Xây dựng, Hà Nội [4] Nguyễn Tăng Thu Nguyệt, Việt Hà-Nguyễn Ngọc Giả (2014), Kiến trúc hướng dòng thông gió tự nhiên, Nxb Xây dựng, Hà Nội.

[5] Bộ Xây dựng (2004), TCXD VN 306: 2004, Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam: Nhà ở và công trình công cộng - Các thông số khí hậu trong phòng, Hà Nội.

[6] Nguyễn Anh Tuấn (2012), “Đề xuất mô hình tiện nghi nhiệt

áp dụng cho người Việt Nam trong các tình huống và thể loại công trình khác nhau”, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Đà Nẵng,

Số 5 (54), tr 72-78.

[7] American Society of Heating, Refrigerating and Air-Conditioning Engineers (2010), ASHRAE Standard 55-2010, Thermal environmental conditions for human occupancy.

[8] Nguyen Anh Tuan (2013), Sustainable housing in Viet Nam: Climate responsive design strategies to optimize thermal comfort, PhD Thesis, University of Liege, Belgique.

[9] Bộ Xây dựng (2009), QCVN 02: 2009/BXD, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng, Hà Nội

[10] Meteotest (2013), DanangMoteonormTM2.epw, Switzerland.

Bảng 1: Số liệu về số giờ tiện nghi theo tháng và năm của Đà Nẵng

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

T

T N i dung 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1 1 12Tháng C

1 S g i t rongvùng t i n nghi (TN)

35

2 309 401 256 185 145 158 181 205 305 370 340 3.207

2 S g i c n

ti n nghi (TG) 8 8 129

20

0 268 243 234 226 263 238 86 1 4 1.917

3 T ng s g iti n nghi (TN + TG)

36

0 317 530 456 453 388 392 407 468 543 456 354 5124

Ngày đăng: 12/01/2020, 21:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w