Lý do chọn đề tài MỞ ĐẦU Lễ hội truyền thống luôn mang trong mình những đặc trưng của tự nhiên và xã hội; thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo, đa dạng và phong phú; làmột hình thức
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*************
LÊ THỊ LAN ANH
LỄ HỘI LỒNG TỒNG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC TÀY - NÙNG MIỀN
NÚI PHÍA BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn đãtruyền đạt những kiến thức chuyên ngành, chỉ dạy tôi trong suốt quá trìnhhọc tập tại trường ĐHSP Hà Nội 2 Đặc biệt là TS Nguyễn Thị Tính đãđịnh hướng đề tài và hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khóa luận tốtnghiệp này
Với vốn kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân cònnhiều hạn chế, khóa luận không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, tôi rất mongnhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để khóa luậnđược hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Người thực hiện
Lê Thị Lan Anh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Tính Các nội dung nghiên cứutrong đề tài này là trung thực và chưa được công bố dưới bất kì hình thứcnào Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Người thực hiện
Lê Thị Lan Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của khóa luận 6
7 Bố cục khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG 7
1.1 Khái niệm lễ hội 7
1.2 Lễ hội truyền thống 10
1.2.1 Khái niệm lễ hội truyền thống 10
1.2.2 Phân loại lễ hội truyền thống 12
1.2.3 Đặc trưng của lễ hội truyền thống 15
1.3 Lịch sử hình thành lễ hội Lồng tồng 18
1.4 Vài nét về lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam 20
Tiểu kết chương 1 21
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM LỄ HỘI LỒNG TỒNG 23
CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC 23
2.1 Đối tượng thờ phụng 23
2.2 Thời gian và không gian tổ chức lễ hội 23
2.2.1 Thời gian tổ chức 23
2.2.2 Không gian tổ chức 24
2.3 Các hoạt động của lễ hội 24
2.3.1 Công tác chuẩn bị 24
Trang 52.3.2 Hoạt động nghi thức trong lễ hội 25
2.3.3 Hoạt động vui chơi, trò diễn trong lễ hội 28
2.4 Tín ngưỡng đặc trưng của lễ hội 30
2.5 Những nét tương đồng trong lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày - 34
Nùng và lễ hội Xuống đồng của người Kinh ở Duy Tiên - Hà Nam 34
2.5.1 Tương đồng về diễn biến lễ hội 34
2.5.2 Tương đồng về ý nghĩa lễ hội 36
Tiểu kết chương 2 36
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI LỒNG TỒNG 38
TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC TÀY, NÙNG 38
3.1 Vai trò của lễ hội Lồng tồng trong đời sống vật chất và tinh thần 38
3.1.1 Trong đời sống vật chất 38
3.1.2 Trong văn hoá tinh thần 39
3.2 Thực trạng và một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa trong lễ hội Lồng tồng 42
3.2.1 Thực trạng 42
3.2.2 Một số giải pháp giữ gìn nét văn hoá trong lễ hội Lồng tồng 42
Tiểu kết chương 3 44
KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 61 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Lễ hội truyền thống luôn mang trong mình những đặc trưng của tự nhiên
và xã hội; thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo, đa dạng và phong phú; làmột hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thầncủa các tộc người Nó có một vai trò, vị trí khá quan trọng trong đời sống vănhóa xã hội cộng đồng đặc biệt là cộng đồng làng xã
Từ xưa đến nay lễ hội là một món ăn tinh thần không thể thiếu đối vớimỗi người dân Việt Đến với bất kì vùng miền nào trên đất nước Việt Namvào bất kì một khoảng thời gian nào trong năm đều thấy sự xuất hiện và tồntại của các lễ hội Lễ hội là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc
về nhiều mặt của đời sống (chính trị, văn hóa xã hội, tôn giáo tín ngưỡng…)của cư dân vùng lúa nước Đa phần các lễ hội đều diễn ra trong khoảng thờigian vào mùa xuân Đó là mùa chuyển giao thời vụ, cũng là thời điểm giaomùa hết đông sang xuân, khi tiết trời đẹp, ngày tháng nông nhàn, cư dân cóđiều kiện về thời gian cũng như về tinh thần để tổ chức lễ hội Lễ hội ngoàimục đích tưởng nhớ người có công, tri ân các vị thần để cầu một năm mớimay mắn, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, còn là nơi để người dân giảitrí, nghỉ ngơi sau một vụ mùa, một năm lao động vất vả
Mỗi lễ hội đều mang những nét đặc trưng và những nét riêng biệt Lễhội Lồng tồng “Xuống đồng” là một lễ hội như vậy Hằng năm, cứ vào dịpsau tết Nguyên Đán, ở khắp các bản làng của tộc người Tày, Nùng ở các tỉnhmiền núi phía Bắc lại nô nức chờ đón những ngày hội rộn ràng của lễ hộiLồng tồng (Lồng thồng, Lùng tùng…), hay còn gọi là Oóc tồng, nghĩa làXuống đồng (lồng là xuống, tồng là đồng) Do vậy, lễ hội Lồng tồng là lễ hộiXuống đồng Đây là lễ hội mang tính chất nghi lễ nông nghiệp cổ xưa, mởđầu cho một mùa sản xuất mới; trong lễ hội còn có lễ tạ Thành Hoàng, Thần
Trang 7Nông, cầu cho mùa màng bội thu, gia súc phát triển, con người khỏe mạnh,bản làng yên vui, mọi người, mọi nhà ấm no, hạnh phúc Lễ hội Lồng tồng làmột sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian mang bản sắc văn hóa tộc ngườiTày, Nùng ở các bản làng địa phương rất độc đáo Sau một năm lao động vất
vả, lễ hội mở ra mang lại những giờ phút nghỉ ngơi, thanh thản, mọi người cóđiều kiện gặp gỡ thăm hỏi, chúc tụng nhau; đồng thời cũng là dịp giao lưutình cảm giữa các cô gái, chàng trai bằng những lời hát then sli, lượn Lễ hộiLồng tồng là một lễ hội dân gian giàu bản sắc và sinh động, mang nhiều ýnghĩa trong ngày xuân và trong đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộcmiền núi phía Bắc
Là một sinh viên của ngành Việt Nam học cùng với tình yêu văn hóa lễhội, phong tục tập quán của dân tộc Tày, Nùng; tôi đã chọn đề tài: “Lễ hộiLồng tồng trong đời sống văn hóa của dân tộc Tày - Nùng miền núi phía Bắc”làm đề tài khóa luận để có thể hiểu thêm về con người, văn hóa và lễ hội củahọ
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu lễ hội không chỉ góp phần lý giải nhiều vấn đề khoa học vềnhững đặc điểm văn hoá tộc người Việt, về lịch sử và văn hoá làng xã, cũngnhư về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta mà còn góp phần tìmhiểu những tác động xã hội của lễ hội, những mặt tích cực cũng như nhữnghạn chế qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Chính vì vậy nghiên cứu lễ hội
đã góp phần đắc lực cho hoạt động thực tiễn Với những ý nghĩa khoa học vàthực tiễn trên từ lâu đề tài lễ hội được nhiều thế hệ học giả trong và ngoàinước lưu tâm
Trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, lễ hội làng quê được ghi
chép trong các sách địa chí như: Đại Nam nhất thống chí, Sơn Tây tỉnh chí.
Trang 8Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên đất nước ta, các học giả ngườiPháp đã có một số chuyên khảo về lễ hội như Une Fête religieuse annamite auvillage de Phù Đổng của Đuymuchiê.
Một số nhà nghiên cứu, nhà nho, nhà báo người Việt cũng công bố các
chuyên khảo có đề cập đến một phần hay toàn bộ lễ hội như: Việt nam phong
tục của Phan Kế Bính [2], hay các bài báo giới thiệu các lễ hội trên các báo
Phong hoá, Trung Bắc chủ nhật, Ngày nay…
Tác giả Toan Ánh đã giới thiệu các hội hè làng quê miền Bắc trong
cuốn Nếp cũ - Hội hè đình đám [1] Ngoài ra còn có các chuyên khảo về làng
xã, phong tục, trong đó có đề cập đến lễ hội như: Đất lề quê thói, Nếp cũ làngxóm Việt Nam
Từ giữa thập kỷ 80 trở đi việc nghiên cứu lễ hội được chú trọng hơn;
nhiều bài báo về lễ hội được đăng trên các Tạp chí Dân tộc học, Văn hoá
nghệ thuật, Văn hoá dân gian (ra mắt năm 1984), đáng lưu ý là hai tác giả
Đặng Văn Lung và Thu Linh với Lễ hội truyền thống và hiện đại [12] Đây là
chuyên luận đầu tiên bàn đến lý luận về mối quan hệ giữa lễ hội truyền thống
và xã hội hiện đại Ngoài ra còn có các lễ hội ở các địa phương được giới
thiệu trên các sách địa chí như: Địa chí Hà Bắc, Địa chí thành phố Hồ Chí
Minh, Địa chí Minh Hải, Địa chí Vĩnh Phú, Văn hoá dân gian vùng đất Tổ…
Từ năm 1988 đến nay, các chuyên khảo về lễ hội xuất hiện ngày càng
nhiều như : Lễ hội dân gian Huế (1988), Hội hè Việt Nam (1990), Hội xứ
Bắc (1989), Bảo tàng di tích - lễ hội (1992)…
Cho đến nay đề tài liên quan đến lễ hội Lồng tồng nói chung có một số
công trình nghiên cứu như: Phan Đăng Nhật với tác phẩm Lễ hội cổ truyền
[14] Đáng lưu ý có trang tác giả cho rằng: “Lễ hội là một pho lịch sử khổng
lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hoá, nghệ thuật
và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc” và “Lễ hội còn là
Trang 9bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hoá tinh thần của người Việt Chúng
đã sống, đang sống và với đặc trưng của mình, chúng tạo nên sức cuốn hút vàthuyết phục mạnh mẽ nhất”
Cuốn Mùa xuân và phong tục Việt Nam, của Trần Quốc Vượng, Lê
Văn Hảo, Dương Tất Từ [23; tr.167-tr.178] các tác giả đã viết về “Hội LồngTồng: Những ngày hội xuân tiêu biểu của Việt Bắc” trong những trang nàykhi viết về hội Lồng tồng các tác giả cũng đã trình bày về nguồn gốc của hộiqua một số truyền thuyết ở Lạng Sơn, ở Cao Bằng… và đề cập đến một sốnghi lễ và trò chơi trong ngày hội
Các tác giả Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng, Lê Sỹ Giáo, Lâm Bá Nam
với cuốn Lễ hội cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam [4; tr.42], các tác giả đã viết về Hội Xuống Đồng (Hội Lồng Tồng) Đây là lễ hội truyền thống của cư
dân nông nghiệp, một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc ởvùng Việt Bắc
Tác giả Lê Văn Kỳ trong Lễ hội nông nghiệp Việt Nam [8; tr.167], đã viết về Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc
tr.161-Việt Nam và đã trình bày về thời gian, địa điểm mở hội, cách thức mở hội,
những nghi lễ và các trò chơi dân gian của lễ hội cũng được tác giả trình bàykhá cụ thể
Tác giả Hoàng Văn Páo với Lễ hội Lồng Tồng của người Tày bản Chu
xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn [15], tác giả đã trình bày sâu sắc
về lễ hội Lồng tồng của người Tày ở xã Hưng Đạo huyện Bình Gia
Trong cuốn Lễ hội Việt Nam, tác giả Vũ Ngọc Khánh - Vũ Thuỵ An đã viết về Lễ hội Lồng Tồng ở huyện Na Rì tỉnh Bắc Cạn [7], với các nghi lễ
cúng Thần nông và một số trò chơi, trò diễn trong lễ hội
Ngoài ra, còn rất nhiều tư liệu khác cũng nghiên cứu về đề tài nàynhưng nói rất chung về lễ hội Các bài báo, bài viết chủ yếu trình bày tóm tắt
Trang 10nội dung của lễ hội thông qua một số hình ảnh minh họa cho lễ hội Một sốbài viết khác chỉ khai thác lễ hội ở khía cạnh hẹp, chỉ mang tính chất liệt kêcác trò chơi, trò diễn trong lễ hội mà chưa đi sâu vào khai thác để làm nổi bậtnhững nét văn hóa đặc trưng và giá trị văn hóa của lễ hội cũng như nét vănhóa đặc sắc trong đời sống của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc.
Do đó, dựa trên những thành tựu đã đạt được của người đi trước, cùngvới sự tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân về lễ hội Tôi mong muốn được gópphần nào đó công sức của mình vào việc giới thiệu và lưu giữ giá trị của lễhội Lồng tồng trong đời sống văn hóa của dân tộc Tày, Nùng miền núi phíaBắc thông qua bài khóa luận tốt nghiệp của mình
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát về lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núi phíaBắc
Tìm hiểu những đặc điểm, đặc trưng, tín ngưỡng trong lễ hội Lồng tồngcủa dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc
Tìm hiểu và chỉ ra những nét văn hóa đặc sắc tương đồng trong lễ hộiLồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc với lễ hội Xuống đồngcủa người Kinh ở Duy Tiên, Hà Nam
Tìm hiểu về vai trò của lễ hội Lồng tồng trong đời sống các dân tộcTày, Nùng; thực trạng và một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa của lễ hội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là lễ hội Lồng tồng trong đời sống văn hóa củadân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc
Trang 114.2 Phạm vi nghiên cứu
- Lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc
Mở rộng so sánh với lễ hội Xuống đồng của người Kinh ở Duy Tiên
-Hà Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã và tổng kết thực tiễn: thực hiện quan sát,tìmhiểu,nghiên cứu trong quá trình điền dã thực tế
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
6 Đóng góp của khóa luận
Góp phần vào việc giới thiệu, giúp nâng cao hiểu biết về lễ hội Lồngtồng của đồng bào dân tộc miền núi
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu thamkhảo cho việc học tập và nghiên cứu lễ hội Lồng tồng của các dân tộc miềnnúi Việt Nam
7 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo Khóa luận tốt nghiệpđược chia làm 3 chương Cụ thể đó là:
Chương 1: Khái quát chung
Chương 2: Đặc điểm lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núiphía Bắc
Chương 3: Vai trò của lễ hội Lồng tồng trong đời sống các dân tộc Tày,Nùng
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG 1.1 Khái niệm lễ hội
Lễ hội của người Việt cũng như của nhiều dân tộc anh em là một bộphận của văn hoá Việt Nam Lễ hội đã trở thành truyền thống từ lâu đời củathôn quê Việt Nam, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, lễ hội đã đáp ứng đượcnguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân trước tiên là nhu cầu về tínngưỡng tôn giáo
Thuật ngữ Lễ hội cho đến nay đã được các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều
cách gọi và giải thích khác nhau Nó có thể là “hội lễ”, hay “hội hè” hoặc “hội
hè đình đám”… Khi nghiên cứu những đặc tính và ý nghĩa của lễ hội ở nướcNga, M.Bachie cho rằng: Thực chất, lễ hội là cuộc sống được tái hiện dướihình thức tế lễ và trò diễn, đó là cuộc sống lao động và chiến đấu của cộngđồng cư dân Tuy nhiên, bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếunhư chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới củatâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới của nhữngphương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát lytạm thời thực tại hữu hiệu, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó, mọi thứ đều trởnên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả [9; tr.23]
Ở Việt Nam, Lễ hội là khái niệm chỉ mới xuất hiện khoảng hơn chụcnăm trở lại đây Trước đó chỉ có khái niệm lễ hoặc hội Cả hai khái niệm lễ vàhội đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một nhóm loại hình phong tục Lễ hội
là sinh hoạt tập thể, là hoạt động tinh thần của cộng đồng Dân tộc nào cũng
có lễ hội riêng của dân tộc mình, các dân tộc khác nhau có lễ hội khác nhau
Lễ hội của các dân tộc thường là sự phản ánh nhận thức liên quan đến tậpquán sản xuất, đến các hoạt động tập thể của cộng đồng Cư dân trồng trọtthường tổ chức nhiều lễ hội liên quan đến gieo trồng, đến cầu mùa, đến thu
Trang 13hoạch Cư dân sống chủ yếu bằng nghề săn bắn và hái lượm thường tổ chứccác lễ hội hoá trang, các động tác tượng trưng cho pháp thuật săn bắn, cáchình tượng tượng trưng cho việc săn bắn kết quả Lễ hội còn là dịp để nhớ vềlịch sử, nhớ về cội nguồn của dân tộc, lễ hội được tổ chức có thể gắn với cácdanh lam thắng cảnh, các truyền thuyết liên quan đến sự hình thành, phát triểnphồn vinh của vùng quê, người đi lễ hội vừa là để thay đổi không khí cuộcsống là dịp gặp gỡ vui vẻ, là dịp tìm tòi sự may mắn qua nguyện ước thắphương ở nơi dự lễ.
Ngày lễ hội cũng chính là dịp để họ hàng và bè bạn gần xa tới thăm hỏichúc tụng nhau, mời nhau ăn uống Mùa lễ hội là mùa vui của tất cả mọingười dân trong bản từ cụ già đến em nhỏ đều háo hức lễ hội để họ có dịpdiện những bộ quần áo mới nhất đi chơi hội và được xem những trò vui, tròdiễn trong lễ hội Trong lễ hội bao gồm hai phần chính là lễ và hội:
“Lễ” trước hết được hiểu là nghi thức, là mở đầu cho hội làng “Lễ lànhững nghi thức nhằm đánh dấu kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nàođó” [18; tr.450] Theo quan niệm của Khổng Tử (người sáng lập ra Nho giáo)khi ông nói về lễ (bàn trong Lễ - Nhạc) thì lễ trước hết là trật tự, nhạc là sựhài hòa Lễ mang ý nghĩa là mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên
và xã hội Lễ vốn là phép ứng xử văn hoá, trong ứng xử xã hội, bao gồm ứng
xử giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với cộng đồng và ngược lại, giữa cácthiết chế nhỏ trong cộng đồng lớn với nhau… Thường được bắt đầu và phảibắt đầu từ lễ, tức là từ nghi thức trước khi đi vào một nội dung giữa hai quan
hệ hoặc các quan hệ trong xã hội Từ những nghi thức mang tính xã giao đờithường là lễ, phép tắc để phân biệt trên, dưới, sang, hèn, thân, sơ… dần dầnđược “thiêng hóa” để trở thành những nghi lễ mang tính tôn giáo, về sauchúng trở thành những nghi thức mở đầu cho lễ hội Các nghi thức của lễ toátlên sự cầu mong các vị thần linh đem đến cho họ mùa màng bội thu, cuộc
Trang 14sống hạnh phúc, thanh bình… có thể nói “Lễ là phần đạo, tâm linh của cộngđồng” [21; tr.12] Lễ là linh hồn của lễ hội Tuy nhiên, lễ không thể trở thànhhội nếu nó chỉ gồm những nghi thức xã hội, nhất là nghi thức tôn giáo, trongsinh hoạt tôn giáo cũng có rất nhiều thứ lễ chẳng hạn: trong các làng xã ngườiViệt trước đây một năm có đến hàng chục thứ lễ như: lễ cầu mưa, lễ hạ điền,thượng điền, lễ cơm mới… Mặc dù là những nghi thức được chuẩn bị chuđáo và thực hiện nghiêm túc với sự tham gia của nhiều người, nhưng đó chỉ là
lễ, chưa phải là hội
“Hội” trước hết là những hoạt động, những trò diễn thường có tính lễnghi theo một khuôn mẫu mang tính ổn định với sự tham gia của một khốiđông người có tính cộng đồng cao Tuy nhiên phải là những hoạt động tiếptheo lễ hoặc đan xen với lễ có những đặc điểm vừa nêu mới trở thành hội của
lễ, sau đó mới trở thành lễ hội Nói một cách khác, hội là các hoạt động, cáctrò diễn có tính lễ nghi, có nhiệm vụ bổ sung cho lễ, hoàn chỉnh ý nghĩa vànội dung của một sinh hoạt cộng đồng vào thời điểm đó và tại những nơi thờ.Chẳng hạn ở hội Tam Thanh ở Thành phố Lạng Sơn sau phần tế lễ là đếnphần hội với các trò chơi như ném còn, kéo co, các trò chơi trong phần hộinày đã góp phần bổ sung cho lễ và trở thành lễ hội Tam Thanh
Như vậy, “Hội là cuộc vui cho đông đảo người dự theo phong tục hoặcdịp đặc biệt” [3; tr.43] Hội bao gồm các yếu tố: Được tổ chức nhân một dịpquan trọng liên quan đến cộng đồng nhằm đem lại lợi ích tinh thần cho mọithành viên của cộng đồng Như vậy hội là từ dùng để chỉ thành phần ngoài lễcủa những ngày kỷ niệm linh thiêng từ quy mô cộng đồng làng bản trở lên
Do hội là thành phần ngoài lễ nên khi cuộc lễ nào không có hội kèm theo đềukhông phải là hội
Có thể nói lễ và hội là một thể thống nhất không thể chia tách tronghoạt động tín ngưỡng và tôn giáo của con người Lễ là phần “đạo”, phần tín
Trang 15ngưỡng, phần thế giới tâm linh sâu lắng của con người, là cơ sở để mọi ngườivui hội Còn hội là tập hợp các trò diễn có tính lễ thức, các cuộc vui chơi, giảitrí tại một địa điểm nhất định, thường trong khuôn viên các công trình tôngiáo hay ở sát chúng, có đông người tham gia, là đời sống văn hoá thườngnhật và một phần đời của một cá nhân và cả cộng đồng nhân kỷ niệm một sựkiện quan trọng đối với một cộng đồng xã hội Không khí vui vẻ, tưng bừngmang đậm màu sắc tôn giáo nguyên thuỷ của hội lại là biểu hiện cho sự thànhcông của lễ Hội làm cho lễ càng thêm trang trọng, uy nghiêm và thần bí hơn,cấu thành lễ hội, không có lễ hội nào có thể thiếu một trong hai thành phầnđó.
1.2 Lễ hội truyền thống
1.2.1 Khái niệm lễ hội truyền thống
Với nền văn minh lúa nước lâu đời ở xứ sở nhiệt đới, lễ hội cổ truyềnViệt Nam với nhiều hình thức phong phú đa dạng và độc đáo Lễ hội là mộtsản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa Nền văn hóa Việt Nam là nềnvăn hóa nông nghiệp Vậy lễ hội truyền thống Việt Nam là lễ hội nôngnghiệp Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngưỡng phồn thực trong nông nghiệp củadân tộc Việt Nam luôn cầu mong mưa thuận gió hòa vạn vật sinh sôi nảy nở
Theo GS Trần Quốc Vượng thì lễ hội nông nghiệp không chỉ bao hàmnhững lễ hội gắn một cách trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là ghi thứchay nghi lễ nông nghiệp như: lễ hội “Lồng tồng” của người Tày, Nùng; lễ tếThần Nông, lễ Hạ Điền (Xuống Đồng của người Mường), lễ hội Thượng Điềncủa người Việt - mà bao gồm cả những hội săn chim, đuổi cuốc, săn hổ, bắtcáo, hội đánh bắt cá ở suối, ao, hồ, hội hái lá, hái măng, hội chùa, hội đình…Tất cả chúng đều được gọi là lễ hội nông nghiệp vì chúng diễn ra trong khônggian thôn dã với một thời gian thôn dã (mang tính chất chu kì) Chủ nhân củanhững lễ hội này chủ yếu là nông dân, là thợ thủ công, địa chủ, quan lại, sống
Trang 16ở vùng quê và có lối sống thôn dã Bản sắc văn hóa Việt Nam được thể hiệnđậm nét nhất ở văn hóa làng Lễ hội truyền thống là sinh hoạt văn hóa dângian truyền thống - thành tố làm nên bản sắc văn hóa làng đó.
GS.TS Nguyễn Duy Quý - nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hộiViệt Nam từng phát biểu trong Hội thảo Khoa học “Lễ hội truyền thống trongđời sống xã hội hiện đại” (tổ chức vào tháng 3 năm 1993): “Lễ hội truyềnthống là một sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôngiáo, tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường…” [17]
Lễ hội truyền thống xuất phát từ nhu cầu nội tại của con người Lễ hộibao giờ cũng hướng tới một đối tượng Thiên nhiên cần suy tôn: các vị tiên,Phật, thần thánh, những vị Nhiên thần và Nhân thần mà xét đến cội rễ thì đóchính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của những anh hùng
có công khai phá và xây dựng, những anh hùng chống giặc ngoại xâm, nhữngngười có công dạy dỗ, truyền nghề, chống thiên tai, trừ ác thú, chữa bệnh cứungười hoặc những đấng thiên nhiên giúp con người hướng thiện, tạo dựngmột cuộc sống tốt lành, yên vui
Lễ hội truyền thống chính là dịp để con người giao lưu, cộng cảm vàtrao truyền những đạo lí, tình cảm, mĩ tục và những khát vọng cao đẹp, còn làcầu nối giữa hiện tại và quá khứ, củng cố tinh thần cố kết dân tộc và tình yêuquê hương đất nước cùng niềm tự hào về nguồn gốc của mình
“Dù ai đi ngược về xuôiNhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”
Chính vì vậy mà lễ hội truyền thống bao giờ cũng thu hút, mời gọi kì lạđối với nhiều người, nhiều lứa tuổi Người đến với lễ hội là đến với chốn linhthiêng cao cả, với tâm thức chân thành và thanh thản với khát vọng, ướcmong tốt lành
Trang 171.2.2 Phân loại lễ hội truyền thống
1.2.2.1 Lễ hội gắn với tín ngưỡng cầu mùa
Theo Từ điển tiếng Việt thì tín ngưỡng là tin theo một tôn giáo nào đó.Như vậy, tín ngưỡng chỉ là một niềm tin tôn giáo Mỗi tín đồ của một tôn giáonào đó đều có niềm tin riêng của mình, khác với niềm tin của tôn giáo khác.Lâu nay, có một số người hiểu không đúng về thuật ngữ này, thường coi tínngưỡng cũng là tôn giáo (tín ngưỡng dân gian cũng là một tôn giáo sơ khai).Tín ngưỡng không có ý chỉ là một tôn giáo, mà chỉ là một niềm tin có tínhchất tôn giáo Đại đa số nhân dân Việt Nam đều tin theo tôn giáo sơ khai màngành dân tộc học gọi là đa thần giáo xuất phát từ quan niệm vạn vật hữulinh
Cầu mùa là một tín ngưỡng có từ lâu đời trong đời sống của nhiều dântộc trên đất nước Việt Nam Nó ra đời gắn liền với nền văn minh nông nghiệp
và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Cầu mùa ở mỗi dân tộc có mộtcách thể hiện khác nhau nhưng cùng giống nhau ở một mục đích cuối cùng đó
là cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, người người khỏe mạnh, mùa màngthắng lợi, vạn vật tốt tươi, sinh sôi nảy nở… Đó là một nét đẹp văn hóa cầnđược bảo tồn và phát huy
Đây là loại lễ hội phổ biến ở tất cả các dân tộc Tuy ở mỗi địa phươngmỗi dân tộc có những nghi thức, nghi lễ khác nhau, nhưng đều cùng chungmột nội dung là cầu mùa Những nội dung đó được thể hiện một cách sinhđộng ở các lễ thức sau:
Lễ thức liên quan đến chu trình sản xuất nông nghiệp bao gồm lễ hội
tái hiện các sinh hoạt kinh tế tiền nông nghiệp như sắn bắn, hái lượm, lễ mởcửa rừng, hồ đánh cá…và những lễ thức tái hiện hoạt động sản xuất nôngnghiệp như cây cối, hội tầm tang, trình nghề nông, thờ ông Điền…
Trang 18Lễ thức cầu đảo: cầu mưa, cầu tạnh, mưa thuận gió hoàn, sóng yên biển
lặng (rước, cúng tứ pháp, lễ cầu mưa ở các dân tộc, thờ cá Ông)…
Lễ thức biểu dương, dâng cúng các thành phẩm nông nghiệp (rước lợn,
xôi, lễ ăn cơm mới…)
Lễ rước thờ cúng hồn lúa (còn phổ biến ở nhiều dân tộc thiểu số).
Các lễ thức trên đều mang tính chất tín ngưỡng cầu mùa, mong sao mùamàng tốt tươi, người an vật thịnh, ngành nghề phát triển, mang lại cuộc sống
ấm no hạnh phúc cho nhân dân
Ví dụ như lễ hội Lồng tồng: Là một lễ hội truyền thống đặc trưng củacộng đồng người Tày, Nùng Lễ hội này được tổ chức hàng năm vào thángGiêng, tháng Hai âm lịch theo từng địa phương, mang ý nghĩa cầu phúc, cầumùa màng bội thu, cuộc sống bình yên, no ấm Trong lễ hội thường diễn racác trò chơi dân gian cổ truyền, như: Ném còn, bịt mắt bắt dê, hát lượn…
Lễ hội hoa ban: Đây là lễ hội của đồng bào dân tộc Thái và lễ hội nàycòn có tên gọi khác là hội Xên bản, Xên mường Lễ hội thường được tổ chứcvào tháng Hai âm lịch, khi hoa ban nở trắng núi rừng Tây Bắc Hội hoa ban làngày hội của tình yêu đôi lứa; ngày hội của hạnh phúc gia đình; hội cầu mùa,
no ấm nơi bản mường, đồng thời cũng là dịp thi tài, vui chơi, hát giao duyêntrong những đêm trăng sáng…
1.2.2.2 Lễ hội tưởng nhớ người có công
Lễ hội truyền thống ở nước ta rất đa dạng, phong phú và trải rộng khắpđất nước Tại mỗi vùng miền, lễ hội tuy mang một nét tiêu biểu và giá trịriêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một đối tượng tâm linh cần được suytôn, như: Những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công trongviệc dạy dỗ hay truyền nghề hoặc những người có nhiều công lao đóng gópcho việc chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế… Đây là
Trang 19những lễ hội liên quan đến việc tưởng niệm công lao các vị danh nhân văn hóa, anh hùng lịch sử, các vị Thành Hoàng và chư vị Thánh, chư vị Phật…
Loại lễ hội này đều thờ cúng, diễn tích liên quan đến các vị nhiên thần
và nhân dân đã có công khai sơn phá thạch, xây dựng, giữ gìn, bảo vệ làngxóm, đất nước và chư vị Thánh, Phật có công khai minh, khai mang, xâydựng đền chùa, giúp dân giệt ác trừ tà, bảo vệ cái thiện… Điều đáng lưu ý ởđây là sự thờ cúng ở các dân tộc miền núi chủ yếu là các lực lượng nhiênthần, còn ở đồng bằng thì chủ yếu lại thờ cúng các lực lượng nhân thần Đólà:
Các nghi thức thờ cúng các thần thổ địa, thần rừng, thần sông nước (ởmiền núi), thờ thần cây đa, bến nước như Sơn Thần, Giang Thần, Đông HảiĐại Vương (ở miền xuôi)…
Lễ rước các vị danh nhân văn hóa, anh hùng lịch sử như Tản Viên SơnThánh, chư vị Phật, chư vị Thánh, lễ hội thờ Trương Hống, Trương Hát, Hai
Bà Trưng, Thánh Gióng, Vua Hùng, Bố Cái Đại Vương, Đức Thánh Trần…
Diễn lại các tích liên quan đến các vị anh hùng có công với dân vànước: Thánh gióng các vị Thành Hoàng, hội Gía, hội đền vua Lê, hội vật HồiQuan, hội đấu kiếm Phù Lão…
Các nghi thức trên đã thể hiện rõ đạo lí “uống nước nhớ nguồn” củanhân dân ta Từ đạo lý đó đã được khái quát hóa và thần Thánh hóa nhữngngười đã có công với dân với nước Vì vậy, vị trí của người có công đối vớicộng đồng quốc gia, cộng đồng làng xã đã chiếm phần quan trọng trong tâmlinh của người dân Việt
Một số lễ hội tưởng nhớ người có công tiêu biểu như: Lễ hội Gò Đống
Đa là một lễ hội chiến thắng, được tổ chức hàng năm để tưởng nhớ nhữngchiến công lẫy lừng của vua Quang Trung – người anh hùng áo vải trong lịch
sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Nhiều trò chơi vui khỏe được tổ chức
Trang 20trong lễ hội để thể hiện tinh thần thượng võ Đặc biệt, trò rước Rồng lửaThăng Long được cho là độc đáo, ấn tượng nhất trong toàn lễ hội.
Hội gò Đống Đa diễn ra vào ngày mùng 5 Tết tại khu vực gò Đống Đa,phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội
Lễ hội đền Gióng được khai hội ngày 6/1 âm lịch hàng năm và tổ chứctại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn (Hà Nội) Theo truyền thuyết, vùng đất này lànơi dừng chân cuối cùng của Thánh Gióng trước khi cởi bỏ áo giáp bay vềtrời Lễ hội diễn ra trong 3 ngày với các nghi lễ truyền thống như: lễ khaiquang, lễ rước, lễ dâng hương, dâng hoa tre lên đền Thượng, nơi thờ ThánhGióng thu hút sự quan tâm của người dân địa phương và du khách quốc tế
1.2.3 Đặc trưng của lễ hội truyền thống
1.2.3.1 Tính cộng đồng
Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tựnguyện của một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn.Bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cảnước Trong lễ hội con người có những quan hệ thân mật và sự giao tiếpphóng khoáng; con người được tái sinh bằng việc tái hòa nhập cộng đồng.Những quan hệ tưởng như đã cũ được đổi mới trong những ngày lễ hội Lễhội xóa đi sự xa lạ, lạnh lùng, trơ mòn bởi cái thường ngày lặp đi lặp lại trongquan hệ giữa con người với nhau Bởi vậy, nhiều cung bậc tình cảm, như tìnhlàng xóm, tình đồng bào, tình phường hội, tình thân tộc và tình cảm bạn bè,nhờ vào không khí hội hè, cũng có thêm sắc thái mới Nhờ vậy, dường nhưmỗi con người đều tự cảm thấy mình đang được trở về với chính mình, mìnhđích thực là con người giữa cộng đồng
Chúng ta vẫn thường nói đi xem hát nhưng lại nói đi dự hội, có nghĩakhi đi hội, mọi người đều sống trong lễ hội Trong lễ con người cảm thấyđược sự tái sinh và sự đổi mới của thiên nhiên và thời vụ, của cuộc đời và con
Trang 21người, các quan hệ làng nước và của chính mình Ở đây con người được sống theo quy luật tự do hội hè.
Không gian lễ hội thực chất là sự đổi mới từ không gian thông thườngthành một không gian con đường làng với những lều quán quen thuộc, nhưngtrong những ngày lễ hội, bỗng trở nên mới mẻ, tưng bừng náo nức, trở nênthiêng liêng và cao cả
Ví dụ, lễ hội Yên Tử Mỗi độ xuân sang, du khách thập phương lại vềYên Tử, thành tâm chiêm bái chốn Tổ Thiền Trúc Lâm, thăm Khu Di tích lịch
sử - thắng cảnh nổi tiếng vùng Đông Bắc của Tổ quốc Hằng năm, từ nhữngngày đầu tháng Giêng, du khách thập phương lại tấp nập về Hội xuân Yên Tử
lễ Phật, du xuân “cầu may vạn phúc” Ngày 10 tháng Giêng, lễ khai mạc Hộixuân truyền thống được tổ chức với nhiều hoạt động như: Lễ dâng hươngcúng Phật, bái Tổ Trúc Lâm; văn nghệ diễn xướng tái hiện sự tích lịch sử, vănhóa tâm linh, những huyền thoại về Tam Tổ Thiền phái Trúc Lâm tôn kính;
Lễ khai ấn “Dấu Thiêng Chùa Đồng” đầu năm rất quan trọng và các hoạtđộng văn hóa dân gian, múa Rồng Lân, võ thuật cổ truyền, trò chơi dân gian,
… tưng bừng, nhộn nhịp
Yên Tử gắn liền với diễn biến lịch sử huy hoàng của dân tộc Việt Namtrong công cuộc chiến đấu và chiến thắng lẫy lừng quân xâm lược phươngBắc, phương Tây và xây dựng đất nước Yên Tử trở thành một trong nhữngbiểu tượng rực rỡ của tinh thần độc lập tự chủ, tự cường của dân tộc ViệtNam Hội Yên Tử là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của dân tộc, thểhiện rõ nét tinh thần cộng đồng
1.2.3.2 Tính cộng cảm
Lễ hội truyền thống chính là dịp để con người giao lưu, cộng cảm, traotruyền những giá trị tốt đẹp Khi làng mở hội, người đi dự hội được trảinghiệm một không gian văn hóa vừa thân quen, vừa mới mẻ Tình cảm đó sẽ
Trang 22đem lại cho người đi dự lễ hội những tình cảm mới, một sự cân bằng sinh thái
và tâm lý quan trọng
Lễ hội không chỉ là dịp giúp con người truyền đạt tình cảm, đạo lý vàkhát vọng cho nhau mà còn là dịp để con người giao hòa với quá khứ và hiệntại, qua đó con người củng cố thêm sức mạnh cộng đồng và thể hiện sự tônkính của mình đối với tạo hóa và tổ tiên cội nguồn của mình
Ví dụ, Giỗ Tổ Hùng Vương là các làng xung quanh lại chuẩn bị thikiệu Cỗ kiệu nào đoạt giải nhất của năm nay thì đến kì hội sang năm sẽ đượcđại diện tất cả các cỗ kiệu khác, rước lên đền Thượng để cử hành quốc lễ Vìthế mà các cỗ kiệu đẹp lộng lẫy đều được dân làng chuẩn bị công phu và chuđáo từ nhiều tháng trước Dân làng không cho đó là vất vả, bởi với họ, cỗ kiệu
là vật thể hiện lòng thành kính với vua cha, kiệu đoạt giải nhất là niềm tự hào
và vinh dự lớn lao không gì so sánh được Họ cho rằng làm vậy sẽ được cácvua Hùng cùng chư vị thần linh phù hộ cho dân làng được nhiều may mắn,nhân khang vật thịnh Đó là đời sống tâm linh, và truyền thống văn hóa lâuđời được gìn giữ thông qua hình thức sinh hoạt văn hóa, thể hiện tín ngưỡngdân gian cổ truyền mang tính cộng cảm sâu sắc
1.2.3.3 Tính thiêng liêng
Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý domang tính “thiêng” nào đó Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngãxuống mảnh đất ấy, lập tức được mối đùn lên thành mộ Đó là nơi một ngườianh hùng bỗng dưng hiển Thánh bay về trời… Cũng có khi lễ hội chỉ hìnhthành nhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ởlĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, cóngười đào mương, có người đánh giặc…) Song, những người đó bao giờcũng được “thiêng hóa” và đã trở thành “thần Thánh” trong tâm trí của ngườidân Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành thần Thánh, không chỉ
Trang 23có thể phù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữabệnh, làm nghề, sản xuất, đánh giặc,… mà còn có thể giúp họ vượt qua nhữngkhó khăn đa dạng hơn, phức tạp hơn của đời sống Chính tính “thiêng” ấy đãtrở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trong những thời điểm khó khăn,cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốt đẹp sẽ đến.
Ví dụ, diễn xướng ba trận đánh giặc Ân trong Hội Gióng, diễn xướng
cờ lau tập trận trong lễ hội Hoa Lư, diễn xướng rước Chúa gái (Mỵ Nương)trong Hội Tản Viên… Chính các diễn xướng mang tính biểu tượng này tạonên không khí linh thiêng, hứng khởi và thăng hoa của lễ hội
Từ xa xưa, đồng bào miền núi phía Bắc, nhất là đồng bào Tày - Nùng,
đã sinh sống gắn bó với tự nhiên, thân thiết với bản làng, núi đồi, ruộng đồng,nương rẫy Cho đến ngày nay, nhiều tập quán và phong tục, nhiều ứng xử vớithế giới chung quanh vẫn còn mang đậm nét truyền thống xưa kia Lễ hộiLồng tồng đã có từ rất lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác trongcộng đồng người dân tộc Tày, Nùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc - TháiNguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và một số tỉnh Tây Bắc
Trang 24Lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng cũng như lễ Xuống đồng củangười Kinh đều mang đậm dấu vết tín ngưỡng phồn thực và thành phần lễ hộisinh động: Chủ lễ vạch một đường cày đầu năm, bắt đầu cho cuộc sống nôngtang, cày bừa, cấy, hái Chọn ngày lành để thực hiện nhằm cầu mưa thuận, gióhoà, dân khang, vật thịnh Sau nghi thức dâng hương kính cáo các vị thần, dânlàng cử ra một người mắc ách vào con trâu mộng vạch một luống cày đầunăm mở đầu cho cuộc sống nhà nông.
Tại Lễ hội, mỗi sản vật được dâng lên cúng trời đất, Thần Nông đềumang một ý nghĩa thể hiện được sự giao hoà của trời đất, là thành quả laođộng của những bàn tay cần cù, chịu khó, chắt chiu làm lụng, thể hiện sự cảm
tạ trời đất, các vị tiền nhân, thánh thần luôn phù hộ, che chở cho nhân dânđược thuận lợi và bội thu trong sản xuất, an khang trong đời sống
Bên cạnh phần lễ, phần hội của lễ hội Lồng tồng đã thực sự tạo nên sựrộn ràng, náo nức, đông vui Đó là các làn điệu dân ca, dân vũ, trò chơi, tròdiễn, thể hiện được đậm chất dân gian truyền thống nhưng vẫn toát lên sựkhỏe khoắn, hiện đại
Đã thành tập tục, sau những ngày vui xuân chấm dứt, một mùa đồngáng lại bắt đầu, các bản người Tày, Nùng lại nhộn nhịp chuẩn bị lễ hội Lồngtồng Từ vài ngày trước hội, các cụ cao niên trong xã đã tổ chức họp bàn,phân công công việc chuẩn bị cho ngày hội Cánh trai trẻ thì chuẩn bị trangphục, giầy dép, các thiếu nữ thì ríu rít rủ nhau ngồi khâu còn, đan yến (để đácầu) và làm bánh trái phục vụ lễ hội
Lễ hội Lồng tồng đã trở thành bức tranh mô tả tương đối toàn diện đờisống văn hóa cộng đồng của tộc người Tày, Nùng ở các tỉnh miền núi phíaBắc; trở thành một nếp sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu được saumột năm làm lụng vất vả trên ruộng đồng của nhân dân vùng cao
Trang 251.4 Vài nét về lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam
Lễ hội Lồng tồng cũng thường gọi là Hội Xuống đồng, là một lễhội mang nét quy tụ những sắc thái văn hóa đặc trưng nhất của của đồngbào dân tộc Tày - Nùng
Được xem là hoạt động tín ngưỡng cầu trời cho mưa thuận gió hòa, câycối tốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm no Nơi tổ chức tại những thửaruộng tốt nhất, to nhất Lễ hội là bản sắc văn hóa có từ lâu đời được lưutruyền từ đời này sang đời khác Là sản phẩm của nền văn minh lúa nước, đãtạo dựng một cách tự nhiên tất yếu của đồng bào dân tộc Tày, Nùng; là sảnphẩm văn hóa trong tập quán sống thành bản quần cư cộng đồng Lễ hội đượcnảy sinh và lưu truyền trong mỗi cộng đồng quy mô theo từng bản Chủ nhâncủa lễ hội là từng hộ gia đình trong cộng đồng Trước ngày hội, các gia đìnhđều quét dọn nhà cửa, bản sạch sẽ, chuẩn bị lương thực để đón khách
Lồng tồng là một lễ hội cầu mùa điển hình của đồng bào đồng bào dântộc Tày, Nùng Đây là lễ hội có từ lâu đời gắn liền với loại hình lao động sảnxuất nông nghiệp được tổ chức nhằm gửi gắm những ước nguyện của conngười, cầu mong cho mưa thuận gió hoà, vạn vật sinh sôi, nhà nhà no đủ Lễhội là nơi để mọi người hưởng thụ và sáng tạo những giá trị văn hoá và tinhthần nhằm đáp ứng và phục vụ những nhu cầu của cuộc sống
Vào ngày hội Lồng tồng, ngoài đồng của các Bản làng, mỗi gia đình tựchuẩn bị một mâm cỗ theo khả năng của mình Mang ý nghĩa phô bày sự khéoléo của người phụ nữ trong việc nội trợ, họ nấu các món ăn truyền thống nhưbánh chưng, chè lam, bánh bỏng Trên mỗi mâm cỗ đều được trang trí mộtchiếc bánh hình bông hoa nhiều màu sắc rất bắt mắt Mỗi mâm cỗ còn cóthêm hai đôi quả còn được làm bằng vải màu, trong nhồi cát, bông, có tua ruanhiều màu sắc sặc sỡ Lễ khấn cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốtđược thực hiện do các Thầy cúng tiến hành Như vậy Lễ hội chỉ thực hiện
Trang 26được khi cộng đồng có Thầy cúng, tùy chức sắc, có thể Thầy cúng hoạt động phạm vi theo cả vùng.
Trong quá trình vận hành xã hội, sự phát triển kinh tế - xã hội theo đinhhướng thị trường hàng hóa đa sắc mầu, phần nào đã phai nhạt nhiều tập quán,bản sắc văn hóa của cộng đồng Trật tự xã hội ở từng cộng đồng đang cónhững biến động phức tạp Tất yếu, trong hệ thống chính trị cần phải quantâm khôi phục, phát huy những nét văn hóa bản sắc Đó là chìa khóa để duytrì, phát triển một trật tự xã hội, là điều kiện, động lực phát triển kinh tế - xãhội và phát huy truyền thống giữ làng – giữ nước của dân tộc Việt Nam Lễhội Lồng tồng phản ánh một hoạt động mang đậm bản sắc văn hoá dântộc, phản ánh hoạt động lao động sản xuất, đời sống văn hoá tinh thần và làbiểu hiện của tinh thần đại đoàn kết dân tộc gắn với phong trào Toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hoá của nhân dân các dân tộc
Ngoài những ý nghĩa mang tính truyền thống kể trên, việc tổ chức lễhội Lồng tồng còn có một ý nghĩa rất riêng, đặc biệt quan trọng đó là tổ chức
lễ hội gắn liền với việc tuyên truyền thúc đẩy phong trào lao động sảnxuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sản xuất tăng vụ, nâng cao giá trị thu nhập
trên một đơn vị diện tích, đồng thời thực hiện chủ trương tổ chức đa dạng,
phong phú các hoạt động văn hoá - nghệ thuật - thể dục thể thao, văn hoá ẩmthực nhằm khai thác và giữ gìn bản sắc văn hoá của đồng bào các dân tộc
Tiểu kết chương 1
Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn cội, nguồn cội tự nhiên haynguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người Lễhội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốcgia dân tộc Họ thờ chung vị thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt quagian khó, giành cuộc sống ấm no, hạnh phúc Lễ hội truyền thống là loại hình
Trang 27sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử.
Lễ hội Lồng tồng là một lễ hội của dân tộc Tày, Nùng cũng là nét quy
tụ những sắc thái văn hóa đặc trưng nhất của các dân tộc như: Dao, Sán Chỉ Được xem là hoạt động tín ngưỡng cầu trời cho mưa thuận gió hòa, cây cốitốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm no Nơi tổ chức tại những ruộng tốtnhất, to nhất Vẫn chưa có tài liệu nào nghiên cứu, khẳng định lễ hội này có từbao giờ Nhưng chắc chắn rằng, khởi nguồn của lễ hội phải được sinh ra từ xãhội của người Tày, Nùng khi đã sống thành làng bản quần cư trong cộngđồng
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM LỄ HỘI LỒNG TỒNG CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC
2.1 Đối tượng thờ phụng
Nói đến lễ hội Lồng tồng trước hết phải kể đến tục thờ thần Thánh như:Thờ Thổ thần (đây là vị thần bảo vệ, che chở cho cộng đồng dân bản); thờThành hoàng của người Tày, Nùng ở đình (đây là vị thần quản lý địa phậnlãnh thổ của bản, làng hay xã trên một khu vực rộng lớn; nơi ngụ cư của nhiềudòng họ trong không gian đất đai, núi sông) Theo tín ngưỡng của người Tày,Nùng, bản làng là nơi “sống gửi hồn, chết gửi xương”, có tác động mạnh mẽđến sự an cư của con người và súc vật; bởi vậy, dân làng phải thờ Thànhhoàng
Mặt khác, thờ Thành hoàng còn xuất phát từ quan niệm của họ, muốnlạc nghiệp phải cầu trời phù hộ cho mưa thuận, gió hòa, dân bản khỏe mạnh,thóc lúa đầy bồ, đầy kho, gia súc phát triển Ngoài ra thờ Thần Thành hoàngcòn để tưởng nhớ người có công khai sơn, phá thạch, lập làng bản
2.2 Thời gian và không gian tổ chức lễ hội
2.2.1 Thời gian tổ chức
Hằng năm, cứ vào dịp sau tết Nguyên Đán là ở khắp các bản làng củangười Tày, người Nùng lại nô nức chờ đón những ngày hội rộn ràng của lễhội Lồng tồng Nó được tổ chức với ý nghĩa lớn lao và cầu mưa thuận gióhòa, cầu cho một vụ mùa bội thu sẽ đến với người nông dân miền núi Tínngưỡng dân gian này là một nét đẹp văn hóa, lưa giữ những giá trị truyềnthống tốt đẹo của các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta Lễ hội Lồng tồngthường được tổ chức vào khoảng từ ngày mồng 4 tới mồng 10, sau dịp Tết.Tùy theo phong tục của từng dân tộc mà nó được tổ chức vào những ngày
khác nhau, nhưng thời gian chủ yếu cùng được kéo dài trong 3 ngày.