1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát các bản dịch nôm chinh phụ ngâm khúc và hướng tiếp cận trong nhà trường phổ thông (2017)

70 238 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tập Giảng văn Chinh phụ ngâm xuất bản ở Thanh Hoá năm 1950, Giáo sư Đặng Thai Mai có viết: “Sự thực, thì hai trăm năm sau khi tập Chinh phụ ngâm đã được viết bằng chữ Hán và phu di

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ THANH VÂN

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu hoàn thành khóa luận, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2 Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô, đặc biệt làgiảng viên, TS Nguyễn Thị Thanh Vân, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốtthời gian qua

Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng gópcủa các bạn trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Với đề tàitrên, chắc chắn tôi không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu Vìvậy, tôi rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Phạm Thị Hường

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thanh Vân cùngcác thầy cô giáo khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là thànhquả của riêng tôi, nó không trùng với bất cứ một công trình nào đã được công bốtrước đó Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Phạm Thị Hường

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của khóa luận 6

7 Kết cấu khóa luận 6

B NỘI DUNG 7

Chương 1 DỊCH GIẢ BẢN DỊCH NÔM CHINH PHỤ NGÂM KHÚC HIỆN HÀNH 7

1.1 Vài nét về tác giả, dịch giả 7

1.1.1 Tác giả Đặng Trần Côn 7

1.1.2 Dịch giả Đoàn Thị Điểm 7

1.1.3 Dịch giả Phan Huy Ích 8

1.2 Kiến giải dịch giả bản dịch Nôm hiện hành 9

1.2.1 Những kiến giải Chinh phụ ngâm diễn Nôm là của Phan Huy Ích 9

1.2.2 Những kiến giải Chinh phụ ngâm diễn Nôm là của Đoàn Thị Điểm 12

1.3 Tiểu kết chương một 27

Chương 2 KHẢO SÁT CÁC BẢN DỊCH NÔM VÀ DỊ BẢN 28

2.1 Các dị bản tồn tại 28

2.2 Căn cứ để xác định văn bản cơ sở 30

2.3 Khảo sát văn bản Nôm 31

2.3.1 So sánh đối chiếu văn bản Nôm với các dị bản 31

2.3.2 Căn cứ để phân tích và phiên âm chữ Nôm 45

2.4 Các từ láy, từ ghép chữ Nôm trong bảng 1 46

2.5 Tiểu kết chương hai 47

Chương 3 HƯỚNG TIẾP CẬN TÁC PHẨM TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG 49

Trang 6

3.1 Thực trạng giảng dạy tác phẩm trong nhà trường THPT 50

3.2 Tiếp cận tác phẩm từ đặc trưng thể loại 51

3.2.1 Khái niệm 51

3.2.2 Phương hướng tiếp cận trích đoạn ngâm khúc Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ theo đặc trưng thể loại 51

3.2.3 Xác định nội dung và cách thức tiếp cận 52

3.2.4 Xác định kiến thức cơ bản 53

3.3 Tiếp cận bài học từ nguyên tác chữ Hán và bản dịch Nôm khác 56

3.3.1 Tiếp cận bài học từ nguyên tác chữ Hán 56

3.3.2 Tiếp cận tác phẩm từ một số bản dịch Nôm khác 59

3.4 Tiểu kết chương ba 59

C KẾT LUẬN 61

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

trong đó phải kể đến tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc do Đặng Trần Công sáng tác

bằng Hán văn Tác phẩm của ông vừa ra đời đã được người đương thời ca tụng,coi là “tiếng oán ghét chung của nhân dân” chống chiến tranh phi nghĩa Sách

Tang thương ngẫu lục viết về bản ngâm khúc của Đặng Trần Côn như sau: “Khi

làm xong bản ngâm khúc, Đặng Trần Côn có đưa cho Ngô Thời Sĩ xem Ngô Thời

Sĩ thán phục mà rằng: “Văn thế này thì áp đảo lão Ngô này” Về bản ngâm khúcnày, Phan Huy Chú cũng viết: “Lời ý lâm li, khác lạ, làm khoái trá miệng người”

Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn đã được diễn ra Quốc âm Các bản

dịch này được viết tay hoặc khắc in nhiều lần Chúng tôi thống kê được bảy bảndiễn Nôm, trong đó ba bản theo thể lục bát và bốn bản theo thể song thất lục Bảndịch được lưu truyền rộng rãi tương truyền là của Đoàn Thị Điểm, tiếp đó lại có ýkiến cho rằng Phan Huy Ích mới là tác giả của bản dịch Hiện nay rất nhiều nhànghiên cứu, các ý kiến nêu ra xung quanh vấn đề này, những phân tích, nghiên cứucủa ai là đúng khi nhận xét về tác giả của bản diễn Nôm vẫn là một câu hỏi lớn gầnmột thế kỉ qua Chúng tôi đã tìm hiểu, khảo sát tài liệu, phân tích, chứng minh vàđưa ra ý kiến của riêng mình về tác giả của bản dịch Nôm được lưu truyền rộng rãi

Đối với tác phẩm Chinh phụ ngâm, từ trước đến nay đã có rất nhiều bài viết

và những công trình nghiên cứu, những bài nghiên cứu này đã phần nào giải quyếtđược những thắc mắc, cũng như những nghi vấn văn chương xung quanh tác phẩm.Chẳng hạn như:

Tác phẩm Chinh phụ ngâm được diễn Nôm như thế nào?

Chữ Nôm được sử dụng để cấu thành nên văn bản ra sao?

Vấn đề khác nhau của các chữ Nôm trong các dị bản được thể hiện như thếnào?

Trang 8

Ngoài bản diễn Nôm được lưu truyền rộng rãi thì còn những sáng tác nào nữa?Đặc biệt đây là một tác phẩm ngâm khúc được lựa chọn giảng dạy ở SGK Ngữvăn lớp 10 tập 2 (cả hai bộ cơ bản và nâng cao) Đó là một tác phẩm có giá trịnhưng cho đến nay vẫn có nhiều cách hiểu và đánh giá khác nhau về bản dịch.

Vì những lẽ trên mà chúng tôi đã chọn đề tài khóa luận là “Khảo sát các bảndịch Nôm Chinh phụ ngâm khúc và hướng tiếp cận trong nhà trường phổ thông”.Chúng tôi mong muốn giải đáp phần nào những thắc mắc trên, cố gắng khai thácnhững giá trị văn học mà các dịch giả gửi gắm trong tác phẩm Đồng thời, với việc

sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, đưa ra những nhận định,đánh giá có sức thuyết phục, nhằm giải quyết những vấn đề liên quan để từ đó đưa

ra hướng tiếp cận cho học sinh ở nhà trường phổ thông

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Liên quan đến đề tài “Khảo sát các bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm khúc vàhướng tiếp cận ở nhà trường phổ thông” mà chúng tôi đã chọn, có các bài viết vàcác công trình nghiên cứu sau đây:

Trong bài tựa cuốn Chinh phụ ngâm khúc in năm 1902, Vũ Hoạt viết: “Nhớ

xưa, Đặng Tiên sinh làm ra sách ấy, Đoàn phu nhân diễn ra quốc âm” Từ đó có thể

thấy mọi người cho rằng bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm.

Năm 1929, Nguyễn Đỗ Mục trong Chinh phụ ngâm khúc dẫn giải đã viết:

“Khúc ngâm này chẳng những đáng quý về phương diện văn chương mà còn đángquý về phương diện luận lý nữa… Một người đàn bà trong khi vắng chồng hàng baonhiêu năm vẫn giữ trọn được bổn phận như thế phỏng là cái gương quý báu đangsoi ở cõi Á Đông này” [11, 155] Tác giả cho rằng Đoàn Thị Điểm là người đã diễn

ra quốc văn tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn bằng Hán văn.

Trong tập Giảng văn Chinh phụ ngâm xuất bản ở Thanh Hoá năm 1950, Giáo

sư Đặng Thai Mai có viết: “Sự thực, thì hai trăm năm sau khi tập Chinh phụ

ngâm đã được viết bằng chữ Hán và phu diễn vào trong hình thức Việt văn của nó,

người ta chỉ biết có một bài chinh phụ, người ta chỉ nhớ đến một khúc ngâm chinh

phụ: ấy là Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm”.

Trang 9

Năm 1968, Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu cũng đã viết:

“Bao nhiêu tâm sự của một người phụ nữ vắng chồng mà biết thủ tiết được tả rõ cả

ra” [11, 8]

Báo Nam phong số 106 tháng 6 năm 1926 có đăng một bài nhan đề Phan Dụ

Am tiên sinh văn tập của ông Đông Châu Trong bài đó, tác giả có viết: “Chinh

phụ ngâm khúc bấy lâu nay ta vẫn truyền là bà Điểm diễn Nôm, dễ thường khôngphải, mà chính là của cụ Phan Huy Ích diễn ra đó chăng?”

Năm 1943, Hoa Bằng trên tạp chí Tri tân số 113 với bài “Dịch phẩm Chinh

phụ ngâm phải chăng của bà Đoàn Thị Điểm?” Bài báo đã dựa vào ba tài liệu chủ

yếu: Lịch triều hiến chương loại chí, Tang thương ngẫu lục và Đoàn thị thực lục.

Cả ba bộ sách đều không đưa ra được hướng giải quyết Cuối cùng Hoa Bằng chỉ

xác nhận một điều là: Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích đều có dịch Chinh phụ

ngâm khúc Còn bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là của ai thì chưa giải quyết

được thấu đáo Hoa Bằng kết luận: “Trong khi chưa đủ chứng cớ mà phán đoán cái

án văn học này vì chưa tìm được những nguồn chắc chắn để giải quyết bản

dịch Chinh phụ ngâm hiện hành là của bà Đoàn Thị Điểm, thì thiết tưởng nên đề

chữ “khuyết danh” ở bản dịch”

Đến năm 1953, Hoàng Xuân Hãn trong Chinh phụ ngâm bị khảo, xuất bản tại Paris, sưu tầm bốn bản Chinh phụ ngâm khúc khác nhau và một số bản phỏng tác khác Trên cơ sở bốn bản Chinh phụ ngâm khúc này, ông đã thống kê, phân tích và

đi đến kết luận rằng: bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là bản của Phan Huy Ích.

Lại Ngọc Cang trong Chinh phụ ngâm cũng đồng quan điểm với Hoàng Xuân Hãn cho rằng Chinh phụ ngâm diễn Nôm hiện hành là của Phan Huy Ích.

Năm 1972, G.S Nguyễn Văn Xuân mới tìm được ở Huế bản Nôm Tân san

chinh phụ ngâm diễn âm từ khúc, bắt nguồn từ một bản Nôm cổ in năm Gia Long

14 Bản Nôm này cơ bản phù hợp với nguyên tác mà Hoàng Xuân Hãn cho là củaPhan Huy Ích

Những bài viết, tác phẩm và các công trình nghiên cứu liên quan đến hai dịchgiả Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích không phải là ít, nhưng những vấn đề liên

Trang 10

quan đến các bản dịch Nôm nói chung không phải là nhiều Những vấn đề đó đượcđánh giá hết sức lẻ tẻ, rời rạc và chủ yếu dưới cái nhìn khái quát chung, mà chưađược đi sâu nghiên cứu một cách rõ ràng cụ thể từng bản dịch.

Trên cơ sở những vấn đề liên quan đến tác giả Đặng Trần Côn, tác phẩm

Chinh phụ ngâm khúc, hai dịch giả Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích cùng với những

tư liệu quý báu mà chúng tôi đã thu thập được sẽ là những căn cứ giúp chúng tôi cóđược những định hướng đúng đắn, để đưa ra những kết luận đảm bảo mang tínhchính xác và khoa học nhất trong quá trình nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

Từ trước đến nay, việc nghiên cứu, khảo sát các bản dịch Chinh phụ ngâm

khúc mới chỉ xuất hiện trên các tác phẩm đơn lẻ và cũng chưa đi đến sự thống nhất.

Bởi vậy, mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là thông qua quá trình khảo sátcác bản dịch Nôm tiêu biểu, nghiên cứu tìm hiểu tài năng văn chương, óc sáng tạonghệ thuật và những giá trị qua các bản dịch đó Cùng với việc nghiên cứu văn bảnNôm từ đặc điểm thể loại, phân tích chữ Nôm trong những bản dịch khác nhau, từ

đó đưa ra những phương pháp, định hướng có tính quy luật, tạo lập những cơ sở nềntảng cho hướng tiếp cận các văn bản chữ Hán, cũng như các văn bản chữ Nôm chohọc sinh trong nhà trường phổ thông Hiện nay học sinh trong nhà trường phổ thôngchỉ được tiếp cận với văn bản bằng chữ quốc ngữ, chưa được tiếp cận với văn bảnchữ Hán của Đặng Trần Côn và văn bản chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm hay PhanHuy Ích

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Để thực hiện đề tài “Khảo sát các bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm khúc vàhướng tiếp cận trong nhà trường phổ thông”, đối tượng nghiên cứu của khóa luận làcác tư liệu trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến các bản dịch Nôm và dị bản, mà ởđây chúng tôi đã chọn ba bản dịch tiêu biểu:

a, Bản trong cuốn Chinh phụ ngâm khúc, Đặng Trần Côn- Đoàn Thị Điểm do

Tôn Thất Lương dẫn giải và chú thích, được xuất bản bởi Nhà xuất bản Tân Việt,

Trang 11

Sài Gòn, năm 1953 Bản này được lưu tại Thư viện Khoa học xã hội, kí hiệu OCTO

23073, độ dày 170 trang Đây là bản đã được nghiên cứu nghiêng về giả thiết người

diễn Nôm Chinh phụ ngâm quốc âm của Đoàn Thị Điểm, không phải của Phan

Huy Ích Chúng tôi chọn bản này là bản chính và kí hiệu là bản A để tiến hành phântích, so sánh, đối chiếu với một số dị bản tiêu biểu khác

b, Bản Chinh phụ ngâm bị lục- Nhà xuất bản Liễu Văn đường tàng bản, kích

thước 25 x 13 cm, 34 trang, kiểu in: khắc in, tại thư viện Quốc gia Việt Nam Kíhiệu là bản B Do điều kiện hạn chế vì đó là bản khắc in gỗ nên chúng tôi sử dụng

bản chép lại trong cuốn Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp tuyển, nhà xuất bản Thuận

Hóa, năm 2000 Hiện nay bản này được lưu giữ tại Thư viện trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2, kí hiệu KĐ 575, độ dày 244 trang

c, Bản Chinh phụ ngâm diễn âm từ khúc chép tay in trong Tổng tập Văn học

Việt Nam, tập 13B, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1997, được kí hiệu

là bản C

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài “Khảo sát các bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm khúc và hướngtiếp cận trong nhà trường phổ thông”, việc nghiên cứu văn bản chủ yếu tiến hànhtrong ba bản dịch nêu trên Trọng điểm của khóa luận là đi sâu khai thác, đưa ranhững chứng minh về dịch giả bản diễn Nôm hiện hành Những phân tích, thống kê,

so sánh để từ đó thấy được các dị bản, cấu tạo các chữ, những vấn đề liên quan đến

ba bản dịch Mặt khác, chúng tôi cũng tìm hiểu hướng tiếp cận văn bản ở nhàtrường phổ thông để từ đó rút ra cái nhìn tổng quát nhất

5 Phương pháp nghiên cứu

Những phương pháp cùng những thao tác nghiên cứu chính được sử dụng trongkhoá luận là:

5.1 Phương pháp văn bản học Hán Nôm

Phương pháp Văn bản học Hán Nôm là phương pháp xác định tình trạng vănbản, xác định thiện bản, các bản sao, bản in, giấy in, màu mực thể chữ, kĩ thuật,,bảo tàng, kí hiệu, xác định tác giả và niên đại ra đời của tác phẩm

Trang 12

5.2 Phương pháp phân tích ngữ văn học

Phương pháp phân tích ngữ văn học là phương pháp xem xét hoàn cảnh ra đờicủa tác phẩm, những giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật mà tác phẩm hàm chứa

5.3 Phương pháp thống kê

Phương pháp thống kê là đem những sự vật cùng trong một phạm vi tập hợp lại,sau đó phân tích chúng xem loại nào cùng một tính chất, hình thức, thể loại, cùngthể hiện một nội dung cần miêu tả

5.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Chúng tôi tiến hành so sánh ba bản dịch được nêu rõ ở phần 4.1, đối chiếu giữa

ba bản dịch để tìm ra những chữ dị bản khác nhau

5.5 Phương pháp phân tích lịch sử

Sự xuất hiện của tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc và thể loại ngâm khúc gắn

liền với một giai đoạn văn học, một hoàn cảnh xã hội cụ thể Việc vận dụng phươngpháp lịch sử để nghiên cứu giúp chúng tôi xác định một cách đúng đắn, vị trí vai trò

và những đóng góp của hai bản dịch trong nền văn học nước nhà Tuy trình bày táchbạch các phương pháp và thao tác nghiên cứu như trên, nhưng trong thực tế, chúngthường có mối liên hệ chặt chẽ khăng khít và hỗ trợ cho nhau Vì vậy khoá luận sẽvận dụng chúng một cách tổng hợp

6 Đóng góp của khóa luận

Tìm hiểu những vấn đề liên quan đến hai dịch giả được coi là dịch giả của bảndiễn Nôm hiện hành là Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích Đó là những phân tích,chứng minh về bản quyền tác giả bản dịch Nôm hiện hành

Cùng với việc nghiên cứu, phân tích ba bản dịch Nôm; khóa luận bước đầu đisâu phân tích được cấu tạo chữ Nôm, so sánh đối chiếu giữa ba bản dịch Nôm Tạo

cơ sở đi sâu nghiên cứu tác phẩm về cả hai mặt nguyên tác và bản dịch từ đó đề rahướng tiếp cận văn bản cho học sinh trong nhà trường phổ thông

7 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Nội dung khoá luận gồm 3 chương:

Chương 1: Dịch giả bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm khúc hiện hành

Chương 2: Khảo sát các bản dịch Nôm và dị bản

Chương 3: Hướng tiếp cận tác phẩm trong nhà trường phổ thông

Trang 13

B NỘI DUNG

Chương 1 DỊCH GIẢ BẢN DỊCH NÔM CHINH PHỤ NGÂM KHÚC

HIỆN HÀNH 1.1 Vài nét về tác giả, dịch giả

1.1.1 Tác giả Đặng Trần Côn

Đặng Trần Côn không rõ năm sinh và năm mất, ông sống vào nửa đầu thế kỉthứ XVIII Quê ở làng Nhân Mục (tục gọi là làng Mọc), huyện Thanh Trì, tỉnh HàĐông, nay thuộc ngoại thành Hà Nội

Thuở nhỏ ông nổi tiếng là người ham học, đi thi đỗ Hương cống nhưng lạihỏng kì thi Hội Ông được bổ làm Huấn đạo trường phủ, sau đó được ngạch chínhthức đổi làm tri huyện Thanh Oai (Hà Đông) rồi thăng chức Ngự Sử đài chiếu khám

ở kinh đô

Đặng Trần Côn viết tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc vào khoảng từ năm 1742 – 1748 Theo sách Tang thương ngẫu lục thì ông mất sau đó khoảng ba năm Thời điểm Đặng Trần Côn sáng tác Chinh phụ ngâm khúc, có thể thấy được thời Đặng

Trần Côn là thời chế độ phong kiến Việt Nam đang khủng hoảng trầm trọng Hậuquả cuộc nội chiến giữa họ Trịnh và họ Nguyễn bắt đầu từ năm 1627 đã làm chonhân dân Việt Nam vô cùng đau khổ Chính sách tàn ác của các chúa Trịnh, đặc biệt

là Trịnh Giang làm cho nhân dân Đàng ngoài đã điêu đứng lại càng thêm điêu đứng

Thi nhân Đặng Trần Côn đã chứng kiến cảnh đất nước với nội chiến liênmiên Ông đã thổ lộ một cách tài tình nỗi lo âu của mình, cũng như của rất nhiều

quần chúng nhân dân vào tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc Vì vậy tác phẩm của ông

sau khi ra đời đã được người đương thời ca tụng, coi đó là tiếng oán ghét chung củanhân dân chống chiến tranh phi chính nghĩa dai dẳng làm đổ nát đất nước, mang lạinhiều đau khổ cho nhân dân

1.1.2 Dịch giả Đoàn Thị Điểm

Đoàn Thị Điểm (1705- 1746), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ Quê bà ở làng HiếnPhạm – hay còn gọi là Giai Phạm – tên Nôm là làng Giữa, huyện Văn Giang, naythuộc tỉnh Hưng Yên Đoàn Thị Điểm là con của Đoàn Doãn Nghi và Võ thị, em

Trang 14

danh sĩ Đoàn Doãn Luân Đoàn Thị Điểm dù là con gái nhưng được gia đình nângniu, nên ngay từ nhỏ Đoàn Thị Điểm đã được cha và anh dạy cho học Bên cạnh đó,lại được bà và mẹ dạy cho may vá, thêu thùa, nấu nướng cho nên có thể nói, bà làmột người không chỉ có nhan sắc mà còn đầy đủ những phẩm chất công - dung -ngôn - hạnh Gia phả cho biết bà học rất thông minh, “miệng nói ra là thành vănchương và làm việc gì cũng có phép tắc” Nhất là hiếu hạnh và nữ công của bà thì

cả vùng đều biết tiếng

Hoàn cảnh đất nước thời Đoàn Thị Điểm sinh sống ở phường Bích Câu, ThăngLong, tình hình đất nước còn đỡ rối ren, nhưng từ những năm ba mươi của thế kỷXVIII trở đi, cụ thể là sau khi Trịnh Giang nắm quyền binh, đất nước lâm vào cảnhrối ren Người tài nữ họ Đoàn không cam tâm để cho bi lụy xoay vần Ngoài việcgiúp đỡ mẹ già và chị dâu về nhà cửa bếp nước, cô Điểm còn giảng sách, chấm bàicho học trò của anh trai những khi Doãn Luân đau ốm Chính trong thời gian này,Đoàn Thị Điểm xem rất nhiều sách, từ Hán đến Nôm, của cả phương Bắc, phươngNam, hầu như những loại sách nổi tiếng bà đều đọc qua Và cũng trong thời gian

này, cô bắt đầu sáng tác các câu truyện dài hơn của mình như Truyền kỳ tân phả hay

là Truyền kỳ ký ra đời

Bà lấy chồng là Tiến Sĩ Nguyễn Kiều, từng đi sứ nhà Thanh Trong nhữngnăm vắng chồng, Đoàn Thị Điểm sống chẳng khác gì người “Chinh phụ”, và có lẽ

sống trong khoảng thời gian này (1743 - 1745), bà đã dịch tác phẩm Chinh phụ

ngâm khúc bằng Hán văn của Đặng Trần Côn ra Quốc âm.

Tâm tình ấy, cảnh vật ấy đã giúp cho bà thêm rung động trong khi cầm bútdịch thơ Sống trong thời điểm đất nước loạn lạc, chiến tranh liên miên, cuộc sốngđói nghèo Bản thân Đoàn Thị Điểm cũng chịu nỗi cơ cực ấy, nên bà đã thấu hiểunhững gì mà Đặng Trần Côn gửi gắm trong tác phẩm

1.1.3 Dịch giả Phan Huy Ích

Phan Huy Ích (1750- 1822), tổ tiên họ Phan vốn ở làng Thu Hoạch, huyệnThôn Lộc, tỉnh Nghệ An (nay là làng Hữu Phương huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh),sau dời đến ở làng Thụy Khuê, tổng Lật Sài, Phu Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây

Trang 15

Cha là Phan Huy Cẩn đỗ tiến sĩ phong tước Khuê phong Phan Huy Ích là conđầu nguyên tên là Phan Công Huệ, lúc đi thi kiêng húy bà Chúa Chè Đặng ThịHuệ nên phải đổi là Phan Huy Ích, hiệu là Dụ Am đỗ hương cống trường Nghệ Annăm 22 tuổi (1771) Năm 26 tuổi đỗ Tiến sĩ.

Ông giữ nhiều chức quan, cũng đã từng làm tán lí việc Quận Thanh Nghệ đểchống Nguyễn Hữu Chỉnh rồi bị thương, bị bắt, Chỉnh bổ ông làm quan Cho tớikhi Vũ Văn Nhậm ra giết chỉnh thì ông phải ẩn lánh

Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc giết Nhậm, ông được tra chức thị lang bộ Hìnhrồi đưa ra Bắc Thành Khi Chiêu Thống theo Tôn Sĩ Nghị về, ông bị xóa tên ở sổtiến sĩ bị tầm nã Quang Trung đuổi được Thanh (1789), ông được triệu ra ThăngLong, cùng Ngô Thời Nhậm, lo việc từ chương giao thiệp với Phúc Khang Antổng đốc Lưỡng Quảng

Sau đó, Phan Huy Ích mở trường dạy học Năm 1816, ông dạy ở nhà Lê Chấttổng trấn Bắc thành cho tới năm 1819, 70 tuổi ông mới về làng an dưỡng Ông mấtngày 20 tháng 2 âm lịch (1822), thọ 73 tuổi

Tác phẩm của Phan Huy Ích hiện nay còn lại hai tập Dụ am ngâm lục và Dụ

am văn tập Bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc được tương truyền rộng rãi hiện

nay theo một số nhà nghiên cứu cho là của Phan Huy Ích

1.2 Kiến giải dịch giả bản dịch Nôm hiện hành

Từ lâu vấn đề dịch giả Chinh phụ ngâm khúc vẫn còn nhiều tranh luận và chưa

đi đến hồi kết Ai mới thực sự là dịch giả của bản dịch Nôm hiện hành? Câu hỏitrên đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra phân tích, chứng minh Chúng ta có thểthấy như sau:

1.2.1 Những kiến giải Chinh phụ ngâm diễn Nôm là của Phan Huy Ích

Vấn đề dịch giả của bản Chinh phụ ngâm hiện hành được các vị học giả, các

nhà khảo cứu quan tâm từ năm 1926 Phan Huy Chiêm là chắt năm đời của Tiến

sĩ Phan Huy Ích có viết cho Đông châu Nguyễn Hữu Tiến một bức thư nói rằngtheo tộc phả họ Phan Huy cùng lời các bô lão họ ấy truyền lại thì bản dịch hiệnhành là do Phan Huy Ích "diễn ra văn nôm hiện giờ (năm 1926) còn giữ được bản

Trang 16

chính vừa chữ vừa nôm" Phan Huy Chiêm còn đưa ra bài thơ chữ Hán Ngẫu thuật của Phan Huy Ích sáng tác sau khi hoàn thành bản dịch nôm Chinh phụ ngâm khúc.

Nguyễn Hữu Tiến là người đầu tiên nêu lên mối nghi ngờ về dịch giả cuốn sách

Chinh phụ ngâm khúc mà bấy lâu nay vẫn truyền là của bà Đoàn Thị Điểm diễn

nôm dễ thường không phải, mà chính là của cụ Phan Huy Ích diễn ra đó chăng?

Tiếp đó, Hoàng Xuân Hãn xuất bản cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, ông chỉnh lí bản Chinh phụ ngâm hiện hành thành một bản gọi là bản A, và cho

rằng người dịch bản A đó là Phan Huy Ích Đồng thời Hoàng Xuân Hãn cũng giớithiệu thêm mấy bản dịch khác Trong đó, ông cho bản B là của Đoàn Thị Điểm, cònbản C là của Nguyễn Khản Nhưng tất cả các bản A, B, C, đó đều chỉ in Quốc ngữ

Nguyễn Văn Dương đã cho xuất bản cuốn sách được nghiên cứu kì công Thử

giải quyết vấn đề diễn giả Chinh Phụ Ngâm, chính là tìm hiểu sự phát triển của thể

văn song thất lục bát và trình độ nghệ thuật diễn ca của bốn bài Chinh phụ ngâm mà

Hoàng Xuân Hãn sưu tập được Tác giả đi đến kết luận: bài A (tức bài diễn ca quenthuộc lâu nay) thừa hưởng các ưu điểm gặt hái được qua quá trình tiến hóa của thểloại song thất lục bát, đồng thời cũng đạt được nhiều nhất những tiến bộ về mặtnghệ thuật diễn ca so với các bài khác Cả hai luận cứ đều cho thấy bài diễn ca haynhất là bài ra đời muộn hơn cả, và chỉ có thể là của người sinh sau đẻ muộn - tứcPhan Huy Ích; còn bài B là bài ra đời sớm nhất, chỉ có thể là của một người thuộclớp lão tiền bối - tức có thể của bà Đoàn Thị Điểm

Chinh phụ ngâm diễn Nôm hiện hành là của Phan Huy Ích và đăng Lại Ngọc

Cang trong Chinh phụ ngâm, đưa ra Chinh phụ ngâm cả Hán văn và Diễn Nôm, chứng minh ý kiến của Hoàng Xuân Hãn rằng tải nhiều tập diễn nôm Chinh phụ

ngâm trong đó có tập của Phan Huy Ích và tập của Đoàn Thị Điểm do Hoàng Xuân

Hãn sưu tầm và đăng trong Chinh phụ ngâm bị khảo trước đây Tập diễn Nôm được

cho là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm có nhiều từ cổ hơn bản hiện hành và cách ngắtđoạn trong các câu song thất lục bát cũng cổ hơn, trúc trắc hơn bản của Phan HuyÍch

Trang 17

Năm 1972, Nguyễn Văn Xuân tìm được ở Huế bản Nôm Tân san chinh phụ

ngâm diễn âm từ khúc, bắt nguồn từ một bản Nôm cổ in năm Gia Long 14 Bản

Nôm này cơ bản phù hợp với nguyên tác của bản mà Hoàng Xuân Hãn cho là của

Phan Huy Ích Trong bài tựa cuốn Chinh Phụ Ngâm diễn âm tân khúc của Phan Huy

Ích, Nguyễn Văn Xuân có viết: “Sự hiện diện của tài liệu này là một xác cứ có tầmquan trọng đối với văn học sử Việt Nam:

Cho biết tác giả đích thật của khúc ngâm lừng lẫy đã được ấn hành nhiều lần,dịch nhiều thứ tiếng: không phải Đoàn Thị Điểm mà là của Phan Huy Ích

Tên của tác phẩm không phải Chinh phụ ngâm khúc mà là Chinh phụ ngâm

diễn âm tân khúc.

Tìm được thời điểm diễn dịch: mùa xuân năm Giáp Tý (1804) ấn bản lần sau(1815, Gia Long thứ 14)

Tìm được gần đúng thoại của tác giả, tương đối ít bị sửa chữa so với chính bảncủa Phan Huy Chiêm đã gửi cho Hoàng Xuân Hãn Do đó cũng rõ ràng thêm đượcnhiều điều cần biết về tác giả và tác phẩm

Từ đây có thể thấy phần nào rõ ràng những tranh luận khởi đầu từ Nam Phong

số 106, năm 1926 khi Đông Châu công bố thư của ông Phan Huy Chiêm gián tiếpđòi quyền tác giả cho tổ tiên mình

Quan niệm mà Nguyễn Văn Trung xem như đại diện cho đa số các nhà nghiêncứu trẻ khi ông tuyên bố: “Nhưng nhìn vào tình trạng văn liệu ở Việt Nam về tácgiả, tác phẩm thời đại thời điểm sáng tác người ta không khỏi đau lòng nhận thấy:

Hoặc là chẳng có tài liệu gì, và vĩnh viễn chắc không tìm ra được”.

Về bản dịch được tìm thấy ở Huế của Nguyễn Văn Xuân qua việc nghiên cứu

về kị húy Nguyễn Tài Cẩn trong bài viết Bàn thêm về bản Chinh Phụ Ngâm tìm

được ở Huế năm 1972 công bố trên VĂN HÓA NGHỆ AN, số 110, ngày

10.10.2007, ông đã đưa ra ba ý kiến như sau:

“Khác với G.S Lê Hữu Mục, chúng tôi đồng ý với nhiều người rằng bản G.S.Nguyễn Văn Xuân tìm thấy vẫn là một bản sơ thảo của Phan Huy Ích, vì không cóvết tích gì về kị huý Lê Trịnh ; mà trái lại, nó đã rất sợ trái với Gia Long Và khác

Trang 18

với G.S Hoàng Xuân Hãn, chúng tôi cho rằng bản B có lẽ là bản của Nguyễn Khản;bản C mới có lẽ là bản của nữ thi sĩ họ Đoàn.

Chúng tôi lại có ý nghĩ: văn chương là một địa hạt luôn luôn hiện đại hoá: vínhư thế hệ cha chú chúng tôi thì chỉ biết Tản Đà; thế hệ chúng tôi thì chuyển sang

mê thơ mới tiền chiến; còn về sau thì thơ mới tiền chiến cũng đã nhường chỗ chonhững khuynh hướng khác phù hợp với các thế hệ sau hơn”

Đoàn Xuân Kiên với bài viết Trước những tình huống khó xử trong văn học

Việt Nam cũng đưa ra những phân tích nhận định theo hướng phong cách tác giả

cho rằng bản dịch phổ thông hay bản A theo cách đặt tên của GS Hoàng XuânHãn là của Phan Huy Ích [21]

Về cơ bản đó là những nghiên cứu nghiêng về hướng bản A hay bản dịch hiệnhành là của dịch giả Phan Huy Ích

1.2.2 Những kiến giải Chinh phụ ngâm diễn Nôm là của Đoàn Thị Điểm

Trong bài tựa cuốn Chinh phụ ngâm khúc in năm 1902, Vũ Hoạt viết: “ Nhớ

xưa, Đặng Tiên sinh làm ra sách ấy, Đoàn phu nhân diễn ra quốc âm” Từ đó bản

Chinh phụ ngâm hiện hành được coi là của Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm.

Sau đó, Thuần Phong Ngô Văn Phát, giáo sư Dương Quảng Hàm trong Việt

Nam học sử yếu và Nguyễn Đỗ Mục trong Chinh phụ ngâm dẫn giải, Đặng Thái

Mai trong Giảng văn Chinh phụ ngâm cũng khẳng định bản Chinh phụ ngâm hiện

hành là của Đoàn Thị Điểm

Điểm thứ nhất chúng ta có thể nhắc đến nhận xét giá trị của tác giả Thuần

Phong, trong cuốn Chinh phụ ngâm khúc giảng luận Thuần Phong thấy có hai áng văn chịu ảnh hưởng sâu xa của bản Chinh phụ ngâm khúc được truyền tụng: bài hát nói Gánh gạo đưa chồng của Nguyễn Công Trứ và bài Ai Tư Vãn của Ngọc

Hân công chúa khóc vua Quang Trung

Trích dẫn một số phân tích của Thuần Phong đã nêu lên những chỗ tương tự,

giữa bài hát nói Gánh gạo đưa chồng của Nguyễn Công Trứ và Chinh phụ ngâm

khúc diễn Nôm như sau:

Trang 19

Gánh gạo đưa chồng Chinh phụ ngâm

Trông bóng nhạn bâng khuâng từng

bước.

Thấy nhạn luống tưởng như phong.

(câu 179) Dạo hiên vắng, thầm reo từng bước.

(câu 105) Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.

(câu 210) Chữ Đồng hưu bia để nghìn đồng.

(câu 390) Hiển vinh, thiếp cũng đượm chung hương trời (câu 392)

Thiếp thì giữ mãi màu mè trẻ trung.

(câu 368) Giữ gìn nhau vui thủa thanh bình.

(câu 368) Ngâm nga mong giữ chữ tình.

Yêu nhau khắng khích giải đồng.

Phan Huy Ích (1750- 1822) và Nguyễn Công Trứ (1778- 1858) là hai nhà văn cùngsống dưới triều đại Tây Sơn và Gia Long, không quen biết nhau Nguyễn Công Trứ

là một thi nhân lỗi lạc, lòng tự trọng không thể để ông vay từ mượn ý của ngườicùng thời Ông chỉ có thể chịu ảnh hưởng của người tiền bối, bà Đoàn Thị Điểm(1705- 1748), sinh trước ông hơn 70 năm

Trang 20

Còn bài Ai tư vãn cũng có nhiều điểm phảng phất giống như Chinh phụ

ngâm, như bản đối chiếu sau đây:

Ai tư vãn Chinh phụ ngâm

Tưởng phong thể xót xa đòi đoạn,

Mặt rồng sao cách gián lâu nay.

Có ai chốn ấy về đây,

Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được dành.

(57- 60)

Kiếp này chưa trọn chữ duyên,

Ước xin kiếp khác vẹn nguyền lửa

hương (63- 64)

Đương theo, bỗng tiếng gà sực tỉnh

Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao!

Kể năm đã ba tư cách diễn, Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang Ước gì gần gũi tác gang,

Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay (165- 168)

Ấy loài vật tình duyên còn thế, Sao kiếp người nỡ để đấy đây.

Thiếp xin về sau kiếp này, Như chim liền cánh, như cây liền cành (316- 364)

Giận thiếp, thân lại không bằng mộng, Thôi gần chàng bến lũng thành Quan .

Bài Ai tư vãn của Ngọc Hân Công chúa (1770- 1799), được viết ra năm

Quang Trung mất, tức là năm Nhâm Tí (1792) Còn bản tân khúc của Phan Huy Ích,

Hoàng Thúc Trâm đã cố tìm ra ngày khai sinh của nó Trong cuốn Quốc văn đời

Tây Sơn, Hoa Bằng cho ta biết bài Tân diễn Chinh phụ ngâm khúc thành ngẫu thuật

của Phan Huy Ích, là một trong các bài rút ở tập thơ Vân du tùy bút tức cuốn thứ sáu của Du am tập ngâm Thế mà Vân du tùy bút gồm những bài làm từ năm Giáp Tí đến năm Giáp Tuất (tức trong khoảng 1804- 1814) Hơn nữa, trong tập Vân du tùy

bút, ngay sau bài Giáp tí nguyên đán thí bút và bài Sách phong lễ hoàn kỷ sự, ông

Ích đã viết đến bài Ngẫu thuật kể trên Vậy, bản dịch của Phan Huy Ích tất ra đời khoảng 1803- 1804 Như thế, bài Ai tư vãn đã ra đời trước bản dịch trước bản dịch

của Huy Ích hơn mười năm, và lẽ dĩ nhiên, không thể nào học hỏi một bài một bàilúc ấy chưa có Ngọc Hân công chúa chỉ có thể chịu ảnh hưởng của Đoàn Thị Điểm,một bậc tiền bối (1705- 1748)

Trang 21

Theo ông Thuần Phong, với hai chứng cứ trên, Đoàn Thị Điểm là dịch giảcủa bản diễn Nôm hiện hành Với những phân tích của ông Thuần Phong ta có căn

cứ tin rằng đó là sự thật

Điểm thứ hai theo lược trích Lịch sử Việt Nam quyển IV- SĐD khi đề cập đến dịch giả Chinh phụ ngâm khúc có viết: “Từ trước đến giờ nói chung chúng ta vẫn nhận thấy rằng bản dịch Chinh phụ ngâm khúc mà chúng ta vẫn ngâm nga và truyền

tục là của Đoàn Thị Điểm, mặc dầu ở tạm chí Nam Phong số 106 năm 1926, ĐôngChâu Nguyễn Hữu Tiến đã căn cứ vào một bài thơ của Phan Huy Ích mà chứngminh rằng bản ngâm khúc kia chính là của Phan Huy Ích, chứ không phải của ĐoànThị Điểm” Qua bài thơ đó chúng ta có thể đưa ra một số nhận định như sau: Thứ

nhất qua bài thơ của Phan Huy Ích, sẽ chứng minh được ông có diễn Nôm Chinh

phụ ngâm khúc, chứ có phải là dịch giả của bản diễn Nôm hiện hành không thì điều

đó không chứng minh được Thứ hai, căn cứ vào nội dung bài thơ Ngẫu thuật:

Ngẫu thuật

Nhân Mục tiên sinh “Chinh phụ ngâm”,

Cao tình dật diệu bá từ lâm.

Cận lai khoái trá tương truyền tụng,

Đa vĩ thôi xao vi diễn âm.

Vận luật hạt cùng văn mạch túy,

Thiên chương tu hướng nhạch thanh tầm.

Nhà trung phiên dịch thành tân khúc,

Tự tin suy minh tác giả tâm.

Phan Huy Ích Dịch nghĩa:

Bài Chinh phụ ngâm của Đặng tiên sinh người làng Nhân Mục,

Tình cao điệu lạ đã được truyền bá khắp rừng văn.

Gần đây mọi người truyền tụng lấy làm thích thú lắm,

Đã có nhiều người tìm cách diễn ra quốc âm.

Nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được cái tinh túy trong mạch văn,

Trang 22

Vậy phải theo từng thiên chương và hiệp với âm nhạc mà diễn ra thì mới

được.

Nay nhân buổi nhàn hạ, ta dịch ra thành khúc mới (tân khúc),

Chắc tin rằng đã suy minh được lòng tác giả.

Chúng ta có thể đưa ra một nhận định như sau: Đó là trong bài Ngẫu thuật Phan Huy Ích có viết: Thiên chương tu hướng nhạch thanh tầm, dịch nghĩa là: Vậy phải

theo từng thiên chương và hiệp với âm nhạc mà diễn ra thì mới được Như vậy, theoPhan Huy Ích khi dịch phải chia thành từng chương tiết So sánh với bản B, ta thấybản B đúng là có chia thành các chương tiết cẩn thận (13 chương và nhiều tiểu tiết)

Câu thứ 5 trong bài Ngẫu thuật: Vận luật hạt cùng văn mạch túy Điều này

chứng minh được một điều quan trọng, là bản B có thể là của Phan Huy Ích, dịchnghĩa là: nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được cái tinh túy trong mạchvăn Có nghĩa là, ông Phan Huy Ích chê những người dịch trước quá nặng về âmluật, câu chữ chải chuốt, mà không dịch hết được ý của nguyên bản Vì vậy trongkhi dịch ông theo sát nguyên bản, không quá câu nệ vào vần điệu, chữ nghĩa Sosánh hai bản A và bản B, ta thấy bản B theo sát nguyên bản hơn bản A

Nhìn vào bản thống kê này, có hai điểm cần chú ý:

Chúng ta theo dõi bảng thống kê do ông Hoàng Xuân Hãn thống kê ở Chinh

phụ ngâm bị khảo [4 67].

a Số vế ở cột 1 càng nhiều, chứng tỏ bản dịch càng phải sát với nguyêntác Bản A bản hiện hành có 8 vế, bản B có 36 vế

b Số vế ở các cột 2, 3, 4, 5, 6 càng nhiều, chứng tỏ bản dịch càng xa nguyêntác Bản A là bản dịch theo quan điểm diễn âm Còn bản B, thì theo quan điểmphiên dịch, dịch từng câu, từng chữ, dịch cho hết ý của bản Hán mới “suy minh tácgiả tâm” Và quan điểm đó là quan điểm của Phan Huy Ích (nên không phải là bảnC) Bản A (bản hiện hành) là của Đoàn Thị Điểm

Một lý do nữa khiến chúng ta tin chắc điều nhận xét của bản B chỉ có thể doPhan Huy Ích dịch là đúng, bởi lẽ bản B dịch hết ý, câu nào dịch câu nấy Một nhàHán học uyên bác như họ Phan nhất định là có một trình độ thưởng thức bản Hán

Trang 23

văn của Đặng Trần Côn cao lắm Điều đó thấy rõ ở hai câu đầu bài Ngẫu thuật của

Phan Huy Ích

Đối chiếu kỹ bản Hán văn với bản A, chúng ta thấy rằng bản A vì phỏng dịchnên đã bỏ đi rất nhiều ý của bản Hán Những ý này đã làm cho họ Phan không vừalòng mà phải dịch lại Vì vậy trong khi đánh giá bản dịch, chúng ta nên chú ý đánhgiá cho vừa phải

Từ những phân tích và ví dụ nêu ra ở trên, ta có thể đi đến một ý kiến gợi ý, là

bản B có thể là bản dịch Chinh phụ ngâm của Phan Huy Ích.

Để làm sáng tỏ thêm, sau đây chúng tôi xin dẫn ra một số câu ở hai bản A vàbản B, để so sánh xem bản nào dịch sát, gần với nguyên bản hơn:

Sứ tinh thiên môn, thôi hiểu phát,

Hành nhân trọng pháp, khinh biệt ly

Sứ trời sớm giục đường mây, (bản A)

Phép công là trọng, niềm tây sá nào?

Sứ tinh sớm giục lên đường (bản B)

Người đi sợ phép, xem thường biệt ly.

Bản B gần như là chuyển dịch từng chữ trong nguyên bản sang ý văn thể hiệnquan điểm, suy nghĩ của người đàn ông Còn bản A, dịch rất thoáng, không sử dụnglại các chữ như trong nguyên bản, có nội tâm và quan điểm của người dịch là ngườiphụ nữ

Các câu sau đây cũng có nội dung tương tự:

Lương nhân nhị thập Ngô môn hào,

Đầu bút nghiễn hề sự binh đao.

Chàng tuổi trẻ, vốn dòng hào kiệt, (bản A)

Xếp bút nghiên, theo việc đao cung.

Chàng hai mươi tuổi, cửa Ngô (bản B)

Gác bồ nghiên bút, giở đồ cung đao.

Dục bả liên thành hiến minh thánh,

Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiều.

Trang 24

Thành liền mong tiến bệ rồng, (bản A)

Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời.

Đem thành liền ngưỡng trao Minh thánh, (bản B)

Xin tấc gươm dẹp lĩnh Thiên kiêu.

Bên cạnh bài thơ ngẫu thuật thì gia phả nhà họ Phan ghi chép: “Ông Phan Huy Ích từng diễn Chinh phụ ngâm khúc Nay từ các bậc danh nhân văn sĩ cho đến trai gái thôn quê ai mà không đọc” Bài thơ Ngẫu thuật và ghi chép trên chỉ có thể chứng minh một điều là ông Phan Huy Ích có diễn Chinh phụ ngâm khúc của Đặng

Trần Côn chứ không thể chứng minh ông là dịch giả của bản diễn Nôm A hay còngọi là bản hiện hành Vì bản diễn Nôm, bút tích của ông Phan Huy Ích chúng tachưa tìm thấy, vậy sự phán đoán không thể căn cứ vào bản phiên âm ra chữ Quốcngữ do một vị họ Phan đưa ra, với ít nhiều vế khác hẳn trong bản thường thấy

Ngoài ra chúng ta cũng biết trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, Hoàng Xuân

Hãn còn đưa ra một “chứng cứ”, một chi tiết đó là ông tìm thấy một bản dịch ra chữNôm, viết tay và chưa từng in lần nào, mà phía trên bản đấy có ghi hai chữ 女 女 nữgiới Ông Hãn cho đó là của một khách nữ “diễn ca” [4.27] điều đó không đủ sứcthuyết phục, hai chữ 女 女 nữ giới ở đây tức là khuyên răn bạn gái, chứ không phảivới ý nghĩa trong giới nữ lưu như Hoàng Xuân Hãn nghĩ

Điểm thứ ba căn cứ vào nội dung trong hai bản dịch có thể rút ra một số điểmnhư sau:

Thiên địa phong trần

Hồng nhan đa truân

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,(bản A)

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Trời đất thuở gió bay, bụi nổi (bản B)

Khách hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên.

Hai câu này, hai bản dịch có nội dung và câu chữ tương tự, chứng tỏ ông Phan

Huy Ích trước khi dịch có đọc bản A, như lời ông nói trong bài thơ Ngẫu thuật: Đã

có nhiều người tìm cách diễn ra quốc âm Nhưng hai câu thơ ở hai bản có khác

Trang 25

nhau một chữ quan trọng: Khách má hồng (bản A) và khách hồng nhan (bản B).Ông Nguyễn Thạch Giang đã phân tích rất rõ và cho rằng: Trong quan niệm củanhân dân ta “má hồng” và “hồng nhan”có chỗ khác nhau rất rõ Hai tiếng này khôngbao giờ lẫn lộn được “Hồng nhan” nghe như có cái gì khinh bạc, rẻ rúng ở bêntrong “Hồng nhan” bao giờ cũng đi đôi với “bạc mệnh” Như vậy, rõ ràng là khidịch chữ “má hồng” người dịch rất có ý thức về giới phụ nữ và rất từng trải, thểhiện mối thông cảm sâu sắc về thân phận người phụ nữ Còn người dịch chữ “hồngnhan” (bản B), là quan niệm của người đàn ông, quen xem nhẹ đàn bà, bàng quantrước mọi tâm tư tủi nhục của họ trong xã hội cũ Sự lý thú ở đây còn ở chỗ, ở bản

C mà Hoàng Xuân Hãn cho là của Nguyễn Khản cũng dịch chữ “hồng nhan”:

Nẻo trời đất nổi cơn gió bụi,

Kẻ hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên.

Chúng ta đọc tiếp câu thơ sau đây:

Tư mệnh bạc, tích niên hoa,

Ty ty thiếu phụ cơ thành bà?

Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa, (bản A)

Gái tơ mấy chốc sảy ra nạ dòng?

Tiếc tuổi hoa cùng than phận bạc (bản B)

Ả thuyền quyên mấy đạc nên già?

Bản A, tác giả dịch phải là nữ giới mới nói được một cách chân thực nỗi lòng

và sự thật tình cảnh người chinh phụ đợi chồng phải gánh chịu Đặc biệt ta chú ýđến chữ “Ả” Chữ “Ả” để chỉ người phụ nữ với ý coi thường, có vẻ khinh miệt Rõràng tác giả dịch phải là nam giới, người từng làm quan, kẻ trên nhìn xuống kẻdưới Bà Đoàn Thị Điểm không thể tự khinh miệt giới mình

Tương cố bất tương kiến

Thanh thanh mạch thượng tang

Mạch thượng tang, mạch thượng tang,

Thiếp ý, quân tâm, thùy đoản tràng?

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, (bản A)

Trang 26

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.

Ngàn dâu xanh ngắt một màu,

Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu hơn ai?

Trông nhau mà chẳng thấy nhau, (bản B)

Xanh xanh những thấy bóng dâu trên đường.

Dâu mấy hàng, có hay chăng nhẽ,

Lòng đấy đây, ai kẻ vắn, dài?

Liệu có người phụ nữ nào nói với chồng quan: Lòng đấy đây, ai kẻ vắn, dài? Câuthơ này chắc chắn là do người đàn ông viết, coi mình là người bề trên mới viết như vậy

Cung tiễn hề tại yêu,

Thê noa hề biệt quyết

Đường giong ruổi, lưng đeo cung tiễn

Buổi tiễn đưa, lòng bịn thê noa (bản A)

Lưng trẩy đi cung tên mang mẻ, (bản B)

Áo phân tay, xem nhẹ tình duyên.

Câu thơ ở bản A có chất nữ tính, do phụ nữ viết Câu thơ ở bản B có chất

nam tính, chỉ có đàn ông mới viết “xem nhẹ tình duyên”, phụ nữ không nói như vậy

Những ví dụ tiếp theo sau đây, đều chứng tỏ người dịch bản A là nữ giới, và người dịch bản B là nam giới:

Khách phong lưu đương chừng niên thiếu (bản A)

Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên

Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,

Quan sơn để cách hàn huyên sao đành?

Tuổi chưa nhiều, đấy phong lưu khách, (bản B)

Đây trẻ trung muôn dịch vừa quen.

Bao kham đôi trẻ thiếu niên,

Đều riêng ấm lạnh, dặm nghìn ai hay?

Trang 27

Lễ giáo phong kiến đã ăn sâu vào máu thịt, dịch giả là nữ, và người vợ thờixưa, liệu có dám xưng với chồng quan là: “đấy phong lưu khách” và “đây trẻ trungmuôn dịch vừa quen”, một cách “bình đẳng” như vậy không?

Mẹ già phơ phất mái sương (bản A)

Con thơ măng sữa, vả đương phù trì.

Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,

Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,

Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.

Tóc dường sương, mẹ chàng tuổi tác, (bản B)

Mà con chàng trứng nước tuổi thơ.

Mẹ già ngoài cửa đứng chờ,

Con thơ ngồi chực sớm trưa bữa thường.

Nuôi mẹ chàng, thiếp khôn làm gái,

Dạy con chàng, thiếp phải làm cha.

Bà Đoàn Thị Điểm được học hành, được giáo dục cẩn thận, lễ giáo phong kiếnnghiêm khắc, bà không thể dịch “mẹ chàng”, “con chàng” được Đọc mấy câu thơbản A, ta có cảm giác như chính công việc của bà Đoàn Thị Điểm vẫn phải làm, khicha và anh mất sớm, bà phải làm nhiều việc để nuôi mẹ và các cháu

Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu (bản A)

Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong

Chẳng hay muôn dặm ruổi giong,

Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?

Ngoảnh trông dương liễu nơi nào, (bản B)

Ấn phong hầu, giận khát khao nỗi gì?

Nẻo trẩy đi, dặm nghìn cách trở,

Biết lòng chàng có tựa thiếp chăng?

Ở bản A, người phụ nữ tỏ ra ân hận, khi đồng ý để chồng nhận tước phong ra trận Đây là tâm lý rất phụ nữ, chỉ phụ nữ mới có thể dịch được như vậy

Trang 28

Còn rất nhiều câu thơ tương tự, ở đây chúng tôi chỉ đưa ra một số ví dụ.

Thơ là người Trong thơ mang hình bóng tác giả Ngay cả thơ dịch, cũng thểhiện phong cách, tâm hồn, vốn sống, sự từng trải, quan điểm (quan điểm sống, xửthế, nghệ thuật văn chương…) Và đặc biệt trong thơ (kể cả thơ dịch) thể hiện cáichất nữ tính và nam tính rất rõ

Đọc kỹ bản B, đúng như lời ông Phan Huy Ích đã nói trong bài Ngẫu thuật,

là ông đã cố gắng truyền tải hết ý của tác giả Đặng Trần Côn vào trong bản dịchNôm của ông, và không thật coi trọng việc chuốt từ, tìm vần… Vì vậy khi đọc bản

B, ta cảm thấy văn chương hơi bị gò ép, lời văn thiếu khoáng đạt, trau chuốt, nhiềukhi dùng luôn câu chữ của tác giả Đặng Trần Côn Đôi khi ông còn lấy cả ý thơ của

bà Đoàn Thị Điểm Ví dụ câu thơ dịch sau đây của bà Đoàn Thị Điểm rất hay, rấtchỉnh:

Sương như búa bổ mòn gốc liễu,

Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô.

Còn câu của ông Phan Huy Ích:

Bà Đoàn dùng từ “bổ mòn” và “xẻ héo”, còn ông Phan Huy Ích dùng

từ “bổ” và “chẻ” (gần giống xẻ) Hai chữ “bổ mòn” và “xẻ héo” không có trongnguyên tác của Đặng Trần Côn Phải chăng, ông Phan Huy Ích đã học hai chữ nàycủa bà Đoàn Thị điểm?! Và nếu đúng như vậy, thì bản A đích thị là của bà ĐoànThị Điểm dịch

Từ những nhận xét và dẫn chứng nêu ra ở trên, nhìn nhận một cách tổng thể,trên cơ sở phân tích chất nữ tính trong bản A, chất nam tính trong bản B và quanđiểm dịch thơ của hai tác giả Phan Huy Ích và Đoàn Thị Điểm, cũng như trình độ,

Trang 29

tầm cỡ, bề dầy thơ ca, cuộc sống và gia đình… , chúng tôi cho rằng bản A mới là bản dịch của Đoàn Thị Điểm, còn bản B là bản dịch của Phan Huy Ích.

Điểm thứ tư chủ trương bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là của Phan Huy

Ích là bởi vì: “văn bản A gần với ta hơn trong thời gian ít tiếng cổ hơn so với bảnB” [4, 136] Trên cơ sở nhận định đó, Lại Ngọc Cang lại đi xa hơn một chút vềtiếng cổ, về thể loại, để xác nhận từ đó trên một mặt khác nữa là: thể loại song thấtlục bát trong bản A đã đạt đến một trình độ hoàn thiện nhất, nó chỉ có thể xuất hiện

vào đầu thế kỷ XIX, thế kỷ của Đoạn trường tân thanh.

Trước hết cần phải nói rằng, cách làm này (cách so sách chữ cổ, xem sự xuấthiện hay mất đi của một từ trong văn học, xem sự phát triển của thể loại văn học…)

là một điều thường thấy ở trong văn học các nước để xác định thời điểm xuất hiệncủa một tác phẩm văn học nếu có Song đối với chúng ta, khi làm công việc này,một điều hết sức quan trọng là phải đặc biệt chú ý đến đặc điểm của tình hình vănhọc của chúng ta, phải cố gắng khai thác cho hết mọi tác phẩm văn học có thể khảođược Bởi vì không làm như thế, chúng ta sẽ chỉ có thể có được một kết quả mà bênngoài thì có vẻ khoa học, nhưng thực ra không phản ánh được cái thực chất; chỉ cóthể có được một kết quả hết sức phiến diện, không phản ánh được cái chung, cáikhái quát của văn học của ta Ở đây, về thời gian: từ 1742 – 1745 - thời điểm giả sử

xuất hiện bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, năm 1803 - thời điểm giả

sử xuất hiện bản dịch Chinh phụ ngâm khúc của Phan Huy Ích, thì không lâu là bao.

Năm mươi năm so với lịch sử phát triển tiếng nói của một dân tộc không có một ý

nghĩa đáng kể lắm Ai tư vãn ra đời từ nửa cuối thế kỷ XVIII và Truyện Kiều, đầu

thế kỷ XIX là một thí dụ Cho nên đọc lại hai áng văn đó, chúng ta không hề thấy

nó “cổ”

Về mặt chữ viết, chữ của ta là chữ Nôm, vốn không có một qui cách nào thốngnhất, cho nên cách đọc không có gì là ổn định Hơn nữa thử hỏi: có phải là trongthời gian ngắn năm mươi năm ấy, ngôn ngữ của ta chỉ có những chữ như đămchiêu (Dạo hiên vắng đắm chiêu từng bước - bản A câu 193), bẻ bai (Trúc sập soè,mai cũng bẻ bai - bản A câu 282), chốc mòng (Bến ngâu sàn sạt, cung trăng chốc

Trang 30

mòng - bản A câu 240)…để diễn đạt tư tưởng cho tất cả mọi trạng thái tâm lý, tìnhcảm hay không? Không phải Ở bản A cần diễn đạt dáng đi tư lự, cái nhịp nhànguốn éo, diễn đạt cái tâm lý ngóng trông, mong mỏi tha thiết … nên Đoàn Thị Điểm

đã dùng đăm chiêu, bẻ bai, chốc mòng … mà thôi Còn ở chỗ khác, không cần diễn

tả những trạng thái ấy nên người ta không dùng Xét về tiếng cổ trong bản B cũngthế Một chữ như: lãi linh (thiếp lãi linh đâu làm Tố nữ - bản B, câu471), giang (Bến ngân tranh, tay ấp bùng giang - bản B, câu 308) chỉ nói rằng nó cổ,

nó mất đi không thấy xuất hiện trong các tác phẩm văn học, trong tiếng nói của tanữa trong năm mươi năm ấy, khi mà nó:

Không thấy có ở những tác phẩm văn học của một người hay của nhiều người ởtrong thời gian ấy

Không dùng được nữa để diễn tả cùng một nội dung tâm lý, cùng một nội dungtình cảm như nhau ở trong những tác phẩm văn học qua các thời kỳ xuất hiện củacác tác phẩm tương đối đều đặn

Đằng này, thì rõ ràng là không phải như thế, cho nên không thể cho nó là “tiếngcổ” xuất hiện ở đầu thế kỷ XVIII mà không xuất hiện ở đầu thế kỷ XIX được.Huống hồ, về từng “tiếng cổ” cụ thể, theo chúng tôi, quan niệm như trên đây, vàtheo sự thống kê của chúng tôi, thì ở bản A có 21, bản B chỉ có 12 chứ không phảinhư có người đã nghĩ: bản A gần với ta hơn vì “tiếng cổ” ít hơn so với bản B

Thế thì, tại sao mà bản A (bản hiện hành của Đoàn Thị Điểm) có nhiều tiếng cổhơn bản B, khi đọc lên ta có cảm giác “gần với ta hơn trong thời gian” Hay nói mộtcách khác, mới hơn, trẻ hơn? Mới hơn, hay trẻ hơn, cái cảm giác đó thực ra hoàntoàn không phải là vì bản thân cái từ nó mới Cảm giác cổ hơn, xưa hơn cũng thế

Cổ, xưa, cái cảm giác đó thực ra không phải là do cái bản thân từ cổ gây nên, màchủ yếu là bởi tại cách vận dụng nó, các sử dụng nó trong cú pháp, trong cái phongcách ngôn ngữ của từng nhà văn

Ở đây chúng tôi còn thấy một điều nữa là: xét trong Dụ Am thi văn tập, rải rác

trong một đôi bài văn tế có những từ Phan Huy Ích có dùng như:

Hầu cách linh dư, kính dâng điện lễ (Từ cung, mẹ Lê Ngọc Hân tế con)

Trang 31

Cách mái linh dư, dâng tuần điện tế … vơi vơi hoàng giản một điêu… (Hoa lệ tế Lê

Ngọc Hân 1799)

Đem đối chiếu bài văn tế cuối này với bản A, có những từ giống nhau:

Tự ta đội chín lần sống thác, lệnh cửa viên nổi tiếng trống ngọn cờ; cùng nhau vâng muôn dặm ruổi giong, đoàn áo giáp trải chân rừng mặt bể.

Giữ chiến pháp lấy mình làm nhẹ.

Vấn đề là: có nên xem có sự thống nhất một số từ, một số ý ở bài văn tế này

với Chinh phụ ngâm khúc bản A mà cho rằng chính Phan Huy Ích là dịch giả bản A,

mà cho rằng hai bản này (Bài Văn tế và bài Chinh phụ ngâm khúc) chỉ có thể hiểu là

do một người viết không?

Không phải thế Vì ta có thể hỏi ngược lại, làm sao lại không đặt vấn đề cho

Phan Huy Ích trong khi làm bài văn tế này đã chịu ảnh hưởng bản Chinh phụ ngâm

khúc của Đoàn Thị Điểm Hơn thế, xét ra những từ này đều là những từ dịch từ

tiếng Hán, hay là những từ thuần Nôm của ta nổi tiếng trống ngọc cờ, gió lộng, đáynước biển…, và cả những từ nguyên tiếng Hán: chinh phụ, dũng sĩ…Vô luận là từthuộc loại nào đó cũng đã nhập vào vốn từ vị ngôn ngữ của ta rồi, và hơn thế nữa,tất cả những từ đó đều chỉ sử dụng trong một đề tài nhất định, để diễn tả một trạngthái tâm lý tương tự, cho nên sự thống nhất này là không quan trọng, mà là tất yếu.Một người, hai người, hay rất nhiều người khác nữa, vô luận là thế kỷ XVIII,đầu thế kỷ XIX và cho đến giữa thế kỷ XX và ta tin rằng cả sau này nữa nếu có viết

về đề tài này thì bất kỳ ở thế nào cũng vận dụng những từ hay cả những ý ấy Xinđọc các bài văn tế của Đặng Vũ Khiên viết năm 1946, của Tú Mỡ viết năm 1984…cũng thấy rõ điều đó

Hơn thế, khái niệm của những từ này, ở đây đã được sử dụng trong một bài vănvần, phải bị qui định bởi vận, luật, cho nên dù cho dùng “cửu trùng” hay “chín lần”,hay “bệ rồng” cũng là một điều dễ hiểu Ở đây không có sự vận dụng từ một cách tự

do như trong một bài văn xuôi

Trang 32

Vì thế, chúng ta không thể hễ thấy một số từ nào đó được vận dụng trong một

số bài viết về một số đề tài tương tự nào đó mà cho rằng những bài đó phải là domột người viết được

Cái quan trọng chủ yếu ở đây không phải là do cả những từ Ở đây, Phan Huy

Ích không vừa lòng với những bài diễn âm Chinh phụ ngâm khúc có từ trước, thì

điều không vừa lòng của họ Phan không phải là không vừa lòng với những từ, màkhông vừa lòng với cách dịch như đã nói ở phần trước Cho nên ở đây Phan HuyÍch trong khi làm văn tế, sử dụng các vốn từ ngữ chung ấy thì không có gì là lạ

Thêm vào đó, Chinh phụ ngâm khúc có trên 400 câu, sáng tác của Dụ Am gồm

3 tập dày, mà ở đây chúng ta chỉ thấy được năm, mười câu có một đôi từ giống nhau,thì riêng về tỷ lệ này so với khối lượng kia là một lý lẽ không đáng kể Tóm lại, ởđây cũng không có lý lẽ gì để chứng minh Phan Huy Ích là dịch giả của bản A cả.Trái lại, theo chúng tôi Phan Huy Ích đã chịu ảnh hưởng Đoàn Thị Điểm và chính

Đoàn Thị Điểm là dịch giả bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành.

Điểm đặc biệt ở thế kỷ XVIII là thể loại song thất lục bát khá thịnh hành Thể

này có lẽ bắt nguồn từ Tứ thời khúc vịnh (hay trước nữa) và ổn định đến mức hoàn hảo nhất với Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm, với Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều, và với Ai tư vãn của Ngọc Hân Nó không phải đợi đến đầu thế

kỷ XIX mới ổn định như có một số nhà nghiên cứu đã đưa ra

Về mặt thể loại, một điểm nữa cần nói rõ ở đây là: bản B ra đời vào đầu thế kỷXIX mà lại có vẻ cổ hơn, và lại đã sử dụng sai quy luật kết cấu và chu kỳ bốn câu, ởcác đoạn: 143 – 148 gồm 6 câu lục bát liên tục 221 – 224 gồm 4 câu thất liên tục,

233 - 238 gồm 6 câu lục bát liên tục, không bằng bản A ra đời vào giữa thế kỷXVIII? Những điều chúng tôi trình bày trên đây tưởng cũng đã có thể trả lời cănbản câu hỏi này Nghĩa là do tài sử dụng ngôn ngữ, cái tài của nhà văn Lại nữa,Phan Huy Ích dịch chứ không phải sáng tác

Một bài văn dịch, Phan Huy Ích chú ý làm sao diễn tả hết tứ thơ chữ Hán là chủyếu, chứ không phải vì vận luật mà bỏ mất ý của nguyên tác Bởi thế, Phan Huy Ích

Trang 33

nói rất có lý rằng: Vận luật hạt cùng văn mạch tuý Cứ gò bó với âm luật thì làm sao

mà diễn tả cho hết được ý của tác giả?

Đoàn Thị Điểm thì phỏng dịch, nên ý tứ thoát hơn, có nhiều sáng tạo Đó là cáingoài cộng thêm cái tài thơ Nôm của nữ sĩ Vậy chính Hồng Hà nữ sĩ là dịch giả

bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành.

1.3 Tiểu kết chương một

Một nghi vấn văn học âm thầm kéo dài trong suốt gần một thế kỉ đã được đặt ravới chúng ta Những tài liệu xung quanh nghi vấn cũng được khai thác đầy đủ Theochúng tôi, không có tài liệu nào làm bằng chứng chắc chắn Phan Huy Ích là dịch giả

bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành.

Những giả thuyết về Phan Huy Ích không có điều kiện tồn tại, mà trái lại qua đó,

chúng tôi lại thấy rõ hơn: chính Đoàn Thị Điểm là dịch giả bản dịch Chinh phụ

ngâm khúc hiện hành Nhận định này dựa trên việc khảo cứu những tài liệu của các

học giả đi trước nghiên cứu cùng những phân tích, chứng minh của chúng tôi đãđược trình bày

Một nghi vấn văn học được nêu ra thiếu chứng cứ khoa học chắn chắn, chúng ta

cũng không nên quá băn khoăn với nó Có thể khẳng định bản dịch Chinh phụ ngâm

khúc hiện hành là của Đoàn Thị Điểm.

Trang 34

Chương 2 KHẢO SÁT CÁC BẢN DỊCH NÔM VÀ DỊ BẢN

2.1 Các dị bản tồn tại

Hiện nay, theo thư mục từ tác giả Đoàn Thị Điểm, mục tác phẩm Chinh phụ

ngâm ở Viện nghiên cứu Hán Nôm chúng tôi thu thập được hai bản in, hai bản viết,

Trong thư mục từ tác phẩm, mục Chinh phụ ngâm, chúng tôi thu được thêm các dị bản liên quan đến Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm: CHINH PHỤ NGÂM / 女 女

女 [ THI CA NAM ÂM / 女女女女] Hình bộ Lang trung Hồng Liệt Bá/ 女女 女 soạn

Khúc ngâm của người lính phải đi chiến trận, phỏng theo Chinh phụ ngâm của

Đặng Trần Côn, có chú thích AB 164 có Chinh phụ diễn quốc âm, nguyên văn chữ

Hán của Đặng Trần Côn và bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm; Đào nương Thị

Hiếu ca bằng chữ Nôm; Quá nữ phú bằng chữ Nôm; Dương tiết ca và Hồ Xuân

Trang 35

Hương thi gồm nhiều bài thơ tương truyền là của Hồ Xuân Hương Như vậy, hiện

có 8 dị bản khác nhau liên quan đến Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm

trong danh mục ở Viện nghiên cứu Hán Nôm

Do điều kiện còn nhiều hạn chế, chúng tôi chưa có điều kiện sưu tầm, nghiên cứuthêm những dị bản hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Vì thế, trongquá trình làm khoá luận, chúng tôi đã cố gắng sưu tầm các văn bản chữ Nôm liên

quan đến bản Chinh phụ ngâm hiện hành của Đoàn Thị Điểm và đã thu thập được những dị bản trong các tư liệu sau: Trong cuốn Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp

tuyển có 4 dị bản:

1 Bản chụp nguyên bản chữ Nôm viết tay in trong phần phụ lục cuốn Chinh

phụ ngâm của Vân Bình Tôn Thất Lương, được chép lại trong cuốn Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp tuyển, nhà xuất bản Thuận Hóa, 2000.

2 Bản B: Bản in khắc gỗ Chinh phụ ngâm bị lục trong tập Danh gia quốc âm, Liễu Văn đường, được chép lại trong cuốn Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp tuyển,

nhà xuất bản Thuận Hóa, 2000

3 Bản Chinh phụ ngâm diễn âm từ khúc chép tay in trong Tổng tập Văn học

Việt Nam tập 13B Chính trực đường hiệu tử, được chép lại trong cuốn Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp tuyển, nhà xuất bản Thuận Hóa, 2000.

4 Trong quá trình biên soạn, các tác giả Nguyễn Thế, Phan Anh Dũng trong

Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp tuyển đã biên soạn lại văn bản Nôm dựa vào bản

chụp nguyên bản chữ Nôm viết tay in trong phần phụ lục cuốn Chinh phụ ngâm của Vân Bình Tôn Thất Lương Như vậy, chúng ta có thêm một dị bản thứ 4 về Chinh

phụ ngâm Văn bản được viết theo hàng ngang, hai câu 7, một câu 6 và một câu 8,

bên dưới mỗi câu thơ Nôm là câu thơ phiên âm chữ quốc ngữ, trình bày nguyên bản

diễn ca ở trang lẻ, kèm nguyên tác Chinh phụ ngâm bằng Hán văn của Đặng Trần

Côn ở trang chẵn để đối chiếu

5 Trong cuốn Ngữ văn Hán Nôm, tập 4, phần chữ Nôm có bản Chinh phụ diễn

quốc âm bằng chữ Nôm, trích đoạn từ văn bản Thi ca nam âm, Viện nghiên cứu

Ngày đăng: 12/01/2020, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Văn Dương (1964), Thử giải quyết vấn đề diễn giả Chinh Phụ Ngâm, NXB. Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử giải quyết vấn đề diễn giả Chinh Phụ Ngâm
Tác giả: Nguyễn Văn Dương
Nhà XB: NXB. Đại học Huế
Năm: 1964
[2]. Ngô Văn Đức (2002), Định giá nội dung chinh phụ ngâm khúc theo đặc trưng thể loại , NXB. Thanh niên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định giá nội dung chinh phụ ngâm khúc theo đặc trưngthể loại
Tác giả: Ngô Văn Đức
Nhà XB: NXB. Thanh niên Hà Nội
Năm: 2002
[3]. Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, NXB. Bộ Quốc gia Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: NXB. Bộ Quốc gia Giáodục
Năm: 1968
[4]. Hoàng Xuân Hãn (1953) Chinh phụ ngâm bị khảo, NXB. Minh tân, Pari Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinh phụ ngâm bị khảo
Nhà XB: NXB. Minh tân
[5]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sửu, Nguyễn Khắc Phi (2010), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB. giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ vănhọc
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sửu, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB. giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[6]. Đỗ Thị Hảo (2010), Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam, NXB. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Hảo
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 2010
[7]. Phạm Đình Hổ (1972) Tang thương ngẫu lục, NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tang thương ngẫu lục
Nhà XB: NXB Văn hóa
[8]. Lê Thu Huyền, Minh Trí (2010), Từ điển tiếng Việt, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Lê Thu Huyền, Minh Trí
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2010
[9]. Nguyễn Diệu Huyền (2009), Luận văn Th.s Nghiên cứu an ấp liệt nữ trong truyền kỳ Tân phả của Đoàn Thị Điểm, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu an ấp liệt nữ trongtruyền kỳ Tân phả của Đoàn Thị Điểm
Tác giả: Nguyễn Diệu Huyền
Năm: 2009
[10]. Nguyễn Lộc (2001), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XX, NXB. Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB. Giáo dục Hà Nội
Năm: 2001
[11]. Nguyễn Đỗ Mục (1937), Chinh phụ ngâm dẫn giải, Phổ thông chuyên Tân Dân xuất bản, phát hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinh phụ ngâm dẫn giải
Tác giả: Nguyễn Đỗ Mục
Năm: 1937
[12]. Vũ Tiến Quỳnh (1998), Tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình, bình luận văn học của các nhà văn, nghiên cứu Việt Nam và thế giới, NXB. Văn nghệ thành phố Hồ chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình, bìnhluận văn học của các nhà văn, nghiên cứu Việt Nam và thế giới
Tác giả: Vũ Tiến Quỳnh
Nhà XB: NXB. Vănnghệ thành phố Hồ chí Minh
Năm: 1998
[13]. Nguyễn Ngọc San (2003), Lý thuyết chữ Nôm, văn Nôm, NXB. Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết chữ Nôm, văn Nôm
Tác giả: Nguyễn Ngọc San
Nhà XB: NXB. Đại học Sưphạm
Năm: 2003
[14]. Tạp chí Hán Nôm (2008), Hán Nôm học trong nhà trường, NXB. Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Nôm học trong nhà trường
Tác giả: Tạp chí Hán Nôm
Nhà XB: NXB. Khoa họcXã hội
Năm: 2008
[15]. Nguyễn Thế, Phan Anh Dũng (2000), Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp tuyển, NXB. Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp tuyển
Tác giả: Nguyễn Thế, Phan Anh Dũng
Nhà XB: NXB. Thuận Hóa
Năm: 2000
[16]. Ngô Đức Thọ (1997), Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, NXB.Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại
Tác giả: Ngô Đức Thọ
Nhà XB: NXB.Văn hóa
Năm: 1997
[17]. Hoàng Thúc Trâm, Quốc văn đời Tây- Sơn, NXB. nhà sách Vĩnh Bảo- Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc văn đời Tây- Sơn
Nhà XB: NXB. nhà sách Vĩnh Bảo- SàiGòn
[18]. Phan Huy Ích (1978), Phan Huy Thọ Văn Ích: Dụ am Ngâm lục, tập 3, NXB.Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Huy Thọ Văn Ích: Dụ am Ngâm lục
Tác giả: Phan Huy Ích
Nhà XB: NXB.Khoa học xã hội
Năm: 1978
[19]. Viện nghiên cứu Hán Nôm (2006), Từ điển chữ Nôm, NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển chữ Nôm
Tác giả: Viện nghiên cứu Hán Nôm
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2006
[20]. Nguyễn Thị Thanh Vân (2007), Luận văn Thạc sĩ có tên Nghiên cứu Đoàn Thị Điểm qua Đoàn Thị thực lục, Đại học Sư phạm Hà Nội.II. Thông tin trên mạng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ĐoànThị Điểm qua Đoàn Thị thực lục
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Vân
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w