TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ---***---TRẦN THẠCH THẢO KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ PHÂN BIỆT ĐỘNG TỪ VÀ TÍNH TỪ CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 Ở NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHÓA LUẬN T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC -*** -
TRẦN THẠCH THẢO
KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ PHÂN BIỆT ĐỘNG TỪ VÀ TÍNH TỪ CỦA HỌC SINH LỚP 4, 5 Ở NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
TS LÊ THỊ THÙY VINH
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận em đã được sựquan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểuhọc, các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Emxin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo Tiến sĩ LêThị Thùy Vinh giảng viên trường ĐHSP Hà Nội 2, người đã trực tiếp hướngdẫn, chỉ bảo tận tình để em thực hiện và hoàn thành khoá luận này
Cũng qua đây em xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ nhiệttình của tập thể giáo viên, học sinh trường Tiểu học Bình Hòa - Bình Hòa -Giao Thủy - Nam Định đã giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu, khảosát thực tế thu nhập số liệu để hoàn thành đề tài
Lần đầu tiên bước vào nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiêncứu còn hạn hẹp nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót Em rất mongnhận được sự góp ý và chỉ bảo của các thầy cô giáo và sự đóng góp ý kiến củacác bạn để đề tài hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 10 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Trần Thạch Thảo
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Khả năng nhận diện và phân biệt động từ
và tính từ của học sinh lớp 4, 5 ở nhà trường Tiểu học” (Khảo sát ở học
sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học Bình Hòa - Bình Hòa - Giao Thủy - Nam Định)
là kết quả mà tôi đã trực tiếp nghiên cứu từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 4năm 2017 tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Đây là kết quả nghiên cứucủa cá nhân tôi, hoàn toàn không trùng lặp với kết quả của các tác giả khác
Hà nội ngày 10 tháng 4 năm 2017
Sinh Viên
Trần Thạch Thảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Khái quát về từ loại tiếng Việt 6
1.1.1 Khái niệm về từ loại 6
1.1.2 Tiêu chí phân định từ loại 6
1.1.3 Hệ thống từ loại tiếng Việt 8
1.2 Động từ 10
1.2.1 Khái niệm động từ 10
1.2.2 Đặc điểm của động từ 11
1.2.3 Phân loại động từ 11
1.2.4 Chức năng của động từ……… 12
1.2.5 Khả năng chuyển hóa từ loại của động từ 13
1.3 Tính từ 14
1.3.1 Khái niệm tính từ 14
1.3.2 Đặc điểm của tính từ 14
1.3.3 Phân loại tính từ 15
1.3.4 Khả năng chuyển loại của tính từ……… 17
Trang 51.4 Cơ sở tâm lí học 18
1.4.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học 18
1.4.2 Khả năng tiếp nhận của học sinh Tiểu học trong hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt 19
1.5 Việc dạy và học động từ, tính từ trong nhà trường Tiểu học 19
1.5.1 Nội dung dạy học động từ, tính từ ở Tiểu học 19
1.5.2 Thực trạng dạy và học từ loại động từ, tính từ ở trường Tiểu học……22
Chương 2: KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ PHÂN BIỆT ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 24
2.1 Khả năng nhận diện động từ của học sinh Tiểu học 24
2.1.1 Tình hình khảo sát, thống kê 24
2.1.2.Đánh giá chung và một số biện pháp đặt ra 27
2.2 Khả năng nhận diện tính từ của học sinh Tiểu học 32
2.2.1 Tình hình khảo sát, thống kê 32
2.2.2.Đánh giá chung và một số biện pháp đặt ra 35
2.3 Khả năng phân biệt động từ và tính từ cuả học sinh Tiểu học………….37
2.3.1 Tình hình khảo sát, thống kê……… 37
2.3.2 Đánh giá chung và một số biện pháp đặt ra 40
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 7là khả năng tiếp nhận vốn từ vựng từ bên ngoài, tự điều chỉnh chúng một cáchchủ động, biến thành cái riêng, cái đặc biệt của người Việt Vì vậy, mônTiếng Việt, cụ thể hơn là việc dạy học Tiếng Việt đóng vai trò hết sức quantrọng trong chương trình đào tạo bậc Tiểu học - bậc học được xem là bậc họcnền tảng, là bước đệm đầu tiên đặt nền móng vững chắc cho giáo dục phổthông và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Việc học tốt môn Tiếng Việtkhông chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về tiếng Việt, hìnhthành một số kĩ năng đơn giản và quan trọng như: nghe, nói, đọc, viết,… màcòn bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt từ đó góp phần hình thành nên nhân cáchcon người Việt Nam.
Luyện từ và câu là một trong những phân môn có vai trò đặc biệt quantrọng trong môn học Tiếng Việt Phân môn luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệthống hóa, làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh nhữnghiểu biết sơ giản về từ, câu, r n luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và
sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời cókhả năng hiểu và sử dụng các kiểu câu của người khác nói ra trong hoàn cảnhgiao tiếp nhất định Chính vì vậy, việc dạy tốt phân môn luyện từ và câukhông chỉ là nguồn cung cấp kiến thức mà còn là phương tiện r n kĩ năng nói,viết, cách hành văn cho học sinh
Nói đến luyện từ và câu, chúng ta không thể bỏ qua hệ thống từ loạitiếng Việt Cách nhận diện và phân biệt từ loại là vấn đề rất quan trọng đượcđưa vào giảng dạy ở mọi cấp học cũng như được nhấn mạnh trong chương
Trang 8trình Tiểu học Tuy vậy, trên thực tế, thời gian dạy học các từ loại trongchương trình Tiểu học còn chưa nhiều Điều này khiến học sinh gặp không ítkhó khăn, vướng mắc trong việc xác định từ loại, nhất là các từ loại quantrọng và dễ lẫn như động từ và tính từ Việc nhận diện và phân biệt động từ vàtính từ là một trong những loại bài chiếm số lượng khá lớn trong hệ thống bàitập về từ loại và đặc biệt là trong các bài tập ở lớp 4 và lớp 5 Do vậy, việcnghiên cứu để tìm hiểu về khả năng nhận diện và phân biệt động từ và tính từcủa học sinh lớp 4,5 để từ đó tìm ra phương pháp và nội dung bồi dưỡngTiếng Việt cho các em sao cho hiệu quả là một việc làm hữu ích.
Với ý nghĩa đó, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài : “Khả năng nhận diện
và phân biệt động từ và tính từ của học sinh lớp 4,5 ở nhà trường Tiểu học”
với mong muốn nghiên cứu một cách thấu đáo hơn về động từ, tính từ, hai từloại quan trọng trong hệ thống từ loại tiếng Việt cũng như đề xuất các giảipháp giúp học sinh có khả năng nhận diện và phân biệt một cách chính xáchai từ loại này
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề từ loại tiếng Việt nói chung và từ loại động từ, tính từ nóiriêng là vấn đề đã được các nhà ngữ pháp học đề cập trong các công trìnhnghiên cứu về ngữ pháp
Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp tiếng Việt” Ban đã đưa ra batiêu chuẩn để phân định từ loại Tiếng Việt là ý nghĩa khái quát, khả năng kếthợp và chức vụ cú pháp Từ đó, tác giả phân thành hai lớp từ loại lớn là thực
từ và hư từ Trong đó tác giả tập trung nghiên cứu ba từ loại thuộc lớp thựctừ: danh từ, động từ và tính từ Về động từ và tính từ, tác giả đã trình bày vềđặc trưng, phân loại và miêu tả cũng như nêu lên những tính chất đặc trưnghai từ loại này
Cuốn “Giáo trình Tiếng Việt 3” - Lê A (chủ biên) tập trung bàn về kháiniệm, tiêu chí phân định từ loại Tiếng Việt, hệ thống từ loại Tiếng Việt, sự
Trang 9chuyển loại của từ và vấn đề từ loại trong chương trình Tiếng Việt tiểu học.Ởđây, tác giả đã nêu lên nghiên cứu về một số khía cạnh về hai từ loại động từ
và tính từ như: đặc điểm cơ bản (ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chứcnăng ngữ pháp) và các tiểu loại cơ bản của chúng
Tài liệu “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” (tài liệu đào tạogiáo viên,2007) của Lê Phương Nga - Đặng Kim Nga đã phân tích mục tiêu,nhiệm vụ; các nguyên tắc dạy học; nội dung dạy học (ở các khối lớp) và việc
tổ chức dạy học phân môn luyện từ và câu Cụ thể, trong việc tổ chức dạy họcphân môn luyện từ và câu, tác giả đã đưa ra hệ thống bài tập về từ loại điểnhình như: bài tập làm giàu vốn từ (bài tập dạy nghĩa từ, bài tập hệ thống hóavốn từ, bài tập sử dụng từ), bài tập theo các mạch kiến thức, kĩ năng về từ vàcâu (bài tập nhận diện, phân loại, phân tích; bài tập xây dựng, tổng hợp) vàmột số điều giáo viên cần lưu ý khi thực hành dạy học, tổ chức thực hiện cácloại bài tập này
Một số giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học cũng có
đề cập tới việc dạy học từ loại cho học sinh nhưng tất cả chỉ ở mức độ kháilược, sơ bộ
Trong các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp cũng có một số côngtrình bàn đến việc dạy học từ loại nói chung và dạy học động từ, tính từ nóiriêng
Luận văn thạc sĩ “Từ loại Tiếng Việt và việc dạy từ loại cho học sinhTiểu học”của Lê Thị Lan Anh (Đại học Sư phạm Hà Nội 2-2006) đã đề cậpđến các đặc điểm của từ loại tiếng Việt và đưa ra những biện pháp nhằm giảiquyết một số vấn đề về phương pháp dạy học Tiếng Việt
Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu khả năng xác định từ loại cơ bản củahọc sinh tiểu học lớp 4 trên cơ sở các bài Tập đọc” (sinh viên Trần Thị Hoa -k30B- GDTH - Đại học Sư phạm Hà Nội 2), khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểukhả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản của học sinh Tiểu học”
Trang 10(sinh viên Nguyễn Thị Cẩm Vân - GDTH - Đại học Sư phạm Hà Nội 2) đềutrình bày về một số đặc điểm của ba từ loại cơ bản trong đó có động từ và tính
từ, đồng thời tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh tiểu học qua một
số bài tập
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về từ loại, liên quan đến từ loạiTiếng Việt đã trình bày hết sức chi tiết về đặc điểm của từ loại Tiếng Việt.Tuy nhiên xem xét về việc dạy học từ loại động từ, tính từ cho học sinh ở nhàtrường Tiểu học thì chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệthống và có sự ứng dụng cao Với ý nghĩa đó, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu
đề tài “Khả năng nhận diện và phân biệt động từ và tính từ cảu học sinh lớp4,5 ở nhà trường Tiểu học” với mong muốn giúp giáo viên và học sinh Tiểuhọc có những giải pháp tích cực trong việc nhận diện và phân biệt hai từ loạinày
3 Mục đích vànhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu khả năng nhận diện và phân biệt động từ, tính từ cuảhọc sinh lớp 4 và lớp 5 ở nhà trường Tiểu học Trên cơ sở đó đưa ra một số ýkiến đề xuất và giải pháp để nâng cao khả năng nhận diện và phân biệt hai từloại dễ lẫn này đồng thời hướng tới khả năng sử dụng động từ, tính từ tronghoạt động giao tiếp
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lí thuyết về động từ và tính từ
- Trên cơ sở lí luận đã có, tiến hành khảo sát thực tế đối tượng học sinhlớp 4 và lớp 5, đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm giải quyết thực trạngtrên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là khả năng nhận diện và phân biệt
Trang 11động từ, tính từ của học sinh lớp 4,5 ở nhà trường Tiểu học.
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu về từ loại là một đề tài rộng Vì vậy, Trong khóa luận này,chúng tôi chỉ đề cập, tìm hiểu, nghiên cứu một khía cạnh nhỏ là: khả năngnhận diện và phân biệt động từ, tính từ của học sinh lớp 4,5 ở trường Tiểu họcBình Hòa - xã Bình Hòa - huyện Giao Thủy - tỉnh Nam Định
5 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:
+ Thống kê tư liệu điều tra được
+Xử lí tư liệu điều tra bằng các biện pháp: phân tích, phân loại, so sánh.+ Viết khóa luận và tóm tắt
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của khóa luận được chia thành 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Khả năng nhận diện và phân biệt các động từ, tính từ củahọc sinh Tiểu học
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Khái quát về từ loại tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm về từ loại
Vấn đề từ loại là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu về ngữ pháp quantâm Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung trong “Ngữ pháp tiếng Việt” quanniệm “Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp Đó lànhững lớp từ có chung bản chất ngữ pháp, được biểu hiện trong đặc trưngthống nhất làm tập hợp tiêu chuẩn tập hợp và quy loại”
Đinh Văn Đức trong “Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại” cho rằng “Từ loại
là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo ý nghĩa kháiquát, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác và thực hiện những chứcnăng ngữ pháp nhất định ở trong câu”
Lê Biên trong “Từ loại tiếng Việt hiện đại” cũng chỉ ra khái niệm về từloại như sau “Từ loại là khái niệm chỉ sự phân loại từ nhằm mục đích ngữpháp theo bản chất ngữ pháp của từ”
Lê A trong “Giáo trình tiếng Việt 3” cũng khẳng định “Từ loại là lớpcác từ có sự giống nhau về đặc điểm ngữ pháp Muốn phân định được từ loạithì cần xác định được đặc điểm ngữ pháp (bao gồm cả ý nghĩa ngữ pháp kháiquát của từ”
1.1.2 Tiêu chí phân định từ loại
Để phân định từ loại tiếng Việt, người ta dựa vào 3 tiêu chí phân loại là
ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp
a Ý nghĩa khái quát
Ý nghĩa ngữ pháp khái quát là loại ý nghĩa phạm trù có mức độ kháiquát cao, do đó là ý nghĩa chung cho các từ thuộc cùng từ loại
Trang 14Ví dụ: Các từ: ăn, chạy, múa,… có ý nghĩa khái quát chung là chỉ hoạtđộng Các từ: tốt, đẹp, cao, nhỏ,… có ý nghĩa khái quát chung là chỉ tính chất,đặc điểm.
“Ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát của từng lớp từ, trên cơ sở kháiquát hóa từ vựng thành khái quát hóa phạm trù ngữ pháp chung (phạm trù từvựng - ngữ pháp)”
b, Khả năng kết hợp
Với ý nghĩa khái quát, các từ có khả năng tham gia vào một kết hợp cónghĩa: ở mỗi vị trí của kết hợp có thể xuất hiện những từ có khả năng lần lượtthay thế nhau, trong khi đó, ở các vị trí khác trong kết hợp, các từ còn lại tạo
ra bối cảnh cho sự xuất hiện khả năng thay thế của những từ nói trên
Khả năng kết hợp của từ là sự phân bố vị trí của từ trong những hoàncảnh giống nhau hoặc khác nhau khi chúng kết hợp với từ khác Các từ đượcphân bố cùng một vị trí, trong một hoàn cảnh giống nhau có thể được tập hợpthành một từ loại
Khả năng kết hợp ở vị trí phân bố giống nhau là tiêu chuẩn tích cực đốivới từ loại này và là tiêu chuẩn tiêu cực đối với từ loại khác (tiêu chuẩn đốilập các từ loại)
c, Chức vụ cú pháp
Khả năng đảm nhận các chức vụ cú pháp của từ trong câu không giốngnhau Hoạt động cấu tạo câu chủ yếu được xem xét ở năng lực đảm nhiệm củahai thành phần chính (chủ ngữ và vị ngữ) trong nòng cốt của câu đơn bìnhthường Có thể phân biệt những từ có thể đảm nhiệm vai trò các thành phầnchính (danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ) và các từ chỉ đảm nhiệm đượcvai trò các thành phần phụ (phụ từ), hoặc chỉ đảm nhận vai trò kết nối cácthành phần câu (quan hệ từ) Ngoài ra, còn có những từ không đảm nhiệm vaitrò cấu tạo một phần nào trong cấu trúc ngữ pháp của câu mà chỉ thể hiện ý
Trang 15nghĩa tình thái của câu (tình thái từ) Các từ có chức năng điển hình giốngnhau có thể được xếp vào cùng một từ loại Những từ thuộc các từ loại khácnhau (thường) có chức năng ngữ pháp điển hình không giống nhau.
Khả năng giữ chức vụ cú pháp trong câu thường được sử dụng như mộttiêu chuẩn hỗ trợ Các từ thuộc một lớp nào đó có thể đảm đương không phảimột mà là một số chức vụ cú pháp ở trong câu Trong số các chức vụ cú pháp
đó thường có một hoặc vài chức vụ nổi lên rõ hơn có tính chất tiêu biểu cholớp từ đó
+ Danh từ thường làm chủ ngữ: khi làm vị ngữ danh từ thường phải kếthợp với từ “là” ( ví dụ: tôi là sinh viên)
+Động từ thường làm vị ngữ Khi đóng vai trò chủ ngữ, động từ mấtkhả năng kết hợp với đã, sẽ, đang, hãy, đừng, chớ,…
+ Tính từ thường làm vị ngữ Khi đóng vai trò chủ ngữ, tính từ mất khảnăng kết hợp với đã, đang, sẽ, cũng, rất, lắm, quá,…
1.1.3 Hệ thống từ loại tiếng Việt
Nhìn một cách tổng quát, các từ của tiếng Việt trước hết được phân biệttheo các đặc điểm về ý nghĩa ngữ pháp và các đặc điểm về hình thức tronghoạt động ngữ pháp thành hai phạm trù lớn là thực từ và hư từ
Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung trong “Ngữ pháp tiếng Việt” chorằng: Hệ thống từ loại Tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm bao gồmnhững từ loại sau đây:
Nhóm 1: Danh từ, động từ, tính từ
Số từĐại từNhóm 2: Phụ từ (định từ, phó từ)
Kết từTiểu từ (trợ từ và tình thái từ)
Trang 16Ta có sơ đồ biểu hiện hệ thống từ loại tiếng Việt:
Thực từ có những đặc điểm cơ bản sau:
Có ý nghĩa từ vựng thực Thực từ thường gắn với chức năng tri nhận vàđịnh danh các đối tượng của hiện thực: có thể dùng thực từ để gọi tên các sựvật, hoạt động, trạng thái, tính chất,…Ví dụ: bàn, ghế, hùng vĩ, cao thượng,nhiều,…
Có khả năng đảm nhiệm vai trò của thành tố chính và cả vai trò củathành tố phụ trong cấu tạo của cụm từ và của câu Ví dụ: xem xét hai thực từ
Hư từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp hoặc ý nghĩa tình thái Ví dụ:
+ Nó lại đi (“ lại” biểu hiện ý nghĩa tái diễn tương tự của hành động đi)
Trang 17+ Tôi được thưởng những năm triệu (“những” bổ sung ý nghĩa tìnhthái: nhiều, khác với: tôi được thưởng năm triệu; hoặc tôi được thưởng cónăm triệu.)
Hư từ không thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính trong cấu tạo củacụm từ và của câu Hư từ chỉ có vai trò:
+ Hoặc đi k m với thực từ để làm thành tố phụ bổ sung ý nghĩa nào đó
cho thực từ Ví dụ: mỗi ngày, đã đi, rất hiểu, biết rồi, tốt quá,…
+ Hoặc dùng biểu thị quan hệ giữa các từ, các cụm từ, các câu Ví dụ:
mẹ và con, đi rồi về,…
+ Hoặc dùng làm dấu hiệu cho các ý nghĩa tình thái Ví dụ: nóng quá!
Nhận xét: cả thực từ và hư từ đều cần thiết và không thể thiếu với hoạt
động ngôn ngữ, nhất là đối với ngôn ngữ dùng hư từ là một trong nhữngphương thức ngữ pháp chủ yếu như tiếng Việt
Số lượng hư từ thường ít hơn thực từ nhưng hư từ lại có tần suất sửdụng cao hơn
Trong khóa luận này chúng tôi chỉ nghiên cứu trên hai từ loại cơ bảntrong lớp thực từ là động từ và tính từ
1.2 Động từ
1.2.1 Khái niệm động từ
Theo Vũ Đức Nghiệu - Nguyễn Văn Hiệp, động từ được hiểu đơn giản
là “những từ biểu hiện hành động, trạng thái của người, vật”
Đinh Văn Đức đã nêu ra định nghĩa cụ thể hơn như sau: “động từ chỉcác hành động, trạng thái, các quan hệ dưới dạng tiến trình có mối quan hệ với chủ thể và diễn ra trong thời gian”
Giáo trình Ngữ pháp Tiếng Việt - Diệp Quang Ban đã chỉ ra rất rõ cácđặc trưng của động từ trên các phương diện: ý nghĩa khái quát, khả năng kếthợp và chức vụ cú pháp
Trang 181.2.2 Đặc điểm của động từ
Về ý nghĩa khái quát, động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát vềquá trình Ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thựcthể Đó là ý nghĩa hành động Ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trongmối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và không gian
Về khả năng kết hợp, động từ thường có các phụ từ đi k m, để biểu thịcác ý nghĩa quan hệ có tính tình thái giữa quá trình với cách thức và với cácđặc trưng vận động của quá trình trong không gian, trong thời gian và tronghiện thực Động từ còn kết hợp được với thực từ (danh từ) nhằm phản ánh cácquan hệ trong nội bộ động từ Khả năng kết hợp với “hãy”, “đừng”, “chớ” cótác dụng quy loại động từ (tính từ và danh từ chẳng hạn, không có khả năngkết hợp với “ hãy”, “đừng”, “ chớ”)
Về chức vụ cú pháp, cũng như danh từ, động từ có khả năng đảmnhiệm nhiều chức năng cú pháp khác nhau Nhưng chức năng phổ biến vàquan trọng nhất là làm vị ngữ trong cấu tạo câu, có vị trí trực tiếp đứng sauchủ ngữ Do đó, chức năng vị ngữ của động từ làm thành một tiêu chuẩn đốilập động từ và danh từ trong Tiếng Việt
+ Chỉ khả năng+ Chỉ ý chí+ Chỉ mong muốn+ Chỉ tiếp thụ
từ thái + Có thể, không thể…
không + Định, toan, dám, nỡ,…
độc lập + Mong, muốn, ước,…
+ Bị, được, mắc phải,
Trang 19chịu, + Chỉ bình giá+ cho, xem, thấy…
Quan + Là, làm,… + Chỉ đồng nhất
+ Chỉ tồn tại+ Chỉ sở hữu+Chỉ biến hóa+ Diễn trình thời gian+ Diễn trình không gian+ So sánh, đối chiếu
hệ + Còn, có mất, biến…
+ Có+ Hóa, thành, hoá ra,…
đi k m
Phân Ngồi, đứng, nằm, lăn,…
Ngủ, thức, cười, cằn nhằn,hậm hực,…
+ Hành động (không tácđộng - không đòi hỏi thực
từ đi k m)
loại
theo
thực từ Đánh, trồng, học…
Cho, tặng, gửi, lấy…
Sai, bảo, khiến…
Ra, vào, lên, xuống…
Đi, chạy, bò, lăn…
Kéo, đẩy, xô,…
+ Hành động (tác động
đi k m hoặc bị tác động, hoặc
chuyển động - thường cóthực từ đi k m)
1.2.4 Chức năng của động từ
a, Chức năng biểu thị ý nghĩa ngữ pháp của động từ
Về ý nghĩa ngữ pháp, cũng như danh từ, động từ có khả năng đảmnhiệm nhiều chức năng cú pháp khác nhau nhưng chức năng phổ biến và quan
Trang 20trọng nhất là làm vị ngữ trong cấu tạo câu, có vị trí trực tiếp đứng sau chủngữ Do đó, chức năng vị ngữ của động từ làm thành một tiêu chuẩn đối lậpđộng từ và danh từ trong Tiếng Việt Ngoài ra, động từ có thể làm bổ ngữ,định ngữ, đôi khi động từ đảm nhiệm chức năng chủ ngữ, trạng ngữ.
Ví dụ:
+ Tôi đã h i ể u
VN+ Người hi ể u tôi nhất là mẹ tôi
ĐN+ Tôi muốn hi ể u bài giảng của thầy giáo kĩ hơn
BN+ T h i đ u a là yêu nước
CN
b, Chức năng biểu thị ý nghĩa từ vựng của động từ
Động từ có khả năng biểu thị ý nghĩa từ vựng (ý nghĩa biểu vật, ý nghĩabiểu niệm, ý nghĩa biểu thái)
Ví dụ: đi có ý nghĩa biểu thị hoạt động di chuyển bằng chân của người
ở tốc độ bình thường…
Mạo hiểm biểu thị hoạt động bất chấp tất cả để làm liều một việc dù
biết việc đó nguy hiểm
1.2.5 Khả năng chuyển hóa từ loại của động từ
a, Chuyển loại danh từ sang động từ:
Ví dụ: Cái cuốc, cái cày, cái bừa,… (danh từ)
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa (động từ)
b, Chuyển loại động từ sang danh từ
Ví dụ: Chúng ta chiến thắng (động từ)
Chiến thắng của chúng ta thật vẻ vang (danh từ)
Trang 21c, Chuyển loại động từ sang tính từ
Ví dụ: Cô ấy vui vẻ (động từ)
Cô ấy trông thật vui vẻ (tính từ)
d, Chuyển loại trong nội bộ động từ
Ví dụ: Tớ cho cậu cái bút đó đấy (Động từ trao nhận)
Chi ấy cho rằng tôi là người sai (Động từ chỉ cảm nghĩ, nói năng)
e, Chuyển loại động từ thành phụ từ chỉ hướng
Ví dụ: Tôi ra chợ đây (Động từ)
Tôi đi ra chợ đây (Phụ từ chỉ hướng)
f, Chuyển loại động từ thành quan hệ từ
Ví dụ: Phía trên cao kia là một bầu trời xanh thẳm (Động từ)
Trên bàn có đặt một lọ hoa (Quan hệ từ)
1.3 Tính từ
1.3.1 Khái niệm tính từ
Theo tác giả Lê Biên trong cuốn “Từ loại Tiếng Việt hiện đại” thì tính
từ là những thực từ gọi tên tính chất, đặc trưng của sự vật, thực thể hoặc củavận động, quá trình, hoạt động
Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung cho rằng: tính từ là lớp từ chỉ ýnghĩa, đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của quá trình
Mỗi tác giả đều có những cách định nghĩa khác nhau về tính từ Nhưngtựu chung chúng đều thống nhất Tổng kết lại các quan niệm ở trên chúng tôi
đi đến cách hiểu: “tính từ là những từ chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, hoạtđộng, trạng thái”
1.3.2 Đặc điểm của tính từ
Theo Diệp Quang Ban - trong cuốn ngữ pháp Tiếng Việt, tính từ có cácđặc điểm chính sau đây:
Trang 22Về ý nghĩa khái quát, lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thựcthể hay đặc trưng của quá trình) là tính từ ý nghĩa đặc trưng được biểu hiệntrong tính từ thường có tính chất đối lập phân cực (thành cặp trái nghĩa) hoặc
có tính chất mức độ (so sánh và miêu tả theo thang độ)
Về khả năng kết hợp, tính từ có khả năng kết hợp với phụ từ, nhưngkhông kết hợp được với “hãy”, “đừng”, “chớ” (đối lập với động từ) Tính từcũng có thể kết hợp với thực từ đi k m (để bổ nghĩa cho tính từ)
Về chức năng cú pháp, trong tính từ, có bộ phận không thể dùng k mphụ từ, đó là những tính từ chỉ ý nghĩa đặc trưng ở thang độ tuyệt đối Làm vịngữ trong câu được coi là chức năng chính của tính từ, nhưng tính từ cũngđược dùng k m với danh từ hoặc động từ để bổ nghĩa cho danh từ hay động từ
1.3.3 Phân loại tính từ
Tính từ là một lớp từ đa dạng về ý nghĩa, khả năng kết hợp, nên có thểđược phân thành nhiều lớp nhỏ theo các tiêu chí khác nhau Các nhà nghiêncứu đều có cách phân loại trong các công trình của họ, song giữa các nhànghiên cứu vẫn có nhận định chung về sự phân loại tính từ:
+ Chỉ màu sắc: đỏ, tím, vàng,…
+ Chỉ đặc trưng tâm lí - tình cảm: hiểu, ác, dữ, lành,…
+ Chỉ tính chất vật lí: cứng, mềm, dẻo,…
Trang 23Tính từ quan hệ: là tính từ mà ý nghĩa chỉ tính chất của chúng được vaymượn từ ý nghĩa thực tế của danh từ Tính từ chỉ quan hệ có thể có gốc làdanh từ chung cũng có thể có gốc là danh từ riêng.
Khái niệm + Đây là lớp tính từ chỉ
đặc trưng không biểu thị ýnghĩa thang độ tự thân
+ Lớp từ này chỉ đặctrưng đồng thời biểu thịthang độ của đặc trưngtrong ý nghĩa tự thân,thường là ở mức tuyệtđối
Đặc điểm + Thường kết hợp với phụ + Thường không kết
từ chỉ ý nghĩa thang độ: hợp với phụ từ chỉ trìnhrất, hơi, quá, lắm, cực độ:rất, hơi, quá,… vàkì,… hoặc kết hợp với cũng không đòi hỏi thựcthực từ hàm chỉ ý nghĩa
Trang 24+ Những từ chỉ đặc trưngcường độ: mạnh, yếu,nóng, lạnh,…
+ Những từ chỉ đặc trưnghình thể: vuông, tròn,…
+ Những từ chỉ đặc trưngmàu sắc: xanh, đỏ, vàng,
…+ Những từ chỉ đặc trưng
âm thanh: ồn, im, vắng,
im lìm,…
+ Những từ chỉ đặc trưngmùi vị: thơm, đắng, cay,
…
1.3.4 Khả năng chuyển loại của tính từ
danh từ, động từ) + Chỉ đặc trưng tuyệtđối không làm thành cặpđối lập: đỏ lòm, Đen sì,
… (thường là từ láy hoặc
từ ghép, không kết hợpvới phụ từ chỉ trình độ) + Chỉ đặc trưng môphỏng: ào ào, l t ,…môphỏng gián tiếp đặctrưng hình thể của sựvật, hành động hoặc tínhchất Có thể kết hợp hạnchế với phụ từ hơi
- Chuyển loại từ từ ghép gốc Hán-Việt sang tính từ:
Ví dụ: Công chúa là con gái của vua (Danh từ)
Bạn A trông như công chúa (Tính từ)
- Chuyển loại từ từ tính từ sang danh từ:
Ví dụ: Nhà bạn A rất khó khăn (Tính từ)
Mọi khó khăn đều sẽ qua (Danh từ)
- Chuyển loại từ từ danh từ sang tính từ:
Ví dụ: Việt Nam là một đất nước giàu tài nguyên (Danh từ)
Một con người rất Việt Nam (Tính từ)
Trang 251.4 Cơ sở tâm lí học
1.4.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học
Học sinh Tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi Khi vào học lớp một, các
em rất bỡ ngỡ khi chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạtđộng học tập Ở các lớp sau, các em quen dần với hoạt động học tập, chínhnhững thay đổi trong cuộc sống đã tác động đến sự phát triển tư duy của các
em Ở đây, chúng ta sẽ tìm hiểu một số đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học
1.4.2.1 Tư duy
a, Khái niệm
Tư duy theo Nguyễn Thiện Thuật là quá trình nhận thức và phản ánhnhận thức của con người về tự nhiên, xã hội
b, Hai quá trình tư duy của con người
Tư duy cảm tính: đó là quá trình nhận thức, phản ánh nhận thức củacon người bằng trực quan sinh động
Tư duy lí tính (tư duy trừu tượng): là quá trình nhận thức, phản ánhnhận thức của con người bằng khái niệm, phán đoán, suy luận
c, Quá trình tư duy của học sinh Tiểu học
Do đặc điểm tâm lí, lứa tuổi, sự phát triển tư duy của các em diễn ratheo con đường: từ cụ thể, trực quan đến trừu tượng
Sự nhận thức về hiện thực khách quan của học sinh Tiểu học bắt đầu từcảm giác, tri giác Dần dần, khả năng liên tưởng, tưởng tượng, các biểu tượng
ở những lớp cuối bậc Tiểu học, khả năng dùng khái niệm, phán đoán với cácthao tác phân tích, so sánh, tổng hợp ngày càng phong phú
Trang 261.4.1.3 Tưởng tượng
Tưởng tượng là tạo ra trong trí nhớ hình ảnh về những cái không có ởtrước mắt hoặc chưa hề có Tưởng tượng của học sinh Tiểu học phân chia làmhai loại:
Tưởng tượng sáng tạo: quá trình học sinh tạo ra biểu tượng mới Họcsinh có thể tưởng tượng ra hình ảnh các sự vật, hiện tượng, các nhân vật trongcác bài tập đọc, các cảnh quan địa lí, các sự kiện lịch sử,…
Tưởng tượng tái tạo: học sinh hình dung ra những gì đã thấy, đã cảmnhận được
1.4.2 Khả năng tiếp nhận của học sinh Tiểu học trong hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt
Thông qua hoạt động giao tiếp mà phương tiện là tiếng mẹ đẻ, học sinhtrao đổi tâm tư, tình cảm của mình với người xung quanh Đúng nhưN.K.A.Usinxki đã nhận định: “trẻ em đi vào trong đời sống tinh thần của mọingười xung quanh nó duy nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đẻ và ngượclại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh trong nó thông qua chính công
cụ này”
Dựa vào những đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học mà chương trìnhTiếng Việt ở Tiểu học mới đưa ra mục tiêu giao tiếp bằng Tiếng Việt là hìnhthành các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết lên hàng ưu tiên Hoạt động giao tiếpvừa là mục đích số một, vừa là phương tiện dạy học Tiếng Việt
1.5 Việc dạy và học động từ, tính từ trong nhà trường Tiểu học
1.5.1 Nội dung dạy học động từ, tính từ ở Tiểu học
Ở Tiểu học, học sinh chỉ học các khái niệm động từ, tính từ, tính từ chỉtính chất chung không có mức độ, tính từ chỉ tính chất có xác định mức độ.Nội dung kiến thức về từ loại được giới thiệu tới học sinh bắt đầu từ lớp 2.Tuy nhiên, theo sự tăng dần độ khó của kiến thức, ở học kì I (lớp 4) học sinhmới chính thức được học các khái niệm động từ và tính từ Cụ thể:
Trang 27Lớp 2: các em có thể nhận biết các từ chỉ hành động
Lớp 3: các em có thể nhận biết các từ chỉ tính chất
Lớp 4: hình thành khái niệm ban đầu về động từ, tính từ
Lớp 5: có khả năng nhận diện, phân biệt và sử dụng động từ và tính từtrong văn nói và văn viết
Do có sự gần gũi giữa động từ và tính từ, có ý kiến cho rằng trongTiếng Việt hai từ loại này nằm trong một phạm trù từ loại chung là vị từ (hoặcthuật từ)
Tuy vậy,giữa động từ và tính từ vẫn có sự khác biệt Thông thường, cácnhà nghiên cứu phân loại hai từ loại này dựa theo 3 tiêu chí như sau:
Tiêu chí Ý nghĩa khái Khả năng kết hợp Chức năng ngữ
Động từ Động từ có ý Động từ có khả Chức năng tiêu
nghĩa khái quát năng kết hợp với biểu nhất của
là chỉ hoạt động, các phụ từ ở phía động từ là làm vịtrạng thái, tình trước nó: phụ từ ngữ Ngoài ra,cảm hay quan hệ, cầu khiến, phụ từ động từ có thểnói chung là chỉ chỉ sự khẳng làm bổ ngữ, địnhnhững dạng thức định,… ngữ, đôi khi độngvận độn, biến từ đảm nhiệmchuyển của sự chức năng chủvật về vật lí, tâm
lí, sinh lí
ngữ, trạng ngữ
Tính từ Tính từ chỉ tính Tính từ có khả
năng kết hợp vớicác phụ từ tương
tự như động từ
Giống như động
từ, tính từ có thểlàm vị ngữ trựctiếp
chất, đặc điểmcủa sự vật, hoạtđộng, trạng thái
Trang 28Tuy nhiên, tính Ngoài ra, tính từ
từ ít kết hợp với còn có thể đảmphụ từ cầu khiến, nhiệm các chứcphần lớn tính từ năng ngữ pháp
dễ kết hợp với khác trong câu:phụ từ chỉ mức bổ ngữ, định
độ ngữ, chủ ngữ,
trạng ngữ
Tuy nhiên, ở Tiểu học, sách giáo khoa Tiếng Việt 4 mới chỉ giới thiệumột tiêu chí trong cách phân loại nêu trên - tiêu chí về ý nghĩa khái quát Theotiêu chí này:
Động từ là những từ chỉ hành động, trạng thái của sự vật ví dụ: ăn,uống, nghỉ ngơi,…
Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạtđộng, trạng thái Ví dụ: cao, thấp,…
Sách giáo khoa giới thiệu một số cách thể hiện mức độ tính từ như sau:
- Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy tiếng đã cho Ví dụ: xanh xanh, đo chót,
- Thêm các từ lắm, quá, rất,… vào trước hoặc sau tính từ Ví dụ: cao lắm,
Trang 29Ví dụ: Tìm từ trong ngoặc đơn thích hợp với chỗ trống
( giơ, đuổi, chạy, nhe, luồn)Con m o, con m o
… theo con chuột
… vuốt… nanhCon chuột…quanhLuồn hang… hốc(Từ chỉ hoạt động, trạng thái- Tiếng Việt 2- tập 1- tr.66)Nội dung khái niệm động từ được trình bày trong SGK Tiếng Việt 4.Việc ôn tập để củng cố hiểu biết cho học sinh về từ loại này được thực hiệntrong SGK Tiếng Việt 5
Nội dung dạy học về tính từ trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học: chươngtrình Tiếng Việt phần tính từ được thực hiện hóa trong SGK Tiếng Việt từ lớp
2 đến lớp 5 thành 2 dạng bài:
Dạng bài thực hành về tính từ: Lớp 2 là bài: từ chỉ đặc điểm, kiểu câu:
ai thế nào? (tuần 15, tr.122, tập 1), từ chỉ tính chất, kiểu câu: ai thế nào? (tuần
17, tr.133, tập 1); lớp 3 là bài: ôn tập về từ chỉ đặc điểm, ôn tập câu: ai thếnào? (tuần 14, tr.117, tập 1), ôn tập về từ chỉ đặc điểm, ôn tập câu: ai thếnào?, dấu phẩy (tuần 17, tr.145, tập 1)
Dạng bài lí thuyết được dạy và học ở lớp 4 bài: tính từ (tuần 11, tr.110,tập 1), tính từ (tiếp theo) (tuần 12, tr.123, tập 1); lớp 5 là bài: ôn tập về từ loại(tr.142, tập 1)
1.5.2 Thực trạng dạy và học từ loại động từ, tính từ ở trường Tiểu học
a,Về phía giáo viên
Giáo viên chưa hình thành cho học sinh về khả năng kết hợp và chứcnăng cú pháp của từ loại động từ và tính từ khi dạy
Giáo viên chưa linh hoạt trong quá trình dạy học và chưa tạo sự hứngthú cho học sinh khi dạy về các từ loại này
Trang 30Trong quá trình dạy học, giáo viên chưa tổ chức được các hoạt độngứng dụng trải nghiệm sáng tạo cho học sinh.
b,Về phía học sinh
Vốn từ của các em còn chưa phong phú
Học sinh còn xác định từ loại chưa chính xác nên việc vận dụng từ loạiTiếng Việt vào các kỹ năng nói, viết còn hạn chế
Do không phân định đúng ranh giới của từ nên học sinh còn xác địnhsai từ loại vì thế việc xác định thành phần của câu còn khó khăn
Một số em không nắm chắc khái niệm của từ loại nên không hiểu nộidung diễn đạt của các văn bản nói và viết
Học sinh chưa có thói quen tự tìm hiểu và sưu tầm tài liệu
Học sinh còn rụt r , chưa tích cực tham gia các hoạt động học tập đặc biệt là các hoạt động ứng dụng và trải nghiệm sáng tạo
Chưa biết tự đánh giá và tham gia đánh giá bạn, nhóm bạn
Ví dụ: Con bye bà đi! (Con chào bà đi!)
Nó là number one (Nó là số một.)Hoặc: Con thanhk you chị đi! (Con cám ơn chị đi!)