TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌCNGUYỄN THỊ CHUNG ANH BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4, 5 SỬ DỤNG TỐT SO SÁNH TU TỪ VÀ NHÂN HÓA TU TỪ TRONG VĂN MIÊU TẢ KHÓA LUẬN TỐT NG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ CHUNG ANH
BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4, 5
SỬ DỤNG TỐT SO SÁNH TU TỪ VÀ NHÂN HÓA TU TỪ TRONG VĂN
MIÊU TẢ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học: ThS VŨ THỊ TUYẾT
HÀ N I
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Ths Vũ Thị Tuyết
-người đã hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục
Tiểu học đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình triển khai khóa luận.
Mặc dù đã có những cố gắng, tìm tòi nhất định, song chắc chắn khóaluận không tránh khỏi hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp của thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Chung Anh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Cấu trúc khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 7
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4, 5 7
1.1.1.1 Đặc điểm tâm lí 7
1.1.1.2 Đặc điểm sinh lí 8
1.1.2 Văn miêu tả trong phân môn tập làm văn ở tiểu học 9
1.1.2.1 Vị trí, vai trò của phân môn tập làm văn 9
1.1.2.2 Khái niệm văn miêu tả 10
1.1.2.3 Đặc điểm văn miêu tả 10
1.1.2.4 Các bước làm bài văn miêu tả 12
1.1.3 Biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa 12
1.1.3.1 Biện pháp so sánh 12
1.1.3.2 Biện pháp nhân hóa 16
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 20
1.2.1 Chương trình văn miêu tả ở Tiểu học 20
Trang 41.2.2 Thực trạng việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa
trong văn miêu tả ở tiểu học hiện nay 22
1.2.3 Khảo sát, thống kê, phân loại việc sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong bài văn miêu tả của học sinh 25
1.2.3.1 Tiêu chí khảo sát, thống kê biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh trong những bài văn miêu tả của HS lớp 4, 5 25
1.2.3.2 Nhận xét kết quả khảo sát, thống kê phân loại 25
CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH, NHÂN HÓA VÀ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4, 5 SỬ DỤNG TỐT CÁC BIỆN PHÁP NÀY TRONG VĂN MIÊU TẢ 28
2.1 Giá trị của biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong văn miêu tả 28
2.1.1 Giá trị biện pháp tu từ so sánh trong văn miêu tả 28
2.1.2 Giá trị biện pháp tu từ nhân hóa trong văn miêu tả 31
2.2 Biện pháp giúp học sinh lớp 4, 5 sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong văn miêu tả 34
2.2.1 Các bước hướng dẫn HS viết bài văn miêu tả để vận dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa 34
2.2.1.1 Hướng dẫn và tạo điều kiện để HS tích lũy vốn từ ngữ miêu tả 34
2.2.2.2 Hướng dẫn HS lựa chọn từ ngữ khi miêu tả 35
2.2.2.3 Tích lũy các kiến thức về biện pháp so sánh, nhân hóa 36
2.2.2 Hướng dẫn HS sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa trong văn miêu tả ở lớp 4, 5 39
2.2.2.1 Hướng dẫn HS quan sát đối tượng miêu tả 39
2.2.2.2 Hướng dẫn HS lập dàn bài miêu tả 42
2.2.2.3 Hướng dẫn HS tả các bộ phận của đối tượng miêu tả 43
2.2.2.4 Hướng dẫn HS xây dựng đoạn văn trong bài văn miêu tả 45
Trang 52.2.3 Các dạng bài tập bổ trợ để rèn kĩ năng sử dụng biện pháp so
sánh và nhân hóa trong văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 48
2.2.3.1 Bài tập nhận diện và phân tích biện pháp so sánh, nhân hóa có trong đoạn văn, đoạn thơ 48
2.2.3.2 Bài tập sửa chữa lỗi khi dùng biện pháp so sánh và nhân hóa trong câu văn, đoạn văn 49
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 55
3.1 Mục đích thực nghiệm 55
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 56
3.3 Thời gian thực nghiệm 56
3.4 Nội dung thực nghiệm 56
3.5 Giáo án thực nghiệm 57
3.6 Tiến trình thực nghiệm 63
3.7 Kết quả thực nghiệm 64
3.8 Kết luận chung về thực nghiệm 66
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 6CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
GV Giáo viên
HS Học sinhNXB Nhà xuất bảnSGK Sách giáo khoa
TH Tiểu học
Trang 7hệ thống kĩ năng hoạt động giao tiếp bằng Tiếng Việt, đồng thời môn học nàycòn bồi dưỡng năng lực tư duy cũng như tình yêu với tiếng Việt.
Phân môn Tập làm văn là một phân môn trong môn Tiếng Việt giúphọc sinh tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo các phong cách chức năngngôn ngữ, hình thành và phát triển năng lực tạo lập ngôn bản - một năng lựcđược tổng hợp từ các kĩ năng bộ phận như: xác định mục đích nói, lập ý, triểnkhai ý thành lời (dạng nói, viết bằng câu, đoạn, bài)
Tập làm văn là phân môn có tính tổng hợp, sáng tạo, thực hành và thểhiện được đậm nét dấu ấn cá nhân Nội dung chương trình tập làm văncủa lớp 4, 5 hiện nay khá phong phú, học sinh được học một số loại văn nhưmiêu tả, viết thư và một số loại văn bản khác (trao đổi ý kiến, giới thiệu hoạtđộng, báo cáo thống kê, thuyết trình tranh luận…)
Những văn bản miêu tả có tác dụng to lớn một phần là bởi sự có mặtcủa những biện pháp tu từ Hai biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhấttrong các bài văn miêu tả là biện pháp so sánh và nhân hóa Khi học sinhđược học những kiến thức về sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóatrong văn miêu tả, các em sẽ nhận thấy cái hay, cái đẹp chứa đựng trong từngcách so sánh, nhân hóa các sự vật Từ đó, các em sẽ biết sử dụng các biệnpháp tu từ sao cho đúng, cho hay để viết văn miêu tả gợi hình, gợi cảm vàsinh động hơn
Trang 8Thực trạng dạy học trong trường TH hiện nay cho thấy đa phần họcsinh không hứng thú với phân môn tập làm văn, học sinh còn thụ động trongviệc viết văn, cách viết còn rập khuôn máy móc theo các bài văn mẫu, các câuvăn còn khô cứng HS lớp 4, 5 vẫn chưa biết cách vận dụng các biện pháp tu
từ so sánh, nhân hóa vào trong bài làm của mình Bài làm của các em làmkhông sinh động, khô khan, đơn điệu; không có tính biểu cảm, câu văn khôngmang tính tượng thanh, tượng hình
GV còn gặp khó khăn, lúng túng trong việc hướng dẫn cho HS viết vănmiêu tả đặc biệt là trong việc giúp HS vận dụng các biện pháp tu từ như sosánh, nhân hóa đã được học vào trong bài viết của mình Điều này làm chochất lượng dạy và học môn phân môn Tập làm văn nói chung và văn miêu tảnói riêng chưa thực sự đạt hiệu quả cao
Như vậy việc đưa hai biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá vào dạy chohọc sinh hoàn toàn phù hợp Việc hiểu biết về hai biện pháp so sánh, nhân hoá
tu từ và kỹ năng vận dụng chúng vào lời nói sẽ giúp học sinh học tiếng Việtngày một tốt hơn và điều này là vô cùng cần thiết
Xuất phát từ những yêu cầu khoa học và nhu cầu thực tiễn trên, chúng
tôi đã lựa chon nghiên cứu đề tài: “Biện pháp giúp học sinh lớp 4, 5 sử dụng
tốt so sánh tu từ và nhân hóa tu từ trong văn miêu tả”.
2 Lịch sử vấn đề
So sánh và nhân hóa là hai biện pháp tu từ khá phổ biến, được dùngnhiều trong lời ăn tiếng nói hàng ngày cũng như trong các tác phẩm vănchương nghệ thuật Chính vì vậy đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều cuốnsách, luận văn nghiên cứu về vấn đề này
Về văn miêu tả: Cuốn sách “Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả” của tác giả Nguyễn Trí đã viết, gồm hai phần lớn:
- Phần thứ nhất: cung cấp các tri thức cơ bản, cần thiết về văn miêu tảnói chung, về các kiểu bài miêu tả nói riêng
Trang 9- Phần thứ hai: trình bày các yêu cầu và đặc biệt đi sâu phân tích một sốđiểm về phương pháp dạy văn miêu tả Ngoài hai phần chính trên, tác giả còngiới thiệu thêm một số đoạn văn miêu tả hay, một số kinh nghiệm và một bàisoạn dạy văn miêu tả
Cuốn sách “Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học” tác giả Nguyễn Trí
cũng đã đề cập đến vấn đề văn miêu tả trong văn học và văn miêu tả trong nhàtrường, đồng thời cũng đề cập đến phương pháp dạy học văn miêu tả trong
nhà trường Cuốn sách “Văn miêu tả và kể chuyện” của các tác giả Vũ Tú
Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng cũng đã giới thiệu những bàiviết của mình về suy nghĩ, kinh nghiệm của bản thân khi viết văn miêu tả vàvăn kể chuyện Nhưng đó cũng chỉ là nói qua, nói một cách sơ lược chứ chưagợi ý, hướng dẫn cách sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa ra sao
Tác giả Lê Phương Nga và Nguyễn Trí cũng đã nói về văn miêu tả qua
cuốn sách “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” Trong cuốn sách
này, tác giả Nguyễn Trí đã đề cập đến các vấn đề sau: văn miêu tả trongchương trình Tập làm văn ở Tiểu học, một số vấn đề dạy – học văn miêu tả ởlớp 4, 5; nghệ thuật miêu tả, dạy tiết quan sát và tìm ý ở lớp 4 và lớp 5
Ngoài ra còn có rất nhiều cuốn sách tuyển chọn những bài văn miêu tảhay ở bậc Tiểu học và các công trình nghiên cứu khác như:
Tác giả Hoàng Hòa Bình đã viết cuốn “Dạy văn cho học sinh Tiểu
học”, Xuân Thị Nguyệt Hà và một số tác giả khác với cuốn“Học văn qua mẫu Q.4” Hay“Một số kinh nghiệm về viết văn miêu tả” của Tô Hoài, “Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới” của Nguyễn Trí.
Ngoài ra tác giả Nguyễn Trí còn rất nhiều các tác phẩm khác như “Dạy Tập
làm văn ở trường Tiểu học”, “Văn Miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu học”,
Trang 10Về biện pháp so sánh: Tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa đã
đưa ra các khái niệm về biện pháp so sánh tu từ trong cuốn sách “Phong cách
học tiếng Việt”.
Tác giả Cù Đình Tú và Nguyễn Thế Lịch cũng đã đưa ra những quanđiểm khác nhau về khái niệm, bản chất, mô hình của so sánh Cùng với đó córất nhiều những quan niệm, nhìn nhận khác về biện pháp tu từ so sánh nhưquan niệm của các tác giả Nguyễn Thế Lịch và nhiều các tác giả khác
Về biện pháp nhân hóa: Có nhiều cuốn sách và tác giả viết về nhân hóa
như cuốn sách “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” tác giả Đinh
Trọng Lạc đã trình bày khái niện nhân hóa và các dạng nhân hóa tu từ Tácgiả Phạm Hổ gián tiếp nói lên vai trò, vị trí của so sánh và nhân hóa trong vănmiêu tả Nhưng đó cũng chỉ là nói qua, nói một cách sơ lược chứ chưa gợi ý,hướng dẫn cách sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa ra sao
Ngoài ra còn có rất nhiều nhà nghiên cứu hay một số sinh viên, họcviên cao học các khóa học trước đã đi tìm hiểu về biện pháp so sánh hoặc biệnpháp nhân hóa
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về so sánh, nhân hóa và vănmiêu tả Có thể thấy văn miêu tả trong nhà trường Tiểu học đã được rất nhiềutác giả quan tâm Các tác giả đã tìm hiểu sâu về văn miêu tả và đề ra được cácphương pháp dạy học văn miêu tả trong nhà trường Tiểu học Tuy nhiên cáctác giả còn đề cập chưa nhiều đến việc sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóatrong viết văn miêu tả Hoặc nếu có ứng dụng thì chỉ ở một kiểu bài nhất địnhnhư phần văn tả cây cối hay văn tả loài vật
Như vậy, chưa có một tác giả nào đề cập đến vấn đề hướng dẫn HS sửdụng biện pháp so sánh và nhân hóa để học tốt phân môn tập làm văn ở lớp 4,
5 Điều đó đặt ra đòi hỏi làm thế nào để HS ứng dụng được những điều đã học
về hai biện pháp này trong bài văn? Làm thế nào để HS viết dược một văn
Trang 11miêu tả hay? Cần hướng dẫn HS như thế nào để HS viết được một bài văn cónhiều hình ảnh, cảm xúc? Tất cả những vấn đề trên đây đã định hướng giúpchúng tôi chọn đề tài này để nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Giá trị, biện pháp giúp học sinh lớp 4, 5 sử dụng tốt biện pháp tu từ sosánh, nhân hóa trong văn miêu tả ở bậc học Tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến việc rèn kỹ năng sử dụng biệnpháp tu từ so sánh và nhân hóa cho học sinh
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóatrong bài văn miêu tả của học sinh lớp 4, 5
- Tìm hiểu về giá trị biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong vănmiêu tả trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
Trang 12- Đề xuất các biện pháp rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh vànhân hóa để luyện viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, xử lí số liệu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dungcủa khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Giá trị của biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong văn miêu
tả và biện pháp giúp HS sử dụng tốt các biện pháp này trong văn miêu tả
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Về chú ý, HS ở giai đoạn này chú ý bắt đầu mang tính ổn định và bền
vững Các em biết tập trung vào nội dung cơ bản của bài học hay kiến thức,bắt đầu biết phân phối chú ý Mặc dù vậy, chú ý của HS vẫn còn thườnghướng ra bên ngoài
Về tri giác, giai đoạn này tri giác phân tích được hình thành và phát
triển mạnh mẽ Tri giác thường gắn liền với cảm xúc Vốn biểu tượng tăng lênđáng kể so với giai đoạn trước
Về trí nhớ, trí nhớ từ ngữ, trừu tượng ở HS phát triển tốt hơn ở giai
đoạn trước Trí nhớ dài hạn đã phát triển nhưng trí nhớ ngắn hạn vẫn chiếm
ưu thế, đồng thời trí nhớ có chủ định phát triển hơn hẳn so với giai đoạntrước
Về tư duy, HS giai đoạn 2 tư duy trừu tượng đang dần chiếm ưu thế
Khả năng khái quát hóa và suy luận của HS phát triển hơn Các em đã biết
Trang 14dựa vào dấu hiệu bản chất để khái quát thành khái niệm, suy từ nguyên nhân
ra kết quả và ngược lại
Về tưởng tượng, tưởng tượng tái tạo chiếm vai trò chủ yếu đối với
HSTH ở giai đoạn sau, cấu trúc hình ảnh tưởng tượng đã phù hợp với đốitượng nhưng mức độ khái quát còn thấp Tưởng tượng sáng tạo bắt đầu đượchình thành và tưởng tượng của các em gần hiện thực hơn
1.1.1.2 Đặc điểm sinh lí
Về đặc điểm hệ cơ – xương, ở lứa tuổi TH cơ của các em chứa nhiều
nước, tỉ lệ chất đạm, mỡ còn ít nên hoạt động chóng mệt mỏi Sức mạnh cơcủa HS lớp 4, 5 từ 3,5kg – 5,2kg Lực cơ của HS tăng dần theo lứa tuổi, cơphát triển chưa cân đối nên khả năng phối hợp còn kém Tốc độ phát triển củaxương rất nhanh, đặc biệt là xương tay và chân Cấu trúc xương chưa ổn định
vì vậy trong học tập, sinh hoạt cần tránh đè nén mạnh hay sai tư thế sẽ làm
HS sai lệch, mất cân đối cơ thể
Về hệ tuần hoàn, ở HSTH nhịp tim nhanh, lượng máu mỗi lần tim co
bóp đưa vào động mạch tăng dần, ở HS lớp 4, 5 khoảng 30ml Khi hoạt độngmạnh hoặc căng thẳng, lo lắng,… thì nhịp tim nhanh hơn, dồn dập hơn
Về đặc điểm hệ hô hấp, HSTH hệ hô hấp đang trong giai đoạn hoàn
thiện, chuyển dần từ thở bụng sang thở ngực Lượng không khí chứa trongphổi còn thấp Độ giãn nở của các phế nang (túi phổi) còn thấp nên nhịp thởcòn nông, số lượng phế nang tham gia hô hấp cò ít Tần số hô hấp tương đốicao, khi hoạt động mạnh dễ chuyển sang thở gấp
Về hệ thần kinh, hoạt động phân tích và tổng hợp đã hình thành mặc dù
còn kém nhạy bén, nhận thức các hiện tượng biến đổi của xã hội còn mangtính chủ quan, cảm tính, bị động,… Ở HS lớp 4, 5 khả năng phân tích, tổnghợp phát triển mạnh hơn giai đoạn trước
Như vậy đặc điểm tâm lí và sinh lí của HS giai đoạn sau TH đã có bướcphát triển vượt bậc và ngày càng hoàn thiện hơn so với giai đoạn trước, đáp
Trang 15ứng cho việc lĩnh hội những tri thức mới, những yêu cầu mới với nhiều đòihỏi cao hơn trong quá trình học tập
1.1.2 Văn miêu tả trong phân môn tập làm văn ở tiểu học
1.1.2.1 Vị trí, vai trò của phân môn tập làm văn
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của đất nước, trong những năm qua Đảng,Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục Một trong nhữngnhiệm vụ cơ bản của giáo dục đào tạo hiện nay là: hình thành và phát triểnnhân cách cho HS một cách toàn diện theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lựcphục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Trong tác phẩm “Dạy tập làm văn ở Tiểu học”, tác giả Nguyễn Trí đã viết: “Phân môn Tập làm văn có tính chất tổng hợp, có quan hệ chặt chẽ với
việc dạy học Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu Đây là nơi tiếp nhận cũng
là nơi luyện tập càng ngày càng nhuần nhuyễn các kĩ năng và kiến thức các phân môn trên Bài tập làm văn trở thành sản phẩm tổng hợp, là nơi trình bày kết quả đích thực nhất của việc học Tiếng Việt (tiếng mẹ đẻ) Tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người Với ộng đồng, đó là công cụ để giao tiếp và tư duy Đối với trẻ em, tiếng mẹ đẻ lại càng có vai trò quan trọng hơn.”
Phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ giúp học sinh hình thành và pháttriển các kĩ năng sản sinh ngôn bản Môn học này có vị trí đặc biệt trong quátrình dạy học tiếng mẹ đẻ vì Tập làm văn nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng,quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng ngôn ngữTiếng Việt để giao tiếp, tư duy và học tập Thông qua môn Tập làm văn, họcsinh vận dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp những kiến thức, kĩ năngTiếng Việt đã được học vào việc tạo lập nên những bài văn hay, giàu tínhnghệ thuật
Trang 161.1.2.2 Khái niệm văn miêu tả
Theo từ điển Tiếng Việt, NXB KHXH, Hà Nội, 1997 văn miêu tả có
nghĩa là: “Thể hiện sự vật bằng lời hay nét vẽ” Theo sách Tiếng Việt 4: “Văn
miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật giúp người đọc, người nghe có thể hình dung được các đối tượng ấy”.
Văn miêu tả là thể loại văn dùng ngôn ngữ để tả sự vật, hiện tượng, conngười,… một cách sinh động, cụ thể như nó vốn có Đây là loại văn giàucảmxúc, giàu trí tưởng tượng và sự đánh giá của người viết Bất kỳ một sự vật,hiện tượng nào trong cuộc sống cũng có thể trở thành đối tượng của văn miêu
tả nhưng không phải bất kỳ một sự miêu tả nào cũng trở thành văn miêu tả
Miêu tả không chỉ đơn giản ở việc giúp người đọc thấy rõ được nhữngnét đặc trưng, những đặc điểm, tính chất,… không thể chỉ là việc sao chép,chụp lại một cách máy móc mà phải thể hiệnđược cả sự tinh tế của tác giảtrong việc sử dụng ngôn từ, trong cách thể hiện cảm xúc, tình cảm của tác giả
đối với đối tượng được miêu tả và hơn thế là: “Bằng những ngôn ngữ sinh
động đã khắc họa lên bức tranh đó, sự vật đó khiến cho người nghe, người đọc như cảm thấy mình đang đứng trước sự vật, hiện tượng đó và cảm thấy như được nghe, sờ những gì màn hà văn nói đến”.
1.1.2.3 Đặc điểm văn miêu tả
- Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết
Đối tượng trong văn miêu tả rất gần và thân thuộc Đó có thể chỉ là mộtcon gà, một con mèo, hay một cây ăn quả trong vườn nhà,… Song dù miêu tảđối tượng nào đi nữa, bao giờ người viết cũng đánh giá chúng theo một quanđiểm thẩm mĩ, cũng gửi vào trong bài viết ít nhiều tình cảm hay ý kiến đánhgiá, bình luận của mình Do vậy, từng chi tiết của bài văn miêu tả đều mang
ấn tượng, cảm xúc chủ quan Đặc điểm này làm cho miêu tả trong văn họckhác hẳn với các bài văn miêu tả trong các môn khoa học, tự nhiên xã hội,
Trang 17- Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình
Một bài văn miêu tả được coi là sinh động và tạo hình các sự vật, đồvật, phong cách, con người, được miêu tả trong đó hiện lên qua từng câu,từng dòng như trong cuộc sống thực, tưởng như có thể cầm nắm được, có thể
nhìn ngắm, hoặc “sờ mó” được theo cách nói của Goocki, làm nên sự sinh
động tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống, gây ấn tượng,… tước bỏchúng đi, bài văn sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị
Tuy nhiên cần tránh một khuynh hướng ngược lại là đưa quá nhiều chitiết làm cho bài văn miêu tả trở nên rườm rà theo kiểu liệt kê đơn điệu Cầnphải gạt bỏ đi những chi tiết thừa, không có sức gợi cảm để bài văn lắng đọng
và giàu chất tạo hình
Những chi tiết sống động được lấy từ sự quan sát cuộc sống quanh ta,
từ kinh nghiệm sống của bản thân Có bắt nguồn từ trong thực tế, có thainghén trong kinh nghiệm, những trang văn miêu tả mới cụ thể và linh hoạt
- Ngôn ngữ trong văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh
Ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh nhằm diễn tả cảm xúc của ngườiviết được sinh động, thể hiện tính tạo hình cho đối tượng miêu tả
Trong bài văn miêu tả, ngôn ngữ thường giàu các tính từ, động từ.Người viết thường hay sử dụng các biện pháp tu từ: nhân hóa, so sánh, ẩn dụ
để miêu tả Do sự phối hợp của các tính từ (màu sắc, phẩm chất, mức độ,…),của các động từ với các biện pháp tu từ, ngôn ngữ miêu tả luôn tỏa sáng lunglinh trong long người đọc, gợi lên trong long người đọc những cảm xúc, tìnhcảm ấn tượng, hình ảnh về sự vật được miêu tả
Trong tác phẩm “Rèn kỹ năng sử dụng Tiếng Việt” hai tác giả Đào
Ngọc và Nguyễn Quang Ninh đã chỉ rõ ba đặc điểm của văn miêu tả Đó là:Văn miêu tả là một loại văn mang tính thông báo thẩm mĩ; trong văn miêu tả,cái mới, cái riêng phải gắn chặt với tính chân thật; ngôn ngữ trong văn miêu
Trang 18tả bao giờ cũng giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu, âm thanh,… Nhưvậy, hai tác giả đã nêu thêm một đặc điểm cũng rất quan trọng của văn miêu
tả đó là, tính sáng tạo phải gắn chặt với tính chân thật Bởi miêu tả là “Vẽ lại
những đặc điểm nổi bật của cảnh vật, của người” nên sự vẽ lại đó phải đảm
bảo đúng như đối tượng đang tồn tại trong cuộc sống
1.1.2.4 Các bước làm bài văn miêu tả
Ở TH các bước làm một bài văn miêu tả thường tiến hành theo cácbước sau:
+ Xác định đối tượng miêu tả
+ Quan sát đối tượng miêu tả bằng các giác quan theo một trình tự nhấtđịnh về không gian, thời gian, diễn biến tâm lí
+ Xây dựng cấu trúc bài văn miêu tả bao gồm ba phần: mở bài, thân bài
và kết bài
+ Viết bài văn miêu tả, ở bước này HS tiến hành viết các đoạn văn:đoạn văn mở bài, đoạn văn kết bài và thân bài Để viết được các đoạn văntrong bài văn miêu tả, HS phải sử dụng các biện pháp tu từ, những câu vănbiểu cảm, kết hợp miêu tả và kể, có thể thêm bình phẩm,
1.1.3 Biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa
1.1.3.1 Biện pháp so sánh
- Khái niệm so sánh
Trong cuốn “Phong cách học Tiếng Việt” đã đưa ra khái niệm về so sánh: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu
với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi
ra hình ảnh cụ thể những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc người nghe”.
Trang 19“So sánh là đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các quan hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau và khác biệt giữa chúng.” - đó là cũng là
một cách định nghĩa về so sánh nói chung
Trên thực tế tồn tại 2 loại so sánh là so sánh tu từ và so sánh luận lí (sosánh logic), chúng ta cần có sự tách bạch giữa 2 loại so sánh này Cụ thể:
- So sánh lí luận (logic): là một hoạt động nhận thức phổ biến của tư
duy con người nhằm nhận dạng và chiếm lĩnh bản chất của các sự kiện, hiện
tượng được so sánh, là “đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng cùng loại vào
các quan hệ nhất định nhằm tìm ra sự khác nhau giữa chúng” Cơ sở của
phép so sánh logic dựa trên tính đồng chất, đồng loại của các sự vật, hiệntượng cạnh nhau nhằm tìm ra sự giống nhau và khác biệt giữa chúng
Ví dụ:
- Bạn Lan cao hơn bạn Hoa.
- Diệp đẹp như mẹ cô ấy
- So sánh tu từ (so sánh hình ảnh): là biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong
đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan khôngđồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằmdiễn tả hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng gợi ra những hình ảnh
cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức người đọc, người nghe
Ví dụ:
Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày
(Tiếng Việt 3- Tập 1) Chòng chành như nón không quai
Như thuyền không lái như ai không chồng
(Ca dao)
Trang 20Như vậy điểm khác nhau cơ bản giữa hai kiểu so sánh này là tính hìnhtượng, tính dị loại (không cùng loại) và tính biểu cảm của sự vật Ở so sánh líluận, cái được so sánh và cái so sánh là hai đối tượng cùng loại mà mục đíchcủa sự so sánh này là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng Còn trong
so sánh tu từ, các đối tượng được đưa ra so sánh có thể cùng loại, có thể khácloại Mục đích của so sánh này là nhằm diễn tả một cách có hình ảnh đặcđiểm của đối tượng Trên thực tế có rất nhiều câu diễn đạt sự so sánh nhưng
so sánh tu từ là phải “nhằm diễn tả hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối
tượng”, tức là phép so sánh đó phải đạt đến một hình thức ổn định và có một
giá trị nội dung nhất định
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi chỉ chú trọng đến
so sánh tu từ
- Cấu tạo so sánh
Xét về mặt cấu tạo, mô hình so sánh đầy đủ bao gồm 4 yếu tố sau:
+ Yếu tố 1: yếu tố được / bị so sánh (tùy theo việc so sánh là tích cựchay tiêu cực)
+ Yếu tố 2: yếu tố chỉ phương diện so sánh (chỉ tính chất, đặc điểm của
sự vật hay trạng thái của hành động)
+ Yếu tố 3: Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (có thể là quan hệ ngangbằng hoặc không ngang bằng)
+ Yếu tố 4: yếu tố chuẩn (được đưa ra làm chuẩn để so sánh)
Trang 21Trên thực tế, có nhiều phép so sánh không đầy đủ cả 4 yếu tố trên Nó
có thể thiếu vắng một hoặc hai yếu tố
Ví dụ:
- Phía đông, ôn g m ặ t t r ờ i n h ư mộ t k h ố i c ầ u lử a đ a n g n h ô l ê n
- Qu ả d ừa - đàn l ợn co n nằm trên cao.
Yếu tố 1 Yếu tố 2 Yếu tố 3 Yếu tố 4
Ông mặt trời (Thiếu) như Một khối cầu lửa
đang nhô lênQuả dừa (Thiếu) (Thiếu) Đàn lợn con
- Các loại tu từ so sánh
Căn cứ vào mặt ngữ nghĩa, ta có thể chia phép so sánh thành các dạng
Trang 22(Tiếng Việt 4, tập 1)
Trang 23Bóng tối như bức màn mỏng, như thứ bụi xốp, mờ đen, phủ dần lên mọi vật Trong nhập nhoạng, thỉnh thoảng lại bật lên một mảng sáng mờ của ánh ngày vương lại Một vài tiếng dế gáy sớm, vẻ thăm dò, chờ đợi.
(Tiếng Việt 5, tập 1) +Dạng 2: So sánh bậc hơn - kém
Là dạng so sánh mà cơ sở so sánh thường gắn với các từ “hơn”: cao hơn, ít hơn, đẹp hơn,… hoặc chẳng bằng, chẳng được,…
+ Dạng 3: So sánh bậc cao nhất (bậc tuyệt đối)
Đây là dạng so sánh để khẳng định một sự việc nào đó theo cách nhìnnhận, đánh giá riêng của người so sánh
1.1.3.2 Biện pháp nhân hóa
- Khái niệm nhân hóa
Trang 24Biện pháp nhân hóa nằm trong nhóm ẩn dụ tu từ thuộc các phương tiện
tu từ ngữ nghĩa Nói cách khác, nhân hóa là một biến thể của ẩn dụ, trong đóngười ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính của đối tượng không phải là của con người Nhân hóa chỉ có thểđược hiện thực hóa trong những ngữ cảnh nhất định Nếu tách nó ra khỏi ngữcảnh thì hệu quả biểu đạt của nó không còn giá trị
Theo Đinh Trọng Lạc “Nhân hóa (còn gọi là nhân cách hóa) là một
dạng của ẩn dụ, dùng những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính đối tượng không phải là người nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình”.
Theo Trần Mạnh Hưởng trong “Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu
học” định nghĩa: “Nhân hóa là sự biến vật thành con người bằng cách gắn cho nó những đặc điểm mang tính cách người, làm cho nó trở nên sinh động, hấp dẫn”.
Nhìn chung, dù định nghĩa theo cách nào thì các tác giả đều chung một
ý kiến: nhân hóa là một biến thể của ẩn dụ Xuất phát từ quan điểm này, trong
cuốn “Phong cách học Tiếng Việt” tác giả Đinh Trọng Lạc đã khái quát lại
“Nhân hóa là những ẩn dụ, khi chuyển đổi từ những vật vô sinh sang hữu sinh, hoặc là từ thế giới vật chất sang thế giới nhận thức của con người Nói cách khác nhân hóa là phương thức biểu hiện nghệ thuật làm cho những ật vô sinh hay những đối tượng trìu tượng có khả năng và thuộc tính của con người, biết nói, biết cảm, biết nghĩ như con người”, có thể xem đây là định
nghĩa tương đối hoàn chỉnh, xác đáng về biện pháp nhân hóa
Ví dụ:
Nước xiên xuống, lao xuống, lao vào trong bụi cây Lá đào, lá na, lá sói vẫy tai run rẩy Con gà trống ướt lướt thướt ngật ngưỡng tìm chỗ trú.
Trang 25Mưa xuống sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi nước tỏa trắng xóa Trong nhà bỗng tối sầm, một mùi nồng ngai ngái, cái mùi xa lạ, man mác của những trận mưa mới đầu mùa…
Trang 26- Các cách nhân hóa
(Tiếng Việt 5- tập một)
Về mặt hình thức, nhân hóa có thể được cấu tạo theo ba cách:
+ Cách 1: Dùng những đại từ chỉ người để chỉ những đối tượng không phải người.
Ví dụ:
Chị lúa phất phơ bím tóc Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học Đàn cò áo trắng
Khiêng nắng Qua sông
Cô gió chăn mây trên đồng Bác mặt trời đạp xe qua đỉnh núi
(Trần Đăng Khoa) + Cách 2: Dùng những từ ngữ chỉ tính chất, hành động của người để biểu thị tính chất, hoạt động của đối tượng không phải là con người.
Trang 27+ Cách 3: Coi đối tượng không phải là con người như con người và tâm tình, trò chuyện với những đối tượng ấy.
Ví dụ:
Tôi ngước nhìn bầu trời quang đãng vừa dứt trận mưa đầu mùa Tôi gọi
thầm, khe khẽ: Bướm Rồng! Bướm Rồng! Bướm ơi Bướm! Bỗng có tiếng đáp
nho nhỏ:
- Em đây.
Tiếng êm ái dưới những bụi cây giềng cơm mọc hoang trong góctường Còn đương ngơ ngác, chưa nghe rõ tiếng ai, thấy một gã bướm to bằngchiếc lá đa, lẫn với màu đất ướt nước mưa óng ánh Ồ, Bướm Ma Những conBướm Ma thì vô khối trong vườn Con đen, con nâu, con xám vẫn trông thấy
cả lũ bay ra khi tạnh mưa, nhưng tôi không để ý bao giờ Ai đợi Bướm Malàm khỉ gì?
- Em đây mà.
- Hừm, cái Bướm Ma! Tớ chẳng lạ!
Tôi nhăn mũi cau có
Bướm Ma thở dài:
- Anh chờ Bướm Rồng chứ gì?
Tôi hấp tấp hỏi:
- Ấy gặp Bướm Rồng rồi á?
Bướm Ma nói từng tiếng thong thả:
- Không, em thấy anh đợi Bướm Rồng, năm ngoái, năm kia, năm nào anh cũng đợi, em thương anh mỏi mắt, em ra chơi với anh thôi Tôi chăm chú ngẫm nghĩ câu nói của Bướm Ma Tôi hỏi vu vơ:
- Tớ ấy à?
- Phải, anh đấy.
Rồi Bướm Ma cười khểnh:
Trang 28- Biết anh có tính xa thơm gần thối Bạn bè thì hờ hững mà lại đi đợi những ai ai Mặc kệ anh!
(Bướm Rồng Bướm Ma – Tô Hoài)
Dù phân loại theo cách nào các tác giả đều thống nhất coi đối tượngkhông phải là người như con người để tâm tình trò chuyện với chúng là mộtloại nổi bật nhất của nhân hóa
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Chương trình văn miêu tả ở Tiểu học
Tập làm văn nhằm giúp HS có một năng lực mới: năng lực sản sinhngôn bản Nhờ năng lực này, các em HS biết sử dụng Tiếng Việt văn hóa làmcông cụ tư duy, giao tiếp và học tập Do vậy, Tập làm văn được đưa vàochương trình phổ thông rất sớm và văn miêu tả đồng thời được dạy ngay từ cáclớp đầu cấp TH Ngay từ lớp 2, khi tập quan sát để trả lời câu hỏi, các em đãbắt đầu làm quen với văn miêu tả Ở lớp 4, văn miêu tả được dạy 3 tiết với ba
kiểu bài cụ thể: Tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật Chương trình TLV lớp 5 tiếp tục dạy về văn miêu tả với hai kiểu bài: Tả cảnh (14 tiết), tả người (12 tiết).
Sở dĩ văn miêu tả được dạy nhiều như vậy là vì văn miêu tả phù hợpvới đặc điểm tâm lí tuổi thơ: thích quan sát, nhận xét, tìm tòi, khám phá…Vănmiêu tả nuôi dưỡng mối quan hệ của các em với thế giới xung quanh, tạo nên
sự quan tâm của các em với thiên nhiên Qua đó nó cũng giúp phần giáo dụctình cảm, lòng yêu cái đẹp và sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ
Nội dung dạy học văn miêu tả ở trường Tiểu học mới chỉ ở mức độ đơngiản, chủ yếu xoay quanh những để tài quen thuộc, gần gũi với cuộc sốnghàng ngày của các em như: những đồ dùng học tập hàng ngày các em vẫn sửdụng, những con vật gần gũi, những cây cối xung quanh các em, con đườnghàng ngày các em tới trường, ngôi trường đang học, cánh đồng lúa ở quêhương em, cây đa đầu làng hang ngày các em vẫn thấy, ngôi nhà đang ở hay
Trang 29chính những người thân hàng ngày chăm sóc, dạy dỗ hoặc chia sẻ với các emniềm vui, nỗi buồn Tất cả những đối tượng được miêu tả trên đây đều lànhững đối tượng gần gũi, gắn bó thân thiết, được các em yêu quý.
Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản rất quen thuộc và phổbiến trong cuộc sống cũng như trong sáng tạo văn chương nghệ thuật Đây làloại văn có tác dụng to lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và pháttriển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá của conngười Với đặc trưng của mình, những trang văn miêu tả làm cho tâm hồn vàtrí tuệ người đọc thêm phong phú, giúp cho ta có thể cảm nhận văn học vàcuộc sống một cách tinh tế, sâu sắc hơn Có thể nói rằng, văn miêu tả chiếmmột vai trò và vị trí khá quan trọng trong nhà trường Tiểu học Tiếp nối sauchương trình hiện hành, chương trình Tiểu học mới cũng cho HS làm quenvới văn miêu tả ngay từ giai đoạn đầu (lớp 2, 3) và mức độ nâng cao dần ởnhững giai đoạn sau (lớp 4, 5)
Do đặc thù của các khối lớp không giống nhau nên quy định về nộidung cũng như kỹ năng cần đạt được của thể loại văn miêu tả cũng có sự khácnhau Chương trình và sách giáo khoa hiện hành quy định các nội dung dạyhọc văn miêu tả cụ thể như sau:
Ở lớp 2, 3 chỉ yêu cầu HS viết đoạn văn ngắn từ 5 đến 7 câu, dựa trêncác câu hỏi gợi ý, trả lời câu hỏi dựa vào tranh, theo nội dung bài tập đọc Sắpxếp một số câu theo đúng thứ tự để tạo thành một đoạn văn tả ngắn, giới thiệu
về trường lớp, về người thân, tả theo tranh, kể ngắn có nội dung thiên về miêu
tả Các câu hỏi gợi ý bao quát hết nội dung của đề bài Khi HS làm văn, lầnlượt trả lời các câu hỏi, mỗi câu trả lời là một câu văn, sắp xếp các câu trả lờitheo thứ tự thành đoạn văn
Đến lớp 4, 5 HS viết được bài văn dài khoảng 15 đến 2 dòng có bốcục rõ ràng, từ ngữ dùng chính xác, đặt câu đúng ngữ pháp Các câu văn viết
Trang 30mạch lạc, sáng sủa và phải đảm bảo tính liên kết, mỗi bài làm văn miêu tả giảiquyết yêu cầu của một đề bài.
Nhìn chung, chương trình phân môn Tập làm văn Tiểu học hiện hànhdạy học văn miêu tả ở mức độ đơn giản, chỉ yêu cầu HS tả những đối tượngquen thuộc, gắn bó, gần gũi với các em Các em phải dựa trên sự quan sát, ócnhận xét của mình rồi dùng ngôn ngữ (nói hoặc viết) để dựng lại một bứctranh bằng ngôn ngữ, hình ảnh, màu sắc, âm thanh,… về một đối tượng nào đó
mà mình yêu thích nhờ đó học sinh được phát triển cả về trí tuệ và nhân cách
1.2.2 Thực trạng việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong văn miêu tả ở tiểu học hiện nay
Một bài văn miêu tả hay là một bài văn mà khi đọc, người đọc thấyhiện ra trước mắt mình: con người, cảnh vật, đồ vật,… cụ thể, sống động như
nó vẫn tồn tại trong thực tế cuộc sống Như vậy, có thể xem văn miêu tả làmột bức tranh về sự vật bằng ngôn từ Và để làm tốt một bài văn miêu tả, đòihỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp của các môn học và kiến thứcđời sống Kiến thức của các môn học này cộng với vốn sống thực tế sẽ giúphọc sinh trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc và sống động Qua
đó, bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương đất nước, vốn sống, vốn ngônngữ và khả năng giao tiếp
Trên thực tế, việc dạy và học phân môn TLV ở tiểu học hiện nay còn
rất nhiều vấn đề bất cập Về phía GV đây quả là một phân môn khó, đòi hỏi
HS phải tổng hợp được kiến thức, phải thể hiện sự rung cảm cá nhân, phảibiết thể hiện tiếng mẹ đẻ một cách trong sáng Trong quá trình giảng dạy,thường xảy ra tình trạng:
- Hoặc GV hướng dẫn chung chung, qua loa để học sinh tự tìm hiểu vàviết bài
Trang 31- Hoặc GV dùng “văn mẫu”, học sinh cứ việc sao chép theo một khuônmẫu chung.
Cả hai cách trên đều làm cho HS không biết làm văn, ngại học văn,mất
đi tính sáng tạo, tưởng tượng - điều mà môn học hướng đến mặc dù vẫn cótình yêu đối với văn học Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, một phần là
do trình độ nhận thức, năng lực sư phạm của GV, cũng có thể chính ngaytrong GV cũng thiếu những tri thức khoa học cũng như vốn sống thực tế Vấn
đề này cho thấy, nhiều GV chưa đánh giá đúng mức vị trí của môn Tiếng Việttrong chương trình Tiểu học và đặc biệt là phân môn TLV
Ngoài ra TLV là phân môn thực hành tổng hợp, nhưng không ít GV lạidạy thiên về lí thuyết Để có được một kĩ năng, thông thường buộc phải trảiqua nhiều bước luyện tập từ thấp đến cao, lúc đầu phải làm theo mẫu, sau đómới có thể vận dụng sáng tạo Nhưng trên thực tế, HS thường nhảy cóc quamột số bước, phần tập và phần luyện thường bị coi nhẹ Bên cạnh đó lại phảihọc những bài, những văn bản trùng lặp một cách đáng tiếc Việc ra đề cho
HS làm bài cũng chưa được chú ý một cách đúng mức Không hiếm GV chưa
có thói quen chuẩn bị đáp án và biểu điểm chấm bài đồng thời hoặc ngay sauviệc ra đề, ra bài tập
Về phía HS, kiến thức sách vở cũng như kiến thức thực tế còn rất nhiều
lỗ hổng, thiếu sót Nhiều HS ở nông thôn chưa hề được ra thành phố, có emchưa từng được đến công viên, vườn bách thú hay những danh lam thắngcảnh khác… Nhiều HS ở thành phố chưa hề được nhìn thấy con gà đang gáy,con trâu đang cày ruộng, hoặc được ngắm nhìn những đêm trăng sáng, hoặcquan sát cánh đồng lúa khi thì xanh mướt, lúc thì vàng óng, trĩu bông….Kĩnăng làm văn của các em còn hạn chế như: chưa biết quan sát, miêu tả cònchung chung chưa thể hiện được đặc điểm nổi bật của từng chủ đề mình địnhtả; chưa biết sử dụng những từ gợi tả và các thủ pháp nghệ thuật trong bài
Trang 32văn; chưa biết thể hiện cảm xúc của mình khi miêu tả; vốn từ ngữ của các emcòn nghèo…
Qua thực tế tìm hiểu, khảo sát tại trường TH Thanh Lâm A- Mê
Linh-Hà Nội đã có một số bài viết của HS lớp 4 và lớp 5 như sau:
- Khi yêu cầu tả loài cây mà em yêu thích một HS lớp 4 đã viết: “Vườn
nhà em có trông rất nhiều loài cây nhưng em thích nhất là cây cam do ông nội trồng Cây cam rất to, cành lá xum xuê, quả sai trĩu cành Cứ đến mùa cam là mẹ em lại hái quả để cả nhà ăn và biếu họ hàng, làng xóm Quả cam nhà em to lắm, mỗi quả chừng 3kg, vị ngọt, mùi thơm…” Trong thực tế không
có quả cam nào lại nặng đến 3kg, điều này cho thấy các em bị thếu kiến thức
thực tế, thiếu khả năng quan sát nên mới viết “mỗi quả chừng 3kg” như vậy.
- Hay khi yêu cầu tả cảnh đẹp quê hương em một HS lớp 5 đã viết “…
Cánh đồng lúa quê em rộng bao la đang vào độ chín vàng Em rất thích mỗi buổi chiều được ra cánh đồng lúa, ngắm các bạn chơi thả diều và những đàn trâu ăn no lững thững trở về từ giữa cánh đồng như những dũng sĩ …” Có
thể thấy qua cách miêu tả của em HS về cánh đồng lúa thì em đã thiếu những
kiến thức thực tế, cánh đồng đang độ chín vàng không thể có trâu “lững
thững trở về từ giữa cánh đồng” được và càng không thể so sánh “đàn trâu”
“như những dũng sĩ”.
- Hay với đề bài “Hãy miêu tả con vật mà em yêu thích” có em HS lớp
4 đã viết “…ông Mèo nhà em có bộ lông vàng pha đen, bốn cái chân nhỏ xinh
rất nhanh nhẹn, cái mũi của ông hồng hồng rất đáng yêu, ông đã già lắm rồi,
bố mẹ em nói có từ lúc em còn chưa sinh ra nữa ” Cách miêu tả của HS về
con mèo được nuôi trong nhà khá thú vị, tuy nhiên đọc đoạn văn có thể thấy
cách HS sử dụng biện pháp nhân hóa khi gọi con mèo bằng “ông” chưa hợp
lí để nói về một con vật được nuôi trong nhà
Qua đó có thể thấy, khi làm bài, nhiều HS không hề nắm được đặc điểmđối tượng mình đang tả và đã viết không chân thực Do vậy bài văn khó có thể
Trang 33truyền cảm cho người đọc Việc học tập trên lớp, vì thiếu tập trung và chưa cóphương pháp học nên cũng có những hạn chế nhất định Có HS khi đọc đề bàilên, không biết mình cần viết những gì và viết như thế nào, viết cái gì trước, cái
gì sau, Hơn nữa, hiện nay, trên các cửa hàng sách có bày bán rất nhiều sáchtham khảo, văn mẫu từ các luồng khác nhau nên đã tạo điều kiện cho HS chépvăn mẫu Các em thiếu sự liên tưởng, tưởng tượng các hình ảnh trong đời sống
để làm cho bài văn của mình trở nên sinh động, hấp dẫn hơn
1.2.3 Khảo sát, thống kê, phân loại việc sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong bài văn miêu tả của học sinh
1.2.3.1 Tiêu chí khảo sát, thống kê biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh trong những bài văn miêu tả của HS lớp 4, 5
Căn cứ vào khái niệm biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa; dựa vàonhững bài viết của HS lớp 4, 5 Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 12 bài vănmiêu tả của HS lớp 4, 5 trường Tiểu học Thanh Lâm A - Mê Linh - Hà Nội.Dựa trên mục đích nghiên cứu của đề tài và kết quả bài làm thực tế của HS đểtiến hành khảo sát dựa trên những tiêu chí sau:
- Bài viết có sử dụng biện pháp tu từ so sánh
- Bài viết có sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa
- Bài viết có sử dụng cả biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa
1.2.3.2 Nhận xét kết quả khảo sát, thống kê phân loại
Qua việc khảo sát 12 bài văn miêu tả của HS lớp 4 và 5 ở trường TH
mà bản thân đã về thực tập giảng dạy các em chúng tôi đã thống kê được: có
75 bài viết có sử dụng biện pháp tu từ so sánh chiếm 62,5 % Có 48 bài viết
có sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa chiếm 39,7 % Có 42 bài viết sử dụng cảhai biện pháp tu từ chiếm 35% Thể hiện qua biểu đồ sau:
Trang 35Bảng thống kê kết quả khảo sát
Như vậy, kết quả khảo sát chúng ta có thể thấy biện pháp tu từ so sánhđược sử dụng trong các bài văn miêu tả của HS nhiều hơn biện pháp tu từnhân hóa và việc kết hợp được cả hai biện pháp tu từ này của trong bài văncủa HS còn ít Qua đó cho ta thấy khả năng sử dụng các biện pháp tu từ trongcác bài văn của HS còn yếu và gặp nhiều khó khăn, cần có biện pháp giúp HSvận dụng các biện pháp tu từ này vào trong bài văn miêu tả để bài văn đạt giátrị cao
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tiếng Việt là một môn học nòng cốt đồng thời cũng là môn học công
cụ để HS có thể học tập được các môn học khác trong trường TH Phân mônTập làm văn là một phân môn trong môn Tiếng Việt giúp học sinh tạo ra đượccác ngôn bản nói và viết theo các phong cách chức năng ngôn ngữ, hình thành
và phát triển năng lực tạo lập ngôn bản
Tuy nhiên thực trạng việc dạy và học văn miêu tả nói riêng và phânmôn tập làm văn nói chung ở trường TH còn rất nhiều khó khăn và vướngmắc đặc biệt trong việc vận dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa vàotrong bài làm của HS
Trang 36Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn miêu tả nhưng nhìn chungvăn miêu tả là thể loại văn dùng ngôn ngữ để tả sự vật, hiện tượng, conngười,… một cách sinh động, cụ thể như nó vốn có Các đặc điểm đặc trưng
của loại văn bản này đó là: mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm
của người viết, mang tính sinh động và tạo hình, ngôn ngữ trong văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh.
Biện pháp so sánh là biện pháp tu từ thường được sử dụng nhiều trong
văn miêu tả, nói một cách chung nhất “So sánh là đặt hai hay nhiều sự vật,
hiện tượng vào các quan hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau và khác biệt giữa chúng.” Có hai cách so sánh đó là so sánh logic và so sánh tu từ,
trong đó so sánh tu từ mang giá trị biểu cảm, diễn đạt nhiều hơn
Cùng với so sánh, nhân hóa cũng là biện pháp tu từ có giá trị lớn đối
với văn miêu tả, nhân hóa là phương thức biểu hiện nghệ thuật làm cho
những ật vô sinh hay những đối tượng trìu tượng có khả năng và thuộc tính của con người, biết nói, biết cảm, biết nghĩ như con người Xét về hình thức
có ba dạng nhân hóa đó là: Dùng những đại từ chỉ người để chỉ những đốitượng không phải người; dùng những từ ngữ chỉ tính chất, hành động củangười để biểu thị tính chất, hoạt động của đối tượng không phải là con người;coi đối tượng không phải là con người như con người và tâm tình, trò chuyệnvới những đối tượng ấy
Nhân hóa và so sánh có ý nghĩa lớn với văn miêu tả tuy nhiên qua việckhảo sát tại trường TH Thanh Lâm A - Mê Linh - Hà Nội lại cho thấy việc HSvận dụng hai biện pháp tu từ này còn hạn chế, chưa linh hoạt, không mang lạihiệu quả cao Điều này cho thấy cả GV và HS đều đang gặp khó khăn khi vậndụng dạy và học các biện pháp tu từ này vào bài văn và cần có biện pháp đểtháo gỡ những khó khăn này
Trang 37CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ CỦA BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH, NHÂN HÓA VÀ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4, 5 SỬ DỤNG TỐT CÁC BIỆN PHÁP
NÀY TRONG VĂN MIÊU TẢ
2.1 Giá trị của biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa trong văn miêu tả
2.1.1 Giá trị biện pháp tu từ so sánh trong văn miêu tả
Biện pháp so sánh tu từ có hai chức năng cơ bản và chủ yếu đó là: chứcnăng nhận thức và chức năng biểu cảm
- Chức năng nhận thức của biện pháp so sánh tu từ thể hiện ở chỗ biện
pháp so sánh tu từ đem lại cho con người những hiểu biết hay tri giác mới mẻ,hoàn chỉnh về sự vật, hiện tượng, tính chất, trạng thái,… trong thế giới quan
qua hình ảnh so sánh Pao lơ cho rằng “Sức mạnh của so sánh là nhận thức”.
Bản chất của sự so sánh là lấy một hình ảnh cụ thể để miêu tả một hình ảnhchưa cụ thể
- Chức năng biểu cảm - cảm xúc thể hiện qua bất kỳ một phép so sánh
tu từ nào ta cũng nhận ra sự yêu, ghét, khen, chê, thái độ khẳng định hay phủđịnh của người nói với đối tượng được miêu tả Chính chức năng này tạo nênnhững hình ảnh sống động, gợi cảm, tạo ra những cách nói mới mẻ làm chocách diễn đạt trở nên phong phú, uyển chuyển, tăng sức mạnh biểu cảm cholời nói Đồng thời bằng hình ảnh so sánh đã bộc lộ thái độ, tình cảm, cáchnhận xét, đánh giá của tác giả
Goolup nói “Hầu như bất kì sự biểu đạt hình ảnh nào cũng có thể
chuyển thành hình thức so sánh.” Trong lời nói hàng ngày, chúng ta nhiều khi
đã gặp những cách ví von rất hay, rất có hình ảnh, rất thấm thía Với chứcnăng biểu cảm, so sánh là “cách nói” dễ đi vào lòng người, dễ chiếm lòngngười, làm cho người ta dễ nhớ, dễ thuộc và nhớ lâu Đây là một phương thức
Trang 38tạo hình gợi cảm, là đôi cánh giúp cho HS bay vào thế giới của cái đẹp, trítưởng tượng vô cùng phong phú.
So sánh tu từ là công cụ giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn nữanhững phương diện nào đó của sự vật Nhờ có sự so sánh mà chúng ta dễdàng nhận thức về đối tượng miêu tả một cách rõ nét hơn, hình ảnh và cụ thểhơn bằng việc công khai đối chiếu hai đối tượng khác nhau đã khơi gợi chongười đọc, người nghe tới một vùng liên tưởng mới tạo nên sự nhận thức mới
mẻ và bất ngờ Chính vì thế, nó tạo nên tính chất hình tượng đậm nét của đốitượng được miêu tả, đồng thời bộc lộ thái độ, cách nhận xét đánhgiá của tácgiả về đối tượng được miêu tả So sánh tu từ được sử dụng phổ biến trong cácphong cách của tiếng Việt nhưng chỉ trong văn chương nó mới thể hiện đầy
đủ nhất khả năng tạo hình cũng như biểu cảm
Như vậy so sánh là biện pháp tu từ khó có thể thiếu trong các bài vănmiêu tả đặc biệt ở bậc Tiểu học Biện pháp tu từ so sánh giúp các câu vănmiêu tả của HS trở nên sinh động, mềm mại, giàu tính hình tượng, giàu nhạcđiệu,… Bài văn có sử dụng biện pháp tu từ không khô khan, cứng nhắc,… màgiàu sức biểu cảm, mang đặc trưng, phong cách riêng của từng người viết
Ví dụ:
Trang 39a thá ng
ba Gi
t m hô sa Nh ng trư thá ng sá Nư
c nh
ai nấ Ch
t cả cá
cờ Cu ng
i lên bờ
Mẹ em xuố ng
cấ
…
(Trần Đăng Khoa)
Trang 40Bão dập, nắng lửa, mưa dầm thiên nhiên của đất nước Việt Nan nhiệtđới khắc nghiệt này đã đổ vào đầu bà con nông dân bao nhiêu nhọc nhằn đểlàm ra hạt gạo Em bé hiếu thảo Trần Đăng Khoa nhận ra sự khắc nhiệt nàyrồi thương mẹ mình hơn bao giờ hết:
Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ
khắc sâu thêm vào lòng người đọc cái nỗi vất vả của người nông dân ta vớicông việc đồng áng Nhìn thấy giữa trưa tháng sáu đến các loài vậy còn phái
đi tránh nóng mà mẹ vẫn phải làm việc để tạo ra hạt gạo mới thấy hết đượcnỗi vất vả của người nông dân Việt Nam từ bao đời nay và giá trị của nhữnghạt gạo được tạo ra
Ở đoạn thơ trên, hình ảnh so sánh nước nóng như “nấu” đã giúp người
đọc hình dung vừa chân thực, vừa sót xa về nỗi khắc nghiệt của thời tiết vànỗi vất vả của nông dân ta qua bao đời nay Có thể nói, biện pháp tu từ sosánh có vai trò to lớn trong thành công và giá trị của đoạn câu này Nhờ có
hình ảnh “nước như ai nấu” đối lập với hình ảnh “mẹ em xuống cấy” mà giá
trị biểu cảm, giá trị hình ảnh được nhân lên gấp hiều lần, để lại dấu ấn sâuđậm trong lòng độc giả