1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học các văn bản ca dao ở THPT

83 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNĐể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học các văn bản ca dao thuộc chương trình Ngữ Văn 10 THPT”, tác giả đã nhận được sự giúp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

Th.S VŨ NGỌC DOANH

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học các văn bản ca dao thuộc chương trình Ngữ Văn

10 THPT”, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và chỉ

bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, các thầy cô trong tổPhương pháp dạy học Ngữ văn Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cácthầy cô và đặc biệt em muốn bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới Thạc sĩ VũNgọc Doanh, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình làm khóaluận

Do năng lực của người nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên khóa luận chắcchắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉbảo, góp ý của các thầy cô và các bạn

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Trần Thị Thùy Dương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của ThS Vũ Ngọc Doanh Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận

là trung thực Khóa luận này chưa từng được công bố trong bất kì công trìnhnào Nếu những lời cam đoan trên là sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Trần Thị Thùy Dương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài: 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Đóng góp 5

9 Bố cục khoá luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC CÁC VĂN BẢN CA DAO Ở TRƯỜNG THPT 6

1.1Tổ chức HĐTNST trong dạy học 6

1.1.1 Khái niệm HĐTNST 6

Trước tiên, để tường minh được khái niệm HĐTNST, chúng ta cần làm rõ khái niệm về Giáo dục để thấy được bản chất của vấn đề 6

1.1.2 Nguồn gốc của HĐTNST trong dạy học 7

1.2 Lí thuyết tiếp nhận tác phẩm văn học 8

1.2.1 Vẩn đề tiếp nhận tác phẩm văn học 8

1.2.1.1: Khái niệm tiếp nhận văn học 8

1.2.1.2 Đặc trưng của tiếp nhận văn học 9

1.2.2 Vấn đề đọc hiểu tác phẩm văn học 10

1.2.2.1 Khái niệm đọc hiểu 10

Trang 6

1.2.2.2 Vai trò, chức năng của đọc hiểu 11

1.3 Những đặc trưng của thể loại ca dao 12

1.3.1 Khái niệm ca dao, thể loại và thi pháp thể loại ca dao 12

1.3.2 Đặc trưng của thể loại ca dao 13

1.3.2.1 Nhân vật trữ tình trong ca dao 13

1.3.2.2 Kết cấu của ca dao 14

1.3.2.3 Thể thơ trong ca dao 16

1.3.2.4 Hình ảnh biểu tượng trong ca dao 18

1.3.2.5 Thời gian, không gian nghệ thuật trong ca dao 20

1.3.2.6 Ngôn ngữ trong ca dao 22

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP THIẾT KẾ CÁC HĐTNST TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN CA DAO Ở THPT 24

2.1 Chương trình ca dao trong SGK Ngữ văn 10 25

2.1.1 Chương trình và SGK Ngữ văn 10 25

2.1.2 Vai trò, vị trí của Ca dao trong chương trình Ngữ văn THPT 25

2.2 Mục tiêu và nguyên tắc tổ chức HĐTNST khi dạy học văn bản ca dao Ngữ văn 10 Error! Bookmark not defined. 2.2.1 Mục tiêu của việc ứng dụng HĐTNST trong dạy học ca dao Ngữ văn 10 Error! Bookmark not defined 2.2.2 Nguyên tắc tổ chức HĐTNST khi dạy học ca dao Ngữ văn 10 Error! Bookmark not defined. 2.3 Tổ chức học sinh tiếp nhận ca dao thông qua HĐTNST 29

2.3.1 Hoạt động tạo tâm thế tiếp nhận ca dao cho học sinh 29

2.3.2 Đọc và tái hiện hình tượng nghệ thuật trong ca dao 30

2.3.3 Phân tích, cắt nghĩa chùm ca dao “Than thân, yêu thương tình nghĩa” 33

2.3.4 Tổ chức học sinh tham gia HĐTNST 36

Trang 7

CHƯƠNG 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 43 KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

1 Lí do chọn đề tài:

MỞ ĐẦU

Ngữ văn là một môn học quan trọng trong chương trình phổ thông vì nó

có tác dụng rất lớn đến việc giúp học sinh có một thế giới quan, nhân sinhquan nhân đạo và tiến bộ, giúp các em có một vốn tri thức về văn hóa để ứng

xử, giao tiếp trong cuộc sống Nhìn một cách chung nhất thì khi tiếp cận tácphẩm văn học, học sinh thường rất khó khăn bởi nó có quá nhiều điều phứctạp trong đó và các em thì lại không muốn vướng vào các vấn đề dài dòng khóhiểu Vậy có cách nào để giải quyết thực trạng đó? Mỗi giáo viên khi lên lớp

sẽ chọn cho mình một phương pháp để gây cho học sinh hứng thú tiếp thu bài

và tạo cho tiết học sự hấp dẫn riêng Thông qua đó, người học sẽ tiếp nhậnkiến thức một cách đa chiều, không phiến diện

Quán triệt tinh thần và mục tiêu của Nghị quyết số 29-NQ/TW về Đổimới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: Cần tổ chức các hoạt động giáodục theo hướng tăng cường sự trải nghiệm nhằm phát huy tính sáng tạo chohọc sinh, tạo ra các môi trường khác nhau để học sinh được trải nghiệm nhiềunhất, đồng thời khơi nguồn sự sáng tạo, biến những ý tưởng của học sinhthành hiện thực giúp các em thể hiện khả năng của mình

Trong nội dung SGK Ngữ Văn phổ thông, ca dao có một vị trí đặc biệtquan trọng trong công tác dạy và học của nhà trường Suối ngầm trong ca daochính là dòng nước mát nuôi dưỡng tâm hồn người dân Việt Nam qua bao thế

hệ Vậy, những giá trị văn hóa tinh thần ấy đã được giới trẻ ngày nay tiếp thu

và phát huy như thế nào khi cuộc sống đang ngày càng phát triển, con ngườingày càng bị chi phối bởi nhiều tác động không tốt từ bên ngoài? Hơn nữadạy học văn bản ca dao vốn luôn là một con đường khó khăn cho cả ngườidạy và người học vì tác phẩm ca dao thường đa nghĩa, do ca dao vốn là tiếngnói tinh thần của nhân dân đã ra đời cách đây một thời gian khá dài, nên rất

Trang 9

cần sự trải nghiệm, sự thể nghiệm để hiểu nội dung văn bản, tâm trạng, tưtưởng mà các tác giả gửi gắm Vì vậy việc tìm ra những cách thức đọc hiểuvăn bản ca dao dễ dàng, khoa học, chính xác và tạo được niềm đam mê, hứngthú cho người học luôn là một thách thức với giáo viên và học sinh.

Là một sinh viên Sư phạm, đề tài này không chỉ giúp người nghiên cứu

có con đường tiếp cận văn học một cách đúng đắn, khoa học mà còn giúptừng bước vận dụng lí thuyết tiếp nhận vào thực tiễn giảng dạy môn Ngữ Văn

ở trường THPT

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Tổ chức hoạt động

trải nghiệm sáng tạo trong dạy học các văn bản Ca dao ở THPT”, để góp

phần nhỏ giúp học sinh tiếp cận được Văn học nói chung và các văn bản cadao nói riêng một cách hiệu quả nhất, đồng thời giải quyết được phần nào khókhăn của người giáo viên đứng lớp

2 Lịch sử vấn đề

Việc ứng dụng trải nghiệm sáng tạo vào tổ chức các hoạt động dạy học

đã và đang được triển khai mạnh mẽ trong các chương trình dạy học Đã cónhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này có tác dụng làm nền tảng mở ranhững con đường tiếp cận và giảng dạy mới mẻ, phong phú và hiệu quả hơn

Ý tưởng giáo dục “Dạy – học Ngữ văn qua trải nghiệm”do cô Hoàng

Lan Anh đề xuất đã có những đóng góp đáng kể: “Học tập nên là một trảinghiệm sống, để kiến thức, kĩ năng, cảm xúc có được sẽ trở thành những ấntượng không thể nào quên trong mỗi học sinh “Dạy học Ngữ văn qua trảinghiệm” là một hoạt động không chỉ khơi dậy những xúc cảm cá nhântrongkhám phá tác phẩm văn học, mà còn hình thành và rèn luyện những năng lựccần thiết đáp ứng yêu cầu của cuộc sống với của các em”

Sáng kiến “Hoạt động trải nghiệm trong dạy học các văn bản thơ ở nhà

trường THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh”, của Hoàng Thị

Trang 10

Hà Cũng đã mở ra những đề xuất hay trong việc tổ chức các HĐTNST vàodạy học.

Bùi Ngọc Diệp trong Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng

tạo trong nhà trường phổ thông, tạp chí Khoa học giáo dục, số 113 – tháng

02/2015 đã ghi : “HĐTNST là các HĐGD thực tiễn được tiến hành song song

với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông HĐTNST là một bộ phận của quá trình giáo dục, được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học Thông qua các hoạt động thực hành, những việc làm cụ thể và các hành động của học sinh, HĐTNST là các HĐGD có mục đích, có tổ chức được thực hiện trong hoặc ngoài nhà trường nhằm phát triển, nâng cao các tố chất và tiềm năng của bản thân học sinh, nuôi dưỡng ý thức sống tự lập, đồng thời quan tâm, chia sẻ tới những người xung quanh Thông qua việc tham gia vào các HĐTNST, học sinh được phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân”.

Nếu nói tới phương pháp học qua hoạt động trải nghiệm hay kinhnghiệm thì không thể không nhắc tới David A.Kolb, giáo sư khoa Hành vi tổchức của Trường quản trị Weatherhead, Đại học Case Western Reserve Ông

là tác giả của cuốn sách “Học qua trải nghiệm: Kinh nghiệm là nguồn học hỏi

và phát triển”, và là cha đẻ của cuốn sách “Danh mục cách học” Các công

trình nghiên cứu khác là: “Học qua đàm thoại: cách tiếp cận theo kinh

nghiệm để phát triển tri thức”, “Sự đổi mới trong giáo dục chuyên nghiệp: Các bước của quá trình từ dạy đến học”, “Hành vi tổ chức: cách tiếp cận dựa vào kinh nghiệm”, và vô số bài báo về lĩnh vực học qua trải nghiệm Mô

hình phương pháp học tập của David Kolb và lý thuyết học tập dựa trên kinhnghiệm (ELT) đã được xuất bản vào năm 1984 Mô hình này đãkhiến cho các thuật ngữ liên quan như lý thuyết học tập dựa trên kinh

Trang 11

nghiệm (ELT) và Bản tóm tắt phương pháp học tập (LSI) của Kolb ngày càngtrở nên phổ biến Trong các ấn phẩm của mình - đặc biệt là cuốn sách xuất

bản năm 1984 có tên “Học qua trải nghiệm: Kinh nghiệm là nguồn học hỏi và

phát triển” Kolb ghi nhận các công trình nghiên cứu giai đoạn đầu về

phương pháp học tập dựa trên kinh nghiệm của những tác giả khácvào những năm 1900, trong đó có Rogers, Jung và Piaget Và cũngnhư vậy, phương pháp học tập và lý thuyết học tập dựa trên kinhnghiệm của Kolb ngày hôm nay được ghi nhận bởi các viện nghiên cứu, giáoviên, cán bộ quản lý và giảng viên như một công trình có tầm ảnh hưởng sâurộng với các khái niệm cơ bản

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm đề xuất các biện pháp để tổ chức một sốHĐTNST trong giờ dạy học Ngữ văn, trong đó có các văn bản Ca dao Từ đótìm ra những cách thức tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản tốt nhất Góp phầnđổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng phát huy vai trò chủ động,tích cực, sáng tạo của học sinh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này , chúng tôi xác định 2 nhiệm vụ nghiên cứu cơbản sau:

- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng HĐTNST trongdạy học Ngữ văn nói chung và dạy học các văn bản Ca dao nói riêng

- Đề xuất một phương án có tính khả thi, hiệu quả cho việc dạy học cadao ở lớp 10 có vận dụng HĐTNST (Thể hiện qua thiết kế dạy học và thểnghiệm sư phạm)

5 Đối tượng nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề ra trên đây, khóa luận tập trungvào tìm hiểu lí thuyết về tổ chức HĐTNST trong dạy học và hoạt động của GV,

HS trong các

Trang 12

giờ dạy học ca dao thuộc chương trình Ngữ văn 10, nhằm tìm ra những cách thức tổ

chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy tính tích cực độc lập của HS

7 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết

Khoá luận được triển khai thành 4 phần: Mở đầu; Nội dung; Kết luận.

Phần nội dung của khoá luận được cấu trúc với 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Biện pháp thiết kế các HĐTNST trong dạy học văn bản ca dao ởTHPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC CÁC VĂN BẢN CA DAO Ở

TRƯỜNG THPT 1.1 Tổ chức HĐTNST trong dạy học

1.1.1 Khái niệm HĐTNST

Trước tiên, để tường minh được khái niệm HĐTNST, chúng ta cần làm

rõ khái niệm về Giáo dục để thấy được bản chất của vấn đề

“Khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp là quá trình tác động có mục đích,

có hệ thống, liên tục của nhà sư phạm đến toàn bộ cuộc sống của học sinh để hình thành cho học sinh những phẩm chất nhân cách” Hay về “bản chất giáo dục là quá trình tổ chức hoạt động và giao lưu cho HS nhằm giúp HS nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội.’’

(Phạm Viết Vượng,GDH,2000)Trong Chương trình giáo dục mới có 2 loại hoạt động giáo dục chính là:Dạy học các môn và trải nghiệm sáng tạo Với Chương trình mới, các hoạtđộng tập thể, hoạt động ngoài giờ dạy học trên lớp sẽ phong phú hơn cả vềnội dung, phương pháp và hình thức hoạt động, đặc biệt, mỗi hoạt động phảiphù hợp với mục tiêu phát triển những phẩm chất, năng lực nhất định của họcsinh, nghĩa là học sinh được học từ trải nghiệm

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì: “Trải nghiệm theo nghĩa chung

nhất là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức ) trong đời sống tâm lí của từng người Theo nghĩa hẹp hơn của tâm lí học, là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý

Trang 14

thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động

cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân” Còn sáng tạo là “hoạt động tạo

ra cái mới” Có thể sáng tạo trong bất kì lĩnh vực nào: khoa học, nghệ thuật,

sản xuất – kĩ thuật, kinh tế, chính trị

Có nhiều cách gọi khác nhau về hoạt động trải nghiệm sáng tạo(HĐTNST) Phù hợp với mục tiêu của Chương trình mới, cũng như xuất phát

từ bản chất của giáo dục, chúng tôi đề xuất một định nghĩa như sau: Hoạt

động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống, gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình.

Khái niệm này khẳng định vai trò định hướng, chỉ đạo, hướng dẫn củanhà giáo dục, thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, người phụ trách… Nhà giáo dụckhông tổ chức, không phân công học sinh một cách trực tiếp mà chỉ hướngdẫn, hỗ trợ, giám sát cho tập thể hoặc cá nhân học sinh tham gia trực tiếp hoặc

ở vai trò tổ chức hoạt động, giúp học sinh chủ động, tích cực trong các hoạtđộng, phạm vi các chủ đề hay nội dung hoạt động và kết quả đầu ra là nănglực thực tiễn, phẩm chất và năng lực sáng tạo đa dạng, khác nhau của các em.Tóm lại, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giữ vai trò rất quantrọng trong Chương trình giáo dục phổ thông mới Hoạt động này giúp chohọc sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học đượcvào thực tiễn từ đó hình thành năng lực thực tiễn cũng như phát huy tiềmnăng sáng tạo của bản thân

1.1.2 Nguồn gốc của HĐTNST trong dạy học

Trang 15

Cơ sở tâm lí của hoạt động trải nghiệm trong dạy học có từ thuyết kiếntạo của J Bruner Thuyết kiến tạo là lí thuyết về sự nhận thức được bắt nguồn

từ tư tưởng của J Piget

Đây là một trong lí thuyết về dạy học vượt trội được sử dụng trong giáodục hiện nay Tư tưởng cốt lõi của thuyết kiến tạo là: con người kiến tạonhững sự hiểu biết về thế giới thông qua trải nghiệm và phản ánh Trong bất

cứ trường hợp nào, mỗi người thật sự là những nhà kiến tạo tri thức cho chínhbản thân Để làm điều này, chúng ta phải đưa ra những nghi vấn, khám phá vàđánh giá cái mà chúng ta biết Trong một lớp học kiến tạo, tâm điểm là xuhướng thay đổi từ giáo viên làm trung tâm đến học sinh làm trung tâm Đặcđiểm của dạy học theo thuyết kiến tạo:

- Học sinh phải là chủ thể tích cực xây dựng nên kiến thức cho bản thânmình dựa trên những kiến thức hoặc kinh nghiệm đã có từ trước Giáo viênchỉ là người tổ chức, điều khiển

- Tăng cường việc dạy học và hợp tác, dạy học khám phá - phát hiện,trao đổi thảo luận trong nhóm nhỏ

- Bồi dưỡng khuyến khích học sinh tự học, tự khám phá - phát hiện vàgiải quyết vấn đề

Tóm lại, HĐTNST là một phương thức học hiệu quả, giúp hình thànhnăng lực cho người học Phương pháp trải nghiệm có thể thực hiện đối với bất

cứ lĩnh vực tri thức nào, khoa học hay đạo đức, kinh tế, xã hội Hoạt độngtrải nghiệm cũng phải được tiến hành một cách có tổ chức, có hướng dẫn theoquy trình nhất định của nhà giáo dục thì hiệu quả mà việc học trải nghiệmđem lại sẽ tốt hơn

1.2 Lí thuyết tiếp nhận tác phẩm văn học

1.2.1 Vẩn đề tiếp nhận tác phẩm văn học

1.2.1.1 Khái niệm tiếp nhận văn học

Trang 16

Theo Từ điển Tiếng Việt: “tiếp nhận là đón nhận cái từ người khác, từ

nơi khác chuyển giao cho”.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tiếp nhận văn học là quá trình chiếm

lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tình cảm, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ của nhà văn … đến sản phẩm sau khi đọc: Cách hiểu, ấn tượng, trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo bản dịch”.

Khác với “Tiếp nhận” là khái niệm chỉ hoạt động tiếp thu (đọc, nghe,xem) tác phẩm (gồm cả sáng tác văn học và khoa học) với nhiều mục đíchkhác nhau, để hiểu biết, giải trí, thưởng thức, khảo cứu … Tiếp nhận văn học

là khái niệm chỉ việc tiếp thu những sáng tác văn học, là chỉ cách tiếp thuthiên vể thưởng thức, cảm thụ Tuy vậy, tiếp nhận văn học cũng khác với cảmthụ văn học Cảm thụ văn học là sự nhận biết bằng cảm tính trực cảm, nó làtiền đề để đi vào tác phẩm Tiếp nhận văn học đòi hỏi sự bộc lộ của cá tính,thị hiếu, lập trường xã hội, sự tán thành hay phản đối … Do đó, khái niệmtiếp nhận văn học bao quát hơn và bao hàm các khái niệm “Cảm thụ”,

“Thưởng thức”, “Lý giải văn học”…

Nói tóm lại, với tư cách là phương pháp luận, tiếp nhận văn học đã đemlại ánh sáng mới, đã mở rộng phạm vi nghiên cứu văn chương, mở thêm mộtlối đi cho khảo sát văn chương khiến nó không bị đóng khung trong việc xemxét mối quan hệ nhà văn và tác phẩm

1.2.1.2 Đặc trưng của tiếp nhận văn học

Đặc trưng của tiếp nhận văn học vừa mang tính chủ quan, chịu sự chiphối của quy luật tâm lí, nhận thức, giao tiếp vừa mang tính khách quan dođiều kiện sống, lịch sử, không gian, thời gian, chính trị, văn hóa quy định.Hoạt động tiếp nhận các văn bản Ngữ văn là một hoạt động tiếp nhậnmang tính đặc thù, bởi nó là một hoạt động tinh thần và kết quả của hoạt động

Trang 17

này phụ thuộc sâu sắc vào chủ thể tiếp nhận, vào tầm tiếp nhận của chủ thể(năng lực, tâm lí và điều kiện tiếp nhận).

Tiếp nhận văn học luôn tồn tại những khoảng cách Đó là những khoảngcách về lịch sử: TPVH khi được đưa vào trong nhà trường đã là quá khứ, giữavăn bản và người học luôn tồn tại khoảng cách về lịch sử Khoảng cách vềtâm lí: giữa tác giả và người đọc, cũng như các nhân vật trong tác phẩm vớibạn đọc luôn tồn tại một khoảng cách tâm lí Ở đây, có sự khác biệt về tâm líthế hệ, tác giả thuộc một thế hệ, bạn đọc thuộc một thế hệ Sự khác biệt vềtâm lí dẫn đến sự hiểu biết và thông cảm là vô cùng khó khăn Khoảng cáchngôn ngữ: ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội nó vừa ổn định vừa biến đổi.Trong quá trình phát triển có những từ, mẫu câu mất đi hoặc không được sửdụng, có những từ mẫu câu mới xuất hiện Những biến đổi này tạo ra khoảngcách về ngôn ngữ Những khoảng cách trên luôn tồn tại, trở thành sự khókhăn cho quá trình tiếp nhận Nhiệm vụ của người dạy TPVH trong nhàtrường là bằng cách nào đó giúp người học rút ngắn các khoảng cách Khoảngcách càng được rút ngắn thì hiệu quả tiếp nhận càng được nâng cao

1.2.2 Vấn đề đọc hiểu tác phẩm văn học

1.2.2.1 Khái niệm đọc hiểu

Trong tiếp nhận tác phẩm văn chương đọc là khâu đầu tiên, là hoạt độngtiền đề GS.TS Trần Đình Sử trong tạp chí “Văn học và tuổi trẻ” (tháng 11-

2007) đã đưa ra khái niệm đọc như sau: “Đọc là tổng hòa của nhiều quá

trình, nhiều hành vi nhằm đạt được mục đích và nắm bắt ý nghĩa của văn bản Đọc bằng mắt, bằng miệng (phát âm), đọc nhận biết, tưởng tượng, liên hệ, ghi chép, ghi nhớ, tra cứu, phân tích, so sánh, trao đổi”.

Như vậy, đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các

kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình

Trang 18

đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đếnngười nghe.

Theo “Từ điển Tiếng Việt” (2008) thì hiểu là “Nhận ra ý nghĩa, bản

chất, lí lẽ của cái gì bằng sự vận dụng trí tuệ”.

Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đốitượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nộidung và có thể vận dụng vào đời sống.Cụ thể, hiểu là phải trả lời được các câuhỏi: Cái gì? Như thế nào? Làm như thế nào?

Như vậy, đọc hiểu là hai khái niệm, đọc là một hoạt động, ở đây có chủthể, đối tượng, chủ thể là bạn đọc, đối tượng là văn bản Hiểu là mục đích củaviệc đọc

1.2.2.2 Vai trò, chức năng của đọc hiểu.

Trong dạy học Ngữ văn hiện nay, đọc hiểu là một khâu quan trọng, đểphát hiện ra cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học thì đọc hiểu là yêu cầu đầutiên Thông qua đọc hiểu, học sinh sẽ được cung cấp những tri thức về conngười, đời sống, xã hội bởi thông tin trong các văn bản vô cùng phong phú

và đa dạng Nhận thức được thế giới, cuộc sống của con người sẽ giúp họcsinh nhận thức được bản thân mình, các em sẽ hiểu mình cần phải làm gì vàlàm như thế nào để sống tốt và có ý nghĩa hơn Như vậy, đọc hiểu là mộtphương thức giáo dục đạo đức và thẩm mĩ góp phần hoàn thiện nhân cách họcsinh Bên cạnh đó, hoạt động đọc hiểu còn rèn luyện cho học sinh tính chủđộng, óc sáng tạo và năng lực làm văn Đọc hiểu còn là một phương pháp dạyhọc mới, khắc phục được những hạn chế của phương pháp dạy học truyềnthống

Qua đọc hiểu văn bản văn chương, sẽ thấy được giá trị đặc sắc của cácyếu tố nghệ thuật, nghĩa văn bản của từ ngữ trong cấu trúc văn bản, tạo ra sựhiểu biết thấu đáo về tác phẩm trên cơ sở thống nhất các tiền giả định (vấn đề

Trang 19

thể loại, hình tượng, hoàn cảnh diễn xướng, nguyên tắc xây dựng biểutượng…), tăng cường khả năng kết nối kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, bởiđọc hiểu cũng là một cách để người đọc vươn tới những chân trời rộng lớn vàmới lạ của tri thức nhân loại.

Như vậy, đọc hiểu trở thành một yêu cầu bắt buộc để tiếp nhận một tácphẩm văn chương, đồng thời nó có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt độngdạy và học Ngữ văn theo tinh thần đổi mới

1.3 Những đặc trưng của thể loại ca dao

1.3.1 Khái niệm ca dao, thể loại và thi pháp thể loại ca dao

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi), các tác giả cho rằng thuật ngữ Ca dao được dùng với nhiều nghĩarộng hẹp khác nhau Ca dao xét theo nghĩa gốc của từ, thì “ca” là bài hát cóchương khúc, giai điệu được quy định rõ rệt, còn “dao” là bài hát ngắn, không

có gia điệu, chương khúc Tuy nhiên, trong thực tế ca dao ngày càng rời xanghĩa gốc mà sống với nghĩa phái sinh của nó, đó là nhằm chỉ phần lời của

những sáng tác dân ca Trong cuốn “Văn học dân gian Việt Nam” (Đinh Gia Khánh - chủ biên), các tác giả đã định nghĩa ca dao như sau: Ca dao là những

câu hát dân gian được lưu truyền rộng rãi, phần lớn là những lời đối đáp bằng hình thức thơ ca có nội dung diễn tả cảm nghĩ của nhân dân lao động trong các mối quan hệ tự nhiên, gia đình, xã hội Tính xác định của nó ngày

càng cao gắn liền với sự thu hẹp nghĩa của nó Không phải toàn bộ phần lờitrong dân ca, mà là phần lời cốt lõi có tính bền vững, ổn định, có tính trữ tình

SGK Ngữ Văn 10, tập 1 đã định nghĩa Ca dao là “lời thơ trữ tình dân

gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người”.

Như vậy, ca dao là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơ dân gian,

là loại thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng, được hình thành và

Trang 20

phát triển trên cơ sở ngôn từ nghệ thuật và được truyền miệng từ đời này sangđời khác cho đến tận ngày nay.

Theo tác gải Đỗ Bình Trị trong cuốn “Những đặc điểm thi pháp của các

thể loại văn học dân gian” thì “thể loại là tổng thể các tác phẩm có cùng chung mấy dấu hiệu về hệ đề tài, thi pháp, chức năng, phương thức diễn xướng” [Tr3].

Cũng trong cuốn này, tác giả Đỗ Bình Trị nhận định: Thi pháp thể loại là

tổng thể các yếu tố thuộc về hình thức và thủ pháp nghệ thuật mà các tác phẩm thuộc cùng một thể loại đều thống nhất sử dụng [Tr4].

Mỗi thể loại văn học dân gian có cách nói riêng của nó nhằm biểu đạtnội dung riêng Thi pháp thể loại chính là cách nói riêng ấy Vì vậy, phải nắmđược thi pháp thể loại mới có khả năng giải mã được các tác phẩm cùng thểloại

1.3.2 Đặc trưng của thể loại ca dao

1.3.2.1 Nhân vật trữ tình trong ca dao

Ca dao là loại thơ trữ tình dân gian, bày tỏ tiếng nói, tư tưởng, tình cảmcủa con người Trong ca dao truyền thống, chủ thể trữ tình (tức tác giả) luônđồng nhất với nhân vật trữ tình Thông qua những nhân vật trữ tình trong cadao, xu hướng nhân dân muốn diễn tả những nét bản chất gắn với con ngườitrong thời đại ấy Những nét bản chất này thể hiện một cách tập trung ở cảmhứng trữ tình chủ đạo trong ca dao, dù là nam hay nữ, dù là vợ hay chồng,người làm ruộng hay người làm nghề sông nước nhưng đều cảm nhận thânphận mình là thấy buồn, thấy khổ thì sẽ cất lên thành bài ca than thở về nhữngkhổ đau và bất hạnh của kiếp người, còn nêu lên cảm nghĩ về những ngườimình thương mến, những nơi thân thuộc mà thấy yêu thương thì sẽ cất lênthành bài ca ân tình ân nghĩa – tình gia đình, tình bạn bè, tình yêu đôi lứa, tìnhyêu quê hương, đất nước Chính vì vậy nói đến ca dao, dân ca là người ta

Trang 21

nhắc đến những bài ca than thân, những câu hát tình nghĩa của quần chúngnhân dân, những người lao động và bị áp bức trong xã hội cũ.

Nhân vật trữ tình thường gắn với những đại từ nhân xưng trong ca dao

như: anh, em, qua, bậu, ta, chàng, thiếp, tôi…

Bậu nói với qua bậu không hái lựu bẻ đào Chớ mận đâu bậu bọc, đào nào bậu cầm tay.

Và kể cả những hình ảnh xưng hô ẩn dụ như mận, đào, trúc, mai, trăng,

gió, thuyền, biển Tất cả không hề có dấu ấn cá nhân nên dễ dàng gợi sự

đồng cảm sâu xa ở người đọc

Nhân vật trữ tình trong ca dao được thể hiện thông qua các mối quan hệ

xã hội như: cha – con, mẹ - con, vợ - chồng, anh – em, địa chủ - nông dân,chàng trai – cô gái

Nhân vật trữ tình là một đặc trưng quan trọng của ca dao Tổ chứcHĐTNST để HS tìm hiểu về nhân vật trữ tình sẽ giúp các em có cái nhìn sâusắc hơn và đồng cảm với những tâm tư, tình cảm của nhân vật

1.3.2.2 Kết cấu của ca dao

Ca dao có kết cấu rất đặc trưng Vì vậy, dạy học ca dao cần giúp họcsinh nắm được kết cấu của ca dao, để vận dụng nó vào nói và viết những lúccần thiết Kết cấu của ca dao rất đa dạng, bao gồm những kiểu chính như:Lối kết cấu đối đáp, là những lời trò chuyện trực tiếp bằng thơ ca:

Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận

hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Người con trai ướm hỏi cô gái và cô gái trả lời Dạng kết cấu này chiếmhầu hết trong kho tàng ca dao, dân ca là mảng đề tài về tình yêu đôi lứa vàtình cảm gia đình Tuy nhiên trong ca dao, không hẳn mọi bài ca dao đều chia

Trang 22

rõ lời của hai nhân vật trữ tình cùng tham gia đối đáp, có những bài ca daokết cấu chỉ theo một vế và tự nó đã có đầy đủ đặc tính của kết cấu đối đáp vìbản thân nó như một lời trò chuyện:

Trầu không vôi ắt là trầu nhạt Cau không hạt ắt là cau tra Mình không lấy ta ắt là mình thiệt Ta không lấy mình ta biết lấy ai?

Lặp lại mô típ dân gian cũng là một trong những đặc điểm quantrọng của kết cấu ca dao Các công thức mở đầu có tính khuôn mẫu của cùng

một cách nghĩ, gần gũi với cuộc sống hằng ngày như: chiều chiều, trèo lên

cây, thân em, ước gì tạo ra sự nảy sinh của vô số dị bản trong ca dao, điều

quan trọng hơn là nó thể hiện lối nói, suy nghĩ, tình cảm của nhân dân lao

động Chẳng hạn như mô típ câu mở đầu là “thân em”, có rất nhiều những

câu ca dao khác nhau để bày tỏ thân phận người con gái, đó có thể là lời cavui tươi, phấn khởi,đầy lạc quan, đó cũng có thể là lời than thân, trách phận,

sự hoang mang trước tương lai vô định:

Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa

Thân em như hạt mưa

sa Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày.

Nhìn chung, có thể thấy ba dạng kết cấu cơ bản là: Thứ nhất là nhân vậttrữ tình trực tiếp bộc lộ, giãi bày tình cảm; Thứ hai là nhân vật thường bónggió xa xôi lấy thiên nhiên làm cái cớ để bộc lộ tâm trạng; Thứ ba là kết cấutrùng điệp sử dụng các ý, các hình ảnh lặp lại nhiều lần khắc sâu vào tâmtrạng trữ tình

Trang 23

Như vậy, dựa vào kết cấu ta có thể xác định được nhân vật trữ tình cùngvới nghệ thuật tổ chức, trình bày hệ thống cảm xúc của nó và nét cảm hứngdân gian được thể hiện trong bài ca dao ấy.

1.3.2.3 Thể thơ trong ca dao

Các thể thơ trong ca dao xét chung đều là các thể thơ dân tộc: phú, tỉ,hứng, lục bát, lục bát biến thể, song thất lục bát, song thất lục bát biến thể,các thể vãn Mỗi thể thơ này đều có những nét riêng biệt nhất định, phùhợp với tình huống, tâm trạng hoặc tùy theo các làn điệu Điều đó chứng tỏcác tác giả dân gian không chịu gò bó các sáng tác của mình trong nhữngkhuôn mẫu có sẵn, tạo nên tính đa dạng của ca dao, sự hồn nhiên mộc mạctrong ca dao hơn

thơ

Thể phú là phô bầy, mô tả Phô bầy, mô tả một cách trực tiếp về conngười, về cảnh vật thiên nhiên… Phú cũng là tự sự, kể chuyện về những sựviệc, những biến cố xảy ra trong cuộc đời Vì ca dao chủ yếu là bộc lộ tìnhcảm, tâm sự cá nhân nên cảnh được mô tả, hay chuyện được kể lại (dùthật hay hư cấu) cũng chỉ là cái cớ để tình cảm con người được phát triển,

hoặc nương vào đó mà biểu lộ ra được Tát Nước Ðầu Ðình là một bài ca dao

làm theo thể phú loại kể chuyện Để có dịp thổ lộ tnh yêu với cô gái, chàngtrai mượn cớ quên áo, hỏi xin, nhân đó gợi chuyện làm thân, rồi lân la ngỏ ýcầu

hôn:

Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà?

Áo anh sứt chỉ đường tà

Trang 24

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.

Áo anh sứt chỉ đã lâu

Trang 25

Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.

Tỉ là so sánh Ca dao thường xuyên nói về đề tài tnh cảm, thuộc về vấn

đề trừu tượng nên rất khó diễn tả Bởi vậy, ca dao rất ưa sử dụng thể tỉ, mộtphương pháp nghệ thuật đặc sắc, giúp cho ý tứ diễn đạt thêm rõ rànglinh động, mà tình cảm bộc lộ cũng có phần bóng bẩy tế nhị:

Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tẩm

hương.

Câu ca dao này muốn nói, tnh yêu của đôi nam nữ ở đây đều tha thiếtnhư nhau, nhưng tnh cách yêu đương của mỗi người lại mỗi khác Hình ảnhnước thủy triều dâng lên, được so sánh với tình yêu chủ động của ngườithanh niên, đang thời kỳ bồng bột sôi nổi và mãnh liệt Trong khi đó, hình

ảnh “dải lụa đào tẩm hương” được ví với tình yêu của người thiếu nữ, tuy ở

thế thụ động nhưng đầy sức quyến rũ, vừa dịu dàng kín đáo, vừa thắm thiếtnồng nàn Tưởng không có hình ảnh nào so sánh xác đáng hơn nữa

Thể hứng là một loại ca dao được mở đầu bằng một hay vài câu tảngoại cảnh để gợi hứng, sau đó tác giả mới xúc cảm sinh tình, muốn bộc lộnỗi lòng

Trang 26

Đa số ca dao được sáng tác theo thể thơ lục bát, với đặc trưng là nhịpthơ đều đặn, thuận tai, nhiều vần bằng êm dịu, linh hoạt về thanh điệu,biến hóa về âm điệu, có sức lôi cuốn tự nhiên lại có thể kéo dài thoải máinên được sử

Trang 27

dụng rộng rãi Thể thơ lục bát rất phù hợp để phô diễn cảm xúc, tnh cảm của

con người, nhất là đối với người bình dân xưa

Lục bát trong ca dao không cố định số chữ trong một câu, tức là có khảnăng biến thể Khi thay đổi số chữ trong một dòng dẫn đến nhịp thơ thay đổi,ảnh hưởng đến nhạc điệu, âm điệu chung của bài ca Vì thế, chỉ khi nàocần thể hiện những ý tứ sâu sắc, tác giả dân gian mới thể hiện biến thể lụcbát, đây chính là nét đặc biệt rất dân gian của ca dao:

Có yêu nhan thì yêu cho chắc Chi bằng trúc trắc thì trục trặc cho luôn.

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo Thất bát sông cũng lội tứ cửu tam thập lục đèo cũng

qua.

Ngoài thể lục bát được sử dụng phổ biến, thì ca dao còn sử dụng đadạng các thể thơ khác, tạo nên sự phong phú trong kho tàng ca dao, dân caViệt Nam

Dạy học ca dao phải giúp cho các em học sinh nắm được những đặcđiểm của những thể thơ dân tộc được các tác giả dân gian sử dụng để biểu

lộ những tình cảm nhất định

1.3.2.4 Hình ảnh biểu tượng trong ca dao

Biểu tượng là hình ảnh cảm tnh về hiện tượng khách quan thể hiệnquan niệm thẩm mĩ, tư tưởng của từng tác giả, từng thời đại, từng dân tộc,từng khu vực

Thế giới biểu tượng trong ca dao khá phong phú và đa dạng Biểu tươngtrong ca dao là một loại biểu tượng nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn

từ với những quy ước của cộng đồng Có thể phân loại các biểu tượng hếtsức phong phú và đa dạng của hiện thực ấy như sau:

Trang 28

Thế giới các hiện tượng tự nhiên, thiên nhiên: trăng, sao, mây, cỏ, cây,

hoa, lá, rồng, phượng, chim muông

Trang 29

Chiều chiều em đứng em trông Trông non non ngất, trông sông sông dài Trông

mây mây kéo ngang trời Trông trăng, trăng khuyết, trông người xa.

Thế giới các vật thể nhân tạo: khăn, gương, lược, thuyền, bến, lưới,

đò, đình, nhà, cầu, ao,

Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

Ngoài ra, ca dao còn sử dụng dùng một biểu tượng nhưng mang nhiều ý

nghĩa khác nhau trong mỗi hoàn cảnh cụ thể Chẳng hạn như biểu tượng con

cò.

Khi thì là biểu tượng cho nỗi vất vả của người lao động:

Nước non lận đận một mình Thân có lên thác xuống ghềnh bấy nay.

Có khi con cò lại gắn với những oan ức khong giải tỏa được:

Cái cò, cái vạc, cái nông Sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò.

Có khi lại là biểu tượng cho vẻ đẹp bay bổng:

Con cò bay lả bay la Bay từ Cửa phủ bay ra cánh đồng.

Sử dụng biểu tượng giúp cho việc biểu đạt nội dung ca dao vừa hàmsúc, vừa mang tính ước lệ, vừa gần gũi, thân thuộc với người lao động.Những biểu tượng này trở thành những mô típ quen thuộc, như những kí ức

tư tưởng thẩm mĩ dân gian, cho nên hễ nói lên một biểu tượng nào trong cadao ta đều có thể dễ dàng cảm nhận được Thấu hiểu các biểu tượng được

sử dụng trong ca dao sẽ giúp HS giải quyết phần nào những khó khăn, vướngmắc khi tiếp cận một văn bản ca dao

Trang 30

1.3.2.5 Thời gian, không gian nghệ thuật trong ca dao.

Dạy học ca dao giúp học sinh nắm bắt được khái niệm về “thời gian”,

“không gian nghệ thuật” và các khái niệm liên quan như “thời gian diễnxướng”, “thời gian ước lệ tượng trưng”, “không gian tâm lí”, “không gian ước

lệ tượng trưng”

Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật là sự thể hiện hiện thựckhách quan được phản ánh vào trong tác phẩm tạo nên thế giới nghệ thuậtcho tác phẩm ấy

Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễnxướng Tính chất độc đáo trong cách thể hiện thời gian ở ca dao là tác giảdân gian, nhân vật trữ tnh và người diễn xướng cùng nhau nói lên một điều

gì đó Vì thế, đó thường là thời gian tâm lí và luôn ở thì hiện tại Thời giannghệ thuật trong ca dao được miêu tả bằng những công thức đối lập: quákhứ - hiện tại, hiện tại – quá khứ, hiện tại – tương lai, Những công thức đốilập này thường diễn tả những biến đổi, những nghịch cảnh, những điều vôlí

Ngày đi trúc chửa mọc măng Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre.

Thời gian hiện tại của ca dao bộc lộ qua những từ như: bây giờ, hôm

nay, hôm qua.

Bây giờ em mới hỏi anh Trầu vàng nhá với cau xanh thế nào?

Cau xanh nhá với trầu vàng Tình anh sánh với duyên nàng đẹp đôi.

Trong ca dao còn có những cụm từ chỉ thời gian như: ngày đi, ngày về,

hôm qua, đêm qua, thì cũng từ thời hiện tại mà nói Likhatrốp gọi là

Trang 31

thời gian diễn xướng Ngoài ra trong ca dao còn có thời gian tâm lí Đã là thờigian

Trang 32

tâm lí thì nó có muôn vàn cách biểu hiện phụ thuộc vào những cảm nghĩ, tâm tư, cảm xúc, của nhân vật trữ tình.

Ngày đi em chửa có chồng Ngày về em đã con bế, con bồng, con

mang.

“Ngày đi” không còn là thời gian vật lí mà là thời gian đang diễn ratrong tâm trạng nhân vật, hoàn cảnh chủ quan Đó là tâm trạng của nhânvật trữ tình trước sự thay đổi của hoàn cảnh

Thời gian trong ca dao còn được miêu tả qua các công thức mang

tính

ước lệ: chiều chiều, đêm qua,

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau ”

“Chiều chiều ra đứng bờ sông ”

“Đêm qua ra đứng bờ ao ”

“Đêm qua em những lo phiền ”

Thời gian nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với không gian nghệthuật Hiếm có trường hợp thời gian đi riêng một mình mà không kèm theo

nó một địa điểm, một không gian nào đó

Không gian nghệ thuật trong ca dao được miêu tả rất sinh động Không

gian nghệ thuật: dòng sông, con thuyền, cái cầu, bờ ao, cây đa, mái đình là

những không gian vật lí thường gặp trong ca dao

Cô kia cắt cỏ bên sông

Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây Sang đây anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không?

Nhìn chung trong kho tàng văn học dân gian của người Việt, không gianvật lí là những không gian bình dị của làng quê, có quy mô vừa phải, gắn vớiđòi sống dân dã, ở làng quê nông thôn Việt Nam

Trang 33

Bên cạnh không gian vật lí trong ca dao còn xuất hiện không gian xã hội.

Ở đây có những mối quan hệ xã hội hết sức đa dạng giữa con người với conngười

Gặp nhau giữa chuyến đò đấy Một lòng đã hẹn, cầm tay mặn

mà.

Cũng như thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong ca daocũng là không gian tâm lí, không gian được biến đổi theo tâm trạng conngười Nếu xác định được nhân vật trữ tình đang hát ở nơi nào, địa điểmnào thì ta có thể đoán biết được tâm trạng của nhân vật đang diễn ra nhưthế nào Chẳng hạn “ngõ sau” sẽ thể hiện nỗi buồn, nỗi nhớ, “bến sông” lànơi ngóng trông, chờ đợi, “giữa đường” là nơi gặp gỡ, làm quen

Từ ngày gặp mặt giữa đàng Thiếp quyết thương chàng cha mẹ nào

hay.

Bên cạnh những không gian vật lí, không gian xã hội có tên gọi, khônggian trong ca dao còn là không gian phiếm chỉ Tính phiếm chỉ tạo nên sựđồng cảm của những con người mang tâm trạng chung Đó có thể là tâmtrạng của một cô gái đang yêu, một chàng trai thất tình, một người xa quêhương tính chất này làm cho người đọc đồng cảm, có chung tâm trạngkhi đọc những câu ca dao ấy đều thấy mình trong đó

Tác giả Trần Đức Ngôn đã nhận xét rằng: “Ca dao xưa có tình và cócảnh, cảnh tình gắn bó với nhau một cách mật thiết, cảnh sinh tnh, tác giảmượn cảnh để nói lên nội tâm của mình, do đó, ca dao xưa có sức truyềncảm rất mạnh mẽ và có sức sống mãi trong lòng nhân dân” Và thời giannghệ thuật, không gian nghệ thuật đã góp phần tạo nên giá trị ấy cho ca dao

1.3.2.6 Ngôn ngữ trong ca dao

Trang 34

Dạy học ca dao giúp học sinh nhận biết và cảm thụ được vẻ đẹpcủa ngôn ngữ ca dao Từ đó biết vận dụng vào việc làm văn biểu cảmtrong tạo

Trang 35

lập văn bản hoặc dùng chính ca dao làm ngữ liệu để soi tỏ đặc điểm của TiếngViệt.

Ca dao là sự kết tnh lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân lao động.Ngôn ngữ ca dao là thứ ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ nghệ thuật giản dị,chân chất, mộc mạc, đẹp đẽ, trong sáng tính chất giản dị là một đặc điểmgây ấn tượng nhất của ngôn ngữ ca dao Tình yêu mộc mạc của người bìnhdân được thể hiện một cách chân thành, đôi khi hài hước, hóm hỉnh

Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà.

Hay có lúc thẳng thừng có lúc lại kín đáo như thế này:

Tiện đây anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không?

Ngôn ngữ ca dao mang vẻ đẹp giản dị nhưng cũng rất sinh động, giàusức biểu cảm Ca dao biểu hiện cảm nghĩ một cách gợi cảm, miêu tả sựvật một cách gợi hình, điều này thể hiện ở việc sử dụng sáng tạo những từ

mô phỏng, từ láy, thanh điệu, các biện pháp so sánh, ẩn dụ, tượng trưng,cùng với hệ thống động từ, tính từ của Tiếng Việt:

Đôi ta như thể con tằm Cùng ăn một lá cùng nằm một nong.

Có những câu ca dao có thể trở thành mẫu mực trong việc dùng từngữ và về mặt gợi cảm, gợi hình nó không thua bất cứ một câu thơ nàochứng tỏ các tác giả dân gian cũng rất chú ý việc trau chuốt lời thơ trong cadao Nhờ khéo léo khai thác sử dụng những giá trị gợi tả dồi dào củatiếng dân tộc, ngôn ngữ ca dao có khả năng tác động mạnh mẽ vào các giácquan, cảm quan, trực giác và trí tưởng tượng của người tiếp nhận

Trang 36

Ngôn ngữ ca dao vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa mang sắc thái địaphương Chúng ta nhận thấy dấu hiệu văn hóa vùng miền nhờ vào ngôn ngữđịa phương.

em.

Trong ca dao có sử dụng một số yếu tố thuộc phương thức tự sự,miêu tả trong tổ chức ngôn ngữ của mình Như việc biểu lộ vẻ đẹp nhâncách của con người thông qua việc miêu tả đặc điểm của bông sen trongđầm:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng , bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Có thể nói, ngôn ngữ rất quan trọng trong việc thể hiện nội dung vănbản,là yếu tố thứ nhất, là chất liệu quan trọng của văn bản nghệ thuật Ngônngữ ca dao không giống như ngôn ngữ trong văn học viết, nó vừa mang sắcthái dân gian gắn với cách cảm, cách nghĩ của nhân dân lao động, vừa gắn vớinhững cảm xúc cá nhân trong tnh huống cụ thể, cái tôi trữ tình dân gian làcái tôi phiếm chỉ, cái tôi phổ biến Ngôn ngữ ca dao đã kế tục, phát huynhững đặc điểm ngôn từ tuyệt vời của Tiếng Việt

CHƯƠNG 2

Trang 37

BIỆN PHÁP THIẾT KẾ CÁC HĐTNST TRONG DẠY HỌC VĂN

BẢN CA DAO Ở THPT

Trang 38

2.1 Chương trình ca dao trong SGK Ngữ văn 10

2.1.1 Chương trình và SGK Ngữ văn 10

Cuốn “Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn” của Bộ Giáo dục

và Đào tạo ban hành ngày 05/05/2006 đã nêu rõ một số điều sau đây:

- Vị trí môn học: Ngữ văn là một môn học về khoa học xã hội và nhânvăn, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức về Tiếng Việt, vănhọc và làm văn, hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng TiếngViệt, năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học Môn Ngữ văn là một mônhọc công cụ, thuộc lĩnh vực giáo dục thẩm mĩ

- Mục tiêu: Môn Ngữ văn cung cấp cho học sinh những kiến thức phổthông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ (trọng tâm làTiếng Việt) và văn học (trọng tâm là văn học Việt Nam) Môn Ngữ văn hìnhthành và phát triển ở học sinh những năng lực sử dụng Tiếng Việt, tếpnhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ, phương pháp học tập, tư duy đặc biệt làphương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống.Bồi dưỡng cho học sinh tnh yêu Tiếng Việt, văn hóa, văn học

- Quan điểm xây dựng và phát triển chương trình dựa trên 3 quan điểm:

Quan điểm khoa học; Quan điểm sư phạm; Quan điểm thực tiễn

Quan điểm khoa học: Chương trình môn Ngữ văn phản ánh những

thành tựu ổn định của các ngành khoa học Tiếng Việt, Văn học và Làm vănnhững năm đầu thế kỉ XXI về hệ thống cấu trúc và hoạt động giao tiếp bằngtếng Việt Những kiến thức và kĩ năng trong chương trình môn Ngữ vănđược sắp xếp một cách hệ thống Chương trình Ngữ văn 10 gồm 3 phầnTiếng Việt, Tập làm văn, Văn học

2.1.2 Vai trò, vị trí của Ca dao trong chương trình Ngữ văn THPT

Trang 39

Kế thừa thành tựu của SGK cũ, về cấu trúc và nội dung của phần vănhọc dân gian có nhiều thay đổi về cấu trúc và nội dung chương trình trong đóphần ca dao đã được tăng số tiết học Trong SGK Văn học 10 gồm hai chùmbài: Những câu hát than thân và Những câu hát tnh nghĩa Đến SGK Ngữ văn

10 đã gộp hai chùm bài trên thành Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

và thêm một chùm bài Ca dao hài hước

Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa là phần thơ trữ tình dân gian,

là tếng nói tình cảm, cảm xúc của nhân dân lao động trong xã hội xưa vànay Tiếng nói bên trong của Ca dao vừa giống vừa khác với thơ Cảmxúc trong Ca dao được thể hiện một cách hồn nhiên, chân thành, thoải mái.Tiếng nói tnh cảm trong Ca dao là tiếng lòng chung của tất cả mọi người Ca

dao là “tếng nói của vạn nhà”, là “tấm gương soi của tâm hồn dân tộc” Đến

với Ca dao là đến với phần hồn của dân tộc, đến với cốt cách con người ViệtNam từ buổi sơ khai cho đến ngày nay Chính Ca dao đã đặt nền móng, cóảnh hưởng sâu sắc tới bộ phận thơ của văn học viết

Ca dao giáo dục nhân cách con người theo con đường riêng của nó

Từ những rung cảm thẩm mĩ, con người tự biết sống một cách nhânnghĩa, tốt đẹp hơn Như vậy Ca dao không giáo dục theo cách của các nhàtruyền giáo mà theo cách của người bạn đồng hành: nhẹ nhàng, tâm sự,ngăn chặn, cảnh tỉnh thông qua những hình tượng nghệ thuật thẩm mĩ.Nói cách khác Ca dao biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục.Điểm độc đáo của nó là: hấp dẫn, vui tươi, không lên gân, không áp đặt

Ca dao nói riêng, văn học dân gian nói chung là phần mở đầu chochương trình Ngữ văn phổ thông nói chung và cho chương trình Ngữ văn 10nói riêng Đến với Ca dao các em đến với phần tình cảm và sáng tạo nghệthuật sơ khai nhất nhưng cũng rất tnh tế, sâu sắc của con người Chủ đề Ca

Trang 40

dao vừa có ý nghĩa rèn luyện kĩ năng đọc hiểu ban đầu cho học sinh, vừatạo

Ngày đăng: 12/01/2020, 10:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2006),Từ điển thuật ngữ văn học, NXBGD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2006
3. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương, NXBGD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2002
4. Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường PTTH, NXBGD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường PTTH
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1998
5. Đinh Gia Khánh (chủ biên) (2005), Văn học dân gian Việt Nam, NXBGD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên)
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2005
6. Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, NXBKHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1992
7. Phan Trọng Luận (1996), Phương pháp dạy học văn, NXBĐHQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 1996
8. Phan Trọng Luận (2007), Thiết kế bài học Ngữ văn 10, NXBGD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn 10
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2007
9. Phương Lựu (chủ biên) (1995), Lý luận văn học, NXBGD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1995
10. Đỗ Bình Trị (1993), Phân tích tác phẩm văn học dân gian, NXBDG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm văn học dân gian
Tác giả: Đỗ Bình Trị
Nhà XB: NXBDG
Năm: 1993
11. Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, NXBGD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1990
12. Vũ Ngọc Phan (1992), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Hội Nghiên Cứu và Giảng dạy Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Năm: 1992
13. Phạm Thị Nhung (2011), Những Hình Thức Nghệ Thuật Trong Ca Dao, trích từ blog Hoàng Lan Chi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Hình Thức Nghệ Thuật Trong Ca Dao
Tác giả: Phạm Thị Nhung
Năm: 2011
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông – HĐGD ngoài giờ lên lớp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w