Đặc điểm nổi bật nhất của làng thêu Quất Động là cácnghệ nhân chủ yếu thêu bằng biện pháp thủ công, với nhiều loại hình phongphú đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của thị trường, giá trị vật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐỘNG (THƯỜNG TÍN – HÀ NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học
Th.S NGUYỄN THỊ NHUNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học sư phạm Hà Nôi 2, các thầy cô giáo trong khoa ngữ văn, đặc biệt là giảng viên Nguyễn Thị Nhung đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn các ông bà trong các phòng ban của Ủy ban nhân dân xã Quất Động, và nhân dân địa phương đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập, thu thập số liệu và hoàn thiện khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em, bạn bè và những người thân
đã luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần trong toàn quá trình học tập, rèn luyện, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng trình độ, năng lực bản thân còn hạn chế nên trong báo cáo của tôi chắc chắn không tránh khỏi sai sót, kính mong các thầy giáo, cô giáo, các bạn sinh viên góp ý để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm2017
Sinh viên
Bùi Thị Thu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa
luận“Thực trạng và biện pháp bảo tồn phát triển làng nghề thêu tay Quất
Động (Thường Tín –Hà Nội)” là trung thực và chưa được sử dụng trong bất
kì tài liệu, khóa luận nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ
nguồn gốc
Sinh viên
Bùi Thị Thu
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
LNTT : Làng nghề truyền thống
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
NN và PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn.UBND : Ủy ban nhân dân
TTCN – CN : Tiểu thủ công nghiệp – Công nghiệp.BCHTW : Ban chấp hành Trung ương
KTTT : Kinh tế thị trường
Trang 5Bảng 2.3.6: Bảng giá bán các loại tranh của làng.
Bảng 2.3.7 Sản lượng sản phẩm thêu ren ở làng nghề thêu ren
xã Quất Động qua các năm
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Mục tiêu nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6.Phương pháp nghiên cứu: 4
7 Đóng góp của đề tài: 4
8 Bố cục kết luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ THÊU TAY QUÂT ĐỘNG 6
1.1 Khái niệm về làng nghề 6
1.1.1 Đặc điểm của các làng nghề 7
1.1.2 Điều kiện hình thành các làng nghề 8
1.1.3 Các tiêu chí xác định làng nghề 8
1.1.4 Vai trò của làng nghề truyền thống trong sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn 12
1.2 Giới thiệu về làng nghề thêu tay QUẤT ĐỘNG 15
12.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 15
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 16
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ THÊU TAY QUẤT ĐỘNG 21
2.1 Lịch sử làng nghề và tổ nghề thêu tay QUẤT ĐỘNG 21
2.2 Quy trình sản xuất 23
Trang 72.2.1 Phân loại sản phẩm thêu ren 27
2.2.2 Làng nghề thêu ren ở QUẤT ĐỘNG trong đối sánh với làng nghề thêu khác 28
2.3 Thực trạng nghề thêu tay QUẤT ĐỘNG 31
2.3.1 Số lượng, quy mô của nghề thêu 33
2.3.2 Lao động, chất lượng lao động trong làng nghề 34
2.3.3 Tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề 35
2.3.4 Vốn và nguồn vốn trong làng nghề 36
2.3.5 Sản phẩm và tình hình tiêu thụ sản phẩm trong làng nghề 37
2.4 Tình hình môi trường trong làng nghề 45
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THÊU QUẤT ĐỘNG, THƯỜNG TÍN-HÀ NỘI 48
3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của xã QUẤT ĐỘNG 48
3.2 Các giải pháp phát triển sản xuất làng nghề thêu ren QUẤT ĐỘNG 48
3.2.1.Các giải pháp của UBND xã 48
3.2.2 Nâng cao trình độ, năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm 49
3.2.3 Phát triển thị trường và kinh doanh xuất khẩu và đẩm bảo nguồn nguyên liệu 49
3.2.4 Tăng cường vốn đầu tư 50
3.2.5 Tăng cường đầu tư và đổi mới chính sách phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, tiến hành quy hoạch và giải quyết mặt bằng sản xuất cho làng nghề 50
3.2.6.Chú trọng việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của làng nghề 51
3.3 Định hướng bảo tồn làng và phát triển nghề thêu QUẤT ĐỘNG 53
KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
TƯ LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8- xã hội, giải quyết việc làm cho nhiều lao động, sản xuất ra nhiều sản phẩm
có giá trị kinh tế
Làng Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường Tín, một làng cổ nằmven quốc lộ 1A, cách trung tâm thành phố Hà Nội 20kilômét về hướng nam.Nơi đây từ thế kỉ 17 đã có nghề thêu, có những nghệ nhân bằng đôi tay khéoléo đã chắt lọc những gì tinh túy nhất của hồn dân tộc để tạo nên nhưng tácphẩm rực rỡ, sinh động tô đẹp cho đời Nghề thêu có ở rất nhiều địa phương,nhưng đạt đến trình độ tinh xảo và kĩ thuật điêu luyện thì không đâu bằngngười làng Quất Động Đặc điểm nổi bật nhất của làng thêu Quất Động là cácnghệ nhân chủ yếu thêu bằng biện pháp thủ công, với nhiều loại hình phongphú đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của thị trường, giá trị vật chất và tinh thần
từ các sản phẩm của làng nghề thủ công truyền thống Quất Động là không thểphủ nhận Sự thăng trầm của Quất Động nói riêng và các ngành nghề làngnghề nói chung luôn gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội và ý thức bảotồn các giá trị truyền thống văn hóa của từng địa phương
Làng nghề thêu Quất động với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời
đã đóng góp không nhỏ cho tạo dựng bản sắc văn hóa Việt Nam , đã gắn bó,ảnh hưởng đến đời văn hóa sống kinh tế cũng như niềm tự hào cần được giữgìn và phát huy của người dân nơi này
Nghề thêu hiện nay đã được phổ biến sâu rộng trên quy mô cả nước, sảnphẩm làng thêu không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước mà còn vượt
ra thị trường nước ngoài Cùng với sự ứng dụng và phát triển khoa học kỹthuật
Trang 9công nghệ hiện đại vào quy trình sản xuất, nhằm tăng năng suất lao động, giảiphóng sức người, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa, trong đó có lĩnhvực của nghề thêu Mặt khác dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường nhiềunghề, nghề thủ công truyền thống ở nước ta hiện nay đã và đang có nguy cơmai một, thất truyền.
Nghề thủ công Quất Động trong tương lai sẽ ra sao? Làm thế nào đểduy trì và phát triển một làng nghề thủ công truyền thống trong bối cảnh xãhội hiện đại để vừa mang ý nghĩa gìn giữ và phát huy tinh hoa di sản văn hóadân tộc, vừa mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội và đất nước Đây là vấn đềluôn mang tính thời sự, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn Đócũng chính là lý do em chọn đề tài: “Thực trạng và biện pháp phát triển làngnghề thêu tay Quất Động (Thường Tín –Hà Nội)” làm khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử vấn đề
Các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam đã được nhiều nhànghiên cứu, nghiên cứu sinh quan tâm nghiên cứu Trước hết phải kể đến cuốn
“Làng nghề thủ công truyền thống”, 2001 của Thạc Sĩ Bùi văn Vượng Trong
tác phẩm này, Thạc sĩ, Bùi Văn Vượng đã đề cập đến nhiều làng nghề thủcông nổi tiếng như làng nghề dệt tơ vải, thổ cẩm ,làng nghề gốm làng nghềquạt giấy làng nghề mây tre đan làng nghề làm trống … Trong đó có cả nghềthêu với một số làng nghề nổi tiếng như làng thêu Quất Động, làng thêu XuânNẻo, làng thêu ren Văn Lâm Do nói về nhiều nghề thủ công, trong mỗi nghềthủ công lại có các làng khác nhau, nên với nghề thêu Quất Động tác giả chưa
đi sâu nghiên cứu về kĩ thuật thêu cũng như nghệ thuật thêu Quất Động màchỉ muốn “ tôn vinh nghệ nhân và làng nghề”, “phổ biến tri thức nghề nghiệpvốn rất phong phú ở đấy” với những nét văn hóa làng nghề tất cả những thuầnphong mĩ tục sinh hoạt làng xóm, đoàn kết cộng đồng tinh hoa nghề nghiện,tài năng nghệ nhân
Trang 10Với cuốn “Những bàn tay tài hoa của cha ông”, tác giả Phan Đại Doãn,
Nguyễn Quang Ngọc cũng có đề cập đến làng nghề thêu Quất Động nhưngdưới góc độ lịch sử những quy trình kĩ thuật sơ lược của nghề thêu trong tạp
chí Khoa học của trường Đại học Sư phạm (số 2/2006) có bài “Một số vấn đề
của làng nghề truyền thống Việt Nam hiện nay” và trong tạp chí Nghiên cứu
Lịch sử số 5/1999 có bài “Một số vấn đề về làng nghề ở nước ta hiện nay”.
Các bài này chỉ đề cập đến thực trạng chung của các làng nghề hiện nay nhưvấn đề môi trường, vấn đề đầu ra cho sản phẩm, vấn đề nguồn vốn
Ở tác phẩm “Hà Tây làng nghề , làng văn” - NXB Văn hóa thông thể thao (1992) và cuốn “ Thường Tín đất canh hương” - Ban thượng huyện
tin-ủy Thường Tín (2004) các tác giả có những thông tin nghiên cứu khá chi tiết
về làng nghề thêu Quất Động từ lịch sử nghề đến kĩ thuật thêu song lại không
đề cập đến thực trạng nghề thêu Quất Động hiện nay cùng hướng phát triển
Các tác phẩm, các bài nghiên cứu về làng nghề cũng như nghề truyềnthống chỉ tập trung ở một số vấn đề của làng nghề truyền thống Tuy nhiên, ởbài nghiên cứu về làng nghề thêu Quất Động này tôi đã tìm hiểu ,nghiên cứutrên nhiều vấn đề từ lịch sử nghề đến thực trạng nghề thêu Quất Động hômnay Từ các kĩ thuật thêu đến phương hướng, các giải pháp bảo tồn và pháttriển nghề thêu, trong đó còn có sự so sánh làng nghề thêu Quất Động với cáclàng nghề thêu nổi tiếng khác
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, tôi đã tìm hiểu thực trạng làng nghề Quất Độngtrên địa bàn xã Quất Động huyện Thường Tín, từ đó đưa ra giải pháp bảo tồn
và phát triển làng nghề, hệ thống những lý luận nghiên cứu về bảo tồn và pháttriển làng nghề truyền thống, đánh giá thực trạng xã Quất Động và làng nghềQuất Động, đưa ra các giải pháp, kiến nghị giúp bảo tồn và phát triển làngnghề Quất Động hiện nay
Trang 114 Mục tiêu nghiên cứu
4.1.Mục tiêu chung
Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng phát triển làng nghề Quất Động trên địa bàn
xã Quất Động huyện Thường Tín, từ đó đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triểnlàng nghề
4.2.Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống những lý luận làng nghề và phát triển làng nghề truyền thống
- Đánh giá thực trạng xã Quất Động và làng nghề Quất Động
- Đưa ra các giải pháp, bảo tồn và phát triển làng nghề Quất Động
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1.Đối tượng: Làng nghề thêu tay Quất Động huyện Thường Tín – thành phố
Hà Nội
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Từ khi làng nghề được hình thành đến nay
Không gian: Làng nghề thêu tay Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường
Trang 12- Làm sáng tỏ quá trình hình thành và phát triển nghề thêu làng Quất Động, từquy trình sản xuất đến chất lượng sản phẩm hàng thêu và nêu ra biện pháp bảotồn và phát triển làng nghề Quất Động.
- Khẳng định giá trị văn hóa của làng nghề thêu Quất Động
- Kiến nghị các giải pháp và tổ chức sản xuất, về mẫu mã và chất lượng sảnphẩm, vấn đề đào tạo thợ nhằm phát triển văn hóa làng nghề thêu Quất Động,huyện Thường Tín – thành phố Hà Nội trong đời sống xã hội hiện nay
8 Bố cục kết luận
Bố cục khóa luận gồm 3 phần:
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Khái quát về làng nghề thêu tay QUẤT ĐỘNG
Chương 2: Thực trạng làng nghề thêu tay QUẤT ĐỘNG
Chương 3: Biện pháp bảo tồn và phát triển làng nghề thêu QUẤT ĐỘNGKết luận
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ THÊU TAY
QUÂT ĐỘNG 1.1 Khái niệm về làng nghề
Làng nghề là mô hình sản suất truyền thống, gắn liền với lịch sử pháttriển kinh tế xã hội của Việt Nam Làng nghề đóng vai trò tích cực đến pháttriển kinh tế và xã hội của nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn Vìvậy, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về làng nghề và đưa ra nhiều kháiniệm về làng nghề Các khái niệm làng nghề này nhìn chung có nhiều điểmtương đồng với nhau và được tóm tắt như sau:
Khái niệm thứ nhất: làng nghề cần được hiểu là những làng ở nông thôn
có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và sốthu nhập so với nghề nông “tìm hiểu về làng nghề và vai trò của làng nghềcủa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” tác giả Huỳnh Đức Thiện
Khái niệm thứ 2: làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong mộtthôn, có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản suất kinhdoanh độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trịsản phẩm của toàn làng “ tìm hiểu về làng nghề và vai trò của làng nghề củaViệt Nam trong giai đoạn hiện nay” tác giả Huỳnh Đức Thiện
Các khái niệm làng nghề ở trên chỉ ra rằng làng nghề gồm 2 từ “làng”
và “nghề” ghép lại Trong đó, “làng” dùng để chỉ cộng đồng dân cư sinh sống
ở nông thôn với hoạt động kinh tế truyền thống là sản suất nôngnghiệp, còn
“nghề” gắn liền với hoạt động kinh tế phi nông nghiệp Nhìn chung, các kháiniệm làng nghề đã phản ánh được đầy đủ những đặc điểm của làng nghề ViệtNam Vì đa số làng nghề đến nay vẫn giữ được những đặc trưng chủ yếu nhưsau:
Trang 14- Làng nghề gồm một hoặc nhiều cụm dân cư sống cùng một khu vực địa lýđược gọi là làng Làng ở đây được hiểu là thôn, ấp, bản, làng, buôn, phun, sóchoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn Cư dân làng nghềthường có quan hệ với nhau về kinh doanh lẫn dòng tộc, tạo nên mối quan hệchặt chẽ về văn hóa kinh tế và xã hội ở làng nghề.
1.1.1 Đặc điểm của các làng nghề
Thứ nhất, rất nhiều nghề thủ công truyền thống đã ra đời và phát triểnrực rỡ trên các miền quê thuộc đồng bằng Bắc Bộ, làng nghề thường gắn liềnvới nông thôn, các làng nghề thủ công tách dần khỏi nông nghiệp nhưngkhông tách khỏi nông thôn
Thứ hai, kỹ thuật công nghệ sản xuất được truyền từ đời này sang đờikhác có tính chất gia truyền Công cụ lao động trong làng nghề đa số là công
cụ thủ công truyền thống, thô sơ
Thứ ba, hình thức tổ chức sản xuất hộ gia đình, người chủ gia đìnhthường đồng thời là thợ cả mà trong số họ không ít nghệ nhân, còn nhữngthành viên trong hộ được huy động vào làm những việc khác nhau trong quátrình sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào khả năng kỹ thuật của từng người,vào giới tính hay lứa tuổi Gia đình có thể thuê mướn lao động trong và ngờilàng Cá biệt có những lao động ở ngoại tỉnh thường xuyên hoặc theo thời vụ,tọa thành một số làng nghề ở vùng lân cận
Thứ tư, làng nghề thường ở các làng quê gắn liền với sản xuát nôngnghiệp nông thôn nên nguồn vốn trong dân không nhiều Hơn nữa, hệ thốngtín dụng ở các vùng này hầu như chưa phát triển nên vốn đầu tư mở rộng quy
mô sản xuất, hiên đại hóa trong thiết bị sản xuất, tìm và nghiên cứu thị trường,tiêu thụ sản phẩm ở các làng nghề còn hạn chế
Thứ năm, các loại sản phẩm thường có một số sản phẩm mang tính nghệthuật cao Mặt khác, sản phẩm thường không phải do sản xuất hàng loạt và có
Trang 15tính đơn chiếc nên có tính độc đáo và khác biệt cao Các sản phẩm của làngnghề truyền thống là sự kết tinh, sự bảo lưu và phát triển của các giá trị vănhóa, văn minh lâu đời của dân.
Hai là, gần nguồn nguyên liệu Hầu như không có làng nghề nào lạikhông gắn bó chặt chẽ với một trong những nguồn nguyên liệu chủ yếu phục
vụ cho sản xuất làng nghề
Ba là, gần nơi tiêu thụ hoặc thì trường chính Đó là những nơi tập trungdân cư với mật độ khá cao, gần bến sông Bãi chợ và đặc biệt là rất gần hoặckhông quá xa trung tâm thương mại
Bốn là, sức éo về kinh tế Biểu hiện rõ nhất thường là sự hình độ dân sốcao, đất trật người đông, thêm vào đó có khi là do chất đất hoặc khí hậu khôngphù hợp làm cho nghề nông khó có điều kiện phát triển để bảo bảo thu nhập
và đời sống dân cư trong làng
Năm là, lao động và tập quán sản xuất ở từng vùng Nếu không cónhững người tâm huyết với nghề, có nhiều quan hệ gắn bó với nghề và có khảnăng ứng phó với những tình huống xấu, bất lwoij thì làng nghề cũng khó cóthể tồn tại một cách bền vững
1.1.3 Các tiêu chí xác định làng nghề
Khái niệm về tiêu chí : Tiêu chí là một thuật ngữ khoa học, xuất hiện vàđược sử dụng nhiều trong khoảng 30 năm nay Tiêu chí đặt ra là những đềukiện cần và đủ làm cơ sở xem xét sự vật
Trang 16Xây dựng tiêu chí làng nghề là tìm ra điều kiện cần, những cơ sở chuẩn mực để
từ đó xem xét, đánh giá một làng nghề
Cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định tiêu chí làng nghề là dựa trênnhững thành tố cơ bản để liên kết bên trong ở các làng nghề, đồng thời dựavào đặc điểm của các làng nghề, cho phép chúng ta nhận thấy rằng trong cáclàng nghề gồm 6 thành nghề tố gắn kết chặt chẽ với nhau để tạo thành nhữngtiềm năng vững chắc cho sự phát triển mỗi làng
Một là, biên dộ số hộ làm tiểu thủ công nghiệp các làng nghề trên chiếm60-80% số hộ trong làng
Hai là, biên độ dao dộng số hộ làm một nghề chính ở làng chiếm từ 90% so với tổng số hộ làm nghề TTCN.Tên của làng nghề được gọi bằng chính tên của nghề đó
65%-Ba là, có ý kiến cho rằng cần xem xét tỷ trọng giá trị doanh thu củaTTCN trong tổng doanh thu của làng trong năm, coi đó là một tiêu chuẩn xemxét công nhận một làng nghề Thực tiễn cho thấy, xác định tỷ trọng TTCN ởlàng trong tổng giá trị kinh tế trong một năm là rất khó, bởi lẽ sản phẩm củalàng nghề luôn luôn biến động theo mùa vụ, những con số đưa ra chỉ là ướctính
Bốn là, ở những LNTT, những người cùng làm nghề có mối quan hệgắn kết chặt chẽ với nhau trong tình cảm cộng đồng, làng xóm Một số làng
xã đã tổ chức ra hội ngành nghề giữ vai trò liên kết những người làm nghềdịch vụ liên quan đến nghề, làng nghề Đồng thời quy tụ những người cùngnghề, tổ chức sinh hoạt văn hóa nghề ở nhà thờ tổ, hoặc đình làng, đền
Năm là, thực tiễn cho thấy ở các làng nghề, quá trình lao động, làm rasản phẩm, lực lượng lao động đã tự phân công thành các lớp thợ với trình độtay nghề khác nhau Lớp thợ giỏi được người thợ tôn vinh là thợ cả, có nơi tônvinh là nghệ nhân Dưới thời bao cấp, nhà nước đã phong tặng một số các
Trang 17nghệ nhân danh hiệu ‘‘bàn tay vàng’’ Số thợ giỏi của các làng nghề chiếm từ5% -
Trang 1820% lao động chính Số thợ cả, nghệ nhân ở các làng nghề đóng vai trò rấtquan trọng trong việc bảo lưu yếu tố truyền thống cũng như cách thức đẩynghề phát triển, họ cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm Từ thựctiễn lao động, tự họ gây được uy tín đối với người làng, góp phần truyền nghềcho lớp trẻ, giữ gìn sự đoàn kết, tham gia điều hành các vấn đề KT-XH ởlàng, uy tín của một làng nghề gắn với vai trò, trách nhiệm của lớp thợ và cácnghệ nhân dày dặn kinh nghiệm, tinh thông nghề nghiệp.
Từ việc phân tích các thành tố gắn kết trong làng nghề đã giúp chúng tatìm ra một mẫu số chung định hình khá rõ ở các làng nghề điển hình Từ đó,chúng ta có thể có được những tiêu chí xác định về một làng nghề như sau :
- Số hộ và số lao động làm nghề TTCN ở làng đạt từ 50% trở lên so với
số hộ và lao động của làng
- Số hộ làm nghề chính ở làng chiếm tỷ lệ trên 50% tổng thu nhập củalàng trở lên so với hộ làm nghề TTCN và nghề chính ấy là tên gọi của làngnghề
- Có tỷ trọng giá trị thu nhập TTCN ở làng đạt trên 50% trong một nămlao động
- Có tổ chức điều phối các hoạt động KT-XH ở làng nghề, phường hội,HTX, câu lạc bộ, ban quản lý mang tính tự quản do người trong làng bầu ra
- Có địa điểm là trung tâm sinh hoạt KT-XH của làng nghề liên quan đến hoạt động của làng nghề
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ thuật cao, mang đậm nét yếu tố văn hóa và
bản sắc dân tộc Việt Nam
- Sản phẩm có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác
Trang 19Các tiêu chí trên được xây dựng xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn đểcác cấp chính quyền căn cứ vào đó lập hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền côngnhận danh hiệu làng nghề.
Về tiêu chí nghề truyền thống, LNTT thì cho đến nay chưa có những tiêu chíđược quy định một cách chính thức để xác định thế nào là nghề truyền thống,LNTT, song cách hiểu phổ biến hiện nay là :
* Nghề truyền thống : bao gồm những nghề tiểu thủ công có từ trước thờiPháp thuộc, còn đến nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụn máymóc hiện đại trong sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống
* LNTT : là những làng có 50 hộ hoặc có từ 1/3 số hộ hoặc lao động cùng làmmột nghề truyền thống
* Xã nghề truyền thống : là một xã mà ở đó không chỉ có một làng mà cónhiều làng cùng làm một nghề truyền thống
* Phố nghề truyền thống : là những LNTT được đô thị hóa hoặc do nhiều laođộng từ LNTT ra đô thị lập nghiệp tập trung lại thành phố nghề Xã nghềtruyền thống, phố nghề truyền thống thường được gọi chung là LNTT
LNTT là một vấn đề lớn, cần nhiên cứu để có các chủ trương, chính sách thíchhợp, thúc đẩy hình thành các làng nghề phù hợp với tính chất của ngành nghềthủ công và tập quán của nhân dân ta
Từ những phân tích ở trên có thể hiểu rằng, ngành nghề truyền thống lànhưng ngành nghề TTCN đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tếcủa nước ta còn tồn tại đến ngày nay Bao gồm cả ngành nghề mà phươngpháp được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuấtnhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống
Do sự phát triển của khoa học công nghệ nên nhiều sản phẩm mới ra đời
ưu thế hơn nhưng sản phẩm truyền thống Vì thế mà ngành nghề truyền thống
Trang 20dẩn dần bị mất đi, và một số ngành nghề mới xuất hiện để phù hợp với sự đòihỏi khách quan của thị trường về cơ cấu, chất lượng, chủng loại sản phẩm.Đối với những nghề được xếp vào ngành nghề thủ công truyền thống cần phải
có những yếu tố sau :
- Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta
- Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề
- Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề
- Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam
- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ chủ yếu là trong nước
- Sản phẩm làm ra mang tính chất độc đáo, bản chất của Việt Nam
- Là nghề nuôi sống bộ phận dân cư, cộng đồng, đóng góp đáng kể vàongân sách nhà nước
Có thể phân chia ngành nghề truyền thống thành ba nhóm chính
- Nhóm 1 : Chế biến nông lâm, thủy sản
Việc phát triển ngành nghề, làng nghề là hướng chủ yếu để tạo việc làm
và thu nhập cho lao động nông thôn – một vấn đề thời sự rất bức xúc, gây ranhững khó khăn gay gắt về kinh tế, xã hội hiện nay, đó là việc làm cho laođộng thiếu việc trong thời gian nông nhàn và nhất là lao động ở những nơi đất
bị thu hồi để xây dựng công nghiệp và đô thị Củng cố và phát triển các làngnghề truyền thống không chỉ là phát triển kinh tế theo ý nghĩa thông thường,
mà còn là phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, chứa đựng những quan niệm
về thẩm mỹ, tư tưởng, đặc điểm nhân văn, trình độ khoa học kỹ thuật rất độcđáo của dân tộc Việt Nam Có những sản phẩm còn mang dấu ấn thời đại, đặcđiểm làng
Trang 21nghề, phong cách nghệ nhân khá đậm nét Mỗi làng nghề đều có lịch sử pháttriển, có sản phẩm vật thể và phi vật thể truyền thống, có những nghệ nhân tiêu
biểu
Phát triển các làng nghề truyền thống nhằm chuyển dịch kinh tế nôngthôn, tạo việc làm cho người dân, tăng thêm thu nhập, góp phần vào công cuộcxóa đói giảm nghèo…
- Phát triển làng nghề chính là làm đa dạng hóa kinh tế nông thôn,chuyển các họ thuần nông thu nhập thấp thành những hộ kinh doanh đa ngànhnghề, có người làm nông nghiệp, có người làm công nghiệp và dịch vụ có thunhập cao
- Xây dựng và phát triển làng nghề cũng đang giữ vai trò quan trọngtrong việc phát triển du lịch văn hóa, giới thiệu với nhân dân trong nước vàbạn bè quốc tế những đặc trưng văn hóa, phong tục tập quán của mỗi dân tộc,mỗi làng nghề, làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch Đã có nhiều khu dulịch kết hợp với làng nghề, khách du lịch được tận mắt chiêm ngưỡng nhữngsản phẩm tác phẩm tiểu thủ công qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân nổitiếng biểu diễn tại chỗ
* Giải quyết việc làm cho người lao động ở địa phương và các vùng lâncận
Diện tích đất ngày càng bị thu hẹp nên tình trạng thất nghiệp, thiếu việclàm có nguy cơ gia tăng, đời sống người dân còn nhiều khó khăn việc bảo tồn
và phát triển làng nghề phù hợp với yêu cầu giải quyết việc làm cho người dânlao động đang ngày càng dư thừa một cách nhanh chóng ở các địa phương.Không chỉ vậy sự phát triển của làng nghề còn kéo theo sự phát triển của nhiềungành nghề dịch vụ khác, tạo được việc làm cho người dân lao động
* Chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng công nghiệp hóa hiện đạihóa
Trang 22Sự phát triển các làng nghề đã góp phần làm cho tỷ trọng của ngànhnông nghiệp ngày càng thu hẹp, tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch
vụ ngày càng tăng lên Đồng thời, nó còn đóng vai trò tích cực trong việc thayđổi tập quán từ sản xuất nhỏ, độc canh mang tính tự túc, tự cấp sang sản xuấthàng hóa, hoặc tiếp nhận công nghệ mới có liên quan đến nghề sẽ không mấykhó khăn so với nông dân ở các ngành thuần nông
* Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, nângcao thu nhập, thu hẹp khoảng cách đời sống nông thôn và thành thị, hạn chế didân tự do Khác với sản xuất công nghiệp và một số ngành khác, làng nghềtruyền thống không đòi hỏi số vốn đầu tư quá lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cầncông cụ thủ công, thô sơ mà những người thợ trong làng nghề đều có thể tựsản xuất hoặc tự chế tạo được
Do đặc điểm sản xuất của làng nghề là sử dụng lao động thủ công là chủyếu, nơi sản xuất cũng là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có khảnăng tận dụng và thu hút nhiều lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đếnlao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi Trẻ em tham gia sản xuất dưới hìnhthức học hỏi nghề hay giúp việc Lực lượng này chiếm tỷ lệ rất đáng kể trong
* Phát triển làng nghề thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn làm thayđổi bộ mặt nông thôn
Trang 23Hệ thống giao thông và kết cấu hạ tầng vừa là tiền đề vừa là kết quảcủa phát triển làng nghề Trước hết là làng nghề được hình thành ở nhữngvùng có giao thông thuận lợi, đồng thời làng nghề phát triển sẽ nảy sinh nhucầu xây dựng, mở rộng đường giao thông, trạm điện, phục vụ cho việc pháttriển làng nghề Bên cạnh đó làm thay đổi bộ mặt nông thôn.
* Bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc
Bảo tồn và phát triển làng nghề góp phần vào việc giữ gìn các giá trịvăn hóa của dân tộc và nâng cao đời sống tinh thần cho cư dân ở nông thôn
Đó là niềm tự hào của dân tộc ta qua các thế hệ nối tiếp đến nay vẫn cònnguyên giá trị Sản phẩm của làng nghề phản ánh những nét chung của dântộc và có những nét riêng của làng nghề
1.2 Giới thiệu về làng nghề thêu tay Quất Động
12.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Diện tích tự nhiên 4,83 km2 Xã Quất Động có dân số 7428 người
Làng Quất Động thuộc xã Quất Động, ở bên trái quốc lộ I, thuộc huyệnThường Tín - Hà Nội, nằm cạnh quốc lộ 1A, cách trung tâm Hà Nội khoảng20km Xã Quất Động có diện tích : 483 km², phía Đông giáp xã ChươngDương (sông Hồng), phía Tây giáp xã Nguyễn Trãi, phía Nam giáp xã ThắngLợi, phía Bắc giáp xã Hà Hồi Xã ở gần giữa hai ga xe lửa xuyên Việt, cũng lànơi có hai chợ lớn của vùng : chợ Vối và chợ Tóa Từ xưa, đây đã là nơi cóđường giao thông rất thuận lợi cho sự phát triển của làng nghề
Đầu thế kỷ 19, làng Quất Động thuộc tổng Bình Lăng huyện ThượngPhúc phủ Thường Tín trấn Sơn Nam Thượng
Quất Động có truyền thống Cách Mạng Thời chống Pháp vì là nơi cónhiều phong trào kháng chiến mạnh nên giặc Pháp đã tràn về đốt đình chùa,nhà dân và giết nhiều người vô tội Ngày mồng 9 tháng Mười một năm Mậu
Tý (1948) đã trở thành ngày Giỗ trận của làng
Trang 24Quất Động cũng là đất hiếu học Tại Văn Miếu (Hà Nội) còn ghi tên hai
vị trong văn bia là: Phạm Thế Hồ (1565) đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1610), vàTrần Khái đỗ Tiến sĩ khoa Đinh Sửu (1637) Người làng Quất Động khéo tayhay làm, ruộng đất tuy ít nhưng nhờ có tay nghề tinh xảo, đến nay nhà nhà
đã ngói hóa, có điện thắp sáng và nước sạch Trường học, nhà trẻ mẫu giáo
và đường đi lại khang trang, sạch đẹp
Nằm trong vùng đất cổ trù phú do phù sa bồi đắp của sông Hồng Địahình đất đai, khí hậu của làng Quất Động chịu ảnh hưởng tuyệt đối kể cảnhững thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên vùng châu thổ sôngHồng - Quất Động là một làng cổ, đất chật ng2ười đông, sớm đã có nghềthêu, phát triển thành làng thêu nổi tiếng, có bề dày lịch sử trong các làngnghề thủ công truyền thống ở nước ta Nó gắn liền với quá trình phát triểnkinh tế, với đời sống và nhu cầu làm đẹp của người dân Nghề thêu QuấtĐộng đã tồn tai với vận mệnh của đất nước, của dân tộc Việt Nam
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Là một làng nghề được biết đến từ lâu, làng nghề thêu ren Quất Độngkhông chỉ bán các sản phẩm trong nứơc mà còn xuất khẩu sang các thịtrường Tây Âu, Nhật Bản, Thuỵ Điển…góp phần quan trọng trong xuất khẩuhàng thêu tay của Việt Nam
Phát triển làng nghề thêu Quất Động chính là khai thác tiềm năng laođộng dồi dào trong xã, giải quyết căn bản vấn đề lao động nhàn rỗi sau mùa
vụ Mặt khác góp phần khai thác tiềm năng kỹ thuật, tiền vốn, vật tư nguyênliệu có tại địa phương
Phát triển làng nghề không những bảo tồn được một làng nghề truyềnthống mà nó giúp cho người dân Quất Động làm giàu trên mảnh đất quêmình Đời sống người dân Quất Động hôm nay đã chứng minh điều đó
+ 100% số hộ có ti vi
Trang 25+ 98% số hộ có điện thoại.
+ 45% hộ kết nối mạng Internet
Không những thế, phát triển làng nghề còn góp phần chuyển dịch cơ cấulao động ở nông thôn, từng bước xoá đói giảm nghèo, thu hút lao động ở địaphương khác đến tham gia sản xuất
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế của xã thời gian qua có
sự chuyển dịch tích cực phù hợp với xu thế chung của huyện và tỉnh, giảmdần tỷ trọng nông nghiệp, thuỷ sản trong tổng giá trị sản xuất (về giá trị vẫntăng), tăng dần tỷ trọng công nghiệp, TTCN, xây dựng và thương mại, dịch vụ.Năm
2013, tỷ trọng nông nghiệp trong tổng giá trị sản xuất là 28,3%, công nghiệp TTCN - xây dựng 42,3% và thương mại, dịch vụ 29,4% Năm 2014, tỷ trọngnông nghiệp giảm xuống còn 25,2%, công nghiệp - TTCN - xây dựng tăng lên
-là 44,7% và thương mại, dịch vụ tăng -là 30,1%
Xã có 2.285 hộ, trong đó có 1.141 hộ tham gia thêu ren chủ yếu tập trungvào
3 thôn: Quất Động, Quất Tỉnh và Lưu Xá
Quất Động giờ đây có hàng chục tỷ phú làm giàu lên từ sản xuất hàngthêu ren, nhiều tỷ phú còn rất trẻ, với doanh nghiệp có 30-50 nhân công.Làng Quất Động là một làng lớn với dân số chiếm 2/3 số dân toàn xã
Đình chùa của làng đã được tu tạo giữ gìn, được nhà nước xếp hạng di tíchlịch sử
Làng được tỉnh công nhận là làng nghề năm 2001 Điều đặc biệt là từ khiphát triển làng nghề các tệ nạn xã hội đã bị đẩy lùi Ai ai cũng chí thú làm ăn,đến Quất Động thấy một đội ngũ đông đảo thanh niên làm việc trong cácdoanh nghiệp thêu, hạn chế rất lớn tệ nạn xã hội
Là một xã làm TTCN, đi vào trong xã chúng ta thấy được đặc điểmcủa một làng nghề thêu ren Trong làng chúng ta liên tục gặp các doanh
Trang 26nghiệp thêu, đó là các xưởng thêu, tại các cơ sở giặt là có rất nhiều dây phơidùng để
Trang 27phơi hàng Ngoài ra đi cả xã hầu như hộ nào cũng có khung thêu rất đặctrưng của làng nghề, rất nhiều hộ có máy khâu để may hàng.
Cũng như những làng quê khác, Quất Động cũng có đời sống văn hoáphong phú Đường làng ngõ xóm của Quất Động đã được bê tông hóa, có hệthống cống rãnh thoát nước trong làng Đến Quất Động hôm nay chúng tathấy nhiều thay đổi bởi sự phát triển mạnh mẽ của làng nghề
Về cơ cấu lao động làng nghề Quất động chuyển dịch theo hướng giảmdần tỷ trọng lao động nông nghiệp nhưng giảm chậm Chất lượng lao độngtương đối khá Năm 2015 số lao động qua đào tạo là 2373 người chiếm43.79% tổng nguồn lao động Tuy nhiên, lao động trong lĩnh vực nông nghiệpchủ yếu đào tạo ngắn hạn thông qua các lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ kĩthuật nên trình độ chuyên môn kỹ thuật vẫn còn bất cập trước yêu cầu pháttriển nông nghiệp hàng hóa và ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kĩ thuậtvào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả
Tình hình phát triển kinh tế của xã Quất Động
Thu nhập chủ yếu vẫn từ TTCN – CN – XD, thương mại dịch vụ nhưngmức tăng của 2 ngành không cao lắm Về TTCN – CN – XD, trên địa bàn cơkhí, sửa chữa xe máy, chăn ga gối đệm, máy may…thu nhập của lao động tùytừng nghề 3 – 7 triệu đồng, tổng giá trị toàn ngành TTCN – CN – XD chiếm54.6% tổng thu nhập năm 2014 Về dịch vụ có 2 loại hình: Bán hàng tạp hóa,dịch vụ ăn uống giải trí, buôn bán vật liệu…thu nhập bình quân giao động từ 5– 10 triệu Tổng giá trị toàn ngành đạt 165.47 tỷ đồng chiếm 27.2% tổng thunhập 2014 Về ngành nông nghiệp, hiện nay Xã Quất Động đang tiến hànhCNH – HĐH nên diện tích đất nông nghiệp giảm dần, bên cạnh đó xã QuấtĐộng cũng đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động giữacác ngành nên giá trị sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm Năm 2014, Giátrị sản xuất nông nghiệp là 110.72 tỷ đồng chiếm 18.2% Xã hiện có 8 thôn,
Trang 28hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp đang hoạt động nhưng mang lại hiệu quả chưa
cao
Như vậy, sự hình thành, mở rộng và phát triển các làng nghề có vai tròquan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa truyềnthống và hiện đại, là nấc thang phát triển quan trọng trong quá trình côngnghiệp hóa nông thôn ở nước ta Ngoài ra, các làng nghề còn có thể thu hútvốn nhàn rỗi trong nhân dân để sản xuất, tận dụng thời gian và lực lượng laođộng ngay tại địa phương
Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất làng thủ công,nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tínhtruyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ sản xuất, bán sản phẩm theo kiểuphường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng Tổ nghề và cácthành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc Sự liên kết
hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế kĩ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùngdòng tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử hình thành, phát triểnnghề nghiệp đã hình thành ngay trên đơn vị cư trú, làng xóm truyền thốngcủa họ
Mặt khác, làng nghề thủ công truyền thống đã giải quyết việc làm chonhiều người lao động ở nông thôn, nâng cao mức sống cho người dân và hạnchế di dân tự do Sản phẩm của làng nghề cũng là nhân tố quan trọng thúcđẩy phát triển sản xuất hàng hóa ở nông thôn, tăng sức mua cho thị trườngnông thôn Các làng nghề hàng năm đã sản xuất một lượng sản phẩm
Cùng với đó, cách đây từ rất lâu đời, đất Thường Tín ( Hà Nội ) đã đượcmệnh danh là đất trăm nghề với những làng nghề truyền thống mang đậmbản sắc văn hóa Việt Nhân dân Thường Tín, với bản chất cần củ, thông minh
Trang 29đã chịu khó học hỏi, sáng tạo để chế biến ra những sản phẩm thủ công tinhxảo,
Trang 30đặc sắc, đậm đà tính dân tộc Một trong những làng nghề thủ công nổi tiếngđi
vào ca dao có thể kể tới làng thêu Quất
Nhị Khê tiện gỗ đền thờ chạm hoa”
Làng nghề thêu Quất Động với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đãđóng góp không nhỏ cho tạo dựng bản sắc văn hóa Việt Nam, đã gắn bó, ảnhhưởng tới đời sống văn hóa kinh tế xã hội cũng như là niềm tự hào cần đượcgiữ gìn và phát huy của người dân nơi đây
Tuy nhiên thời gian gần đây, với sự lên nhanh của nền kinh tế thị trường,cùng với nhiều sự hạn chế về kinh tế, hướng phát triển chưa thật bền vững,phát sinh những mâu thuẫn,… làng nghề Quất Động không tránh khỏi nhữngthách thức chung cùng với các làng nghề truyền thống ở Việt Nam hiện nay:nguy cơ mai một những giá trị truyền thống của làng nghề
Trang 31CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ THÊU TAY QUẤT ĐỘNG
2.1 Lịch sử làng nghề và tổ nghề thêu tay Quất Động
Nghề thêu có ở nhiều địa phương, nhưng đạt đến trình độ tinh xảo và
kỹ thuật điêu luyện thì không đâu bằng người làng xã Quất Động, huyệnThường Tín, Hà Nội Tuy nhiên nghề truyền thống đang đứng trước nguy cơ
bị mai một, hoặc vẫn còn nhưng bị suy thoái, mất dần đi những nét truyềnthống, mất đi cái hồn vốn có từ ngàn xưa do chạy đua trong nền kinh tế thịtrường như hiện nay… Mảnh đất Hà Tây xưa mà nay thuộc về Hà Nội đã từng
đi vào ca dao, hò
vè nổi tiếng là một xứ sở nghìn nghề Ở đây có tới 1.160 làng nghề, với hơn
200 làng nghề truyền thống lừng danh cả nước bởi những sản phẩm đadạng, bền, đẹp, đậm màu dân dã Một trong đó là làng Quất Động, xã QuấtĐộng, huyện Thường Tín, một làng cổ nằm ven quốc lộ 1A, cách trung tâmthủ đô hơn 20 kilômét về hướng nam Nơi đây từ thế kỷ 17 đã có nghề thêu,
có những nghệ nhân bằng đôi bàn tay khéo léo đã chắt lọc những gì tinh túynhất của hồn dân tộc để tạo nên những tác phẩm rực rỡ, sinh động tô đẹpcho đời
Theo ý kiến của cụ Bùi Trần Nội 72 tuổi – người trông giữ đình làngQuất Động và theo ghi chép ở đình Ngũ Xã, Quất Động và đền Tú Thị, Hà Nội,ông tổ nghề thêu Quất Động cũng như nghề thêu chung của ba miền bắctrung nam là tiến sĩ Lê Công Hành, tên thật là Bùi Công Hành, sống ở cuối đờiTrần, đầu đời Lê (khoảng thế kỷ 14), tại làng Quất Động, huyện Thượng Phúc,phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam nay thuộc Thường Tín, Hà Nội Cuối đời Trần,ông lên đường dự thi vừa lúc quân Minh sang xâm lược nên khoa thi bị hủy.Ông ẩn náu trong rừng rồi theo Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh Cuộcbình Ngô thành công, ông được Lê Thái Tổ trọng dụng
Trang 32Đến đời Lê Thái Tông (1423-1442), Bùi Công Hành dẫn đầu đoàn sứ bộ
đi sứ Vua nhà Minh muốn thử tài sứ giả nước Việt bèn cho dựng một lầu caochót vót rồi mời ông lên chơi Rồi rút thang để ông không thể leo xuống vàlệnh
Trang 33trong một tháng nếu ông không tiếp đất an toàn sẽ bị giam cầm mãi mãi ởTrung Quốc Đây là một gian thờ Phật, không để một thứ thức ăn gì ngoại trừmột vại nước uống cầm chừng Với niềm tin ở hiền gặp lành, ngày ngày ôngcũng ngồi thiền niệm Phật dưới ban thờ và nghĩ cách leo xuống Một hôm,ông thấy một đàn ong bay lượn phía sau mấy tán lọng che tượng Phật Lạigần tìm hiểu thì thấy trên cánh tay của tượng có một vết rạn, và một con ongđang chui vào đấy Biết rằng ong chỉ tập trung ở đâu khi nơi ấy có mật ngọt,ông liền bẻ một mảng mà nếm, thì thấy vị ngọt đậm Thật ra bức tượng làmbằng chè lam ông ăn dần nhờ thế sống sót Ngắm mấy cái lọng đẹp, hoa vănkhác lạ, ông nảy ra ý học lại cách thêu của người Trung Quốc, ông vừa tháovừa thêu lại những hoa văn đó Ngày cuối cùng của tháng giam hãm, ông kẹphai cái lọng vào nách và nhảy xuống đất không hề bị một vết thương tích.Vua tôi nhà Minh quá kinh ngạc và thán phục.
Có thuyết lại nói ông ngắm lầu một lượt thấy ngoài cửa lầu treo mộtbức nghi môn thêu nổi ba chữ : “Phật tại tâm” Một ngày rồi hai ngày trôiqua, chỉ có một mình trên lầu vắng, bụng đói mà cơm không có ăn, Bùi CôngHành nghĩ, có chum nước để uống tất phải có cái ăn Ông quay ra ngắm bứcnghi môn rồi lẩm nhẩm : “Phật tại tâm nghĩa là Phật ở trong lòng” Ông gậtđầu mỉm cười rồi bẻ tay pho tượng ăn thử xem sao Thì ra hai pho tượngđược nặn bằng bột chè lam Có thức ăn thức uống, hằng ngày ông quan sát
kỹ cách làm lọng Nhập tâm cách làm rồi, ông hạ bức nghi môn xuống, tháo raxem cách thêu và đã học được cách làm lọng, thêu nổi Sau đó, vị sứ thầnmạnh bạo dùng cái lọng làm dù nhảy xuống đất an toàn Trước cách ứng xửthông minh ấy, vua nhà Minh rất khâm phục
Khi về nước, ông đã đem cách thêu lọng Trung Quốc dạy cho ngườidân quê hương Nhờ công lao ấy, ông được phong danh Kim tử vinh lộc đại
Trang 34phu, chức Tả thị lang bộ Công, tước Thanh lương hầu và được đổi sang họvua.
Trang 35Hàng chục làng trong vùng được Lê Công Hành truyền nghề trực tiếp, theođịa danh thời Nguyễn là các xã Quất Động, Tam Xá, Vũ Lăng, Hướng Dương
và Hương Giai Năm xã này dựng chung một đền thờ ông ở thôn Hướng Xá,gọi là đền Ngũ Xã Giỗ ông vào ngày 12 tháng Sáu âm lịch Cảm ân đức tiến
sĩ, nhiều vùng bao gồm cả Hà Nội đều lấy ngày mất của ông làm ngày giỗ tổnghề
thêu
Ở Quất Động từ bấy tới nay, nghề thêu bằng phương pháp thủ côngvẫn là nghề trọng yếu, chỉ đứng sau nghề nông và cung cấp công ăn việc làmcho nhiều lao động địa phương Thu nhập từ thêu thùa chiếm đến 50% tổngthu nhập bình quân toàn xã Người Quất Động rất yêu nghề thêu, những lúcnghỉ ngơi hay nông nhàn đều ngồi thêu Nhà nào cũng có khung thêu Nhiềugia đình có tới dăm, bảy đời làm nghề này Từ nhỏ, các bé gái đã được cha
mẹ cho những chiếc khung thêu hình tròn xinh xắn, mấy cái đê, kim khâu, vảivụn và kéo con để tỷ mẩn học thêu Lớn lên, nhiều người đã trở thành thợthêu chuyên nghiệp, nghệ nhân tầm cỡ Ngoài kinh doanh hộ gia đình, ở QuấtĐộng cũng có hợp tác xã thêu, với nhiều xưởng thợ, xưởng to quy tụ chừng
200 tới 500 tay kim và xưởng nhỏ 15-30 tay kim Ngoài nghề thêu, nhiều nhàcòn kiêm khâu vá, đính hạt cườm, gắn sừng, ráp túi xách… trên sản phẩmthêu Mọi nhà đều làm theo đơn đặt hàng với mẫu mã cho sẵn hoặc tự tác,
cứ hai ngày một lần các đơn vị và du khách lại về mua và vận chuyển hàng đicác tỉnh
2.2 Quy trình sản xuất
Nghề thêu ren không quá phức tạp, đòi hỏi lớn nhất với những ngườilàm nghề là sự kiên trì, cẩn thận và ý thức làm việc tập thể Công cụ dùngtrong nghề thêu ren khá đơn giản
Trang 36Các thợ thêu chỉ sử dụng một số thứ vật liệu ở mức tối thiểu nhưkhung thêu, kim thêu các cỡ (kiểu tròn và kiểu chữ nhật), kéo, thước, bútlông, phấn mỡ, vải thêu (vải trắng, sa tanh, lụa ), chỉ thêu các màu Chính
vì thế, nghề
Trang 37thêu ren rất phù hợp với khả năng nguồn lao động của nước ta, nhất là ở khuvực nông thôn Mũi kim thoăn thoắt đưa đi đưa lại những đường chỉ cùng đó
là những hình thù với màu sắc sống động dần hiện ra Các sản phẩm thêuren trước hết là những vật phẩm có giá trị nghệ thuật cao, không bao giờ lỗimốt, chúng rất gần gũi với cuộc sống con người và tô điểm cho cuộc sốngcủa con người kể từ lúc chào đời cho đến khi giã từ cuộc sống, từ những tấmkhăn tay đến các loại khăn trải bàn, ga gối, rèm cửa, quần áo đến tranhthêu
Quy trình sản xuất sản phẩm thêu ren bao gồm những công đoạn cơ bản : pha cắt, in kẻ, thêu, kiểm hoá, giặt là, đóng gói
Pha cắt : Đây có thể được coi là khâu khởi đầu để tạo nên sản phẩm
thêu ren Trên cơ sở mẫu đã được thiết kế, đội ngũ nghệ nhân, thợ, cán bộ
kỹ thuật của cơ sở sản xuất tiến hành tính toán định mức vải cần sử dụng để
có thể làm nên sản phẩm theo đúng kích cỡ, tiêu chuẩn khách hàng yêu cầu
In kẻ : Sau khi có số liệu từ khâu pha cắt, những người thợ làng nghề
tiến hành in kẻ Đây là khâu đòi hỏi độ chính xác rất cao
Trước tiên, để có thể thêu, người thợ cần in mẫu thêu lên vải Để inđược mẫu thêu lên vải cũng cần trải qua rất nhiều các bước:
+ Bước 1: Vẽ hình mẫu thêu lên nền giấy trắng, sau đó chỉnh sửa lạitừng đường nét của họa tiết sao cho mềm mại đơn giản mà vẫn giữ được đặcđiểm riêng biệt của từng họa tiết đó
+ Bước 2: Căn lại hình mẫu từ nên giấy trắng lên nền giấy bóng Sau đódung kim châm thủng theo đường nét của họa tiết hình mẫu trên giấy bóng.Mỗi lỗ kim cách nhau 1mm
+ Bước 3:
Trang 38● Làm mực in: Dùng dầu hỏa để ngâm giấy than ( hoặc bột vẽ màuđen) làm mực đen, ngâm bột vẽ màu trắng làm mực nước trắng, khi in vải thìdùng mực đen và ngược lại
Trang 39● Làm bút: dung một que dài 40cm đầu cuốn bong
● Cách in: đặt mẫu đã được châm kim lên trên nền vải thêu Bóc giấybóng ra, ta sẽ có mẫu hình in trên vải cần thêu Lặp đi lặp lại cách này nhiềulần ta sẽ có nhiều hình mẫu như ý
Thêu : Sản phẩm thêu ren của cơ sở sản xuất làng nghề được các nghệ
nhân, những người thợ thực hiện bằng đôi bàn tay khéo léo cùng với tâmhồn thăng hoa của người dân làng nghề thêu ren truyền thống
Sau khi đã in được mẫu lên vải, người thợ bắt đầu thêu Theo ý kiếncủa cô Hoàng Thị Khương, 48 tuổi, một người đã gắn bó với nghề thêu hơn
30 năm thì có 9 cách thêu cơ bản: thêu bạt, thêu lướt, thêu vờn, thêu nốiđầu, thêu sa hạt, thêu chăng chặn, thêu bó, thêu đâm xô kuyện màu, thêu
bó Mỗi nghệ thuật thêu lại có sự khéo léo, tinh tế riêng:
+ Thêu bạt: Tức là thêu chéo canh chỉ, được áp dụng rất nhiều mẫu
thêu như: lá cây, cành cây, đường triệu, hoa văn,… người thợ giỏi kĩ thuậtthêu bạt sẽ giỏi cả thêu lướt và thêu vờn
+ Thêu lướt: Tức là thêu lẫn mũi chỉ: được áp dụng thêu các loại họa
tiết nhỏ như: cành cây, sống lá… Thêu mũi chỉ thứ nhất khoảng 3mm nằmdọc theo nét vẽ Mũi chỉ thứ hai lên kim cách mũi chỉ thứ nhất 1mm vàxuống kim lấn lên 2/3 của mình chỉ thứ nhất Mũi chỉ thứ ba lên kim cách mũichỉ thứ hai 1mm và xuống kim lấn lên 2/3 của mũi thứ hai Cứ thế theo tuần
tự như trên
+ Thêu vờn: Tức là thêu đường chân chỉ ở lớp thêu sau chờm lên
đường chân chỉ của lớp thêu trước tạo thành những họa tiết có thể cùng màuhoặc khác màu, nhưng vẫn có sự phân cách bằng đường chân chỉ Thêu vờnđược áp dụng để thêu các loại hoa có cánh hoa ở phía ngoài để lấp một phầncánh hoa bên trong, và thêu cánh các loại chim
Trang 40+ Thêu nối đầu: Tức là thêu đầu mũi chỉ thêu sau nối vào cuối mũi chỉ
thêu trước tạo thành các nét cong theo yêu cầu của mẫu thêu Thêu nối đầuthường áp dụng để thêu các họa tiết như lá tre, lá cỏ và các đường nét nhỏ
+ Thêu chăng, chặn: Tức là thêu chăng tạo thành các đường chỉ dài, sau
đó thêu chặn để giữ cho đường chỉ dài nằm đúng vị trí, khong bị xô lệch
+ Thêu bó: Tức là thêu canh chỉ Các mũi chỉ có thể nằm sát nhau để
tạo thành các họa tiết kín hoặc có thể cách nhau một khoảng đều nhất định,tạo thành họa tiết trang trí cho mẫu thêu Áp dụng thêu chăng để thêu kínphần họa tiết cần thêu bó Khi thêu bó, chọn chỉ phù hợp với màu chỉ chăng,lên kim ở nét vẽ họa tiết bên này; xuống kim ở nét vẽ họa tiết bên kia Trước
là bó ngang lấy toàn bộ phần họa tiết vừa thêu chăng Tùy theo yêu cầu củahọa tiết mà ta thêu mà ta thêu bó kín toàn bộ hoặc bó hở từng phần họa tiết
+ Thêu đột: Tức là thêu từng mũi chỉ một đứng độc lập và nổi trên nền
vải tạo thành cá ganh chỉ từng mảnh, từng mảnh kết hợp với nhau Thêu độtđược áp dụng để thêu các nền đất, nhụy hoa, mái ngói
+ Thêu sa hạt: Tức là thêu cốn mũi chỉ để tạo thành các hạt của nhụy
hoa và thêu mào của một số loài chim Dùng chỉ phù hợp với yêu cầu củamẫu thêu, lên kim ở đúng vị trí cần sa hạt; tay phải cầm kim; tay trái cuốn sợichỉ đang thêu quanh mũi kim từ 1-3 vòng Tùy theo nhụy to hay nhỏ mà cuốnnhiều hay ít vòng
+ Thêu đâm xô luyện màu: Tức là thêu so le quyện các mũi chỉ vào nhau
tạo thành các mảng có họa tiết có các màu đậm nhạt xen lẫn nhau Thêuđâm xô luyện màu được áp dụng thêu những mảng phông nền hoặc thêutruyền thần
ảnh
Kiểm hoá : Để có thể có được một sản phẩm thêu ren hoàn hảo cả về
kỹ thuật và hình thức, các cơ sở làng nghề rất coi trọng khâu kiểm hoá Với