1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Phương pháp phân tích kết cấu bê tông cốt thép nhà cao tầng theo tuần tự thi công

4 245 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 421,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp phân tích kết cấu theo giai đoạn thi công hạn chế được các sai sót của việc phân tích cả hệ kết cấu hoàn chỉnh. Bài viết này xem xét các thông số dùng cho phương pháp phân tích và đánh giá tính hiệu quả của phương pháp phân tích kết cấu theo giai đoạn thi công cho nhà cao tầng bê tông cốt thép.

Trang 1

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KẾT CẤU

THEO TUẦN TỰ THI CÔNG

Phân tích kết cấu theo cách truyền

thống thực hiện trên hệ kết cấu được

mô phỏng hoàn chỉnh (kết cấu trong

giai đoạn khai thác sử dụng) Quá trình

phân tích được thực hiện khi tải trọng

tác dụng lên hệ kết cấu hoàn chỉnh

Hình 1: Sơ đồ tính khi phân tích cả hệ

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KẾT CẤU

BÊ TÔNG CỐT THÉP

NHÀ CAO TẦNG

THEO TUẦN TỰ

THI CÔNG

Tóm tắt: Phương pháp phân tích kết cấu theo giai đoạn

thi công hạn chế được các sai sót của việc phân tích cả hệ

kết cấu hoàn chỉnh Bài báo này xem xét các thông số dùng

cho phương pháp phân tích và đánh giá tính hiệu quả của

phương pháp phân tích kết cấu theo giai đoạn thi công cho

nhà cao tầng bê tông cốt thép

Từ khóa: Phân tích, thi công, dọc trục, kết cấu, bê tông,

cốt thép, nhà cao tầng.

Summary: The method of analyzing structure to the

construction phases can minimize the shortcomings of the method of analyzing the complete structure system This article reviews the parameters used for the analysis and evaluate the effectiveness of the structural analysis method to the construction phases for the reinforced concrete buildings

Key words: Analyze, construction, vertical axis,

structure, concrete, reinforced, high-rise buildings

Khác biệt phương pháp trên, phân tích từng tầng theo tuần tự thi công (Hình 2) thực hiện theo các bước sau:

Hình 2: Phân tích tĩnh phi tuyến theo tuần tự thi công ở mỗi tầng

Nội lực, biến dạng do co ngót, từ biến, trọng lượng kết cấu và ứng xử phi tuyến đối với tầng 1 được tính toán => Lập sơ đồ tầng 2 phía trên tầng 1 => Tải trọng ấn định trên tầng 2 => Các ứng xử của sơ đồ mới được tính toán

=> Tiếp tục quá trình cho các tầng trên, kết quả phân tích có xét đến tuần

tự thi công

Phương pháp phân tích theo tuần tự thi công đã được tích hợp trong các

phần mềm phân tích kết cấu, với tên gọi Stage construction (SAP), Sequential

construction analysis (ETABS), được dịch là “phân tích theo giai đoạn thi

công” Thuật ngữ “giai đoạn thi công” có thể gây hiểu sai theo nghĩa đây là

TS.Vũ Hoàng Hiệp*

Nhận ngày 02/8/2017, chỉnh sửa ngày 27/8/2017, chấp nhận đăng ngày 30/8/2017.

79

Số 55.2017 XÂY DỰNG & ĐÔ THỊ

* Trưởng khoa Xây dựng, Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội

Trang 2

công tác thiết kế kết cấu ở giai đoạn thi công Về bản chất, từ lúc xây dựng, các

cấu kiện đã bị tác động và có những ứng xử, đã được điều chỉnh bằng biện

pháp thi công, gây ảnh hưởng đến sự làm việc của kết cấu khi đã hoàn chỉnh

ở “giai đoạn sử dụng” Như thế, kết cấu khi khai thác, sử dụng mới được xem

xét toàn diện

Trong Hình 2, quá trình gán thêm các tầng phía trên, biến dạng dọc trục

chênh lệch giữa các cột tầng dưới (gọi là hiện tượng shortening) đã được đổ

bù bê tông, để đảm bảo dầm sàn tầng trên bằng phẳng cùng cao độ Điều

này đã mô phỏng đúng thực tế quá trình thi công kết cấu bê tông cốt thép

toàn khối

Để minh họa bản chất của phương pháp, kết cấu khung 15 tầng, 2 nhịp

điển hình được khảo sát theo 2 cách phân tích Chiều cao tầng 3,4m Nhịp dầm

6m Cột biên có kích thước tiết diện 50x50cm, cột giữa tiết diện 50x120cm,

dầm tiết diện 30x60cm Vật liệu bê tông cấp độ bền B30 Kết quả chênh lệch

chuyển vị đứng cột biên và giữa phân bổ rất khác biệt như Hình 3:

a) Phân tích trên kết cấu hoàn chỉnh b) Phân tích theo tuần tự thi công

Hình 3: So sánh chênh lệch cao độ cột biên và cột giữa theo 2 cách phân tích

HIỆN TƯỢNG BIẾN DẠNG DỌC TRỤC CÁC CẤU KIỆN THẲNG ĐỨNG

CHÊNH LỆCH TRONG NHÀ CAO TẦNG

Trong hệ kết cấu bê tông cốt thép (BTCT), do tác động kết hợp của biến

dạng co ngót, từ biến và ứng suất nén gây nên biến dạng dọc trục trong các

cột, vách, lõi Ở các nhà cao tầng, các cột bao quanh thường có khuynh hướng

co ngắn nhiều hơn so với vách và lõi bên trong (hiện tượng shortening), dẫn

đến sự chênh lệch đáng kể về biến dạng dọc trục, gây nên sự phân phối lại

nội lực rất bất lợi, như Hình 4:

Hình 4: Mô tả hệ quả của hiệu ứng shortening [2]

Lực dọc trong các cột, vách sẽ được phân phối lại Mô men trong các dầm

tập trung rất lớn tại đầu liên kết với cấu kiện đứng ít bị co ngắn hơn, mô men

đầu dầm còn lại thậm chí còn đổi dấu Điều này dẫn đến phải bố trí cốt thép

tập trung, không phân đều, thi công khó khăn và quan trọng hơn, liệu kết

quả nội lực đó có phản ánh đúng thực tế hay không

Trong thực tế thi công, tải trọng bản thân của kết cấu và khối xây đã được chất từng bước theo thời gian Việc thi công tuần tự các tầng đã triệt tiêu một phần chênh lệch chuyển vị cộng dồn do đổ bê tông đã bù cột, hiệu chỉnh cao độ thống nhất tại mỗi sàn Vì vậy, hệ quả của shortening không lớn như trong tính toán hệ kết cấu hoàn chỉnh Việc tính toán hệ kết cấu không xét đến sự triệt tiêu của hiệu ứng shortening theo giai đoạn thi công dẫn đến một sự sai lệch về kết quả [2] Kết quả so sánh chuyển

vị đứng của cột biên và cột giữa trên Hình 3 cho thấy, việc phân tích kết cấu theo tuần tự thi công đã thay đổi trị

số cũng như phân bố độ chênh lệch chuyển vị của cấu kiện đứng, rõ nhất

là tại tầng mái

Đã có nhiều nghiên cứu nêu rõ các nguyên nhân gây biến dạng dọc trục cột BTCT là: Biến dạng co ngót,

từ biến của bê tông, tác động nhiệt, các tải trọng thi công, tải rung động, biến dạng đàn hồi do lực dọc cột [1] [3][4][6] Những kết luận biến dạng dọc trục khác biệt giữa các cột và vách trong cùng một công trình dẫn đến phân bố nội lực rất không đồng đều trong kết cấu toàn nhà, bỏ qua sự co ngắn khác nhau của cột, vách có thể dẫn đến sự cố trong kết cấu và các bộ phận phi kết cấu của tòa nhà đã được đưa ra [3][4][8] Đặc biệt là đưa ra các đánh giá về sự cần thiết và hiệu quả của phương pháp phân tích kết cấu theo tuần tự thi công (giai đoạn thi công) trong các công trình cao tầng [2][3][6][9]

Tuy nhiên, ngoại trừ một số công trình siêu cao tầng, công trình cầu nhịp lớn, việc sử dụng phương pháp phân tích kết cấu theo tuần tự thi công không phổ biến trong thực tế thiết kế công trình cao tầng ở Việt Nam, dù số lượng các công trình cao

30 đến 45 tầng không hiếm Lý do có thể xuất phát từ tâm lý ngại thay đổi của người thiết kế, do số lượng các

80 HỌC VIỆN CÁN BỘ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VÀ ĐÔ THỊ

Trang 3

phương án tải khá lớn, một số thông

số đầu vào cho phân tích chưa thực

sự dễ dàng nắm bắt để lựa chọn Các

nội dung sau của bài báo sẽ đề cập,

phân tích và đề xuất về các thông

số sử dụng cho phương pháp phân

tích này, so sánh các kết quả nội lực

giữa phương pháp phân tích theo

tuần tự thi công và chỉ phân tích trên

cả hệ kết cấu hoàn chỉnh Đối tượng

nghiên cứu là kết cấu BTCT toàn khối

trong nhà cao tầng

LỰA CHỌN CÁC THÔNG SỐ

DÙNG CHO PHÂN TÍCH KẾT CẤU

Tải trọng đưa vào phân tích

Theo bản chất phương pháp

phân tích kết cấu trình bày ở mục 2,

không phải tất cả các loại tải trọng

và tác động vào công trình đều được

đưa vào phương pháp phân tích

theo tuần tự thi công Các tải trọng

tạm thời như hoạt tải sử dụng, gió,

động đất gán tác dụng lên hệ kết cấu

đã hoàn chỉnh, phân tích theo các

phương pháp truyền thống

Thành phần tĩnh tải có ảnh hưởng

trực tiếp đến biến dạng co ngắn các

cấu kiện thẳng đứng trong quá trình

xây dựng, mới đưa vào phân tích

theo phương pháp tuần tự thi công

Cụ thể chỉ có phần trọng lượng bản

thân kết cấu (dầm, sàn, cột, vách, lõi)

và những phần hoàn thiện song song

với thi công kết cấu (xây tường chèn),

được phân tích theo tuần tự thi công,

còn các tĩnh tải hoàn thiện khi kết cấu

thi công xong được phân tích trên hệ

đã hoàn chỉnh

Các số liệu phân loại tĩnh tải được

thực hiện trên 2 dạng công trình cao

tầng điển hình cho thấy: Với công

trình văn phòng, tổng trọng lượng

bản thân kết cấu chiếm 75÷80% tĩnh

tải, phần hoàn thiện chiếm 20÷25%

tĩnh tải toàn công trình; Với công

trình chung cư, tổng trọng lượng bản

thân kết cấu chiếm 55÷60% tĩnh tải,

phần hoàn thiện chiếm 40÷45% tĩnh

tải toàn công trình

Tiến độ thi công

Thông số này trong phương pháp phân tích theo tuần tự thi công là số ngày thi công kết cấu chịu lực BTCT của 1 tầng Với các số liệu tiến độ trung bình 7÷10 ngày/tầng, thay đổi thông số trong khoảng này không làm chuyển

vị chênh lệch giữa các cột - vách nhiều, chỉ 5÷7%

Hệ số co ngót

Các hệ số co ngót Bsc và hệ số loại xi măng s xét ảnh hưởng biến dạng co ngót của bê tông trong phương pháp phân tích theo tuần tự thi công bằng phần mềm ETABS 2015

Theo tiêu chuẩn TCVN 5439-2004 về phân loại xi măng và đối chiếu tiêu chuẩn CEB-FIP 1990, các loại xi măng sử dụng phổ biến ở Việt Nam hiện nay thuộc loại tốc độ đóng rắn trung bình, có thể lấy thông số Bsc=5 và s=0,25

Mô hình từ biến

ETABS 2015 dùng 2 mô hình từ biến dùng trong phân tích là tích phân đầy

đủ (Full integration) và chuỗi Dirichlet ( Dirichlet series)

Chuỗi Dirichlet được kiến nghị áp dụng thích hợp khi tính toán các kết cấu kích thước lớn, còn mô hình tích phân đầy đủ được khuyên dùng cho các công trình có kết cấu vừa và nhỏ

Thông số mô đun đàn hồi của bê tông

Phương pháp phân tích kết cấu theo tuần tự thi công thực hiện quá trình phân tích ngay từ thời điểm xây dựng, do vậy trị số mô đun đàn hồi của bê tông cũng được xác định tại thời điểm này, không phải trị số giả định lúc khai thác, sử dụng

Quan hệ mô đun đàn hồi

Quan hệ mô đun đàn hồi tại tuổi t ngày với mô đun đàn hồi tại 28 ngày Eci theo CEB-FIP 1990:

(1) trong đó: : hệ số phụ thuộc thời gian,

(2) s: hệ số phụ thuộc loại xi măng, khai báo theo mục 3.3 nêu trên

t: đơn vị ngày

MỘT SỐ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH KẾT CẤU BTCT NHÀ CAO TẦNG THEO TUẦN TỰ THI CÔNG

Mô hình kết cấu 1

Khảo sát kết cấu khung trục 2 của công trình 16 tầng, mặt bằng như Hình 5:

Hình 5: Mặt bằng kết cấu công trình 16 tầng

Tiến hành 2 phương pháp phân tích kết cấu chịu tác dụng tĩnh tải: Phân tích trên cả hệ kết cấu hoàn chỉnh (PTHC) và theo tuần tự thi công (PTTTTC) Tiết diện cột được chọn theo 2 cách: Chọn tiết diện sát tính toán sơ bộ nội lực

81

Số 55.2017 XÂY DỰNG & ĐÔ THỊ

Trang 4

(Acột.tt) và chọn nhóm tiết diện cột như nhau cho dễ thi

công (Acột.tc) Kết quả thu được mô men tiết diện ở cuối

dầm tầng mái như Bảng 1:

Bảng 1: Mô men đầu dầm do tĩnh tải công trình 16 tầng

Kết quả trên cho thấy, tuy công trình có số tầng không

lớn, nhưng nếu ứng suất nén trong các cột chênh lệch

nhiều (do chọn tiết diện cột không sát nội lực) thì ảnh

hưởng của shortening đáng kể và cần thiết phải phân

tích kết cấu theo phương pháp tuần tự thi công

Mô hình kết cấu 2

Khảo sát kết cấu trục 2 của công trình 25 tầng có mặt

bằng như Hình 6:

Hình 6: Mặt bằng kết cấu công trình 25 tầng

So sánh kết quả mômen trong dầm do tĩnh tải theo

2 phương pháp phân tích: Phân tích trên cả hệ kết cấu

hoàn chỉnh (PTHC) và kết hợp 2 phương pháp (PTKH) Khi

kết hợp 2 phương pháp phân tích, phần tĩnh tải do trọng

lượng bản thân kết cấu theo tuần tự thi công, phần tĩnh

tải hoàn thiện phân tích trên hệ đã hoàn chỉnh

Cuối cùng là so sánh kết quả tổ hợp mômen trong dầm

do tĩnh tải và các hoạt tải, gió, động đất: Phân tích trên cả

hệ kết cấu hoàn chỉnh (PTHC) và kết hợp 2 phương pháp

(PTKH) So sánh trình bày trong Bảng 2:

Bảng 2: Mômen đầu dầm do tĩnh tải và tổ hợp nội lực

Kết quả cho thấy, kết cấu khung - lõi luôn có chênh lệch

chuyển vị đứng giữa cột và lõi lớn, ảnh hưởng shortening

rõ nét, thậm chí có những vùng kết quả mômen đầu dầm còn đổi cả dấu nếu phân tích kết cấu theo 2 phương pháp Tuy nhiên không nên nhìn nhận độc lập chỉ phân tích với tải trọng tĩnh, về tổng thể kết quả tổ hợp cuối cùng, nội lực của hệ kết cấu sẽ chênh lệch ít hơn khi áp dụng phương pháp phân tích theo tuần tự thi công vào thiết kế

Ảnh hưởng chênh co ngắn các cấu kiện thẳng đứng của kết cấu nhà cao tầng BTCT là đáng kể tới nội lực và biến dạng của cả hệ Việc áp dụng phương pháp phân tích kết cấu theo tuần tự thi công sẽ hạn chế được các sai lệch kết quả nội lực so với phân tích cả hệ kết cấu hoàn chỉnh Các thông số phục vụ phân tích kết cấu theo tuần

tự thi công đã được chỉ rõ cho áp dụng thực tế Để giảm ảnh hưởng của hiện tượng chênh lệch biến dạng dọc trục, cần lựa chọn tiết diện các cấu kiện phù hợp nhất với nội lực thu được từ tính toán sơ bộ.

Tài liệu tham khảo

[1] Cao Duy Khôi, Đánh giá hiệu ứng co ngắn cột qua kết quả đo đạc tại một số công trình nhà siêu cao tầng bê tông cốt thép, Hội nghị khoa học Vật liệu, Kết cấu & Công nghệ Xây dựng MSC-2012, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, trang 274-282 2012

[2] Hồ Việt Hùng, Shortening - Nguyên nhân, mâu thuẫn và phương pháp hạn chế sai sót, Ketcaushoft Group Hà Nội 2001

[3] The Concrete Society, Axial shortening of columns, Concrete Society Technical Report, New York 2008 [4] Mallick P.K., Axial deformation of column in tall structures, E-Conference on Design and Construction

of Tall Buildings, Structural Engineering Forum of India 2012

[5] Mark Fintel, S.K Ghosh, Hal Iyengar, Column Shortening in tall strucutures - Prediction and Compensation , Technical Report, New York 2012

[6] Mola F., Pellegrini L.M., Effects of column shortening in tall R.C buildings, 35th Conference on Our World in Concrete & Structures, Singapore 2010

[7] Nilson A.H., D.Darwin, C.W.Dolan, Design of concrete structures, Mc Graw Hill, New York 2010

[8] Praveen HN Moragaspitiya, Interactive axial shortening of columns and walls in high rise buildings, Doctoral papers presented in April, 2011, Queensland University of Technology 2011

[9] Vafai A Ghabdian M, Estekanchi H.E, Desai C.S (), Calculation of creep and shrinkage in tall Concrete buildings using nonlinear staged Construction analysis, Asian Journal of Civil Engineering (Building and Housing), Vol.10, No.4 2009

Lựa chọn

tiết diện cột

Acột.tt

Acột.tc

Chênh lệch (%)

7,55 33,24

Vị trí tiết diện

cuối cuối

Mômen dầm theo phương pháp phân tích (kNm)

PTHC

-217,39 -144,12

PTTTTC

-200,97 -192,03

Dầm

B1 B1

Tầng

16

16

Tải trọng

Tĩnh tải

Tổ hợp

Chênh lệch (%)

28,57 21,16

Vị trí tiết diện

cuối cuối

Mômen dầm theo phương pháp phân tích (kNm)

PTHC

-474,11 -661,46

PTKH

-338,62 -521,52

Dầm

B4 B4

Tầng

25

25

82 HỌC VIỆN CÁN BỘ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VÀ ĐÔ THỊ

Ngày đăng: 12/01/2020, 03:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm