1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tình trạng dinh dưỡng và mối liên quan với tần suất sử dụng sữa và các chế phẩm từ sữa

7 153 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 317,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định tình trạng dinh dưỡng và mối liên quan với tần suất sử dụng sữa và các chế phẩm từ sữa của học sinh trường THCS tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Trang 1

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI TẦN SUẤT SỬ DỤNG SỮA VÀ CÁC CHẾ PHẨM TỪ SỮA

Đinh Quỳnh Ngọc*, Trương Thị Thùy Dung*, Trần Quốc Cường**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng sử dụng sữa có thể giúp kiểm soát cân nặng và giảm lượng

mỡ, tần suất sử dụng sữa cao làm giảm lượng chất béo trong cơ thể Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại đưa

ra mối liên quan nghịch giữa lượng sữa với BMI, tình trạng dinh dưỡng và phần trăm mỡ cơ thể ở trẻ em gái Điều này cho thấy mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với tần suất sử dụng sữa và các chế phẩm từ sữa vẫn còn nhiều tranh cãi

Mục tiêu: Xác định tình trạng dinh dưỡng và mối liên quan với tần suất sử dụng sữa và các chế phẩm từ

sữa của học sinh trường THCS tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 404 học sinh

trường THCS tại thành phố Hồ Chí Minh Học sinh trả lời bộ câu hỏi tự điền sau khi đồng ý tham gia nghiên cứu Tần suất sử dụng sữa và các chế phẩm từ sữa được đánh giá bằng bộ câu hỏi FFQ 9 câu về tần suất sử dụng sữa và thức ăn nhanh Tình trạng dinh dưỡng được xác định bằng cách tiến hành cân đo tại chỗ và tính tình trạng dinh dưỡng theo quy ước của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) PR được dùng để lượng giá mối liên quan, với ngưỡng có ý nghĩa thống kê p<0,05

Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy thừa cân và béo phì chiếm tỉ lệ 30,4%, tỉ lệ suy dinh dưỡng chiếm

3,3% Tần suất tiêu thụ sữa và các chế phẩm từ sữa của học sinh chiếm 52% Tỉ lệ học sinh sử dụng các chế phẩm từ sữa theo theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng chiếm 0,3% Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với tần suất sử dụng sữa và các chế phẩm từ sữa

Kết luận: Tỉ lệ học sinh sử dụng các chế phẩm từ sữa theo theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng thấp

(0,3%) Vì vậy khuyến khích học sinh sử dụng sữa và các chế phẩm từ sữa theo đúng khuyến nghị của Viện dinh dưỡng: uống ít nhất 200ml sữa, ăn 200g sữa chua và 30g phô mai mỗi ngày

Từ khóa: tình trạng dinh dưỡng, sữa, các chế phẩm từ sữa, FFQ

ABSTRACT

CONDITION OF NUTRITION AND ASSOCIATED WITH THE FREQUENCY OF USING MILK AND

MILK PRODUCTS

Dinh Quynh Ngoc, Truong Thi Thuy Dung, Tran Quoc Cuong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 177-183

Background: Using milk can help control weight and reduce fat, the frequency of using high milk reduces

the amount of fat in the body However, some studies have found an inverse relationship between milk intake and BMI and percentage of body fat in girls This suggests a link between nutritional status and the frequency of

controversial use of milk and milk products

Objective: Determination of nutritional status and the relationship between nutritional status and

frequency of use of milk and dairy products from secondary school students in Ho Chi Minh City, Vietnam

* Khoa Y Tế Công Cộng, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh

**Trung tâm dinh dưỡng TP.Hồ Chí Minh

Trang 2

Methods: Descriptive cross-sectional study was conducted on 398 secondary school students in Ho Chi

Minh City Students answer the self-filled questionnaire after agreeing to participate in the study The frequency

of use of milk and dairy products was assessed by the FFQ questionnaire consisting of 80 to more than 120 types

of foods and beverages Nutritional status was determined by conducting on-site measurement and nutritional status according to the World Health Organization (WHO) PR was used to evaluate the relationship, with a statistically significant threshold p <0.05

Results: Research results showed that overweight and obesity account for 30.4%, the rate of malnutrition

accounted for 3.3% The frequency of milk consumption and milk products of students accounted for 52% The percentage of students using dairy products as recommended by the Nutrition Institute was 0.3% The study had not found an association between nutritional status and the frequency of use of milk and dairy products

Conclusion: Percentage of students using milk products as recommended by the Institute of Nutrition was

low (0.3%) Therefore encourage students to use milk and milk products in accordance with Nutrition Institute

recommendations: drink at least 200ml of milk, eat 200g of yogurt and 30g of cheese per day

Keywords: nutritional status, milk, dairy products, FFQ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo báo cáo của Tổ chức y tế Thế giới

(WHO) năm 2018 suy dinh dưỡng đang trở

thành một vấn nạn của toàn cầu, có đến 1/3 trẻ

em trên thế giới tử vong do dinh dưỡng kém(17)

Thống kê của UNICEF (2006) có 27% trẻ em ở

các nước đang phát triển bị suy dinh dưỡng,

riêng khu vực Đông Á và Thái Bình Dương có tỉ

lệ trẻ suy dinh dưỡng trung bình là 15%(18) Tại

Việt Nam, kết quả điều tra của Viện Dinh

Dưỡng năm 2015 có 14,1% trẻ dưới 5 tuổi bị suy

dinh dưỡng thể nhẹ cân; 24,6% trẻ bị suy dinh

dưỡng thể thấp còi(19) Như vậy, suy dinh dưỡng

thấp còi vẫn còn ở mức trung bình về ý nghĩa

sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến tầm vóc thể

lực người Việt Nam khi trưởng thành Bên cạnh

đó tỉ lệ trẻ bị thừa cân béo phì hiện cũng đang

tăng lên nhanh chóng, trong năm 2016 có đến 41

triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân béo phì và ở

độ tuổi từ 5 – 19 tuổi là 364 triệu(16) Một nghiên

cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ về

thừa cân và béo phì ở thanh thiếu niên đang

tăng lên nhanh chóng từ 5,0% và 0,6% (2002) lên

11,7% và 2,0% (2004)(6) Béo phì là một trong

những nguyên nhân dẫn tới các bệnh không lây

như: tăng huyết áp, đái tháo đường tuýp 2, các

bệnh lý về tim mạch: xơ vữa và tắc mạch vành,

nhồi máu cơ tim, đột quỵ(3)

Hiện nay các chương trình can thiệp dinh

dưỡng ở Việt Nam mới chỉ tập trung ưu tiên hai đối tượng là bà mẹ và trẻ em mà chưa chú trọng nhiều đến lứa tuổi vị thành niên (4) Chế độ can thiệp dinh dưỡng trong giai đoạn trẻ vị thành niên hết sức quan trọng, vì lứa tuổi này phát triển với tốc độ rất nhanh cả về chiều cao và cân nặng, các biến đổi về tâm, sinh lý, nội tiết, sinh dục Đây cũng là độ tuổi cần được quan tâm đến chế độ ăn uống và bổ sung chất dinh dưỡng từ sữa để có thể phát triển thể chất toàn diện(2) Hiện nay, các nghiên cứu về mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và tần suất sử dụng sữa đang có sự mâu thuẫn với nhau(1,7,12,13,14) Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng

sử dụng sữa có thể giúp kiểm soát cân nặng và giảm lượng mỡ trong cơ thể, tần suất sử dụng sữa cao làm giảm lượng chất béo trong cơ thể Tuy nhiên, vẫn có một số nghiên cứu đưa ra kết quả ngược lại Hiện nay các trường THCS vẫn chưa quan tâm nhiều đến tình trạng dinh dưỡng và thói quen sử dụng sữa của học sinh

PHƯƠNG PHÁP Thiết kế và đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trong thời gian tháng 01 đến tháng 06 năm 2018 trên 404 học sinh (lớp 6 – 9) được chọn ngẫu nhiên tại trường THCS Hồ Văn Long tại thành phố Hồ Chí Minh Chúng tôi chọn mẫu dựa vào phương pháp ngẫu nhiên phân tầng

Trang 3

theo khối lớp và lớp, đầu tiên tính cỡ mẫu của

từng khối, sau đó tính tỉ lệ học sinh mỗi lớp theo

khối, từ đó tính được số học sinh cần lấy mẫu

của mỗi lớp Lập danh sách từng lớp và bốc

thăm đủ số mẫu cần lấy

Phương pháp thu thập số liệu

Sau khi được cung cấp thông tin về nghiên

cứu và đồng ý tham gia thì học sinh trả lời bộ

câu hỏi tự điền theo hướng dẫn của nghiên cứu

viên Sau khi hoàn thành nộp lại cho nghiên cứu

viên kiểm tra và tiến hành đo chiều cao và cân

nặng tại chỗ Có 398 đối tượng thỏa tiêu chí

được đưa vào phân tích

Công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi tần suất thực phẩm (FFQ) là một

bảng câu hỏi sử dụng để đo lường tần suất, mức

độ về tiêu thụ thực phẩm và đồ uống trong một

khoảng thời gian nhất định, thường là tháng

hoặc năm Bảng câu hỏi tần số thực phẩm (FFQ)

đã được đánh giá tin cậy, giá trị tại Việt Nam và

các khu vực trên thế giới(11,15) Ngoài ra, bộ câu

hỏi FFQ đã được dùng để đánh giá tần suất thực

phẩm của trẻ em Lebanon(11) Và đã được dùng

để đánh giá lượng canxi trong một nhóm thanh

thiếu niên ở Hồng Kông(7) Bộ câu hỏi FFQ được

sử dụng trong nghiên cứu này lấy từ nghiên cứu

của Trần Văn Định, đã được đánh giá tin cậy và

giá trị(15) Tuy nhiên, nhóm tác giả chỉ lấy phần

tần suất tiêu thụ sữa và thức ăn nhanh bao gồm

9 câu (thức ăn nhanh, nước ngọt, ăn sáng, sữa bò

tươi có đường, sữa bò tươi không đường, sữa

đậu nành, sữa bột, sữa chua và phô mai) đơn vị

tính theo tháng FFQs là bảng câu hỏi dành cho

cá nhân (nghĩa là mỗi bảng FFQ được trả lời bởi

1 cá nhân, đo lường tần suất tiêu thụ thực phẩm

của cá nhân)

Chỉ số Z – score Đánh giá

Thông tin về tình trạng dinh dưỡng được

tính theo chỉ số khối cơ thể (BMI) thông qua

chiều cao và cân nặng được đo bởi cân sức khỏe

có thước đo chiều cao UC-CZ160 Kết quả được

so sánh với quần thể tham chiếu của WHO năm 2007

Phân tích số liệu

Sử dụng tần số và phần trăm để miêu tả các biến số định tính như tình trạng dinh dưỡng, giới, tần suất sử dụng sữa và các chế phẩm từ sữa Dùng trung bình và độ lệch chuẩn, trung vị

và khoảng tứ phân vị mô tả các biến số định lượng Sử dụng phép kiểm chi bình phương (hoặc phép kiểm chính xác Fisher nếu trên 20% giá trị vọng trị <5 hoặc có 1 giá trị <1) Để lượng giá các mối liên quan bằng tỉ số tỉ lệ hiện mắc PR (Prevalence Ratio) với khoảng tin cậy 95%, ngưỡng ý nghĩa thống kê với p<0,05

KẾT QUẢ

Trong tổng số 398 học sinh đưa vào phân tích, độ tuổi trung bình là 14 tuổi, tỉ lệ giữa nam

và nữ tương đương nhau (46,5% và 53,5%) Chiều cao và cân nặng trung bình tương ứng là 154cm và 48,5kg Phần lớn đối tượng nghiên cứu thỉnh thoảng chơi thể thao với tỉ lệ 62,8% Chỉ có 11,8% học sinh thường xuyên ăn cơm sau 20 giờ

Có đến 27,9% học sinh mắc hội chứng bất dung nạp lactose Tất cả học sinh đều sử dụng nước ngọt Tỉ lệ học sinh sử dụng thức ăn nhanh khá cao với 46,7% Học sinh đi ngủ trước 10 giờ cao hơn so với học sinh đi ngủ sau 10 giờ tối (67,1%

so với 32,9%) Có đến 41,2% học sinh sử dụng các thiết bị điện tử trên 2 giờ mỗi ngày

Bảng 1: Đặc điểm dân số xã hội của đối tượng nghiên

cứu (n=398)

Đặc tính Tần số (n) Tỉ lệ (%)

Giới

Tần suất chơi thể thao

Tần suất ăn cơm sau 20 giờ

Trang 4

Đặc tính Tần số (n) Tỉ lệ (%)

Tần suất đau bụng khi uống sữa

Thói quen sử dụng nước ngọt (lon 350ml)

Thói quen sử dụng thức ăn nhanh (lần/ tuần)

Thời gian đi ngủ

Thời gian giải trí với thiết bị điện tử

*Trung vị (tứ phân vị)

** Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Bảng 2: Tình trạng dinh dưỡng của mẫu nghiên cứu

(n=398)

Tình trạng dinh dưỡng Tần số (n) Tỉ lệ (%)

Bảng 2 cho thấy thừa cân và béo phì chiếm tỉ

lệ 30,4%; trong đó béo phì chiếm 10,1% Tỉ lệ suy

dinh dưỡng thấp nhất chiếm 3,3%

Bảng 3: Tình trạng dinh dưỡng của mẫu nghiên cứu

theo giới (n=398)

Tình trạng dinh dưỡng Giới

Nữ (n, %) Nam (n, %)

Tỉ lệ thừa cân ở nam cao hơn nữ (21,6% và

19,3%) Học sinh nam có tỉ lệ béo phì cao gấp

2,7 lần so với học sinh nữ Tỉ lệ suy dinh

dưỡng ở nam và nữ tương đương nhau (3,8%

và 2,8%) (Bảng 3)

Số học sinh béo phì ở khối 6 chiếm tỉ lệ cao nhất với 18,2%, thấp nhất là khối 9 với 6,6%

(Bảng 4)

Bảng 4: Tình trạng dinh dưỡng của mẫu theo khối

lớp (n=398)

Tình trạng dinh dưỡng

Khối lớp Khối 6

(n, %)

Khối 7 (n, %)

Khối 8 (n, %)

Khối 9 (n, %)

Bảng 5: Tần suất tiêu thụ sữa và các chế phẩm từ

sữa (n=398)

Thực phẩm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Sữa bò tươi có đường (1 ly=200ml)

Sữa bò tươi không đường (1 ly=200ml)

Sữa đậu nành (1 ly=200ml)

Sữa bột (1 ly=200ml)

Sữa chua (1 hộp=100ml)

Phô mai (1 miếng=15g)

Phần lớn học sinh lựa chọn sữa bò tươi có đường để sử dụng, tỉ lệ học sinh sử dụng sữa bò

có đường trên 200ml mỗi ngày là 38,2% Tỉ lệ học sinh sử dụng sữa bò không đường, sữa đậu nành và sữa bột trên 200ml mỗi ngày là khá thấp với tỉ lệ là 4,8%, 7,1% và 0,8% Số học sinh sử dụng trên 200ml sữa chua mỗi ngày là 6,8% Học sinh sử dụng trên 30g phô mai mỗi ngày là 1,5%

(Bảng 5)

Số học sinh uống trên 200ml sữa mỗi ngày khá cao chiếm 48%, trong đó tỉ lệ ở nam thấp

hơn nữ 19,4% (40,3% và 59,7%) (Bảng 6) Chỉ có

1,5% học sinh sử dụng trên 30g phô mai mỗi ngày, số học sinh nữ sử dụng nhiều gấp 2 lần

Trang 5

học sinh nam (66,7% so với 33,3%)

Bảng 6: Tần suất sử dụng sữa và các chế phẩm từ

sữa theo giới (n=398)

Thực phẩm Giới

Nam (n=185) Nữ (n=213)

Sữa chua (1 hộp=100ml)

Phô mai (1 miếng=15g)

Tỉ lệ học sinh sử dụng các chế phẩm từ sữa theo theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng là rất

thấp, chỉ có 0,3% (Bảng 7)

Bảng 7: Tỉ lệ học sinh sử dụng sữa và các chế phẩm

từ sữa theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng (n=398)

Khuyến cáo của Viện dinh dưỡng Tần số (n) Tỉ lệ (%)

Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với tần suất sử dụng

sữa và các chế phẩm từ sữa (p>0,05) (Bảng 8)

Bảng 8: Mối liên quan giữa béo phì với tần suất sử dụng sữa và các chế phẩm từ sữa (n=398)

Thực phẩm Béo phì p Thừa cân p SDD p

Có (%) Không (%) Có (%) Không (%) Có (%) Không (%)

Sữa (1 ly=200ml)

Sữa chua (1 hộp=100ml)

Phô mai (1 miếng=15g)

BÀN LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ thừa

cân béo phì chiếm 30,4% trong đó béo phì chiếm

10,1% và thừa cân chiếm 20,3% (bảng 2) Kết quả

nghiên cứu chúng tôi cao hơn kết quả của tác giả

Đào Thị Ngọc Trâm năm 2018(5) với tỉ lệ thừa cân

béo phì là 3,8% và nghiên cứu của tác giả Lê

Nguyên Hạ Duy năm 2017(8) với tỉ lệ thừa cân

béo phì là 6,8% Sự khác biệt này là do tỉ lệ thừa

cân béo phì tăng lên qua từng năm nên tỉ lệ thừa

cân béo phì trong nghiên cứu này cũng cao hơn

so với các nghiên cứu khác(6) Bên cạnh đó, đa số

đối tượng nghiên cứu là gia đình thuộc hộ khá

giả (27,9%) vì vậy việc tiếp cận và sử dụng sử

dụng thức ăn nhanh cao hơn so với những hộ

gia đình nghèo và cận nghèo Trong nghiên cứu

của tác giả cho thấy, tỷ lệ thừa cân béo phì ở nam

cao gấp 2,69 lần so với nữ Kết quả nghiên cứu

cao hơn so với báo cáo của Abreu và cộng sự

năm 2012 tại Bồ Đào Nha(1), nghiên cứu của

Abreu cho thấy tỉ lệ thừa cân béo phì ở nam cao hơn nữ 2,12 lần Khác biệt này có thể là do tỉ lệ thừa cân béo phì ở mỗi quốc gia là khác nhau và

do nghiên cứu của Abreu thực hiện tại Bồ Đào Nha với cỡ mẫu lớn hơn (n=1001), trong khi nghiên cứu của chúng tôi làm trên cỡ mẫu nhỏ hơn (n=398) Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở nam và nữ

chênh nhau không cao 2,8% và 3,8% (Bảng 3), kết

quả này giống với kết quả nghiên cứu cắt ngang của tác giả Lê Nguyên Hạ Duy (năm 2017)(8), nhưng lại khác với kết quả của tác giả Đào Thị Ngọc Trâm (năm 2018) báo cáo tỉ lệ suy dinh dưỡng ở nam là 13,2% và nữ là 20,2%(5) Có thể lí giải điều này là do nghiên cứu của Đào Thị Ngọc Trâm được thực hiện tại Đăk Nông, một tỉnh thuộc Tây Nguyên, nơi đây điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nên tỉ lệ suy dinh dưỡng cao hơn so với thành phố, ngoài ra nghiên cứu này

có cỡ mẫu nhỏ hơn so với của chúng tôi

Trang 6

Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng

sử dụng sữa có thể giúp kiểm soát cân nặng và

giảm lượng mỡ trong cơ thể, tần suất sử dụng

sữa cao làm giảm lượng chất béo nhưng rất ít

nghiên cứu khảo sát vấn đề này tại Việt Nam

Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng thang đo

FFQ và cho thấy tần suất tiêu thụ sữa và các chế

phẩm từ sữa của học sinh khá thấp, có đến 52%

học sinh uống dưới 1 ly sữa mỗi ngày (bảng 6)

Có nghĩa là 52% học sinh uống dưới 200ml sữa

mỗi ngày, trong khi theo khuyến nghị của Viện

dinh dưỡng, trẻ 10 – 19 tuổi nên uống ít nhất

200ml sữa, 200ml sữa chua và 30g phô mai mỗi

ngày Đa phần các học sinh lựa chọn sử dụng

sữa có đường nhiều hơn sữa không đường trong

khi theo khuyến cáo nên sử dụng sữa không

đường và tách béo nhằm giảm lượng đường nạp

vào cơ thể và giảm nguy cơ gây thừa cân béo

phì(10) Chỉ có 6,8% học sinh sử dụng trên 200ml

sữa chua mỗi ngày và 1,5% sử dụng trên 30g

phô mai mỗi ngày Đặc biệt có rất ít học sinh sử

dụng sữa và các chế phẩm từ sữa theo đúng

khuyến nghị của Viện dinh dưỡng (0,3%) Điều

này cho thấy các chương trình truyền thông về

sữa học đường vẫn chưa được nâng cao, vẫn

chưa chú trọng vào các chế phẩm từ sữa như sữa

chua và phô mai

Nghiên cứu này chưa tìm thấy bất kì mối

liên quan nào giữa tình trạng dinh dưỡng với

tần suất sử dụng sữa và các chế phẩm từ sữa

(p>0,05) Tương tự như những phát hiện của

chúng tôi, nghiên cứu trên 196 bé gái từ 8 – 12

tuổi của Phillips SM với bộ câu hỏi tần suất sử

dụng thực phẩm FFQ không tìm thấy mối liên

quan giữa lượng tiêu thụ sữa và BMI hoặc tỉ lệ

mỡ trong cơ thể(13) Nghiên cứu cắt ngang của

Manijech Nezami và các cộng sự trên 601 thanh

thiếu niên từ 12 – 18 tuổi tại California và

Michigan đã tìm thấy mối liên qua giữa tần suất

sử dụng sữa với chiều cao theo tuổi (HZA) và

cân nặng theo tuổi (WAZ), riêng ở trẻ em trai đã

phát hiện mối liên quan đáng kể giữa tổng lượng

sữa và tỷ lệ eo-hông (WHtR), tuy nhiên nghiên

cứu này không tìm thấy mối liên quan giữa sử

dụng sữa và BMI Hạn chế của nghiên cứu là bộ câu hỏi FFQ do người tham gia nghiên cứu tự báo cáo lại nên có thể xảy ra sai xót do sự khác biệt về dung tích của sữa và thực phẩm(9)

Nghiên cứu này có một số hạn chế là nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi FFQ đã được đánh giá tin cậy và giá trị trên những người trưởng thành Việt Nam Tuy nhiên, chưa đánh giá tin cậy và giá trị trên đối tượng thanh thiếu niên Việt Nam Ngoài ra, việc sử dụng bộ câu hỏi này có thể xảy

ra một số sai lệch hồi tưởng trong quá trình nhớ lại của đối tượng nghiên cứu

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy thừa cân và béo phì chiếm tỉ lệ 30,4% trong đó béo phì chiếm 10,1% Tỉ lệ suy dinh dưỡng khá thấp chiếm 3,3%, thấp hơn so với các nghiên cứu trước Tần suất tiêu thụ sữa và các chế phẩm từ sữa của học sinh chưa cao chiếm 52% Tỉ lệ học sinh sử dụng các chế phẩm từ sữa theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng là rất thấp, chỉ chiếm 0,3% Khuyến khích học sinh sử dụng sữa và các chế phẩm từ sữa theo đúng khuyến nghị của Viện dinh dưỡng: uống ít nhất 200ml sữa, ăn 200g sữa chua

và 30g phô mai mỗi ngày Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với tần suất sử dụng sữa và các chế phẩm từ sữa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abreu S, Moreira C, Santos PC, Vale S, Soares-Miranda L, Mota J, Moreira P, (2012) Milk intake is inversely related to

body mass index and body fat in girls Eur J Pediatr, 171(10): tr

1467-1474

2 Bộ Y Tế (2015) Những điều cần biết về dinh dưỡng cho lứa tuổi vị thành niên,tr.15

3 Bộ Y Tế (2015) Việt Nam tỷ lệ người trưởng thành bị thừa cân, béo phì chiếm khoảng 25% dân số, tr.1

4 Cục Y Tế Dự Phòng (2015) Dinh dưỡng cho lứa tuổi vị thành niên, tr.2

5 Đào Thị Ngọc Trâm, Đỗ Thị Hoài Thương, Đỗ Thị Ngọc Diệp (2018) Khẩu phần ăn của học sinh trường THCS nguyễn chí

thanh tại thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông Tạp chí Y Học TP

Hồ Chí Minh 22(1): tr 253 - 259

6 Hong TK, Dibley MJ, Sibbritt D, Binh PN, Trang NH, Hanh TT, (2007) Overweight and obesity are rapidly emerging among

adolescents in Ho Chi Minh City, Vietnam, 2002-2004 Int J Pediatr Obes, 2(4): tr 194-201

7 Lee WTK et al (2005) Generalized Low Bone Mass of Girls with Adolescent Idiopathic Scoliosis is related to Inadequate

Trang 7

Calcium Intake and Weight Bearing Physical Activity in

Peripubertal Period Osteoporos Int, 16: 1024–35

8 Lê Nguyên Hạ Duy (2017) Tình trạng dinh dưỡng và các yếu

tố liên quan của học sinh khối 6, 7, 8 trường Trung học Cơ sở

Cát Thành, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, năm 2017, in Khoa

y tế công cộng, Đại học y dược Tp.HCM, tr 115

9 Nezami M, et al (2016) Associations between Consumption of

Dairy Foods and Anthropometric Indicators of Health in

Adolescents Nutrients 8(7)

10 Nguyễn Thị Thu Hậu (2013) Cho bé dùng sữa tươi: Đúng mới

có lợi, tr.7

11 Moghames P et al (2016) Validity and reliability of a food

frequency questionnaire to estimate dietary intake among

Lebanese children Nutr J 15

12 Moore LL et al (2008) Dairy intake and anthropometric

measures of body fat among children and adolescents in

NHANES J Am Coll Nutr 27(6): tr 702-710

13 Phillips SM et al (2003) Dairy food consumption and body

weight and fatness studied longitudinally over the adolescent

period Int J Obes Relat Metab Disord 27(9): pp 1106-1113

14 Shahar D, et al (2003) Development of a semi-quantitative Food Frequency Questionnaire (FFQ) to assess dietary intake

of multiethnic populations European Journal of Epidemiology

18(9): pp 855-861

15 Tran Van Dinh, Hoang Van Dong, Nguyen Thanh Chung, Lee

AH (2013) Validity and reliability of a food frequency questionnaire to assess habitual dietary intake in Northern

Vietnam, Journal of Public Health, 1 (1):pp.57

16 Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) (2017) Obesity and overweight, tr.1

17 Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) (2018) Dinh Dưỡng, tr.1

18 UNICEF (2006) Việt Nam trên đà đạt được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) trong lĩnh vực giảm tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tr.1

19 Viện Dinh Dưỡng (2015) Số liệu thống kê về tình trạng dinh dưỡng trẻ em qua các năm, tr.1

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 07/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 20/03/2019

Ngày đăng: 12/01/2020, 00:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w