1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng việc sử dụng biểu tượng quốc gia Việt Nam

30 375 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

biểu tượng quốc gia việt nam. Việc sử dụng biểu tượng quốc gia việt nam hiện nay thực trạng và giải pháp để nâng cao việc sử dụng biểu tượng Việt Nam

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được bài Tiểu luận về đề tài: “Thực trạng của tình hình

sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam hiện nay” Tôi xin chân thành cảm

ơn giảng viên bộ môn “ Nghi thức Nhà nước” Trường Đại học Nội Vụ Hà

Nội đã giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đề tài

Trong quá Trình làm bài tiểu luận dù đã cố gắng để làm tốt đề tài nhưng do hạn chế về kinh nghiệm và kiến thức nên bài tiểu luận của tôi không thể tránh khỏi những thiếu xót mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để bài tiểu luận của tôi được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là bài nghiên cứu của tôi trong thời gian qua Các nội dung nghiên cứu và kết quả này là trung thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực về thông tin sử dụng trong bài tiểu luận này

Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm2020

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA CÁC

1.1 Khái niệm của các biểu tượng quốc gia 41.2 Đặc điểm của các biểu tượng quốc gia 41.3 Ý nghĩa của các biểu tượng Quốc gia 5

1.3.2 Ý nghĩa của Quốc huy Việt Nam 51.3.3 Ý nghĩa của Quốc hiệu Việt Nam 6

1.4 Lịch sử hình thành biểu tượng quốc gia 6

Trang 4

2.1 Việc sử dụng Quốc kỳ ở Việt Nam hiện nay 102.2 Việc sử dụng Quốc huy ở Việt Nam hiện nay 152.3 Việc sử dụng Quốc hiệu ở Việt Nam hiện nay 162.4 việc sử dụng Quốc ca ở Việt Nam hiện nay 16

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ

3.1 Một số nhận xét về việc sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mỗi đất nước, mỗi dân tộc đều có một đặc trưng dân tộc riêng, biểu thị cho cho tinh thần và văn hoá của dân tộc Biểu tượng quốc gia mang những gì tinh tuý và ước mơ của tinh thần dân tộc Các biểu tượng của quốc gia được được nhà nước qui định và thể chế thành các biểu tượng của một đất nước Ngoài ra nó còn được thể hiện với các hình thức phong phú và đa dạng Những loại hình cơ bản của biểu tượng quốc gia gồm: Quốc hiệu (thường kèm theo khẩu hiệu hoặc tiêu ngữ), Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Quốc thiều, Quốc phục, Quốc hoa, Quốc thú hoặc Quốc điểu… và những biểu tượng không chính thức khác.Biểu tượng quốc gia là hình ảnh biểu trưng và đại diện cho một quốc gia Vậy nên tất cả mọi người Việt Nam nên có những hiểu biết nhất định về biểu tượng quốc gia để hiểu hơn vầ lịch sử của quốc gia mình Nhưng trong thời đại ngày nay khi mà mỗi người đều có quá nhiều vấn đề phải lo lắng trong cuộc sống thì việc số người biết và quan tâm đến các biểu tượng quốc gia là không nhiều.Đôi khi họ không để ý và quên đi nguồn gốc lịch sử và các biểu tượng quốc gia Vì vậy việc tìm hiểu lịch sử cá biểu tượng quốc gia Việt Nam là đặc biệt quan trọng đối với mỗi công dânViệt Nam Đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên – những chủ nhân tương lai

của đất nước Trên đây là lý do để tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng của tình hình sử dụng biểu tượng Quốc gia ở Việt Nam hiện nay” để làm đề tài cho bải tiểu luận kết thúc học phần “nghi thức nhà nước”.

Trang 6

- Điều lệ 974 – TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 21 tháng 7 năm

1956 về việc dùng Quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa;

- Điều lệ 975 – TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 21 tháng 7 năm

1956 về việc dùng Quốc ca nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa;

- Hướng dẫn 3420/ HD – BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ngày 02 tháng 10 năm 2012 về việc sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc

ca, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh;

- Nghị định số 154/2004/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2004 Về nghi thức Nhà nước trong tổ chức mít tinh, lễ kỷ niệm; trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ

- “Giáo trình lịch sử môn Nghi thức Nhà Nước” (NXB THỐNG KÊ

2001) của TS Lưu Kiếm Thanh

-TS.Trần Hoàng – Ths Trần Việt Hoa (2010), giáo trình kỹ năng thực hành văn hóa công sở, lễ tân và nghi thức nhà nước ở cơ quan, nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

- TS Lưu Kiếm Thanh (2001), giáo trình nghi thức nhà nước, nhà

xuất bản Thống Kê, Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng của tình hình sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam hiện nay

- Phạm vi giới hạn nghiên cứu

Về không gian: Nghiên cứu đề tài trong phạm vi quốc gia Việt Nam

Về thời gian: Nghiên cứu đề tài trong thời gian hiện nay

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài để hiểu rõ hơn về biểu tượng của dân tộc Hơn nữa

Trang 7

chúng ta nghiên cứu đề tài không những để hoàn thành trong chương trình giáo dục mà còn để mọi người trên đất nước đều có thể biết về lịch sử biểu tượng quốc gia, nét truyền thống của dân tộc Đồng thời qua việc nghiên cứu

về thực trạng sử dụng biểu tượng quốc gia Việt Nam để có thể rút ra những

ưu điểm và hạn chế trong việc sử dụng và đưa ra những giải pháp địnhn hướng góp phần nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng các biểu tượng Quốc gia

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã được sử dụng khá là nhiều phương pháp để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu như: phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp thu thập và xử

lí thông tin, phương pháp thống kê và sử dụng một số tài liệu để phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài mang tính thiết thực, gắn liền với thực tế Bài viết có bố cục rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp cho việc tham khảo, nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành quản trị văn phòng

7.Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục Nội dung gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và lịch sử hình thành của các biểu tượng quốc gia của Việt Nam

Chương 2: Thực trạng sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng biểu tượng quốc gia ở Việt Nam

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA CÁC BIỂU

TƯỢNG QUỐC GIA Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm của các biểu tượng quốc gia

Biểu tượng quốc gia là các biểu trưng, hình ảnh, thể vật tượng trưng , đạidiện cho một quốc gia Ngoài ra nó còn được thể hiện với các hình thức phong phú và đa dạng.Những loại hình cơ bản của biểu tượng quốc gia gồm : Quốc hiệu, Quốc kì,Quốc ca, Quốc huy Và các biểu tượng không chính thức khác như: Quốc phục,Quốc hoa, Quốc thú, Quốc thụ

-Quốc hiệu là tên gọi chính thức của một quốc gia

-Quốc kì là loại cờ được dùng làm biểu trưng cho một quốc gia, những công trình công cộng và tư nhân như trường học và cơ quan nhà nước, chính phủ thường treo quốc kỳ

-Quốc ca là một bài hát chính thức, ái quốc khơi gợi và tán dương lịch

sử truyền thống và đấu tranh của nhân dân quốc gia đó được dúng trong các nghi lễtrang trọng

-Quốc huy là một trong những biểu tượng của quốc gia, bên cạnh Quốckì , Quốc ca và Quốc hiệu là một biểu hiện chế độ hình ảnh đặc trưng của quốcgia đó Quốc huy thường được sử dụng trên các ấn phẩm quốc gia như : tiền tệ,hộ chiếu, giấy tờ

1.2.Đặc điểm của các biểu tượng quốc gia

-Biểu tượng quốc gia là hình ảnh đại diện của mỗi quốc gia trong quan

hệ quốc tế và là biểu hiện tính chính thức trong quan hệ giữa nhà nước với công dân và các tổ chức

-Biểu tượng quốc gia là biểu trưng đặc trưng của mỗi quốc gia, thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc và bẳn sắc văn hóa đặc trưng của mỗi quốc gia

- Biểu tượng quốc gia là sự kết tinh các giá trị văn hóa, xã hội và

Trang 9

chính trị của một quốc gia.

-Biểu tượng quốc gia rất quan trọng, không thể thiếu được ở quốc gia , dân tộc

-Biểu tượng quốc gia mang những nét riêng biệt của quốc gia dân tộc.-Là hình ảnh đại diện của mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế là biểu hiện của tính chính thức trong quan hệ giữa Nhà nước với công daann và tổ chức

1.3 Lịch sử hình thành biểu tượng quốc gia

1.3.1.Quốc kỳ

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã ghi rõ lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu

tiên trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp (23/11/1940) Tác giả sáng tạo ra lá cờ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh này là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5/3/1901 tại Hà Nam, bị địch bắt và bị xử bắn ngày 28/8/1941) Trước đó, từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, trong các cuộc đấu tranh đã xuất hiện lá cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh nhưng được lồng trên hình búa liềm Năm 1940, Xứ

uỷ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Nam kỳ họp quyết định khởi nghĩa, đã thực hiện di huấn của đồng chí Trần Phú lấy cờ đỏ sao vàng làm lá cờ khởi nghĩa Tháng 5/1941 tại Cao Bằng, Lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Trung ương VIII quyết định thành lập tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh – Đoạn mở đầu chương trình Việt Minh ghi rõ: “Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ” Đây là văn bản đầu tiên, chính thức quy định Quốc kỳ của nước Việt Nam là cờ đỏ sao vàng Ngày

16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, Tuyên Quang đã quyết định Quốc kỳ Việt Nam là nền đỏ, ở giữa có một sao vàng năm cánh Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: “Quốc kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh” Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, non sông Việt Nam đã liền một dải

Trang 10

Tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã công nhận Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh Gần đây nhất, tại Điều 13 Hiến pháp năm 2013 đã ghi rõ:

“Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”

Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh - đó là hồn nước, là niềm tự hào, là biểu tượng thiêng liêng bất khả xâm phạm của bản sắc dân tộc Việt Nam Nền đỏ tượng trưng cho cách mạng, màu vàng là màu truyền thống tượng trưng cho dân tộc Việt Nam, và năm cánh sao tượng trưng cho năm tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh cùng đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam

 Hình ảnh Quốc kỳ của Việt Nam (phụ lục 01)

1.3.2.Quốc huy

Quốc huy Việt Nam hiện nay (nguyên thủy là Quốc huy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) được Quốc hội Việt Nam khóa 1, kỳ họp Quốc hội thứ VI (từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 9 năm 1955), phê chuẩn từ mẫu quốc huy do chính phủ đề nghị Do những tranh chấp và nhầm lẫn về tác giả quốc huy suốt nhiều năm, Thủ tướng Phan Văn Khải đã chỉ đạo bộ Văn hóa - Thông tin thành lập tổ tư vấn để giám định tư liệu Ngày 23/09/2004 Bộ Văn hóa - Thông tin đã thông báo kết luận khẳng định: "Mẫu quốc huy là một cống hiến chung của giới Mỹ thuật Cách mạng Việt Nam, trong đó phải kể đến công lao của họa sỹ Bùi Trang Chước - người đã vẽ những mẫu quốc huy để làm cơ sở lựa chọn, hoàn thiện và họa sỹ Trần Văn Cẩn - người đã chỉnh sửa hoàn thiện mẫu quốc huy theo ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo để trình Quốc hội phê duyệt" Mẫu quốc huy gốc với tên nước "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III (Bộ Nội vụ) với hai phụ bản in màu

và in nét Năm 1976, khi đất nước Việt Nam thống nhất, mẫu Quốc huy được sửa đổi phần quốc hiệu (theo phê chuẩn của Quốc hội Việt Nam khóa VI) Vì vậy, Quốc huy Việt Nam chính thức mang dòng chữ (in hoa) "Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Quốc huy Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có

Trang 11

ngôi sao vàng năm cánh tượng trưng cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, cho lịch

sử cách mạng của dân tộc Việt và tiền đồ sáng lạn của quốc gia; bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho nông nghiệp; bánh xe tượng trưng cho công nghiệp và chính giữa, phía dưới là dòng chữ tên nước.Mang ý nghĩa là biểu tượng của đất nước, của dân tộc

 Hình ảnh Quốc huy của Việt Nam (phụ lục 02)

1.3.3.Quốc hiệu

Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã dùng nhiều quốc hiệu khác nhau, tức là tên chính thức của quốc gia Bên cạnh đó, cũng có những danh xưng được dùng chính thức hay không chính thức để chỉ vùng lãnh thổ thuộc quốc gia Việt Nam Dưới đây là danh sách các quốc hiệu chính thức của Việt Nam theo dòng lịch sử Các quốc hiệu này đều được ghi chép trong các sách sử Việt Nam, hoặc được chính thức sử dụng trong nghi thức ngoại giao quốc tế

 Văn Lang: Tồn tại 2671 năm (2876 trước CN - 258 trước CN Được coi là quốc hiệu đầu tiên cho Việt Nam Lãnh thổ gồm khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ Kinh đô đặt ở Phong Châu

 Âu Lạc: Năm 257 trước công nguyên, nước Âu Lạc được dựng lên,

từ liên kết các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Âu Việt, bao gồm lãnh thổ của Văn Lang trước đây và một phần đông nam Quảng Tây (Trung Quốc)

 Vạn Xuân: Là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế Quốc hiệu này tồn tại từ năm

544 đến năm 602

 Đại Cồ Việt: Là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh đến đầu thời nhà Lý, do Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968 Quốc hiệu này tồn tại 86 năm

Trang 12

 Đại Việt: Là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý, bắt đầu từ năm

1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi Quốc hiệu này tồn tại không liên tục (gián đoạn 7 năm thời nhà Hồ và 20 năm thời thuộc Minh), đến năm 1804, trải qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn, khoảng 743 năm

 Đại Ngu: Là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ, từ năm 1400 Chữ Ngu ở đây có nghĩa là “sự yên vui, hòa bình”

 Việt Nam: Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn Vua Gia Long đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của quốc gia cổ Nam Việt thời nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa Nhà Thanh yêu cầu nhà Nguyễn đổi ngược lại thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn Quốc hiệu này được tuyên phong vào năm 1804.Tuy nhiên, tên gọi Việt Nam có thể

đã xuất hiện sớm hơn Ngay từ cuối thế kỷ 14, đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí và đầu thế kỷ 15 trong cuốn “Dư địa chí” đã thấy nhiều lần nhắc đến hai chữ “Việt Nam”

 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tên gọi của cả nước Việt Nam từ 1945 đến 1954 Nhà nước này được thành lập vào ngày 2/9/1945 (ngày Quốc khánh của Việt Nam ngày nay) Vì sự can thiệp của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nên đất nước ta gặp phải sự chia cắt và các chế độ ngụy quyền đã đặt ra các chính quyền mang các tên khác Tên Quốc gia Việt Nam do cựu Hoàng đế Bảo Đại ký với Pháp ngày 8/3/1949 Năm

1955, Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại và thành lập nên cái gọi là chính quyền Việt Nam Cộng hòa Để góp phần đấu tranh thống nhất đất nước, nhân dân miền Nam đã thành lập ra Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Ngày 30/4/1975, miền Nam

Trang 13

được giải phóng, non sông quy về một mối Ngày 2/7/1976, trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, toàn thể Quốc hội đã nhất trí lấy tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định quốc hiệu đó, đưa nó trở thành chính thức cả về pháp lý lẫn trên thực tế.Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tên gọi của

cả nước Việt Nam từ 1945 đến 1954 Nhà nước này được thành lập vào ngày

2 tháng 9 năm 1945 (ngày Quốc khánh của Việt Nam ngày nay) Vì sự can thiệp của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nên đất nước ta gặp phải sự chia cắt

và các chế độ ngụy quyền đã đặt ra các chính quyền mang các tên khác Tên Quốc gia Việt Nam do cựu Hoàng đế Bảo Đại ký với Pháp ngày 8/3/1949 Năm 1955 Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại và thành lập nên cái gọi là chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Để góp phần đấu tranh thống nhất đất nước, nhân dân miền Nam đã thành lập ra Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Sau 30/4/1975 với thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh toàn bộ đất nước đã thống nhất thành một khối Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

• Nó biểu lộ được chủ quyền Quốc gia trên vùng lãnh thổ của mình

Nó có thể khác với tên địa lí được gắn cho vùng đất hay vùng dân cư đó

• Quốc hiệu cũng thường biểu lộ các yếu tố chính trị cho vùng đất hay

cư dân chủ thể của Quốc hiệu.Nó là danh xưng chính thức dùng trong ngoại giao và bang giao Quốc tế

1.3.4.Quốc ca

Trang 14

khóa I của nước ta đã quyết định lấy bài “Tiến quân ca” do nhạc sĩ Văn Cao sáng tác làm Quốc ca Việt Nam.Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam (1946) tại Điều 3 ghi rõ: “Quốc ca là bài Tiến quân ca”.

Kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa I (1955) đã quyết định sửa một số chỗ về lời của bài Quốc ca và tác giả cùng đóng góp việc sửa lời

Bài “Tiến quân ca” vốn được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác vào cuối năm

1944 tại căn gác nhà số 171 phố Mông Grăng (nay là nhà số 45, phố Nguyễn Thượng Hiền- Hà Nội)

Ngay khi mới ra đời, bài hát đã được đội ngũ chiến sĩ cách mạng nồng nhiệt đón nhận, rồi trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh, góp phần quan trọng cổ vũ nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám Ngày tuyên bố độc lập 2/9/1945, “Tiến quân ca được cử hành, hàng triệu người hát vang lời ca theo tiếng nhạc của hành khúc hùng tráng đó

 Quốc ca của Việt Nam (phụ lục 03)

* Tiểu kết

Trên đây tôi đã tìm hiểu và trình bày những khái niệm, đặc điểm và lịch

sử hình thành các biểu tượng Quốc gia ở Việt Nam hiện nay Qua phần này ta

có thể hiểu rõ được biểu tượng Quốc gia là gì và lịch sử hình thành của các biểu tượng Quốc gia Từ đó tìm hiểu thực trạng sử dụng biểu tượng quốc gia Việt Nam

Trang 15

Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY 2.1 Việc sử dụng Quốc kỳ ở Việt Nam hiện nay

Việc sử dụng Quốc kỳ được quy định tại: Điều lệ 974 – TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 21 tháng 7 năm 1956 về việc dùng Quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hướng dẫn 3420/ HD – BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ngày 02 tháng 10 năm 2012 về việc sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh;…

Thực trạng việc sử dụng Quốc kỳ ở Việt Nam hiện nay

 Quốc kỳ được treo trong các trường hợp sau:

- Treo Quốc kỳ của riêng ta:

Quốc kỳ được treo trong các phòng họp của các cấp chính quyền, các đoàn thể khi họp những buổi long trọng

Quốc kỳ chỉ được treo ngoài nhà những ngày tết và ngày lễ sau đây:+ Tết Nguyên đán dương lịch;

+ Tết Nguyên đán âm lịch;

+ Kỷ niệm tổng tuyển cử : 6 tháng 1;

+ Ngày Quốc tế lao động : 1 tháng 5;

+ Kỷ niệm sinh nhật Chủ Tịch Hồ Chí Minh : 19 tháng 5;

Ngày đăng: 11/01/2020, 23:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. “Giáo trình lịch sử môn Nghi thức Nhà Nước” (NXB THỐNG KÊ 2001) của TS. Lưu Kiếm Thanh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử môn Nghi thức Nhà Nước
Nhà XB: NXB THỐNG KÊ 2001) của TS. Lưu Kiếm Thanh
7. TS.Trần Hoàng – Ths. Trần Việt Hoa (2010), giáo trình kỹ năng thực hành văn hóa công sở, lễ tân và nghi thức nhà nước ở cơ quan, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình kỹ năng thực hành văn hóa công sở, lễ tân và nghi thức nhà nước ở cơ quan
Tác giả: TS.Trần Hoàng – Ths. Trần Việt Hoa
Nhà XB: nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
8. TS. Lưu Kiếm Thanh (2001), giáo trình nghi thức nhà nước, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình nghi thức nhà nước
Tác giả: TS. Lưu Kiếm Thanh
Nhà XB: nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2001
1. Điều lệ 973 – TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 21 tháng 7 năm 1956 về việc dùng Quốc huy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Khác
2. Điều lệ 974 – TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 21 tháng 7 năm 1956 về việc dùng Quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Khác
3. Điều lệ 975 – TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 21 tháng 7 năm 1956 về việc dùng Quốc ca nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Khác
4. Hướng dẫn 3420/ HD – BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ngày 02 tháng 10 năm 2012 về việc sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh Khác
5. Nghị định số 154/2004/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2004 Về nghi thức Nhà nước trong tổ chức mít tinh, lễ kỷ niệm; trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w