1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN VĂN Ở TRƯỜNG THPT VS,VX

9 489 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Văn Ở Trường THPT VS,VX
Trường học Trường THPT VS,VX
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 70 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi nghĩ, người GV không.

Trang 1

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ

Nâng cao chất lươ ̣ng giảng da ̣y môn Ngữ văn là mối quan tâm của các nhà

sư pha ̣m, các nhà quản lý giáo du ̣c và xã hô ̣i Khác với nhiều môn ho ̣c, quan hê ̣ giữa giáo du ̣c đa ̣o đức và giáo du ̣c kiến thức trong môn Ngữ văn rất khăng khít, nó ảnh hưởng, tác đô ̣ng qua la ̣i rất chă ̣t chẽ Da ̣y Văn không chỉ là chuyê ̣n da ̣y văn chương, chữ nghĩa đơn thuần mà còn là vấn đề chính tri ̣ xã hô ̣i trước mắt cũng như lâu dài Da ̣y Văn là da ̣y người Nâng cao chất lượng và hiê ̣u quả da ̣y Văn sẽ góp phần quan tro ̣ng vào viê ̣c giáo du ̣c đa ̣o đức, tư tưởng cho ho ̣c sinh (HS) Nhìn la ̣i thực tế những năm ho ̣c qua, môn Ngữ văn chưa phát huy hiê ̣u quả, ý nghĩa, chất lươ ̣ng chưa cao (cùng với sự giảm sút nghiêm tro ̣ng về chất lượng giáo du ̣c đa ̣o đức và giáo du ̣c kiến thức) Thống kê chất lượng môn Ngữ văn trong năm ho ̣c 1999 –

2000 ở mô ̣t số trường vùng sâu, vùng xa trong tỉnh Kiên Giang như: An Minh, Vĩnh Thuâ ̣n, Gò Quao, Kiên Hải, Phú Quốc,… ta thấy số lượng HS khá, giỏi môn Ngữ văn rất thấp (dưới 10%), còn số lượng ho ̣c sinh yếu, kém chiếm tỷ lê ̣ khá cao (25 – 40%)

Nguyên nhân của kết quả trên là do sự tác đô ̣ng của nhiều yếu tố Theo tôi, những khó khăn đă ̣c thù của giáo viên vùng sâu, vùng xa; phương pháp giảng da ̣y, tinh thần, thái đô ̣ ho ̣c tâ ̣p của HS chính là những yếu tố chi phối quan tro ̣ng nhất

Sau Hô ̣i nghi ̣ tổng kết giáo du ̣c năm 1993 – 1994, báo Nhân dân ngày 05/7/1994 có nhâ ̣n xét: “Có thể nói phương pháp là vấn đề gay gắt, cốt lõi của chất lươ ̣ng” Vì vâ ̣y, tìm mô ̣t phương pháp giảng da ̣y thích hợp và hữu hiê ̣u để nâng cao chất lươ ̣ng môn Ngữ văn là nỗi trăn trở của nhữ giáo viên (GV) yêu nghề, có tâm huyết với nghề

Trong bài viết này, tôi xin trình bày những kinh nghiê ̣m và phương pháp tương đối hiê ̣u quả mà tôi đã vâ ̣n du ̣ng để khắc phu ̣c những khó khăn trong giảng

da ̣y và thái đô ̣ thờ ơ, la ̣nh nha ̣t của HS vùng sâu, vùng xa đối với môn Ngữ văn; giúp ho ̣c sinh tiếp thu và diễn đa ̣t tốt những điều đã ho ̣c thông qua mô ̣t bài làm văn

Trang 2

II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Những khó khăn cơ bản trong viê ̣c da ̣y văn ở trường vùng sâu, vùng xa

1.1 Về phía giáo viên:

Chúng ta đã biết công cu ̣ da ̣y văn của người giáo viên Ngữ văn không

chỉ là kiến thức mà còn cần có nhân cách và phương pháp thích hợp Thế nhưng có

rất nhiều khó khăn đã ảnh hưởng đến phương pháp và nhân cách người thầy Hiểu và khắc phu ̣c được những khó khăn đó, sẽ là đô ̣ng lực để nâng cao chất lượng giảng da ̣y

Cũng như GV ở những trường thi ̣ xã, tỉnh, thành phố, GV vùng sâu, vùng xa cũng cùng chi ̣u mô ̣t khó khăn chung là đồng lương ít ỏi nên đa số rơi vào

cảnh tay “sách” nách mang, bâ ̣n rô ̣n bươn trải với nghề phu ̣ (không phải “dạy phụ”) Những khó khăn của GV vùng sâu, vùng xa còn được nhân lên với sự lao

đô ̣ng quá tải (so với quy đi ̣nh) do thiếu GV bô ̣ môn Vì vâ ̣y, thời gian nghiên cứu sách vở, tâm lý và ngôn từ của ho ̣c sinh; nghiên cứu bản thân thông qua thái đô ̣ biểu hiê ̣n với nhà văn, tác phẩm không có Bên ca ̣nh đó, sách vở, tài liê ̣u, công cu ̣ để da ̣y và tham khảo ở thư viê ̣n trường la ̣i ít và hiếm hoi Với đồng lương eo he ̣p,

GV không thể mua đươ ̣c những quyển sách mà mình yêu thích Vì vâ ̣y viê ̣c bồi dưỡng kiến thức rất ha ̣n chế

Do phương tiê ̣n giao thông khó khăn, GV vùng sâu, vùng sâu không có điều kiê ̣n đi la ̣i thường xuyên để mở rô ̣ng giao lưu, ho ̣c hỏi kinh nghiê ̣m da ̣y Ngữ văn ở các trường ba ̣n Viê ̣c dự giờ , thăm lớp ta ̣i trường cũng rất ha ̣n chế vì thời gian lên lớp dày đă ̣c; viê ̣c góp ý và được góp ý thường do cảm tính, vì vâ ̣y không có sức khai thông, mở đường cho những ách tắc, trì trê ̣ trong phương pháp giảng da ̣y

1.2 Về phía ho ̣c sinh

Trang 3

Sống trong môi trường thiếu những hoa ̣t đô ̣ng văn hóa, những câu la ̣c

bô ̣, sân chơi văn hóa, thư viê ̣n hiếm sách tham khảo và không đáp ứng nhu cầu…

đa số ho ̣c sinh vùng sâu, vùng xa đã thờ ơ, la ̣nh nha ̣t với những hoa ̣t đô ̣ng văn ho ̣c nghê ̣ thuâ ̣t, với môn Ngữ văn, HS khá, giỏi môn Ngữ văn rất hiếm

Động cơ ho ̣c tâ ̣p của HS thường cha ̣y theo thi ̣ hiếu, theo nhu cầu của thi ̣ trường nên các em thường chú ý nhiều đến những môn khoa ho ̣c tự nhiên, môn Ngữ văn chưa được hiểu đúng nghĩa – bô ̣ môn nghê ̣ thuâ ̣t ngôn từ Nhiều HS có ý nghĩ ho ̣c môn Ngữ văn chỉ vì lấy điểm để thi đỗ tốt nghiệp Vì vâ ̣y nhiều em chán ngán giờ ho ̣c Ngữ văn, ho ̣c chiếu lê ̣ và trơ lì trước những hình tượng nghê ̣ thuâ ̣t giàu giá tri ̣ tư tưởng – thẩm mỹ Do đó, giáo viên cũng không có hứng thú giảng

da ̣y

Trình đô ̣, khả năng của HS vùng sâu, vùng xa không đồng đều Nhiều

HS hầu như không có kỹ năng viết câu, làm đoa ̣n, vốn từ nghèo nàn, viết sai chính tả, kiến thức lý luâ ̣n văn ho ̣c trống rỗng, có em “nói không nên lời”… Nhiểu HS ỷ

la ̣i gia đình khá giả nên mua đủ loa ̣i sách văn mẫu, sách luyê ̣n thi,… khi giáo viên cho đề làm văn bài nào thì copy nguyên xi, hoă ̣c gán ghép, chắp vá không phân biê ̣t đúng, sai, hợp lý; không có ý thức, trách nhiê ̣m với bài viết của mình

2 Những giải pháp khắc phu ̣c khó khăn

Để khắc phu ̣c những khó khăn trên và tình tra ̣ng thờ ơ, la ̣nh nha ̣t với môn Ngữ văn, giúp các em ghi nhớ được nô ̣i dung cốt lõi của bài ho ̣c đồng thời không cảm thấy ho ̣c văn là nha ̣t nhẽo, vô bổ, tôi đã chú ý thực hiê ̣n những vấn đề như sau:

2.1 Bồi đắp niềm tin, giữ vững ý chí

Những khó khăn mà tôi đã trình bày ở phần trên dễ làm cho GV chán nản và mất hứng thú giảng da ̣y Vì vâ ̣y, để có ý chí và giữ vững niềm tin, tôi luôn xác đi ̣nh rõ ràng vi ̣ trí, vai trò, nhiê ̣m vu ̣ của người GV Ngữ văn trong tình hình mới HS càng thờ ơ, la ̣nh nha ̣t thì tôi càng cố gắng nâng cao năng lực nghiên cứu, năng lực thiết kế và tổ chức bài da ̣y, năng lực giao tiếp Tôi nghĩ, người GV không

Trang 4

thể có phương pháp da ̣y tốt khi bản thân không có năng lực, trình đô ̣ nhất đi ̣nh; không hiểu bản chất, đă ̣c trưng môn Ngữ văn trong nhà trường – vừa mang tính chất mô ̣t môn ho ̣c công cu ̣, vừa mang tính chất mô ̣t môn ho ̣c nghê ̣ thuâ ̣t ngôn từ Ý nghĩ đó giúp cho tôi khi giảng bài không sa vào khuynh hướng chính tri ̣ hóa, dung

tu ̣c hóa hoă ̣c bám vào chủ nghĩa nghiê ̣p vu ̣ tầm thường mà xem nhe ̣ vai trò người tổ chức, hướng dẫn ho ̣c tâ ̣p của HS Nói mô ̣t cách khái quát, theo tôi, những yếu tố cơ

bản góp phần vào phương pháp da ̣y ho ̣c hữu hiê ̣u của GV vùng sâu, vùng xa là: Tri thức người thầy + Năng lực tổ chức thiết kế giờ ho ̣c + Tác đô ̣ng ảnh hưởng nhân cách của người thầy (công cu ̣ giảng da ̣y quan tro ̣ng).

2.2 Lựa cho ̣n phương pháp thích hợp cho từng bài giảng

* Về phân môn Đo ̣c – Hiểu văn bản

“Da ̣y văn vài năm hoă ̣c cả đời, ai trung thực cũng nhâ ̣n ra đây là phân môn khó da ̣y Tuyê ̣t đối khó” (Lê Trí Viễn) Phân môn Đo ̣c – Hiểu văn bản ở THPT chiếm 2/3 số tiết trong chương trình và nhiê ̣m vu ̣ nă ̣ng nề hơn Nếu môn Ngữ văn ở THCS chỉ trang bi ̣ cho HS những kiến thức về cấp đô ̣ Tiếng Viê ̣t và văn công cu ̣, thì môn Ngữ văn ở THPT la ̣i nhe ̣ về ngôn ngữ và văn công cu ̣ mà nă ̣ng về văn ho ̣c Nhưng đa số HS THPT vùng sâu, vùng xa còn yếu về Tiếng Viê ̣t và văn công cu ̣ (thiếu vốn từ, yếu về viết câu, đoa ̣n, không quen tư duy kiểu nghi ̣ luâ ̣n,…)

HS thường thu ̣ đô ̣ng trong cảm thu ̣, nhiều em có thói quen cảm thu ̣ tác phẩm qua cách cảm thu ̣ của thầy cô Nếu GV không đo ̣c thì HS không biết ghi hoă ̣c nhiều em chăm chỉ ghi được bài nhưng la ̣i không hiểu được nô ̣i dung cốt lõi của bài ho ̣c Vì

vâ ̣y, có thể khẳng đi ̣nh hoa ̣t đô ̣ng tâm lý bên trong và sự nhâ ̣n thức, cảm nhâ ̣n để tự khám phá và chiếm lĩnh tác phẩm văn ho ̣c của HS chưa được phát huy

Để khắc phu ̣c tình tra ̣ng trên, theo tôi, GV cần nắm vững nô ̣i dung chương trình môn Ngữ văn ở cấp THPT, nắm vững yêu cầu của từng kiểu bài giảng Khi giảng bài cần khéo léo khắc ghi nô ̣i dung cốt lõi của bài ho ̣c và yêu cầu của bài giảng cho HS (có thể thực hiê ̣n thao tác này lồng trong lời vào bài) Ví du ̣:

Giúp HS khối 10 xác đi ̣nh được yêu cầu cần nắm của kiểu bài nhìn chung với kiểu

Trang 5

bài khái quát; phân biê ̣t tác gia với tác giả… Những thao tác tưởng như vu ̣n vă ̣t, lẻ

tẻ ấy thực ra la ̣i có tác du ̣ng đi ̣nh hướng rất tốt khi các em ho ̣c bài Xét về yêu cầu

nô ̣i dung tổng thể của chương trình Ngữ văn THPT, GV phải đi ̣nh hướng mục tiêu cho các phương pháp để làm sao sau ba năm ho ̣c, HS ghi nhớ được những thời kỳ, giai đoa ̣n văn ho ̣c, tác gia, tác phẩm tiêu biểu, biết cách cảm thụ tác phẩm,…

Viê ̣c tìm hiểu và chuẩn bi ̣ bài giảng: Khi chuẩn bi ̣ cho bài giảng cần chú ý đến thao tác liên hê ̣ bài văn (đoa ̣n, tác phẩm) với hoàn cảnh, giai đoa ̣n văn

ho ̣c,… giúp HS xác đi ̣nh được vi ̣ trí bài văn trong giai đoa ̣n văn ho ̣c Đồng thời GV cũng phải chủ đô ̣ng phân bố thời gian cho bài giảng mô ̣t cách khoa ho ̣c, lôgic Ví

du ̣: Bài Tác gia Nam Cao có phần nói về cuô ̣c đời, quan điểm nghê ̣ thuâ ̣t, đề tài và

nô ̣i dung… Bài giảng được phân phối trong 1 tiết ho ̣c Để đáp ứng yêu cầu bài giảng thì thời gian 1 tiết không đủ để chuyển tải hết nô ̣i dung sách giáo khoa (SGK); hoă ̣c nếu đủ thì bài giảng khô khan, lớp ho ̣c không sinh đô ̣ng Vì vâ ̣y, nếu

GV chủ đô ̣ng cho HS ho ̣c trước hai bài “Đời thừa” và “Chí Phèo” thì sẽ tâ ̣n du ̣ng

đươ ̣c thời gian, phát huy được tính chủ đô ̣ng, tích cực của HS, giúp HS khắc sâu đươ ̣c nô ̣i dung bài ho ̣c GV cũng cần phải nghiền ngẫm để cảm thu ̣, hiểu đúng vấn đề cơ bản và cái hay, cái thần của bài giảng Như vâ ̣y, khi giảng bài sẽ tránh được hiê ̣n tươ ̣ng lan man, dông dài không tâ ̣p trung được suy nghĩ của HS

HS vùng sâu, vùng xa vốn thờ ơ la ̣nh nha ̣t với môn Ngữ văn Để khắc phu ̣c tình tra ̣ng này, GV cần khéo léo khơi gợi cảm hứng văn ho ̣c, ta ̣o tâm thế đón nhâ ̣n tác phẩm, ta ̣o không khí đồng cảm, sự cô ̣ng hưởng cảm xúc giữa nhà văn –

GV – HS Biê ̣n pháp cu ̣ thể như sau:

+ Chuẩn bi ̣ những câu hỏi cu ̣ thể cho HS soa ̣n trước ở nhà Để ta ̣o hứng thú soa ̣n bài của HS, GV sẽ cho điểm với những câu trả lời tốt

+ GV chuẩn bi ̣ những câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề mô ̣t cách sáng ta ̣o, khoa

ho ̣c, đơn giản, bình di ̣, lôi cuốn phù hợp với tâm lý HS (hiếu đô ̣ng, tò mò, thích tỏ

ra là người lớn, có hiểu biết,…) và quy luâ ̣t cảm thu ̣ văn chương Ví du ̣: Ngày 20/3/2000, VTV1 có chiếu bô ̣ phim nói về cuô ̣c đời Vũ Tro ̣ng Phu ̣ng… Các em

Trang 6

biết gì về ông? Hoă ̣c: Có bao giờ em rơi vào tâm tra ̣ng nôn nao, chờ đợi mô ̣t điều

gì? Lúc ấy cung cách, thái đô ̣ của em sẽ như thế nào? (bài “Chờ đợi” của Tago) Theo em, tựa đề “Chờ đợi” hay “Tình yêu huyền diệu”, tựa đề nào phù hợp với nô ̣i

dung của bài và có ý nghĩa hơn? Sau khi HS trả lời câu hỏi, GV khéo léo nhâ ̣n xét để các em nhâ ̣n thức được đúng – sai; làm cho HS cảm thấy thoải mái, tự tin trong mỗi lần phát biểu Những câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề rất cần thiết và góp phần duy trì cảm hứng của HS, tránh được sự tẻ nha ̣t của tiết ho ̣c, giúp HS khắc phu ̣c sự lơ là, phân tâm

+ GV có thể gây cảm hứng, ta ̣o tâm thế đón nhâ ̣n tác phẩm cho HS qua gio ̣ng nói, đo ̣c diễn cảm, có ngữ điê ̣u, ngữ khí; cách diễn đa ̣t trôi chảy, có hình tươ ̣ng và mang chất văn ho ̣c

+ Để giúp HS nâng cao năng lực diễn đa ̣t, lâ ̣p luâ ̣n có cơ sở, trong quá trình giảng bài tôi thường lồng những kiến thức lý luâ ̣n văn ho ̣c (chẳng ha ̣n như Văn là gì? Trữ tình? Bi ki ̣ch? ) hoă ̣c chú ý cách go ̣i tên nhân vâ ̣t nước ngoài,… giúp HS dễ nhớ tác phẩm

Kết thúc tiết ho ̣c, tôi luôn thực hiê ̣n nghiêm túc thao tác củng cố nhằm khắc sâu những nô ̣i dung mà thầy – trò đã tìm hiểu, tiếp nhâ ̣n Phần củng cố có khi là những câu hỏi nêu vấn đề, có khi được thể hiê ̣n qua lời nói mang tính khái quát, hàm súc của GV Sau đó, tôi giới thiê ̣u sách tham khảo mà thư viê ̣n nhà trường có, nhằm đi ̣nh hướng cho HS có ý thức nâng cao tri thức

* Về phân môn Tiếng Viê ̣t

Môn Tiếng Viê ̣t ở THPT tiếp tu ̣c nâng cao, hoàn chỉnh hóa cho HS tri thức Tiếng Viê ̣t như: ngữ nghĩa, phong cách nghê ̣ thuâ ̣t ngôn từ; rèn luyê ̣n năng lực diễn đa ̣t tốt các loa ̣i văn bản nói, viết Qua đó HS rèn luyê ̣n khả năng sản sinh văn bản, biết tự đánh giá, tự điều chỉnh cách nói, cách viết góp phần nâng cao năng lực cảm thu ̣, thưởng thức, thẩm đi ̣nh giá tri ̣ nghê ̣ thuâ ̣t của tác phẩm văn chương… Trong thực tế, HS vùng sâu, vùng xa rất yếu về khả năng huy đô ̣ng và tổ chức những tri thức cần thiết cho viê ̣c tự đă ̣t vấn đề, giải quyết vấn đề, diễn đa ̣t kết quả

Trang 7

tư duy mô ̣t cách rành ma ̣ch, lôgic, có sức thuyết phu ̣c về trí tuê ̣ và tình cảm Nắm đươ ̣c những ha ̣n chế trên của HS, trong những tiết Tiếng Viê ̣t, tôi thường giúp HS nắm vững những khái niê ̣m, đă ̣c điểm,… thông qua những ví du ̣ cu ̣ thể, qua đồ dùng da ̣y ho ̣c (mô hình các kiểu câu, bảng tóm tắt nô ̣i dung khái niê ̣m,…) Tôi chú tro ̣ng viê ̣c trao đổi lý thuyết thông qua thực hành Tôi không bỏ sót mô ̣t bài, mô ̣t câu thực hành nào Tất cả sự cố gắng của tôi đã thúc đẩy HS thích thú viết câu, làm đoa ̣n, làm thơ giống như sự thích thú giải những bài tâ ̣p môn khoa ho ̣c tự nhiên

* Về phân môn Làm văn

Viê ̣c ho ̣c tâ ̣p Đo ̣c – Hiểu văn bản, Tiếng Viê ̣t ở nhà trường không chỉ có mă ̣t thực du ̣ng, tiếp nhâ ̣n, cảm thu ̣ mà còn có mă ̣t chủ đô ̣ng, tích cực, sáng ta ̣o Ở môn Làm văn, HS có điều kiê ̣n thể hiê ̣n mô ̣t cách tổng hợp kết quả ho ̣c tâ ̣p Tiếng Viê ̣t và Đo ̣c – Hiểu theo hướng tích cực, chủ đô ̣ng, sáng ta ̣o nói trên Đa số HS vùng sâu, vùng xa chưa hiểu được mối quan hê ̣ giữa Đo ̣c – Hiểu văn bản – Tiếng Viê ̣t – Làm văn Vì vâ ̣y, trong quá trình làm bài văn nghi ̣ luâ ̣n, nếu đề bài cho dưới

da ̣ng câu hỏi thì HS thường ga ̣ch đầu dòng và viết giống như câu trả lời vấn đáp

Nhiều HS có ý nghĩ “Học Làm văn mất công” và thường không quan tâm đến môn

này Vì vâ ̣y GV phải thực hiê ̣n tốt nhiê ̣m vu ̣ ta ̣o điều kiê ̣n thúc đẩy, hướng dẫn quá trình ra đời bài văn nơi HS có chất lượng cao nhất

+ Khâu ra đề: Khi ra đề tôi luôn cẩn thâ ̣n cân nhắc về pha ̣m vi kiến thức trong bài làm Không bao giờ tôi ra đề kiểu đánh đố, bắt bí HS Tôi chú ý đến cách diễn đa ̣t để khi đo ̣c lên, có thể gợi ra cảm hứng sáng ta ̣o và gây hứng thú làm bài của HS Sau khi ra đề, tôi thường giúp HS hiểu đúng, hiểu kỹ đề bài bằng cách giới

ha ̣n thêm thời gian để: giảng thêm về đề bài; cho HS trao đổi về đề bài; giới thiê ̣u và cung cấp tài liê ̣u tham khảo cho HS (nếu bài làm ở nhà)

+ Khâu chấm bài: Khi chấm bài, tôi thường có sẵn mô ̣t đáp án chi tiết Điều đó giúp tôi chủ đô ̣ng tìm ý, chấm câu trong bài làm của HS Tôi thường thông nhất với HS những ký hiê ̣u chấm bài ngay từ bài làm văn đầu tiên Khi chấm, tôi sử

du ̣ng những ký hiê ̣u đó để đánh dấu và sửa chữa những sai sót trong bài làm của

Trang 8

HS Tôi luôn trân tro ̣ng sự cố gắng có tính chất tự lực sáng ta ̣o trong suy nghĩ, diễn

đa ̣t của HS; phát hiê ̣n, nâng đỡ các ưu điểm (dù nhỏ bé) phát sinh từ trí tuê ̣, tâm hồn của HS

+ Khâu trả bài: Tôi cố gắng giúp HS thấy được những ưu, khuyết điểm, tiến

bô ̣ trong bài làm thông qua viê ̣c trình bày đáp án và sửa chữa lỗi chung Trình tự các thao tác của tôi trong mô ̣t tiết trả bài là: chép la ̣i đề bài lên bảng; go ̣i HS xác

đi ̣nh la ̣i yêu cầu của đề bài; nhâ ̣n xét chung về kết quả bài làm của HS (ưu điểm, khuyết điểm, tiến bô ̣, những lỗi sai nhiều); phát bài từ điểm thấp đến cao; cùng HS xây dựng dàn bài; trình bày thang điểm; rút kinh nghiê ̣m, khen ngợi và đo ̣c bài làm khá Riêng đối với HS yếu, tôi thường yêu cầu các em chép la ̣i những câu, đoa ̣n sai ngữ pháp, sai kiến thức, diễn đa ̣t vu ̣ng về (trong lúc chấm bài, tôi đã cho ̣n ra) để về nhà, các em tự sửa chữa và tôi sẽ chấm lấy điểm

III KẾT LUẬN CHUNG

Trên đây là mô ̣t số biê ̣n pháp và kinh nghiê ̣m mà tôi đã vâ ̣n du ̣ng để khắc phu ̣c tình tra ̣ng thờ ơ, la ̣nh nha ̣t của HS vùng sâu, vùng xa đối với môn Ngữ văn Thông qua những biê ̣n pháp đó, tôi đã góp phần nâng cao chất lượng giảng da ̣y của

bô ̣ môn, chất lươ ̣ng ho ̣c tâ ̣p của HS, giúp HS ghi nhớ được nô ̣i dung chương trình, nắm đươ ̣c yêu cầu cốt lõi của mỗi bài ho ̣c (điều mà HS thường hay quên) Nhiều

HS lớp 12 đã có ý thức về cách trình bày mô ̣t bài văn, biết nắm bắt và giải quyết vấn đề mà đề bài yêu cầu trong bài làm của mình

Thống kê kết quả bô ̣ môn trong năm ho ̣c, tôi thấy có sự chuyển biến đáng phấn khởi trong quá trình ho ̣c Văn của các em Cu ̣ thể:

Trang 9

Kết quả trên đây khiến cho tôi càng tin tưởng vào phương pháp mà tôi đã áp

du ̣ng với HS vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, viê ̣c viết sáng kiến kinh nghiê ̣m là lúc tôi lắng đo ̣ng tinh thần để chiêm nghiê ̣m la ̣i những phương pháp và kinh nghiê ̣m giảng da ̣y của tôi trong những năm qua ở mô ̣t trường THPT thuô ̣c vùng sâu, vùng xa Tôi mong muốn đây là cơ hô ̣i để đón nhâ ̣n thêm những lời góp ý chân tình thiết thực, giúp tôi ngày càng hoàn thiê ̣n và góp phần nâng cao hơn nữa chất lươ ̣ng giảng da ̣y và ho ̣c tâ ̣p môn Ngữ văn ở trường vùng sâu, vùng xa

Phú Quốc, ngày 10 tháng 5 năm 2000

Ngày đăng: 17/09/2013, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w