1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Skkn một số kinh nghiệm giúp học sinh làm tốt các dạng bài tập luyện từ và câu lớp 4

24 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy việc tổ chức cho học sinh trong các giờ giải quyếtcác bài tập Luyện từ và câu là vấn đề trăn trở cho các giáo viên nói chung và bảnthân tôi nói riêng.. Từ những lý do khách quan v

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

A Lý do chọn đề tài 1

1 Cơ sở lý luận 1

2 Cơ sở thực tiễn 2

B Nhiệm vụ nghiên cứu 2

C Mục đích nghiên cứu 3

D Phương pháp nghiên cứu 3

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4

A Thực trạng thực tế việc dạy - học các dạng bài tập “Luyện từ và câu” 4

I Thuận lợi 4

1 Nội dung chương trình sách giáo khoa 4

2 Dạy và học của giáo viên - học sinh 4

II Khó khăn 4

1 Đối với chương trình sách giáo khoa 4

2 Đối với giáo viên 4

3 Đối với học sinh 5

4 Sơ lược một số dạng bài tập Luyện từ và câu điển hình 5

B Đề ra các biện pháp nghiên cứu, áp dụng phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập “ Luyện từ và câu” 6

I Biện pháp 1: Củng cố, nâng cao kiến thức kỹ năng làm các bài tập luyện từ và câu 6

II Biện pháp 2: Tổ chức dạy cho học sinh làm bài tập luyện từ và câu 7

III Biện pháp 3: Sử dụng trò chơi học tập để giúp học sinh làm các bài tập Luyện từ và câu 14

C Kết quả nghiên cứu đạt được 15

D Bài học kinh nghiệm 16

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 18

I Những hạn chế 18

II Khuyến nghị 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 2

Nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dụccon người Từ xa xưa ông cha ta đã sử dụng nó một cách tự giác nhằm để giáodục trẻ nhỏ.

Khi chưa đến trường, trẻ được giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội Từthuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà, lớn lênchút nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dòng sữa ngọt ngào nuôidưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành con người có nhân cách, có bản sắcdân tộc góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội đối vớinhững thành viên của mình

Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường xuất hiện như một điềutất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường Cả thế giới đang mở trước mắt các

em Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều sơ đẳng nhất.Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tất cả các môn học

Nhờ có ngôn ngữ con người có khả năng tư duy Ngôn ngữ là thứ công cụ

có tác dụng vô cùng to lớn Nó có thể diễn tả tất cả những gì con người nghĩ ra,nhìn thấy biết được những giá trị trừu tượng mà các giác quan không thể vươntới được Các môn học ở Tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dụctoàn diện học sinh phải kể đến Luyện từ và câu, một phân môn chiếm thời lượngkhá lớn trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học Nó tách thành một phân môn độc lập,

có vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn song song tồn tại vớicác môn học khác Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cầnthiết và nó có thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ sởhình thành ngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thứcmới trong các môn học khác Tầm quan trọng đó đã được rèn giũa luyện tậpnhuần nhuyễn trong quá trình giải quyết các dạng bài tập trong môn Luyện từ vàcâu lớp 4

Vì vậy, với một số kinh nghiệm được đúc rút qua những năm giảng dạy tại

trường, tôi đề xuất sáng kiến kinh nghiệm về “Một số kinh nghiệm giúp học

Trang 3

sinh làm tốt các dạng bài tập Luyện từ và câu - Lớp 4” hy vọng góp phần tích

cực cho việc nghiên cứu và giảng dạy tại nhà trường

2 Cơ sở thực tiễn

* Chương trình phân môn Luyện từ và câu - Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4:

- Mở rộng hệ thống hóa vốn từ (19 tiết):

+ Các dạng bài tập: Tìm từ ngữ theo chủ điểm, nắm nghĩa, phân loại từ

ngữ Tìm hiểu nghĩa của thành ngữ, tục ngữ, luyện sử dụng từ ngữ

- Tiếng cấu tạo từ (5 tiết):

+ Các dạng bài tập: Nhận diện và phân tích cấu tạo của tiếng, từ Phân loại

từ theo cấu tạo, tìm từ theo kiểu cấu tạo, luyện sử dụng từ

- Từ loại (9 tiết):

+ Các dạng bài tập: Nhận diện từ theo loại, luyện viết danh từ riêng, tìm và

phân loại từ theo từ loại, luyện sử dụng từ

- Câu (26 tiết):

+ Các dạng bài tập: Nhận dạng kiểu câu, phân tích cấu tạo câu, đặt câu

theo mẫu, luyện sử dụng câu trong các tình huống khác nhau

- Dấu câu (4 tiết):

+ Các dạng bài tập: Hiểu chức năng của dấu câu, luyện sử dụng dấu câu:

đặt dấu câu vào chỗ thích hợp; tập viết câu, đoạn có sử dụng dấu câu

* Việc giảng dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu lớp 4 sao cho có hiệuquả đặt ra cho các giáo viên Tiểu học là một vấn đề không phải đơn giản Quathực tế giảng dạy tôi đã gặp phải không ít những khó khăn Chương trình sáchgiáo khoa đảm nhiệm cung cấp vốn từ cho học sinh, việc hướng dẫn làm các bàitập Luyện từ và câu mang tính chất đôi khi còn máy móc, chưa thật mở rộng chohọc sinh nắm sâu kiến thức của bài Về phía học sinh khi làm các bài tập chỉ biếtlàm mà không hiểu tại sao làm như vậy, học sinh không có hứng thú trong việcgiải quyết kiến thức Do vậy việc tổ chức cho học sinh trong các giờ giải quyếtcác bài tập Luyện từ và câu là vấn đề trăn trở cho các giáo viên nói chung và bảnthân tôi nói riêng

Trong quá trình dạy học cũng như việc phát hiện học sinh năng khiếu, tôicũng như một số giáo viên khác khi dạy đến tiết Luyện từ và câu, đặc biệt cáckhái niệm về từ đơn, từ ghép, các kiểu từ ghép bộc lộ không ít hạn chế Về nộidung chương trình dạy phần đó trong sách giáo khoa rất ít Chính vì vậy họcsinh rất khó xác định, dẫn đến tiết học trở nên nhàm chán không thu hút học sinhvào hoạt động này Để tháo gỡ khó khăn đó rất cần có một phương pháp tổ chứctốt nhất, có hiệu quả nhất cho tiết dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho họcsinh lớp 4

Trang 4

Từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên, thông qua việc họctập, giảng dạy trong những năm qua, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu sâuhơn về phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinhlớp 4, nhằm tìm ra được phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp nhất, vậndụng tốt nhất trong quá trình giảng dạy của mình Vì điều kiện, khả năng nghiêncứu có hạn tôi xin mạnh dạn trình bày kết quả nghiên cứu của mình thông qua

đề tài “Một số kinh nghiệm giúp học sinh làm tốt các dạng bài tập Luyện từ

và câu - Lớp 4”.

B Nhiệm vụ nghiên cứu.

Tìm hiểu tình hình học phân môn luyện từ và câu thực hành xác địnhphương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câu Đề xuất một số biệnpháp thực hiện trong khi dạy học sinh dạng bài này

Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 4

C Mục đích nghiên cứu.

Với đề tài này mục đích nghiên cứu chính là tìm phương pháp tổ chức thíchhợp nhất trong quá trình dạy các dạng bài tập luyện từ và câu Từ đó vận dụnglinh hoạt và hướng dẫn rèn kỹ năng làm các dạng bài tập luyện từ và câu chohọc sinh một cách hiệu quả nhất

D Phương pháp nghiên cứu.

Để thực hiện được mục đích của đề tài đặt ra tôi mạnh dạn nghiên cứu họchỏi tìm tòi, áp dụng những phương pháp sau:

I Phương pháp nghiên cứu.

1 Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu)

2 Phương pháp nghiên cứu tổng hợp

3 Phương pháp điều tra

4 Phương pháp thực nghiệm

5 Phương pháp đàm thoại

6 Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm

II Tiến trình nghiên cứu

1 Dự giờ thăm lớp, tiếp xúc gần gũi với học sinh và tìm hiểu tình trạng giảiquyết làm các bài tập luyện từ và câu của giáo viên và học sinh lớp 4

2 Đề ra phương hướng để nâng cao chất lượng làm các bài tập có hiệu quả hơn

3 Dạy thực nghiệm, áp dụng trên lớp đối chứng, phân tích các kết quả bằng

số liệu thống kê

Trang 5

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

A Thực trạng thực tế việc dạy - học các dạng bài tập

“Luyện từ và câu”.

I Thuận lợi

1 Nội dung chương trình sách giáo khoa.

Số tiết Luyện từ và câu của sách giáo khoa lớp 4 gồm 2 tiết/tuần Sau mỗitiết hình thành kiến thức là một loạt các bài tập củng cố bài

2 Dạy và học của giáo viên - học sinh.

Phân môn Luyện từ và câu tạo cho học sinh môi trường giao tiếp để học

sinh mở rộng vốn từ có định hướng, trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bản

về Tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thường gặp Từ đó nâng cao các

kỹ năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh

II Khó khăn

1 Đối với chương trình sách giáo khoa

Việc xác định phương pháp tổ chức cho một tiết dạy như vậy là hết sức cầnthiết Việc xác định yêu cầu của bài và hướng giải quyết còn mang tính thụđộng, chưa phát huy triệt để vốn kiến thức khi luyện tập, thực hành

2 Đối với giáo viên

Giáo viên là một trong 3 nhân tố cần được xem xét của quá trình dạy học

“Luyện từ và câu”, là nhân tố quyết định sự thành công của quá trình dạy học phân

môn này Khi nghiên cứu quá trình dạy hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập

Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, tôi thấy thực trạng của giáo viên như sau:

- Phân môn Luyện từ và câu là phần kiến thức khó trong khi hướng dẫn học

sinh nắm được yêu cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập nên dẫn đến tâm lýgiáo viên ngại bởi việc vận dụng của giáo viên còn lúng túng gặp khó khăn

- Một số ít giáo viên không chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu đểkhai thác kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, lệ thuộc vàođáp án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này

- Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sáchgiáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh

- Nhiều giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn từcho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt

- Thực tế trong trường tôi công tác, chúng tôi thường rất tích cực đổi mớiphương pháp dạy sao cho có hiệu quả nhất ở môn học này Đồng thời là tiền đềtrong việc phát triển bồi dưỡng những em có năng khiếu Nhưng kết quả giảngdạy và hiệu quả còn bộc lộ không ít những hạn chế

Trang 6

3 Đối với học sinh.

Một số học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân

môn Luyện từ và câu nên chưa dành thời gian thích đáng để học môn này.

Một số học sinh không có hứng thú học phân môn này Các em đều cho đây

là phân môn vừa khô vừa khó.

Một số học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu Từ đó dẫn đến việcnhận diện phân loại, xác định hướng làm bài lệch lạc Việc xác định còn nhầmlẫn nhiều

Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏsót, làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đề bài

Thực tế cho thấy có những học sinh khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rất trôichảy, chính xác, nhưng khi làm bài tập thực hành thì lúng túng và làm bài khôngđạt yêu cầu Điều đó thể hiện học sinh nắm kiến thức một cách máy móc, thụđộng và tỏ ra yếu kém thiếu chắc chắn

Do vậy ngay khi dạy tới phần từ ghép, từ láy Tôi đã tiến hành khảo sát họcsinh lớp

Đề bài: Xác định từ ghép và từ láy trong đoạn văn sau.

Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn Rồi tre lớn lên cứng cáp, dẻo dai, vững chắc Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người.

Học sinh còn nhầm lẫn giữa từ láy và từ ghép ví dụ: Từ dẻo dai, chí khí một

số em lại cho là từ láy nhưng thực tế nó là từ ghép bởi vì các tiếng trong từng từ

có quan hệ với nhau về nghĩa, các từ này có hình thức âm thanh ngẫu nhiên

giống từ láy nhưng không phải là từ láy.

Qua khảo sát tại lớp 4D do tôi giảng dạy, tôi thu được kết quả như sau:c k t qu nh sau:ết quả như sau: ả như sau: ư

4 Sơ lược một số dạng bài tập Luyện từ và câu điển hình.

+ Phân tích cấu tạo của tiếng

+ Tìm các từ ngữ nói về chủ đề

Trang 7

+ Tìm lời khuyên trong các câu tục ngữ, ca dao.

+ Đặt dấu chấm phẩy vào đoạn văn cho phù hợp

+ Tìm từ đơn, từ phức và đặt câu với từ tìm được

+ Tìm từ ghép, từ láy và đặt câu với từ đó

+ Phân biệt động từ, danh từ, tính từ trong đoạn văn

+ Phân biệt các kiểu câu chia theo mục đích nói, tác dụng của nó

+ Viết thêm trạng ngữ cho câu

B Đề ra các biện pháp nghiên cứu, áp dụng phương pháp tổ chức dạy các Dạng bài tập “ Luyện từ và câu”.

I Biện pháp 1: Củng cố, nâng cao kiến thức kỹ năng làm các bài tập luyện từ và câu.

Với đặc trưng của môn Luyện từ và câu cùng các mâu thuẫn giữa yêu cầu

của xã hội, nhu cầu hiểu biết của học sinh với thực trạng giảng dạy của giáoviên, việc học của học sinh trường tôi, đồng thời để củng cố nâng cao kiến thức,

kỹ năng làm các bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 Tôi đã nghiên cứu

và rút ra được nhiều kinh nghiệm thông qua các bài học trên lớp, trước hết tôiyêu cầu học sinh thực hiện theo các bước sau

4 Kiểm tra đánh giá.

Đặc biệt tôi cũng mạnh dạn đưa ra từng bước hướng dẫn các phương pháp

rèn luyện kỹ năng làm các dạng bài tập Luyện từ và câu Muốn học sinh làm bài

một cách có hiệu quả, trước hết các em phải nắm chắc kiến thức, vì đó là bướcquan trọng cho cả giáo viên và học sinh

Mỗi một dạng bài tập cụ thể, bài tập riêng đều có một hình thức tổ chứcriêng Có thể theo nhóm, làm việc cả lớp hoặc làm việc cá nhân Song song vớicác hình thức đó là phương pháp hình thành giải quyết vấn đề cho học sinh.Muốn làm được việc đó trước tiên học sinh phải hiểu rõ đặc điểm của nội

dung các chủ điểm mà phân môn Luyện từ và câu cần cung cấp.

- Qua các bài mở rộng vốn từ học sinh được:

- Cung cấp thêm các từ ngữ mới theo chủ điểm hoặc nghĩa, các yếu tố hánviệt; rèn luyện khả năng huy động vốn từ theo chủ điểm; rèn luyện sử dụng từ,

sử dụng thành ngữ tục ngữ

- Thông qua các bài tập cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từng học sinh được:

Trang 8

Tìm hiểu về cấu tạo của tiếng, nhận diện được hiện tượng bắt đầu từ vấn đềtrong thơ, tìm hiểu phương thức tạo từ mới để phục vụ cho nhu cầu giao tiếp.Học sinh cần tìm hiểu được:

Có 2 cách để tạo từ phức:

1 Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau là từ ghép

2 Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giốngnhau đó là từ láy

- Thông qua các bài tập về từ loại: Học sinh được cung cấp kiến thức sơgiản về danh từ, động từ, tính từ gắn bó với các tình huống sử dụng Cần lưu ý:+ Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy với tính từ đã cho

+ Thêm vào các từ rất, quá, lắm vào trước hoặc sau tính từ

+ Tạo ra phép so sánh

Thông qua các bài tập về câu, học sinh được rèn luyện năng lực sử dụngcác kiểu câu tuỳ theo nhu cầu, lĩnh vực giao tiếp

Ví dụ: Nhiều khi ta có thể sử dụng câu hỏi để thực hiện:

1 Thái độ khen, chê

2 Sự khẳng định, phủ định

3 Yêu cầu, mong muốn

- Đặc biệt rất chú trọng đến việc dạy học sinh biết giữ phép lịch sự tronggiao tiếp Cụ thể: Khi hỏi chuyện người khác cần giữ phép lịch sự

1 Khi yêu cầu, đề nghị phải giữ phép lịch sự

2 Muốn cho lời yêu cầu, được đề nghị lịch sự, cần có cách xưng hô chophù hợp và thêm vào trước hoặc sau động từ: Làm ơn, giùm, giúp

3 Có thể dùng câu hỏi, kiểu câu nếu yêu cầu đề nghị

II Biện pháp 2: Tổ chức dạy cho học sinh làm bài tập luyện từ và câu.

Các kiểu hình thức và kĩ năng cần học trong phân môn Luyện từ và câu

được rèn luyện thông qua nhiều bài tập với các tình huống giao tiếp tự nhiên

a Đối với các dạng bài tập mở rộng vốn từ.

Ví dụ: Tìm các từ ngữ:

- Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương đồng loại

- Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương

- Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại

Trang 9

- Trái nghĩa với với đùm bọc hoặc giúp đỡ.

Ngoài việc sử dụng hướng mẫu trong sách giáo khoa Giáo viên yêu cầu

học sinh làm việc theo nhóm (4 nhóm) Mỗi nhóm một yêu cầu, sau khi đại diện

nhóm trả lời cho học sinh làm việc ở lớp

Nhóm 1: Lòng thương người, đùm bọc, giúp đỡ

Nêu ý nghĩa của các từ em tìm được Các nhóm cùng bổ sung, giáo viênchốt lại ý kiến đúng

Liên hệ giữa tình huống học sinh đã làm được trong cuộc sống, quá trìnhhọc tập

b Rèn luyện kĩ năng cấu tạo từ dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy.

Ví dụ: Tìm từ láy, từ ghép chứa các tiếng sau đây.

- Ngay

- Thẳng

- Thật

i v i các d ng b i t p n y t ch c cho h c sinh l m vi c theo nhóm

Đ ới các dạng bài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm ạng bài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm ài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm ập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm ài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm ổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm ức cho học sinh làm việc theo nhóm ọc sinh làm việc theo nhóm ài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm ệc theo nhóm

trong phi u Giáo viên có th s d ng phết quả như sau: ể sử dụng phương pháp tư duy để thu nạp rất ử dụng phương pháp tư duy để thu nạp rất ụng phương pháp tư duy để thu nạp rất ương pháp tư duy để thu nạp rấtng pháp t duy ư để sử dụng phương pháp tư duy để thu nạp rất thu n p r tạng bài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm ấtnhi u t , t quá trình h c sinh, m i nhóm ho t ọc sinh làm việc theo nhóm ỗi nhóm hoạt động một nhiệm vụ với từ ạng bài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm động một nhiệm vụ với từng m t nhi m v v i tộng một nhiệm vụ với từ ệc theo nhóm ụng phương pháp tư duy để thu nạp rất ới các dạng bài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm(Ngay, th ng, th t).ẳng, thật) ập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm

Từ bao giờ cũng có nghĩa vì nó là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu

Từ láy, từ ghép đều là từ có nghĩa Từ láy là phối hợp những tiếng có phụ

âm đầu, vần hoặc cả âm đầu và giống nhau gọi là từ láy Từ ghép là ghép nhữngtiếng có nghĩa lại với nhau, đó là từ ghép Dựa vào cấu tạo trên mà học sinh cóthể xác định từ ghép và từ láy

Giáo viên có thể lấy thêm ví dụ:

+ Từ ghép: Cơn mưa, nhà cửa, bông hoa

+ Từ láy: Luộm thuộm, chăm chỉ

c Luyện tập các bài có dạng về tính từ, động từ, danh từ.

Trong đó chương trình sách giáo khoa cũng lựa chọn những tình huốnggiao tiếp gắn bó với cuộc sống gần gũi của học sinh

Ví dụ 1: Viết họ và tên 3 bạn nam, 3 bạn nữ trong lớp em Họ và tên các

bạn ấy là danh từ chung hay danh từ riêng? vì sao?

Trang 10

Với bài này tôi đã gợi ý cho học sinh: Xác định tên của bạn mình, viết, ghi

rõ họ, tên Lưu ý đó là danh từ chung hay danh từ riêng

Cho học sinh làm việc cá nhân, nêu miệng Phần học này học sinh thườnghay mắc lỗi ở vạch danh từ chung

Tôi yêu cầu các em nêu lại danh từ chung là gì? Dùng phép suy luận để học

sinh áp dụng vào bài của mình

Ví dụ 2: Gạch dưới các động từ trong đoạn văn sau:

Yiết Kiêu đến kinh đô yết kiến vua Trần Nhân Tông

Nhà vua: Trẫm cho nhà ngươi nhận một loại binh khí

Yết Kiêu: Thần chỉ xin một chiếc dùi sắt

Lưu ý có 2 từ dùi từ nào là động từ ? Lấy ví dụ trường hợp khác Người ta

lấy cái đục là cái lỗ để nước đục chảy ra.

Ví dụ 3: Tìm những từ ngữ biểu thị mức độ của đặc điểm, tính chất được

gạch chân trong đoạn văn sau:

Hoa cà phê thơm đậm và ngọt lên mùi hương thường theo gió bay đi rất xa.Nhà thơ Xuân Diệu chỉ có một lần đến đây ngắm nhìn của cà phê đã phải thốt lên

Hoa cà phê thơm lắm em ơi Hoa cùng một điệu với hoa nhài Trong ngà trắng ngọc, xinh và sáng.

Như miệng em cười đâu đây thôi

Đây là bài tập để rèn luyện về tính từ và bài này hơi trừu tượng với học sinhCho các em phân tích đề bài trước vì yều cầu của bài không quen thuộc vớihọc sinh; các em đã hiểu

Tìm những từ biểu thị mức độ của đặc điểm tính chất của cá từ gạch chân

cụ thể: Hoà cà phê thơm như thế nào? (thơm đậm và ngọt ) nên mùi hương bay

đi rất xa Lần lượt học sinh tìm (trả lời cá nhân theo phương pháp tư duy):

Thơm – lắmTrong – ngàTrắng – ngọc Như vậy các em thấy quen thuộc với cách làm của bài này

d Củng cố khắc sâu mở rộng luyện các dạng bài tập về câu.

Với dạng bài này cũng được lựa chọn với thực tiễn sinh động hàng ngày để

Trang 11

học sinh biết đặt câu đúng, phù hợp với tình huống giao tiếp, đảm bảo lịch sựkhi đặt câu.

1 Câu kể.

Ví dụ 1: Đặt một vài câu kể để:

a) Kể việc làm hàng ngày sau khi đi học về

b) Tả chiếc bút em đang dùng

c) Trình bày ý kiến của em về tình bạn

d) Nói lên niềm vui của em khi nhận được điểm tốt

Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân Kể về việc em làm

Lưu ý học sinh khi viết hết câu phải có dấu chấm Học sinh viết và đọc chohọc sinh trong lớp nhận xét bổ sung

Nội dung của các yêu cầu trên khác nhau: Tả, bày tỏ ý kiến, nói lên niềmvui

Giáo viên hướng dẫn mẫu:

+ Tả kết hợp với dùng từ ngữ gợi tả, biện pháp nghệ thuật

+ Bày tỏ ý kiến – yêu mến, gắn bó như thế nào?

+ Nói lên niềm vui – vui sướng như thế nào khi được điểm tốt

Ví dụ 2: Khi muốn mượn bạn cái bút, em có thể chọn những cách nói nào?

a) Cho mượn cái bút!

b) Lan ơi, cho tớ mượn cái bút!

c) Lan ơi, cậu có thể cho tớ mượn cái bút được không?

Cho học sinh trả lời cá nhân, học sinh chọn trường hợp c, vì nó thể hiện sựlịch sự trong giao tiếp

Giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động tiếp nối Trao đổi theo cặp, thực hànhlời yêu cầu lịch sự

2 Câu hỏi:

Đối với việc giữ lịch sự khi đặt câu hỏi, dạng bài tập cho phần này cũng rất

cụ thể:

Ví dụ: So sánh các câu hỏi trong đoạn văn sau: Em thấy câu các bạn nhỏ

hỏi cụ già có thích hợp hơn những câu hỏi khác không? Vì sao?

Sau một cuộc dạo chơi, đám trẻ ra về Tiếng nói cười ríu rít Bỗng các bạn dừng lại khi thấy một cụ già đang ngồi ở vệ đường Trông cụ thật mệt mỏi, cặp mắt lộ rõ vẻ u sầu.

- Chuyện gì đã xảy ra với ông cụ thế nhỉ? Một em trai hỏi, - Đám trẻ tiếp lời bàn tán sôi nổi:

- Chắc là cụ bị ốm.

- Hay là cụ đánh mất cái gì?

Trang 12

- Chúng mình thử hỏi xem đi?

Các em tới chỗ ông cụ, lễ phép hỏi:

- Thưa cụ, chúng cháu có thể giúp gì cho cụ không?

Giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân Trước hết học sinh phảixác định câu nào là câu hỏi, câu nào là câu các bạn phỏng đoán với nhau: chohọc sinh so sánh

Các câu các em hỏi nhau: - Chuyện gì xảy ra với ông cụ thế nhỉ?

- Chắc là cụ bị ốm.

- Hay cụ đánh mất cái gì?

Câu hỏi các bạn nhỏ hỏi cụ già:

- Thưa cụ, chúng cháu có thể giúp gì cụ không?

Hướng dẫn học sinh nhận xét về câu hỏi của các bạn nhỏ với cụ già là rấtphù hợp trong trường hợp đó vì: Nếu không biết nguyên nhân của ông cụ nhưthế nào mà hỏi cụ bị ốm hay cụ đánh mất cái gì sẽ làm tổn thương đến ông cụ

(chẳng may ông cụ rơi vào hoàn cảnh như vậy) Qua bài tập này củng cố khắc

sâu cho học sinh về cần đặt những câu hỏi lịch sự, tránh những câu hỏi làmphiền lòng người khác

Học sinh còn bỡ ngỡ trong việc phân tích các câu hỏi Tôi đã dướng dẫncác em phải đặt nó trong văn cảnh cụ thể

Hoạt động liên hệ: Cho học sinh đặt câu hỏi phù hợp khi gặp tình huốngnhư trong bài tập trên ở ngoài thực tế

3 Câu khiến

- Dạng bài tập cho mảng kiến thức này gồm:

- Chuyển các câu kể thành câu khiến

- Đặt câu khiến phù hợp với các tình huống

- Đặt câu khiến theo yêu cầu có hãy trước động từ

đi hoặc nào sau động từ

Xin hoặc mong trước chủ ngữ

- Nêu tình huống có thể dùng câu khiến nói trên

Ví dụ : Chuyển các câu kể thành câu khiến

- Nam đi học

- Thanh đi lao động

- Ngân chăm chỉ

- Giang phấn đấu học giỏi

Với bài tập này trước hết tôi cho học sinh phân tích mẫu: - Nam đi học!

- Nam phải đi học!

- Nam hãy đi học!

Ngày đăng: 11/01/2020, 15:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w