Hầu hết các đề kiểm tra, bài tập, đề thi cấp trường, cấpđịa phương chủ yếu còn xoay quanh những vấn đề trong một tác phẩm cụ thể ví dụ nhânvật, tình huống, bài thơ, đoạn thơ…Còn các kiểu
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH
BÁO CÁO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
LĨNH VỰC: NGỮ VĂN THPT
Đề tài:
KĨ NĂNG LÀM VĂN KIỂU ĐỀ LIÊN HỆ - SO SÁNH
TRONG ĐỀ THI THPT QUỐC GIA
NĂM HỌC 2018 - 2019
Trang 2LỜI CAM KẾT
- Sáng kiến kinh nghiệm này là công trình của cá nhân tôi, được hoàn thành trên cơ sở kinh nghiệm giảng dạy, tổng hợp, chọn lọc và sắp xếp từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo đã nêu trong đề tài Nếu có xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn bộ sản phẩm sáng kiến kinh nghiệm trên, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Sở giáo dục và đào tạo về tính trung thực của bản cam kết này.
Trang 3BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: Kĩ năng làm văn kiểu đề Liên hệ - so sánh trong đề thi THPT Quốc gia
1 MỞ ĐẦU
1.1 Bối cảnh của đề tài
Kì thi THPT Quốc gia là một sự kiện quan trọng của ngành Giáo dục Viêt Nam,được tổ chức bắt đầu vào năm 2015 Kỳ thi này xét cho thí sinh hai nguyện vọng: tốtnghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng Một trong những nhiệm vụcủa giáo viên dạy bộ môn Ngữ Văn ở cấp THPT là phải bồi dưỡng cho học sinh kiến thức
và hướng dẫn học sinh bộc lộ năng lực thể hiện kiến thức để giải quyết các vấn đề cụ thể
Để có thể làm tốt bài thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn với hình thức tự luận, học sinhkhông chỉ cần nắm vững kiến thức về các tác giả, tác phẩm trong chương trình sách giáokhoa mà còn phải có kĩ năng viết văn tốt
Theo cấu trúc đề thi của Bộ Giáo dục Đào tạo năm 2018, phần kiến thức của lớp 12
chiếm 70%, còn kiến thức lớp 10,11 chiếm 30%, vì thế ở phần Làm văn, kiểu đề Liên hệ
- So sánh trở thành kiểu đề quan trọng bởi nó có thể bao quát được nhiều phần kiến thức.
Đây cũng là kiểu đề xuất hiện trong đề thi minh họa và đề thi chính thức của Bộ giáo dụcĐào tạo năm 2018 Tuy nhiên đây là dạng đề chưa phổ biến nên vẫn còn nhiều mới mẻđối với học sinh THPT hiện nay Hầu hết các đề kiểm tra, bài tập, đề thi cấp trường, cấpđịa phương chủ yếu còn xoay quanh những vấn đề trong một tác phẩm cụ thể ví dụ nhânvật, tình huống, bài thơ, đoạn thơ…Còn các kiểu đề liên hệ so sánh tổng hợp giữa các tácphẩm còn ít được chú ý, nên gặp kiểu đề này, phần lớn học sinh đại trà đều cảm thấyvướng mắc
1.2 Lý do chọn đề tài
Thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở các trường THPT cho thấy một bộ phậnkhông nhỏ giáo viên đại trà vẫn chưa thực sự nắm rõ cấu trúc đề, kĩ năng làm kiểu đềnày Họ luôn cảm thấy khó khăn trong việc tìm kiếm các vấn đề liên hệ so sánh giữa cáctác phẩm, hoặc triển khai dàn ý của dạng đề này Nhận thấy điều đó, chúng tôi chọn đề tàisáng kiến “Kĩ năng làm văn kiểu đề liên hệ - so sánh trong đề thi THPT Quốc gia” với hi
Trang 4vọng đóng góp một số kinh nghiệm vào quá trình dạy học của giáo viên và học sinh cấpTHPT, giúp họ chuẩn bị tốt hơn những kĩ năng để đạt kết quả cao trong kì thi THPTQuốc gia môn Ngữ Văn những năm tới.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi nhận thấy đề tài sáng kiến kinh nghiệm “ Kĩ năng làm văn kiểu đề liên hệ - so sánh trong đề thi THPT Quốc gia” mang ý nghĩa cấpthiết
1.3 Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài này, chúng tôi muốn giúp giáo viên dạy bộ môn Ngữ Văn cấp THPTđặc biệt là bộ phận giáo viên đang bồi dưỡng luyện thi THPT Quốc gia có thể nâng cao kĩnăng làm văn kiểu đề liên hệ - so sánh giữa các tác phẩm; giúp học sinh THPT chuẩn bịcác bước rèn luyện nâng cao kĩ năng thực hành, vận dụng các kiến thức cụ thể của từngtác phẩm, tác giả văn học vào việc giải quyết các đề Văn kiểu bài liên hệ so sánh, chủđộng trước khác dạng đề phức tạp liên quan đến nhiều phần kiến thức của các lớp khácnhau
Đề tài cũng không chỉ có ý nghĩa đối với quá trình ôn luyện môn Văn chuẩn bị cho
kỳ thi THPT Quốc gia mà còn có ý nghĩa đối với giáo viên trong quá trình bồi dưỡng họcsinh giỏi Các bài văn học sinh giỏi rất đề cao tư duy độc lập và sâu sắc của học sinh, chonên phần liên hệ so sánh cũng như phản biện vấn đề được xem là thể hiện rõ nhất chođiều ấy
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Từ việc khảo sát các đề thi minh họa, thi chính thức của Bộ giáo dục đào tạo vàinăm trở lại đây, chúng tôi đề xuất phương pháp nhận diện, tìm hiểu cấu trúc dạng đề liên
hệ so sánh, cũng như đề xuất cấu trúc dàn ý của dạng đề này
Từ việc khảo sát một số tác phẩm văn học có trong chương trình, chúng tôi đề xuấtmột hệ thống vấn đề có thể xuất hiện trong kiểu đề liên hệ - so sánh; giải quyết thực hànhmột số đề liên hệ - so sánh tiêu biểu
Kiểu đề so sánh liên hệ có thể có nhiều dạng, đề cập đến phạm vi kiến thức khácnhau, có thể đối tượng so sánh là hai tác phẩm khác nhau của hai tác giả khác nhau; hai
Trang 5tác phẩm của cùng một tác giả; hai đặc điểm của hai giai đoạn văn học khác nhau; haiđoạn trích tác phẩm ở hai tác phẩm thuộc các thể loại thể tài khác nhau…Đối tượng liên
hệ so sánh cũng không chỉ dừng lại ở hai đối tượng mà có thể mở rộng ra nhiều đốitượng Tuy nhiên, với sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi chỉ dừng lại ở dạng đề liên
hệ so sánh hai tác phẩm của hai tác giả khác nhau Đây cũng là dạng đề hay gặp nhấttrong tất cả các đề thi giai đoạn gần đây
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng phối kết hợp các phương pháp nghiêncứu sau: Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, từ nhữngvấn đề lí thuyết đi vào vận dụng thực hành qua một số dạng đề cụ thể
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.Khái niệm liên hệ - so sánh
Liên hệ là từ sự vật, hiện tượng này nghĩ đến sự vật, hiện tượng khác dựa trên những mối quan hệ nhất định
So sánh là thao tác xem xét, đối chiếu các sự vật, hiện tượng để thấy được điểm
tương đồng và khác biệt giữa sự vật, hiện tượng ấy
Vậy liên hệ- so sánh có thể được hiểu là sự kết hợp của hai thao tác trên, vừa tìm
mối quan hệ liên quan giữa các sự vật, hiện tượng vừa xem xét để chỉ ra điểm tương đồng
và khác biệt của các sự vật, hiện tượng ấy
2.1.2 Liên hệ - so sánh văn học
So sánh văn học được hiểu là một thao tác của tư duy để xác định, đánh giá các
hiện tượng văn học trong mối quan hệ giữa chúng với nhau
Liên hệ văn học cũng là một dạng của so sánh văn học nhưng ở mức độ vừa phải,
nghĩa là từ hiện tượng văn học này nghĩ đến hiện tượng văn học khác, tìm ra được một sốđiểm khác biệt giữa chúng để thấy được sự độc đáo, riêng biệt của mỗi hiện tượng
Trang 6Kiểu đề liên hệ - so sánh văn học yêu cầu học sinh phải thực hiện thao tác liên hệ,
so sánh để chỉ ra điểm riêng biệt độc đáo của hiện tượng văn học này trong sự đối sánhvới hiện tượng văn học khác
2.1.3 Cơ sở của liên hệ - so sánh văn học
Triết học khẳng định rằng một trong những quy luật phát triển của sự vật, hiệntượng là luôn luôn tồn tại những mối liên hệ giữa chúng với nhau Không có một sự vậthiện tượng nào tồn tại một cách độc lập hoàn toàn mà không có bất cứ mối liên hệ vớimột sự vật, hiện tượng khác
Giữa các nền văn học, các giai đoạn văn học, các trào lưu văn học, các tác giả vănhọc, tác phẩm văn học đều luôn tồn tại những điểm chung, điểm gặp gỡ, tương đồng nào
đó Điều này xuất phát từ hai quy luật: quy luật ảnh hưởng và kế thừa giữa các hiện tượngvăn học với nhau; quy luật văn học phản ánh hiện thực, mọi hiện tượng văn học đều nảysinh dựa trên một cơ sở hiện thực nhất định nào đó Cho nên tìm hiểu điểm tương đồng,gần gũi, liên quan giữa các hiện tượng văn học với nhau là điều tất yếu
2.1.4 Ý nghĩa của liên hệ - so sánh văn học
Trước hết, liên hệ - so sánh văn học là thao tác giúp tìm ra những đặc điểm chungmang tính loại hình của một số hiện tượng văn học, làm sáng tỏ thêm những quy luật vănhọc và có cái nhìn sâu rộng, phong phú về đối tượng Khi đặt một hiện tượng văn họctrong tổng thể để so sánh, liên hệ thì có thể thấy được vai trò của hiện tượng văn học đótrong tiến trình phát triển của lịch sử văn học; thấy được nó không phải là một hiện tượngrời rạc, nhỏ lẻ mà là một bộ phận trong bức tranh tổng thể của nền văn học
Thứ hai, liên hệ - so sánh văn học giúp tìm ra những khám phá độc đáo, cá tínhsáng tạo, phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn thể hiện qua những tác phẩm của mình;thấy được những nét riêng biệt mang tính đặc thù của mỗi giai đoạn, mỗi nền văn học, từ
đó khẳng định tính đa dạng, phong phú của các loại hình, các hiện tượng văn học
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Khảo sát thực trạng đề thi THPT quốc gia năm 2018
2.2.1.1.Đề minh họa của Bộ giáo dục và đào tạo
Trang 7Cảm nhận của anh/chị về hình tượng người lái đò trong cảnh vượt thác (Người lái
đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ Văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016) Từ
đó liên hệ với nhân vật Huấn Cao trong cảnh cho chữ (Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân,
Ngữ Văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016), để nhận xét quan niệm của nhà
văn về vẻ đẹp con người
2.2.1.2 Đề chính thức của Bộ giáo dục và đào tạo
Phân tích sự đối lập giữa vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa và cảnh bạo lực ở gia
đình hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu) Từ đó anh/ chị hãy liên hệ với sự đối lập giữa cảnh phố huyện lúc đêm khuya và hình ảnh đoàn tàu (Hai đứa trẻ,
Thạch Lam) để nhận xét về cách nhìn hiện thực của hai tác giả
2.2.1.3 Đề thi thử của một số tỉnh thành trong cả nước
- Đề thi thử THPT Quốc gia của Tỉnh Hà Tĩnh
Cảm nhận của anh/chị về cách giải quyết bi kịch của nhân vật hồn Trương Ba:kiên quyết từ chối nhập vào xác cu Tị và lựa chọn cái chết để trả lại thân xác cho anh
hàng thịt (Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, Ngữ Văn 12, tập hai,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2016) Từ đó, liên hệ với cách giải quyết bi kịch của nhân vậtChí Phèo: đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình (Chí Phèo của Nam Cao, Ngữ Văn
11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016) để thấy được quan niệm của tác giả LưuQuang Vũ và Nam Cao về giá trị sống đích thực cuả con người
- Đề thi thử THPT Quốc gia của Tỉnh Nam Định
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của
Nguyễn Minh Châu để thấy được cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của những người lao động
vùng biển Từ đó, liên hệ với số phận của những người dân phố huyện trong Hai đứa trẻ
của Thạch Lam và nhận xét về cách nhìn hiện thực của mỗi nhà văn
- Đề thi thử THPT Quốc gia của Thành phố Hồ Chí Minh
Cảm nhận đoạn thơ sau:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Trang 8Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi.
(Trích Tây Tiến- Quang Dũng, Ngữ Văn 12, Tập 1)
Liên hệ với đoạn trích sau của Hàn Mặc Tử, từ đó rút ra nhận xét về nỗi nhớ thiênnhiên và con người của hai nhà thơ:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
(Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử, Ngữ Văn 11, Tập một)
2.2.2 Nhận xét
Như vậy, qua khảo sát đề thi thử, đề minh họa, đề thi chính thức kì thi THPT Quốcgia 2018, có thể khẳng định: Dạng đề liên hệ - so sánh là dạng đề cơ bản xuất hiện với tầnsuất rất lớn và sẽ còn tiếp tục xuất hiện trong các đề thi THPT Quốc gia ở những năm tiếptheo Cho nên việc rèn luyện cho học sinh THPT kĩ năng làm dạng đề này là điều hết sứccần thiết
Đây là bài văn chiếm số điểm lớn trong bài thi THPT Quốc gia Điểm số dành chocâu này chiếm 5/10 điểm Với Phần Đọc hiểu và viết đoạn văn nghị luận xã hội, mứcchênh lệch điểm của học sinh thường không nhiều, vì các câu hỏi đọc hiểu thường khá đơngiản và nhận thức của học sinh về các vấn đề xã hội khá đồng đều Ở câu hỏi nghị luận vănhọc, mức chênh lệch điểm thường nhiều hơn do các vấn đề cần huy động, tổng hợp phứctạp hơn, cũng như sự phân biệt kiến thức, kĩ năng, năng lực của học sinh rõ hơn Làm tốt
Trang 9câu này có vai trò quan trọng, quyết định đến kết quả cuối cùng của học sinh trong mỗi kìthi.
Đây cũng là dạng đề - kiểu bài viết khó, đòi hỏi học sinh phải huy động nhiều phầnkiến thức khác nhau, biết vận dụng thao tác lập luận so sánh, phân tích, tổng hợp…mới cóthể thực hiện tốt yêu cầu của đề ra Nếu không được chuẩn bị kĩ càng về mặt kĩ năng, thìhọc sinh đa phần sẽ cảm thấy khó khăn, vướng mắc, e ngại khi gặp kiểu đề này
2.3 Nội dung đề tài
2.3.1 Đề xuất cấu trúc dàn ý bài văn Liên hệ - so sánh
2.3.1.1 Phân tích cấu trúc đề liên hệ - so sánh
- Phân tích/ cảm nhận A -> Liên hệ B -> Nhận xét về AB
- Trong đó A, B thường là các khía cạnh sau
- A, B là hai đoạn thơ
- A, B là hai chi tiết, tình tiết
- A, B là hai nhân vật
- A, B là hai đoạn văn
- AB là đặc điểm về nội dung hoặc hình thức nghệ thuật của hai văn bản, có những nét tương đồng hoặc khác biệt được đề yêu cầu liên hệ so sánh
- A thuộc chương trình lớp 12 (70% nội dung kiến thức của đề)
- B thuộc chương trình lớp 10,11 ( 30% nội dung kiến thức của đề)
2.3.1.2 Cấu trúc dàn ý bài văn kiểu đề Liên hệ - so sánh
Về mặt kĩ năng làm văn, khi triển khai dàn ý của của một bài văn nghị luận văn học,điều quan trọng nhất vẫn là đảm bảo cấu trúc Ngoài cấu trúc chung, thì mỗi dạng đề vănlại có những phần kiến thức đặc thù gắn với nó Với dạng đề Liên hệ - so sánh, dù trong đềkhông xuất hiện từ so sánh, nhưng thao tác liên hệ để tìm ra những điểm giống và khácgiữa hai đối tượng là phần không thể thiếu Mặt khác, phần liên hệ dù không chiếm sốđiểm cao trong đáp án, nhưng đảm bảo cấu trúc đầy đủ các phần lại được tính là phần kĩnăng chiếm tới 1,5/5 điểm Dạng đề này cũng liên quan đến nội dung kiến thức của cả lớp
Trang 1010,11 và 12, trong đó kiến thức lớp 12 là trọng tâm Với tất cả những yêu cầu trên, chúngtôi đề xuất một phương án cấu trúc dàn ý như sau:
2.4 Các phương diện liên hệ - so sánh thường gặp
2.4.1 Liên hệ - so sánh hai đoạn thơ
2.4.1.1 Các ý cần triển khai
Thông thường, ở dạng đề liên hệ - so sánh hai đoạn thơ, đề bài thường yêu cầu liên
hệ một vài khía cạnh của hai đoạn thơ đó liên quan đến đặc trưng nội dung thơ trữ tìnhnhư: cảm xúc trong thơ, đối tượng miêu tả…Tuy nhiên, không có nội dung nào khôngđược chuyển tải dưới một hình thức nghệ thuật nhất định, nên khi liên hệ so sánh, phương
án tốt nhất, đầy đủ nhất vẫn là tìm được các điểm giống nhau và khác nhau ở cả haiphương diện nội dung và nghệ thuật của hai đoạn thơ Sau đây chúng tôi đề xuất cấu trúcdàn ý của phần liên hệ so sánh hai đoạn thơ
* Điểm giống nhau
Trang 11- Giống nhau trong đối tượng miêu tả ( đề tài, phạm vi hiện thực cuộc sống đượcmiêu tả, trả lời cho câu hỏi: cả hai đoạn thơ viết về điều gì, miêu tả điều gì? )
- Giống nhau trong sắc thái đối tượng miêu tả ( đặc điểm, trạng thái, tính chất…)
- Giống nhau trong cảm xúc trữ tình ( cùng viết về trạng thái tâm lí, dạng tình cảm,nét tâm trạng…)
- Giống nhau trong hình thức bút pháp, ngôn ngữ, nghệ thuật…( nếu có)
* Điểm khác nhau
- Đối tượng miêu tả giống nhau nhưng sắc thái, đặc điểm, tính chất đối tượng khácnhau
- Sắc thái đối tượng miêu tả giống nhau nhưng biểu hiện, mức độ…khác nhau
- Cảm xúc trữ tình giống nhau nhưng biểu hiện, mức độ khác nhau; ngoài ra còn cóthể có những nét tâm trạng cảm xúc hoàn toàn riêng biệt của từng đoạn thơ
- Khác nhau trong hình thức nghệ thuật, bút pháp, ngôn ngữ, giọng điệu…
*Lý giải sự khác nhau:
- Hoàn cảnh ra đời khác nhau
- Phong cách nghệ thuật khác nhau
2.4.1.2 Ví dụ minh họa
Đề ra: Cảm nhận đoạn thơ sau:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Trang 12(Trích Tây Tiến - Quang Dũng)
Liên hệ với đoạn thơ sau đây :
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu
( Trích Tràng giang - Huy Cận)
Từ đó anh /chị hãy nhận xét về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và cảm xúc trữ tìnhtrong hai đoạn thơ
* Điểm giống nhau
- Đối tượng miêu tả: Cả hai đoạn thơ đều khắc họa tinh tế những bức tranh thiên
nhiên đẹp, trữ tình với những đường nét , sắc màu, hình ảnh gợi cảm và ấn tượng Ở Tây
Tiến là thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ dữ dội, vừa mĩ lệ thơ mộng Ở Tràng giang là
thiên nhiên sông nước đồng bằng Bắc Bộ nên thơ
- Sắc thái đối tượng:
+ Thiên nhiên trong cả hai đoạn thơ đều được mở rộng ra ở các chiều kích không
gian rộng lớn, hùng vĩ Ở Tây Tiến là chiều cao và chiều sâu thăm thẳm của đèo, dốc cồn mây, chiều dài của “mưa xa khơi” Ở Tràng giang là sông dài, trời rộng, nắng xuống trời
lên, sâu chót vót…Và chiều kích nào cũng như được đẩy lên mức độ tuyệt đỉnh
+ Cả hai bức tranh thiên nhiên đều toát lên vẻ hiu hắt, tĩnh lặng, đượm buồn
- Cảm xúc trữ tình: Cả hai đoạn thơ đều gợi ra nỗi trống vắng cô đơn của con ngườikhi đối diện với tạo vật thiên nhiên lớn lao, kì vĩ; bên cạnh đó còn có một nỗi nhớ khắckhoải của nhân vật trữ tình lan tỏa vào trong không gian cảnh vật
Trang 13- Nghệ thuật: Cả hai đoạn thơ đều viết theo thể thất ngôn, ngôn ngữ giàu tính tạohình, gợi cảm, sử dụng nhiều từ láy; sử dụng biện pháp đăng đối, tương phản đối lập;giọng điệu thâm trầm, sâu lắng…
* Điểm khác nhau:
- Đối tượng miêu tả: Thiên nhiên trong hai đoạn thơ đều là những bức tranh đẹp, kì
vĩ, nên thơ, nhưng ở Tây Tiến là thiên nhiên Tây Bắc điệp trùng núi non toát lên sự xa xôi,
heo hút, đầy bí ẩn của đại ngàn, của chốn lam sơn chướng khí, có thể khơi dậy những cảm
giác vừa sợ, vừa thích thú, lạ lẫm cho con người Còn thiên nhiên trong Tràng giang lấy
nguyên mẫu là sông Hồng và thiên nhiên đồng bằng, dù có vẻ hoang sơ, tĩnh lặng nhưngkhông bí ẩn, bất ngờ mà rất quen thuộc, gần gũi với con người
- Sắc thái đối tượng: Cả hai bức tranh thiên nhiên đều được miêu tả ở các chiều kích
rộng lớn, nhưng bức tranh ở Tây Tiến tô đậm khía cạnh điệp trùng núi non hùng vĩ với
chiều cao đèo dốc chạm đỉnh trời và vực sâu thăm thẳm Nghĩa là nó còn gợi ra cảm giác
dữ dội, khắc nghiệt, hiểm trở của lộ trình Còn thiên nhiên trong Tràng giang gợi sự vô
cùng vô tận của không gian, vũ trụ, các sự vật rơi vào trạng thái rời rạc, phân li, gợi nỗi hiuhắt, quạnh quẽ, cô liêu của cuộc sống
- Cảm xúc trữ tình:
+ Hai đoạn thơ đều gợi cảm giác cô đơn của con người trước cảnh vật lớn lao hùng
vĩ, nhưng ở Tràng giang, cái tôi trữ tình hiện ra như một cá thể bơ vơ, lạc loài trong cuộc
hành trình đi tìm kiếm sự đồng điệu, giao cảm nhưng vô vọng Còn nỗi cô đơn, trống trảicủa người lính Tây Tiến chỉ là một trạng thái không tránh khỏi khi họ đối mặt với thiênnhiên hùng vĩ dữ dội mà thôi Về cơ bản, Quang Dũng vẫn chỉ tập trung làm nổi bật niềm
tự hào, cảm phục bản lĩnh cứng cỏi, can trường của người lính Tây Tiến trên đường hànhquân
+ Cả hai đoạn thơ đều toát lên nỗi buồn nhưng nỗi buồn trong Tràng giang là nỗi
sầu vạn kỉ, sầu nhân thế Đó là một nỗi buồn ảo não đặc trưng của thơ Huy Cận Còn nỗi