TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN ĐOÀN THỊ HOA XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH THPT TRONG LÀM VĂN THUYẾT MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
ĐOÀN THỊ HOA
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH THPT TRONG LÀM VĂN THUYẾT MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học
HÀ NỘI, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
ĐOÀN THỊ HOA
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI
CHO HỌC SINH THPT TRONG LÀM VĂN THUYẾT MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học
Người hướng dẫn khoa học: ThS DƯƠNG THỊ MỸ HẰNG
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô
giáo Dương Thị Mỹ Hằng, người đã hướng dẫn tận tình và luôn động viên
khích lệ em trong suốt quá trình nghiên cứu để em hoàn thành khóa luận tốtnghiệp này Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Phươngpháp dạy học Ngữ văn, khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đãtận tình truyền đạt những tri thức quý báu giúp đỡ em trong quá trình học tập
và nghiên cứu
Khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mongnhận được sự đóng góp ý kiến và tiếp tục xây dựng đề tài của quý thầy cô vàcác bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Đoàn Thị Hoa
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi và có
sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Dương Thị Mỹ Hằng.
Khóa luận với đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng
nói cho học sinh THPT trong Làm văn thuyết minh Khóa luận chưa từng
công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác Nếu sai tôi hoàn toànchịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Đoàn Thị Hoa
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Bố cục khóa luận 9
PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH THPT TRONG LÀM VĂN THUYẾT MINH 11
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 11
1.1.1 Một số nội dung cơ bản của lí thuyết giao tiếp đối với việc phát triển năng lực nói cho học sinh THPT 11
1.1.2 Xác định những kĩ năng bộ phận của KNN cần phát triển cho học sinh THPT 15
1.1.3 Khái niệm về bài tập và vai trò của hệ thống bài tập phát triển KNN cho học sinh 17
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 23
1.2.1 Về học phần Làm văn thuyết minh dạy trong các trường THPT 23
1.2.2 Khảo sát thực trạng dạy học làm văn thuyết minh rèn luyện KNN cho học sinh ở trường THPT Tây Tiền Hải 24
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH TRONG LÀM VĂN THUYẾT MINH 30
Trang 72.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện KNN cho học sinh trong
làm văn thuyết minh 30
2.1.1 Hệ thống bài tập Làm văn thuyết minh phải góp phần phát triển năng lực nói cho học sinh THPT 30
2.1.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo được tính hệ thống, tính chính xác, khoa học trong việc phát triển khả năng nói cho HS 31
2.1.3 Hệ thống bài tập rèn luyện KNN vừa phải phù hợp với trình độ HS vừa đảm bảo tính đa dạng để tạo nên tính hấp dẫn 31
2.1.4 Hệ thống bài tập phát triển khả năng nói góp phần thể hiện phương pháp dạy học tích cực 32
2.2 Hệ thống bài thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh trong làm văn thuyết minh 33
2.2.1 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng định hướng 33
2.2.2 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng mở đầu 35
2.2.3 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng triển khai 40
2.2.4 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng kết thúc 44
2.3 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong thuyết minh 47
2.4 Phương hướng vận dụng hệ thống bài tập phát triển KNN 51
2.4.1 Mục đích và yêu cầu vận dụng 51
2.4.2 Nội dung vận dụng 51
2.4.3 Cách thức vận dụng 52
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 53
3.1 Mục đích thực nghiệm 53
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 53
3.6 Tiến trình thực nghiệm 55
3.7 Kết quả thực nghiệm 56
3.8 Kết luận chung về thực nghiệm 57
Trang 8PHẦN KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9cả các cấp học, bậc học Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo nêu rõ “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướnghiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩnăng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máymóc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở đểngười học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực” Do
đó, trong quá trình giảng dạy, yêu cầu khách quan, chính xác trong nội dungdạy học là vô cùng cần thiết Để thực hiện điều đó, việc xây dựng các kĩ năngđối với học sinh đóng một vai trò vô cùng quan trọng Chính điều này sẽ giúphọc sinh nắm bắt nội dung một cách đúng đắn và khoa học nhất
Cùng với yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện của ngành giáo dục, bộmôn Ngữ văn đã có những chuyển biến căn bản Trong đó phân môn Làm văn
có nhiệm vụ quan trọng trong việc hình thành các kĩ năng và năng lực cho họcsinh Có thể nói, kĩ năng làm văn là thước đo năng lực ngôn ngữ, vốn hiểubiết, vốn văn hóa của học sinh Với sứ mệnh đó, Làm văn cần phải đượcquan tâm về nội dung và phương pháp dạy học ở mức độ cao nhất để nângcao chất lượng của môn Ngữ văn nói chung
Làm văn có mối liên hệ chặt chẽ với Văn và Tiếng Việt, vì vậy giờ họclàm văn được xem là giờ học thực hành tổng hợp các năng lực và kiến thứcVăn học, Tiếng Việt cho học sinh “Học sinh học Văn học và Tiếng Việt cuốicùng phải thể hiện năng lực cảm thụ ngôn ngữ và văn chương, mọi thông báo,thông tin bằng Tiếng Việt trên các lĩnh vực khác nhau, nhất là các lĩnh vực về
Trang 10con người và xã hội, khoa học và văn hóa trên đất nước mình và trong thời đạimình” [8, tr.86].
Trong nhà trường phổ thông, Làm văn là một phân môn của Tiếng việt(đơn vị bậc tiểu học) và Ngữ văn (đơn vị bậc trung học phổ thông) Phân mônnày có nhiệm vụ dạy cho học sinh biết phân biệt các loại văn bản Đây lànhiệm vụ gắn liền với mục đích thực hành, phát triển năng lực giao tiếp chohọc sinh Theo đặc thù, Làm văn sẽ rèn luyện kĩ năng nói và viết các kiểu vănbản thường sử dụng trong giao tiếp: văn bản tự sự,văn bản biểu cảm, văn bảnmiêu tả, văn bản nghị luận, văn bản thuyết minh, văn bản hành chính công vụ.Quá trình hình thành, rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng viết các kiểu văn bảnđược tổ chức bằng nhiều công cụ khác nhau, trong đó phải kể đến công cụhữu hiệu là hệ thống bài tập Hệ thống bài tập là vô cùng cần thiết nhằm pháthuy năng lực học sinh, qua đó hình thành kĩ năng nói cho học sinh trong phânmôn Làm văn nói riêng và môn Ngữ văn nói chung
Hình thành kĩ năng nói cho học sinh trong Làm văn thuyết thuyết minh
là một quan điểm mới trong chương trình Ngữ văn, song không mới tronggiao tiếp Như chúng ta đã biết, giao tiếp là nhu cầu tất yếu của con ngườitrong đời sống cộng đồng Giao tiếp giúp con người chia sẽ nhiều thông tin,hiểu người hiểu mình, kết giao nhiều mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè đồngthời cũng hạn chế mâu thuẫn xã hội giúp con người cảm thông chia sẻ khókhăn trong cuộc sống Để giao tiếp đạt hiệu quả cao thì người giao tiếp cần cónhững kĩ năng cơ bản như: kĩ năng nói, kĩ năng nghe, kĩ năng quan sát…trong đó kĩ năng nói đóng một vai trò vô cùng quan trọng Văn bản thuyếtminh có vai trò và tác dụng quan trọng trong đời sống xã hộị đặc biệt là tronggiao tiếp Đó là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằmcung cấp tri thức, thông tin về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân… của các sựvật và hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội bằng cách trình bày, giới thiệu
Trang 11và giải thích vấn đề Trong nhà trường văn bản thuyết minh có vai trò giúphọc sinh nắm bắt được các sự vật, hiện tượng, vấn đề trong đời sống qua đórèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản Kĩ năng tạo lập văn bản thuyết minh gồm
cả hai kĩ năng nói và viết Việc rèn luyện kĩ năng viết và kĩ năng nói là rấtquan trọng trong dạy học về văn bản thuyết minh
Trong giờ dạy học Làm văn thuyết minh của giáo viên ở trường THPTcũng đã đã chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng nói và kĩ năng viết cho HS.Tuy nhiên, hệ thống bài tập chưa phong phú, đa dạng vẫn chủ yếu là bài tậprèn luyện kĩ năng viết, mà bài tập rèn luyện kĩ năng nói chưa đạt hiệu quả cao
Về phía học sinh, qua khảo sát cho thấy KNN của học sinh rất kém.Điều này thể hiện ở nhiều phương diện như: khi học sinh trả lời câu hỏi củagiáo viên không có tính lập luận, bài tập chưa biết thuyết trình Mặt khác, khigiao tiếp với mọi người trong gia đình, với thầy cô và bạn bè chưa linh hoạt,còn lúng túng thiếu tự tin Nguyên nhân chủ yếu được xác định là do bản thânhọc sinh chưa có ý thức rèn luyện, phát triển KNN; gia đình, nhà trường cũngchưa chú trọng tới vấn đề này; bên cạnh đó là sự chi phối của đặc điểm tâm lí,tính cách của từng học sinh không giống nhau; văn hóa từng vùng miền khácnhau
Là một sinh viên sư phạm Ngữ văn, việc nghiên cứu sự phát triển KNNcủa học sinh thông qua hệ thống bài tập để giúp phát huy năng lực học sinh làđiều vô cùng cần thiết Đồng thời, trước yêu cầu của thời đại, nhu cầu học tập
và nghiên cứu trở thành điều tất yếu với mỗi sinh viên Xuất phát từ nhữngvấn đề lí luận và thực tiễn nói trên, xuất phát từ nhu cầu cần tìm tòi đổi mới
phương pháp dạy học làm văn nên tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “Xây
dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh THPT trong Làm văn thuyết minh”.
Trang 122 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các tài liệu nghiên cứu về kĩ năng nói
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu của các nhà lí luận dạy học vềvấn đề KNN đã được giới thiệu rộng rãi trên các sách nghiên cứu, tài liệu bồidưỡng giáo viên, tạp chí chuyên ngành
Cuốn “Phương pháp dạy học Văn” tập 2 (Phan Trọng Luận) và
“phương pháp dạy học Tiếng Việt ” (Lê A) có một phần dành riêng cho việc
hướng dẫn phương pháp dạy học làm văn và xem quan điểm giao tiếp là cơ sở
lí thuyết quan trọng với hoạt động dạy học phân môn này Tác giả giáo trìnhcho rằng cần tạo được nhu cầu giao tiếp cho học sinh và tạo được môi trườnggiao tiếp tốt bởi học sinh luôn muốn được nói, được trình bày, được tranhluận những điều mà mình biết, mình nghĩ Giáo viên phải biết khơi gợi nhucầu đó và tạo một môi trường giao tiếp tự nhiên để các em có điều kiện bộc lộmình Những gợi ý trong hai cuốn giáo trình chính là những hướng dẫn quantrọng về mặt phương pháp thực hành đối với cả sinh viên và những giáo viêntrực tiếp đứng lớp Tuy nhiên cả hai cuốn giáo trình mới chỉ dừng lại ở nhữnggợi ý về mặt phương pháp chứ chưa có sự triển khai cụ thể phương pháp rènluyện KNN cho học sinh
Nguyễn Quang Ninh đã bàn đến việc rèn luyện KNN theo hướng giao
tiếp trong công trình “Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học
theo hướng giao tiếp” Tác giả khẳng định “Bất cứ một ngôn bản nào cũng
phục vụ cho việc giao tiếp Bài tập làm văn của học sinh được được giả địnhphục vụ cho việc giao tiếp cũng phải tính toán đến nhân tố giao tiếp, đốitượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp ” [10, tr.32] Tác giả đã đề cập cụ thểdạy làm văn nói và viết theo quan điểm giao tiếp
Hay trong “Rèn luyện kĩ năng nói trong việc sử dụng tiếng Việt”
Nguyễn Quanh Ninh cũng đã khẳng định “Việc xem hoạt động ngôn ngữ
Trang 13trong giao tiếp là mục đích của việc dạy tiếng Việt đã làm cho cách tổ chứcgiảng dạy phải xây dựng được những tình huống thực” [10, tr.55] Ở đây quanđiểm giao tiếp và hướng tới mục đích giao tiếp đã được nhấn mạnh.
Bài viết “Về việc dạy học Làm văn theo định hướng giao tiếp” của tác
giả Lê Thị Minh Nguyệt đã hướng đến mục đích cuối cùng nâng cao năng lực
sử dụng tiếng mẹ đẻ, giúp học sinh nâng cao kĩ năng sử dụng ngôn ngữ thànhnăng lực ngôn ngữ Song quan điểm này chỉ bước đầu khơi gợi việc vận dụngquan điểm giao tiếp vào từng hoạt động kĩ năng Làm văn
Trong đề tài Khoa học và Công nghệ “Một số biện pháp nâng cao hiệu
quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học ở môn tiếng Việt” của Viện Khoa
học Giáo dục Việt Nam (mã số V2007-06) tác giả Trần Thị Hiền Lương đãxác định được các biện pháp dạy học rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh, xuấtphát từ đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học, từ lí luận dạy học hiện đại theohướng tăng cường thực hành, luyện tập Trong đề tài này, tác giả đã đưa racác biện pháp rèn luyện kĩ năng nói như rèn kĩ năng phát âm, rèn kĩ năng nóiđộc thoại, hội thoại cho học sinh mà chủ yếu là năng lực nói và viết
Bàn về rèn luyện KNN, tài liệu “Kỉ yếu hội hội nghị khoa học 2008
nâng cao năng lực giảng dạy” nghiên cứu khoa học trong trường Đại học và
trường THPT 2008 của trường Đại học Cần Thơ có bài viết của Đặng Kim
Thanh, trường Đại học Sài Gòn có “Một số ý kiến về kĩ năng nói của sinh viên
Ngữ văn” Theo tác giả việc xác định và rèn luyện kĩ năng nói là một vấn đề
thiết thực, yếu tố đầu tiên đối với sinh viên sư phạm Ngữ văn và sinh viênNgữ văn Tuy nhiên, khi tác giả đề xuất biện pháp thì chưa khả thi, chỉ mangtính tiền đề và cần phải được tiếp tục “nghiên cứu, hoàn thiện” [9, tr.136]trong dạy học Ngữ văn của nhà trường
Ngoài ra, trong giáo trình “Phương pháp dạy học Văn”, tập 2, năm
2007, Phan Trọng Luận (chủ biên) đã đề xuất một số phương pháp dạy học
Trang 14cho từng phân môn cụ thể của môn Văn học Tác giả đã nêu lên thực trạngvấn đề và nhận thức được tầm quan trọng giờ làm văn nói Đó sẽ là cơ hội tốt
để rèn luyện học sinh bằng lời nói nhưng khi tác giả đưa ra cách tổ chức dạyhọc thì giáo viên cho “cả lớp chuẩn bị một chủ đề nhưng nhưng giáo viên chỉđịnh một vài học sinh chuẩn bị kĩ và trình bày trước lớp” [11, tr.185] Tuynhiên, những vấn đề này chưa thực hiện được
Thêm vào đó, “Giáo trình phương pháp dạy và học kĩ năng làm văn”,
2009 của Mai Thị Kiều Phượng gồm có ba phần: Phương pháp dạy và học kĩnăng lựa chọn- tư duy và kĩ năng lựa chọn viết trong làm văn của phần 2,3.Đáng chú ý ở phần 1, tác giả nêu lên những lí thuyết về giao tiếp, tác giả chorằng nói là một phương tiện, một công cụ, một phương pháp rất hiệu quả đểphục vụ cho việc dạy và học Làm văn Tuy nhiên, tác giả trình bày một vấn
đề chỉ mang tính chất khái quát
Vì vậy, điều đó cần phải phân tích cụ thể, rõ ràng hơn và đưa nhữngbiện pháp để giúp giáo viên và học sinh làm sao có thể biết cách xác đinh mụcđích và chủ đề mà mình nói, từ đó có thể lựa chọn ngôn ngữ lời nói một cáchlinh hoạt để đảm bảo quá trình luân phiên lượt lời trong giao tiếp Đây lànhững vấn đề mà chúng tôi sẽ hướng đến trong bài nghiên cứu này
Giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt”, 2006 của Đinh Trọng Lạc
(chủ biên) đã có những đóng góp thiết thực về nghiên cứu các phong cáchchức năng trong lời nói Tiếng Việt Phong cách hành chính, phong cách khoahọc, phong cách báo chí, phong cách chính luận, phong cách khẩu ngữ, phongcách chức năng (lời nói nghệ thuật) Đây là một tài liệu rất quan trọng cho cảgiáo viên và học sinh Vì tìm hiểu các phong cách học tiếng Việt để có cở sở
để lựa chọn ngôn ngữ lời nói và vận dụng cho phù hợp với hoàn cảnh và mục
đích giao tiếp Bên cạnh đó, tài liệu “Một số kinh nghiệm dạy giảng Văn ở cấp
2 phổ thông”, 1979, nhà xuất bản Giáo dục, tài liệu ghi rõ các giáo viên rất
Trang 15chú trọng tìm ra những biện pháp để rèn luyện các kĩ năng cho học sinh tronggiờ giảng Văn Bên cạnh rèn luyện tư duy thì việc rèn luyện cách diễn đạtđược các giáo viên phân tích khá kĩ, rèn luyện kĩ năng diễn đạt được các giáoviên phân tích khá kĩ, rèn luyện kĩ năng diễn đạt chủ yếu thông qua luyện đọc
và luyện phát biểu, bình giảng Giáo viên luyện đọc bằng cách “Uốn nắn họcsinh có tư thế thật nghiêm chỉnh, đàng hoàng đĩnh đạc Nhất thiết phải đọc to,
rõ ràng” Song tài liệu này mới chỉ đề cập đến phạm vi là phần giảng Văn chứchưa đề cập đến phần tiếng Việt và phần Làm văn
2.2 Các tài liệu nghiên cứu về dạy học văn bản thuyết minh
Để xây dựng được hệ thống bài tập rèn luyện KNN cho học sinh trongvăn bản thuyết minh, chúng tôi khảo sát và tìm hiểu qua các công trình nghiêncứu về văn bản thuyết minh
Trong giáo trình “Làm văn” (SGK chương trình đào tạo giáo viên hệcao đăng Sư phạm, NXB Giáo Dục, 2001) của nhóm tác giả Lê A (chủ biên),Nguyễn Trí đã giới thiệu khái quát về văn bản thuyết minh, về hệ thống kiếnthức, kĩ năng, cơ bản của kiểu bài thuyết minh Các tác giả còn dành một sốtrang để giới thiệu những kiểu bài thuyết minh thường gặp trong cuộc sống.Tuy nhiên, công trình này chưa đề cập đến việc xây dựng hệ thống bài tập rènluyện kĩ năng nói cho học sinh trong văn bản thuyết minh.Và trong giáo trình
“Làm văn” (NXB Giáo Dục, HN, 2008) PGS.TS Đỗ Ngọc Thống (chủ biên)cùng các tác giả đã nêu lên khái niệm văn bản thuyết minh, các đặc điểm củavăn bản thuyết minh và còn đề cập đến phương pháp thuyết minh
Trong làm văn Thuyết minh chủ yếu vẫn là rèn luyện cho HS kĩ năngviết đoạn văn thuyết minh mà chưa chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng nóicho HS trong văn bản thuyết minh Sách giáo khoa Ngữ văn 10 dạy về vănbản thuyết minh nhưng hệ thống bài tập chỉ chung chung và chưa có bài tậprèn kĩ năng nói
Trang 16Vì vậy, chúng tôi thấy cần thiết nghiên cứu về đề tài: Xây dựng hệ
thống bài tập rèn luyện kĩ nói cho học sinh THPT trong Làm văn thuyết minh.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích đề xuất hệ thống bài tập rèn luyệnKNN cho HS trong Làm văn thuyết minh nhằm nâng cao hiệu quả trong dạyhọc Làm văn thuyết minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu với những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu để kế thừa và giải quyết đề tài
- Xác định cở sở lí luận và cơ sở thực tiễn
- Xây dựng hệ thống bài tập văn thuyết minh nhằm phát triển kĩ năngnói cho học sinh
- Tổ chức thực nghiệm và rút ra kết luận khoa học
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về hệ thống bài tập rèn luyện KNN Trong dạy học vănthuyết minh Tiến hành nghiên cứu những nội dung dạy học về văn bản thuyếtminh trong SGK Ngữ văn 10
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xây dựng hệ thống bài tập trong vănbản thuyết minh nhằm rèn luyện KNN cho học sinh THPT
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề mà luận văn đặt ra, chúng tôi kết hợp vận dụngtổng hợp các phương pháp thực nghiệm sau:
Trang 175.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn đề và pháthiện, rút ra những kết luận cần thiết về cở sở lí luận thông qua tìm hiểu các tưliệu, tạp chí, giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc lĩnh vực Ngôn ngữ học, tâm
lí học, lí luận và phương pháp dạy học Văn… có liên quan trực tiếp đến phạm
vi đề tài
5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp này được sử dụng để thu thập những tư liệu thực tế vàtình hình dạy học Làm văn đang diễn ra ở trường THPT
5.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp này được dùng để xem lại những thành quả của hoạt độngthực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoahọc
6 Bố cục khóa luận
Gồm có 3 phần như sau:
Phần mở đầu: Phần này trình bày những vấn đề khái quát về đề tài
nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, nêu rõ lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề,phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung: Phần nội dung của khóa luận được chúng tôi triển khai
trong 3 chương cụ thể như sau:
Trang 18Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống bài tập rènluyện kĩ năng nói cho học sinh THPT trong Làm văn thuyết minh
Chương 2: Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh THPTtrong Làm văn thuyết minh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận: Tóm tắt lại vấn đề và nêu hướng áp dụng để rèn luyện
kĩ năng nói cho học sinh THPT
Trang 19PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH THPT
TRONG LÀM VĂN THUYẾT MINH
- Từ khái niệm giao tiếp đến khái niệm kĩ năng nói
Lí thuyết giao tiếp chỉ ra rằng giao tiếp là một hoạt động cơ bản củacon người Đó là hoạt động sử dụng ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữnhằm trao đổi thông tin giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội, qua đótruyền đạt những tri thức, tư tưởng, tình cảm, thái độ đối với nhau và đối vớiđiều được truyền đạt Khái niệm giao tiếp bắt nguồn từ từ “communis” trongtiếng Latinh, có nghĩa là “chung”, “được chia sẻ” Và giao tiếp được hiểu là
“quá trình tạo ra sự hiểu biết chung qua hoạt động truyền đạt, chia sẽ thôngtin giữa người này với người khác” [3, tr.2]
Phương tiện quan trọng nhất, phổ biến nhất để thực hiện hoạt động giaotiếp là ngôn ngữ Ngôn ngữ tồn tại ở hai dạng nói và viết Vì vậy, nếu phântách hoạt động giao tiếp dựa trên tính chất của phương tiện giao tiếp chúng ta
có giao tiếp bằng ngôn ngữ nói (giao tiếp bằng lời nói) và giao tiếp bằng ngônngữ viết (giao tiếp bằng văn bản) Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận,chúng tôi quan tâm đến hoạt động giao tiếp bằng lời, mà cụ thể hơn là vấn đềKNN
Trang 20Có nhiều công trình nghiên cứu về kĩ năng và đưa ra nhiều khái niệmkhác nhau về nó Theo Lê A- Nguyễn Trí, quan niệm về kĩ năng được hiểunhư một khả năng của con người có thể hoàn thành các nhiệm vụ trong nhữngđiều kiện mới, dựa trên những tri thức và kinh nghiệm đã được tích lũy vàmột loạt các kĩ xảo trong mối quan hệ mật thiết với nhau Trong quá trình lĩnhhội và sáng tạo văn bản, kĩ năng và kĩ xảo luôn có mối quan hệ biện chứngvới nhau.
Như vậy, kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận đượctrong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Với tinh đó mục tiêu của chương trìnhNgữ văn đổi mới tiếp tục hình thành và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng
cơ bản nghe, nói, đọc, viết Qua đó cho thấy, kĩ năng nói đóng vai trò quantrọng trong dạy học Ngữ văn
KNN là một trong bốn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc ,viết),xoay quanh khái niệm KNN là hành động tạo ra các thông điệp với sự đadạng về giọng điệu, chuẩn mực về phát âm, sử dụng phù hợp các tín hiệukhông lời để thực hiện giao tiếp hiệu quả Tác giả Đinh Thanh Huệ cho rằng,KNN là khả năng sử dụng âm thanh ngôn ngữ của con người để chuyển tảihiệu quả một nội dung, thông điệp của mình đến người nghe có cùng một tínhiệu âm thanh- ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp Theo tác giả Nguyễn Trí[120], nói là hoạt động phát tin nhờ sử dụng bộ máy phát âm Trước hết,người nói phải xác định nội dung lời nói, lựa chọn ngôn ngữ để diễn tả nộidung Sau đó, sử dụng bộ máy phát âm để truyền đi chuỗi lời nói đã được xácđịnh KNN thể hiện ở kết quả đạt được của hoạt động giao tiếp, ở sự hiểu biết,trình độ văn hóa, phép lịch sự của con người bộc lộ qua lời nói và các yếu tốphi ngôn ngữ
Những quan niệm trên đây cho thấy các tác giả có hai cách tiếp cậnkhái niệm KNN Cách thứ nhất xem KNN là hành động sử dụng ngôn ngữ và
Trang 21những yếu tố phi ngôn ngữ của con người nhằm đạt hiệu quả trong quá trìnhgiao tiếp Cách thứ hai xem KNN là khả năng truyền tín hiệu ( bằng lời nóihoặc không lời) của con người để chuyển tải hiệu quả một nội dung, thôngđiệp của mình đến người nghe.
Từ việc luận giải, kế thừa chọn lọc các quan niệm về KNN, chúng tôicho rằng: KNN là hình thức biểu hiện của năng lực giao tiếp bằng lời, dạnghành động được thực hiện một cách tích cực, tự giác dựa trên sự kết hợpnhuần nhuyễn giữa tri thức về ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ lời nói), nhữnghiểu biết về văn hóa, xã hội (liên quan đến hoạt động giao tiếp bằng lời) vànhững điều kiện sinh học- tâm lí của một cá thể (nhu cầu, tình cảm,ý chí, tínhtích cực cá nhân ) để đạt được mục đích giao tiếp đặt ra
- Từ các nhân tố trong hoạt động giao tiếp đến các bước thực hiện kĩ năng
nói
Các nhân tố trong hoạt động giao tiếp đều tác động trực tiếp hoặc giántiếp đến việc tổ chức, xây dựng lời nói và có những ảnh hưởng quan trọng đếnhiệu quả giao tiếp Các nhân tố giao tiếp bao gồm: Nhân vật giao tiếp, đốitượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp Những điều kiện đểnói hiệu quả: nội dung bài nói tốt; hiểu biết sâu rộng, kĩ càng về nội dungtrình bày; xác định đúng đối tượng nói và mục đích nói; người nói phải có uytín; giọng nói tốt
1.1.1.2 Phát triển kĩ năng nói cho học sinh THPT dưới góc nhìn của lí thuyết dạy học hiện đại
- Khái niệm phát triển kĩ năng nói cho học sinh THPT
Khái niệm “phát triển” có thể được tiếp cận dưới các góc độ khác nhaucủa nhiều ngành khoa học như: Triết học, kinh tế học, tâm lí học, giáo dụchọc Có thể thấy, nội hàm của khái niệm phát triển là khá rộng và có sự thayđổi theo phạm vi, góc độ tiếp cận của mỗi ngành khoa học Tuy nhiên, cốt lõi
Trang 22của nội hàm này chính là “mở mang rộng ra, làm cho mạnh hơn lên, tốt hơnlên so với một thời điểm cụ thể trước đó”.
Phát triển kĩ năng được hiểu là quá trình tăng lên về chất trong mộtdạng hành động của con người được thực hiện dựa trên sự kết hợp nhuầnnhuyễn giữa các mặt tri thức, kĩ năng hành động và những điều kiện sinh học-tâm lí của một cá thể (nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân ) để đạtđược kết quả theo mục đích đặt ra
Phát triển kĩ năng nói cũng mang tính đặc thù của quá trình phát triển kĩnăng, cần được xem xét trong mối quan hệ biện chứng Vì vậy, khi quan tâmphát triển các kĩ năng ngôn ngữ phải đảm bảo tính đồng bộ, toàn diện khôngnên tách biệt tuyệt đối Sự phát triển của kĩ năng này sẽ là cơ sở, tiền đề đểphát triển kĩ năng kia Do đó, chúng tôi quan niệm phát triển kĩ năng nói tuy
là sự phát triển bộ phận nhưng vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với các kĩ năngngôn ngữ khác (nghe, đọc, viết)
- Phát triển kĩ năng nói cho học sinh trong dạy Làm văn trước xu thế đổi mới
nội dung chương trình phương pháp dạy học
Lí luận dạy học hiện đại khẳng định việc đổi mới phương pháp dạy học
là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành giáo dục, một trongnhững biện pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trườnghiện nay Phân môn Làm văn có một vị trí, vai trò quan trọng đối với quátrình hình thành năng lực giao tiếp cho học sinh Với sứ mệnh đó, Làm văncần phải được quan tâm, đầu tư về nội dung và phương pháp ở mức cao nhất
vì hiệu quả của dạy học Làm văn xét đến cùng chính là hiệu quả của toàn bộviệc dạy Ngữ văn Xuất phát từ bản chất đặc thù của Làm văn gắn với thựchành nên có thể thấy hoạt động dạy làm văn phải lấy thực hành làm hoạt độngchủ đạo để học sinh lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo Ngườigiáo viên cũng nên giảm thiểu lối thuyết giảng thuần túy, vận dụng linh hoạt
Trang 23các phương pháp, biện pháp dạy học vào những tình huống cụ thể, tạo cơ hôitương tác với học sinh Như vây, việc đổi mới phương pháp dạy học Làm văntheo quan điểm giao tiếp là tiền đề quan trọng để phát triển năng lực giao tiếp,cũng là phát triển KNN cho người học.
1.1.2 Xác định những kĩ năng bộ phận của KNN cần phát triển cho học sinh THPT
1.1.2.1 Căn cứ xác định các kĩ năng bộ phận của KNN
- Xuất phát từ đặc điểm của cấu trúc hội thoại trong giao tiếp
Lí thuyết hội thoại đã chỉ ra các đơn vị cấu trúc của hội thoại từ lớn đếnnhỏ bao gồm: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, hành vi ngôn ngữ.Trong phạm vi nghiên cứu, khóa luận chỉ quan tâm đến cấu trúc của cuộcthoại Theo đó cấu trúc của cuộc thoại thường gồm ba phần: mở đầu, pháttriển và kết thúc Với một bài thuyết trình, cấu trúc này có ý nghĩa định dạng,tạo ấn tượng về một sự hoàn chỉnh, trọn vẹn khi trình bày một vấn đề
Phần phát triển là phần quan trọng nhất của một bài nói, một cuộc giaotiếp Phần này có nhiệm vụ triển khai những nội dung chính được giới thiệu ởphần mở đầu Phần phát triển có nhiệm vụ cụ thể hóa những thông tin đó,thuyết phục người nghe bằng những chi tiết cụ thể, đáng tin cậy Để đáp ứngyêu cầu tiếp nhận thông tin từ phía người nghe, phần phát triển thường phongphú về mặt nội dung, đa dạng về hình thức thể hiện, bám sát mục đích nói.Phần phát triển của một bài trình bày hay một cuộc thoại có thể chỉ hướng tớimột mục đích, có thể hướng tới nhiều mục đích khác nhau, ứng với từng nộidung cụ thể Vì vậy, để thực hiện tốt phần phát triển của một cuộc thoại haymột bài trình bày, người nói cần làm chủ kĩ năng như hỏi đáp, thông báo, thảoluận, thuyết phục Phần kết thúc thường làm nhiệm vụ tóm tắt lại những vấn
đề đã giải quyết ở phần phát triển giúp người nghe dễ khắc sâu ghi nhớ Phầnkết thúc cũng có thể là sự gợi mở vấn đề hướng người nghe đến suy nghĩ mới,
Trang 24hay đưa ra lời kêu gọi hành động, lời hứa hẹn, lời chúc… Để thực hiệnphương châm lịch sự trong giao tiếp, nên tránh cách kết thúc bất ngờ, đơnphương Trong trường hợp này xảy ra, người nói phải tìm được lí do để ngườinghe có thể chấp nhận
- Xuất phát từ định hướng rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh trong chương trình giáo dục phổ thông
Theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn ởViệt Nam, học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 sẽ được rèn luyện 5 kĩ năng nói bộphận:1 là, sử dụng nghi thức lời nói; 2 là, đặt và trả lời câu hỏi; 3 là, thuậtviệc , kể chuyện; 4 là, trao đổi, thảo luận; 5 là, phát biểu, thuyết trình Ở bậcTiểu học, học sinh tập chung rèn luyện các kĩ năng nói 1,2,3, bước đầu làmquen kĩ năng 4,5 Ở bậc Trung học cơ sở, học sinh tập chung rèn luyện các kĩnăng nói 2,3,4,5 Lên bậc THPT, các kĩ năng nói 2,3,4 sẽ được chú trọng hơn
Đó là những chủ trương đúng thể hiện khi xây dựng chương trình môn học.Tuy nhiên trong thực tiễn triển khai, do bị chi phối bởi nhiều nguyên nhânkhác nhau (nội dung dạy học, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá…),nên việc chú trọng rèn luyện KNN cho học sinh ở các bậc học là chưa đồngđều
1.1.2.2 Những kĩ năng bộ phận cần phát triển cho học sinh
- Kĩ năng dẫn nhập
Là kĩ năng giới thiệu vấn đề, khởi đầu cho cuộc giao tiếp của người nóinhằm thu hút sự chú ý của người nghe
- Kĩ năng thông báo
Là kĩ năng cung cấp các kĩ năng thông tin của người nói giúp ngườinghe có thêm những hiểu biết nhất định về vấn đề được trình bày
- Kĩ năng trao đổi thảo luận
Trang 25Là kĩ năng đưa ra các ý kiến trao đổi, phản hồi của người nói nhằm thểhiện quan điểm cá nhân với người nghe về một vấn đề cụ thể.
Tuy nhiên, trước xu thế đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huycao độ tính tích cực, tự giác, độc lập, sáng tạo trong nhận thức của người họcthì phạm vi ứng dụng của bài tập rộng hơn nhiều Nhiều quan điểm hiện naycho rằng bài tập không chỉ được dùng với mục đích giúp người học vận dụng
Trang 26những tri thức đã học, rèn luyện kĩ năng tương ứng mà còn giúp họ hìnhthành tri thức mới và phát triển các kĩ năng khác.
Kế thừa và chọn lọc những quan điểm trên đây, chúng tôi cho rằng: Bàitập là các nhiệm vụ học tập mà giáo viên đặt ra cho người học thực hiện, đượctrình bày dưới dạng câu hỏi hay những yêu cầu hoạt động buộc người học táihiện những kiến thức, giải quyết vấn đề trên cơ sở những điều đã biết hoặc kếtnối những kiến thức, giải quyết vấn đề dựa trên việc tìm kiếm phương phápmới qua đó nắm vững tri thức, rèn luyện và phát triển kĩ năng
b Phân loại bài tập
Có nhiều cách phân loại bài tập dựa trên những cơ sở khác nhau: căn cứvào hình thức thiết kế (bài tập trắc nghiệm, bài tập tự luận); căn cứ vào nộidung chủ đề (bài tập chủ đề 1, bài tập chủ đề 2, bài tập chủ đề 3…); căn cứvào bài tập yêu cầu giải quyết (bài tập nhận diện,bài tập tạo lập, bài tập đánhgiá); dựa vào mục tiêu dạy học (bài tập hình thành, bài tập rèn luyện, bài tậpphát triển); căn cứ vào mức độ tư duy (bài tập nhận biết, bài tập thônghiểu,bài tập vận dụng)…
Bài tập phát triển là một trong ba kiểu bài tập được phân loại dựa vàomục tiêu dạy học Theo quan điểm của triết học, khái niệm của “phát triển”chỉ sự thay đổi (tăng lên) về quy mô và chất lượng của một sự vật, hiện tượng.Với con người, phát triển vừa là mục đích, vừa là cách thức để thỏa mãn cácnhu cầu tăng lên không ngừng, giúp con người nâng cao năng lực và góp phầnhoàn thiện bản thân
Từ quan niệm trên đây, có thể hiểu bài tập phát triển KNN là kiểu bàitập hướng đến mục tiêu nâng cao KNN cho học sinh bằng việc vận dụng trithức về ngôn ngữ, văn hóa, xã hội… nhằm tạo ra những biến đổi về chất (giátrị) trong nhận thức và hành động khi thực hiện KNN Từ đó giúp học sinhgiao tiếp một cách hiệu quả hơn
Trang 27Đặt song song 3 kiểu bài tập được phân loại dựa vào mục tiêu dạy học:bài tập hình thành kĩ năng, bài tập rèn luyện kĩ năng, bài tập phát triển kĩnăng, sẽ thấy điểm khác biệt của các kiểu bài tập này Bài tập hình thành kĩnăng là kiểu bài giúp cho người học có được kĩ năng ở mức ban đầu, trên cơsở vận dụng những lí thuyết có liên quan và thực hiện được những thao tác cụthể, cần thiết để tạo nên kĩ năng đó Bài tập rèn luyện kĩ năng là hướng tớimục tiêu tạo cho người học có cơ hội, điều kiện làm nhiều, làm đi làm lại đểthông tỏ, thành thạo một kĩ năng cụ thể Còn bài tập phát triển kĩ năng được
sử dụng khi mà người học đã có được sự thành thạo nhất định về kĩ năng, cầntiếp tục được thử sức bằng những bài tập có sự tăng cường về độ khó, đa dạng
về mục tiêu nhằm hoàn thiện, nâng cao kĩ năng đã có
Tuy nhiên, xác định sự khác biệt của các bài tập này chỉ có ý nghĩatương đối bởi ranh giới giữa chúng không thật rạch ròi Lí do là các yêu cầucủa một bài tập thường có sự đan xen, lồng ghép vào nhau, nhất là đối với haikiểu bài tập rèn luyện và phát triển Hơn thế, mối quan hệ giữa rèn luyện vàphát triển trong thực tế lại rất khăng khít vì rèn luyện là cơ sở, tiền đề để pháttriển và ở một góc độ nhất định thì phát triển cũng là một cái đích để rènluyện hướng tới
Trong ba kiểu bài tập phân loại theo mục tiêu dạy học, chúng tôi chọnxây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói bởi vì: Thứ nhất, đối tượng
mà chúng tôi hướng tới là học sinh THPT, họ là những người đang trưởngthành, cần được rèn luyện để có kĩ năng nói tốt hơn nhằm đạt được hiệu quảtrong giao tiếp Thứ hai, nội dung rèn luyện mà chúng tôi đề cập ở đây làKNN khi trình bày một vấn đề cụ thể là trong văn thuyết minh KNN là là một
kĩ năng được hình thành từ rất sớm, được sử dụng thường xuyên trong quátrình học tập và sinh hoạt Tuy nhiên, việc sử dụng KNN của HS chủ yếu diễn
ra theo kinh nghiệm và thói quen mà chưa được học tập, rèn luyện một cách
Trang 28bài bản Do vậy, việc xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện KNN là cần thiếtđối với học sinh THPT.
1.1.3.2 Vai trò của hệ thống bài tập đối với việc rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh
a Khái niệm hệ thống bài tập
Trong cuốn “Từ điển Từ và ngữ Hán Việt”, khái niệm hệ thống được
hiểu là: tập hợp những bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau; thứ tự sắp xếp cóquy củ; sự liên tục
Bản chất cốt lõi của khái niệm hệ thống được thể hiện ở hai khía cạnh:thứ nhất là mối liên hệ nội tại có tính logic rất rõ của từng thành tố có liên hệ,quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể mới Và hệ thốngbài tập là một tập hợp với nhiều bài tập khác nhau được xếp thành các nhóm(trong mỗi nhóm có thể có những nhóm nhỏ hơn) theo một trình tự có chủđích nhất định Thông thường để đảm bảo tính khoa học về quá trình nhậnthức của người học Hệ thống bài tập sẽ được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đếnkhó, từ đơn giản đến phức tạp từ những kiến thức đơn lẽ đến những kiến thứctổng hợp nhằm rèn luyện, phát triển những kĩ năng cụ thể cho người học
b Vai trò của hệ thống bài tập đối với việc rèn luyện kĩ năng nói chohọc sinh
Con đường hiệu quả nhất để phát triển kĩ năng là thực hành, luyện tập.Các hoạt động này được cụ thể hóa bằng một hệ thống bài tập và khi thựchiện tốt những yêu cầu của mỗi bài tập người học sẽ được trải nghiệm để nắmvững lí thuyết hơn, sẽ có thêm kinh nghiệm, sự khéo léo trong quá trình thựchiện để đạt kết quả nhất định Giải quyết toàn bộ những yêu cầu của hệ thốngbài tập sẽ giúp cho người học phát triển được các kĩ năng tương ứng Vấn đềđặt ra là phải xác định chính xác, khoa học những kĩ năng cần phát triển chohọc sinh trong một phần cụ thể trước khi xây dựng hệ thống bài tập Nếu
Trang 29không việc rèn luyện, phát triển kĩ năng sẽ thành lan man, lệch trọng tâm dothiếu định hướng Ngược lại nếu đã xác định được những kĩ năng cần thiếtnhưng lại chưa có hệ thống bài tập để thực hành thay hệ thống bài tập gópphần rèn luyện KNN cho học sinh THPT.
1.1.4 Văn bản thuyết minh
- Khái niệm
Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong đời sống Đó làloại văn bản được soạn thảo với mục đích trình bày, giới thiệu tính chất, cấutạo, công dụng, lí do phát sinh, quy luật phát triển biến hóa của sự vật nhằmcung cấp những thông tin về các sự vật hiện tượng trong cuộc sống tự nhiên
và xã hội, hướng dẫn cho con người tìm hiểu và sử dụng chúng Nói một cáchkhác, văn bản thuyết minh là loại văn trình bày, giới thiệu, phổ biến hoặc giảithích làm rõ đặc điểm cơ bản của một đối tượng cung cấp tri thức về các sựvật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội
- Đặc điểm
+ Văn bản thuyết minh nhằm cung cấp những tri thức khách quan về sựvật, hiện tượng
Nhiệm vụ chủ yếu của văn bản thuyết minh là trình bày các đặc điểm
cơ bẳn của đối tượng được thuyết minh, cung cấp cho ta những tri thức kháchquan về sự vật, hiện tượng, giúp cho ta hiểu biết về chúng một cách đầy đủ,đúng đắn Đây cũng chính là đặc điểm quan trọng nhất của văn bản thuyếtminh làm cho nó khác với các văn bản khác
Văn bản thuyết minh nhằm cung cấp những thông tin xác thực về sựvật, hiện tượng giúp người nghe, người đọc nắm được đặc trưng bản chất, cấutạo tính năng của sự vật… Nội dung của văn bản thuyết minh chứa đựngnhiều tri thức về đối tượng thuyết minh
Trang 30+Văn bản thuyết minh rất cần sự kiện và số liệu: Sự kiện và số liệu cụthể, chi tiết đa dạng phong phú bao nhiêu thì bài thuyết minh có sức thuyếtphục bấy nhiêu Nếu bài thuyết minh ít hoặc không có số liệu cụ thể thì sẽ rơivào tình trạng chung chung, thiếu cụ thể Đây chính là đặc điểm khác biệtgiữa văn thuyết minh và văn miêu tả.
+ Ngôn ngữ và phong cách thuyết minh: Do phải đảm bảo tính kháchquan khoa học, nhằm cung cấp cho người đọc những thông tin trung thực,khách quan và chính xác về đối tượng nen nhìn chung văn thuyết minh phảitrong sáng, rõ ràng mạch lạc
+ Các dạng bài thuyết minh rất đa dạng, phong phú:
Thuyết minh một phương pháp: Đây là dạng bài chủ yếu nhằm giớithiệu cách thức tạo ra một sản phẩm nào đó Vì thế nội dung thường nêu lêncác điều kiện cách thức, quy trình sản xuất cùng với các yêu cầu về chấtlượng sản phẩm
Thuyết minh về một thứ đồ dùng, sản phẩm: Nhằm giới thiệu quy trìnhtạo ra sản phẩm, thuyết minh một thứ đồ dùng một sản phẩm chủ yếu nhằmgiới thiệu công dụng và đặc điểm
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, một di tích lịch sử: Đó lànhững sản phẩm của thiên nhiên kì thú và sản phẩm tiêu biểu cho lịch sử pháttriển nhân loại, do con người tạo ra Đó là những di sản có giá trị và ý nghĩa
to lớn đối với một dân tộc cũng như toàn thế giới…
- Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh
Khi thuyết minh, có thể lựa chọn nhiều hình thức kết cấu khác nhau:
+ Theo trình tự thời gian: Trình bày sự vật theo quá trình hình thành, vậnđộng và phát triển
+ Theo trình tự không gian: Trình bày sự vật theo tổ chức vốn có của nó (bêntrên bên dưới, bên trong bên ngoài hoặc theo trình tự quan sát)
Trang 31+ Theo trình tự lôgic: Trình bày sự vật theo các mối quan hệ khác nhau(nguyên nhân – kết quả, riêng – chung, liệt kê các mặt, các phương diện…).+ Theo trình tự hỗn hợp: Trình bày sự vật với sự kết hợp nhiều trình tự khácnhau.
- Các phương pháp thuyết minh
+ Có nhiều phương pháp thuyết minh như: phương pháp nêu định nghĩa, giảithích; phương pháp liệt kê; phương pháp nêu ví dụ; phương pháp dùng sốliệu; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích, phân loại
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Về phần Làm văn thuyết minh được giảng dạy ở THPT
Làm văn nhằm giúp học sinh có một năng lực mới: năng lực sản sinhngôn bản Nhờ năng lực này, các em học sinh biết sử dụng Tiếng Việt làmcông cụ tư duy, giao tiếp và học tập Do vậy, Làm văn chiếm một vị trí quantrọng trong chương trình phổ thông và Làm văn thuyết minh đóng vai tròkhông nhỏ trong phân môn Làm văn.Qua khảo sát SGK Ngữ văn 10 chúng tôithấy tỉ lệ tiết dạy Làm văn trong chương trình khá nhiều, chiếm hơn 1/3 dunglượng của môn Ngữ văn Cụ thể trong chương trình cơ bản lớp 10 có 35 tiếtLàm văn trên 105 tiết Ngữ văn trong đó Làm văn thuyết minh có 7 tiết Tuynhiên Làm văn thuyết minh chủ yếu mới dừng lại ở việc rèn kĩ năng viết chohọc sinh mà chưa chú trọng đến kĩ năng nói Từ mục tiêu và đặc biệt là tínhchất thực hành của môn học đã cho thấy đây là một học phần có nhiều tiềmnăng và lợi thế để rèn luyện KNN cho học sinh Và hệ thống bài tập làphương tiện hữu hiệu để đạt được mục tiêu này
1.2.2 Về hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh trong Làm văn thuyết minh
Trang 32Qua khảo sát sách giáo khoa Ngữ văn THPT, chúng tôi nhận thấy hệthống bài tập rèn luyện kĩ năng nói trong Làm văn thuyết minh có một số ưuđiểm và hạn chế sau đây:
Ở một chừng mực nào đó, các bài tập này đảm bảo tính hướng đích.Hầu hết các mô hình bài tập được giới thiệu trong sách giáo khoa là những
mô hình có giá trị cả về mặt khoa học và về mặt sư phạm Các bài tập trongsách giáo khoa về cơ bản đã thể hiện được các khía cạnh khác nhau của việcrèn luyện kĩ năng thuyết minh một cách hiệu quả Sách giáo khoa Ngữ văn ởTHPT nói chung và rèn luyện kĩ năng nói trong Làm văn thuyết minh nóiriêng tồn tại một số điểm chưa hợp lí Mặc dù sách giáo khoa đã chú trọngđến phương pháp thực hành nhưng số lượng bài tập chưa thực sự phong phú,những bài tập sáng tạo còn ít, kiến thức dạy học sinh còn mang tính trừutượng Trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 các em được học các bài: Các hìnhthức kết cấu của văn bản thuyết minh; Lập dàn ý văn thuyết minh; Tính chuẩnxác, tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh; Phương pháp thuyết minh; Luyệntập viết đoạn văn thuyết minh Như vậy, mức độ đạt được của giờ học mớidừng lại ở mức độ rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn thuyết minh cho học sinh
mà chưa chú trọng đến việc hình thành kĩ năng nói và phát triển kĩ năng nóicho học sinh trong Làm văn thuyết minh
1.2.2 Khảo sát thực trạng dạy học làm văn thuyết minh rèn luyện KNN cho học sinh ở trường THPT Tây Tiền Hải
1.2.2.1 Mục đích khảo sát
Khảo sát nhằm thu nhập số liệu và thu nhập thông tin từ thực tế về thựctrạng dạy học làm văn thuyết minh nhằm rèn luyện KNN cho học sinh ởtrường THPT Tây Tiền Hải Qua quá trình khảo sát chúng tôi sẽ phân tíchthực trạng, kế tiếp tìm ra nguyên nhân của thực trạng và đề xuất giải phápnhằm góp phần rèn luyện KNN cho học sinh trong làm văn thuyết minh
Trang 331.2.2.2 Đối tượng khảo sát
Trong phạm vi đề tài, đối tượng mà chúng tôi hướng đến là học sinh
10, ở trường THPT Tây Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Trường THPT Tây Tiền Hải là một ngôi trường được thành lập từ khálâu đời, do đó nhà trường có đội ngũ GV giàu kinh nghiệm trong giảng dạy
Vì vậy, hàng năm nhà trường có nhiều GV đạt thành tích cấp cơ sở và cấptỉnh nên trường cũng nhận được sự quan tâm đúng mức của chính quyền đoànthể địa phương Đồng thời nhà trường cũng đi đầu về các phong trào văn- thể-mỹ, bên cạnh những thuận lợi thì nhà trường cũng gặp không ít khó khăn
1.2.2.3 Nội dung khảo sát
Nội dung khảo sát tập trung vào các vấn đề:
- Tình hình rèn luyện KNN
- Phương pháp dạy học của GV
- Phương pháp học của HS
- Hình thức kiểm tra, đánh giá
- Đề xuất các biện pháp rèn luyện KNN trong dạy học văn bản thuyếtminh
1.2.2.4 Phương pháp khảo sát
- Khảo sát qua phiếu điều tra thăm dò
Chúng tôi tiến hành xây dựng phiếu thăm dò ý kiến và tiến hành khảosát 3 GV đang trực tiếp giảng dạy ở trường THPT Tây Tiền Hải, 130 HS lớp
10 Phiếu khảo sát được xây dựng dưới hình thức câu hỏi trắc nghiệm kháchquan và một số câu tự luận (Phiếu điều tra dành cho GV) Mặc dù kết quảnhận được chưa phải là chính xác 100% nhưng phần nào đánh giá khái quátthực trạng dạy và học của học sinh trường THPT Tây Tiền Hải tỉnh TháiBình
- Khảo sát qua dự giờ
Trang 34Chúng tôi tiến hành khảo sát bằng cách dự một số giờ dạy của GV Ngữvăn ở trường THPT Tây Tiền Hải Trong những tiết dự giờ này, chúng tôi đivào cách tổ chức dạy học của GV và hoạt động của HS.
1.2.2.5 Kết quả và đánh giá kết quả khảo sát
- Kết quả và đánh giá kết quả khảo sát qua phiếu thăm dò ý kiến
+ Kết quả và đánh giá khảo sát từ HS
Chúng tôi thiết kế phiếu điều tra thăm dò ý kiến dành cho HS gồm có 8câu Số phiếu phát ra 130 dành cho khối lớp 10 ở trường THPT Tây Tiền Hảitỉnh Thái Bình nội dung phiếu điều tra như sau:
Câu 1: Trong giờ học Làm văn thuyết minh, bạn có hiểu vấn đề thầy cô/cô giáo đặt ra không? Nếu không chuẩn bị bài trước ở nhà thì HS thụ độngtrong giờ học Tuy nhiên vấn đề là HS hiểu, nắm được vấn đề thầy cô giáo đặt
ra mà không nói thành lời chiếm tỉ lệ rất cao (70,7%) Không biết cách nóinhư thế nào để người khác hiểu thì HS gặp nhiều khó khăn trong việc học tậplẫn trong cuộc sống Vì vậy, đây là một thực trạng cần được khắc phục ngay
từ khi HS còn ngồi trên ghế nhà trường Nhằm tìm hiểu những khó khăn màhọc sinh còn gặp phải trong quá trình phát biểu, trình bày ý kiến của mình
Chính vì thế chúng tôi thiết kế câu hỏi 2: Bạn có thường gặp khó khăn
gì khi phải diễn đạt những gì mình muốn nói? Và kết quả gặp khó khăn khi
diễn đạt của HS là 52,3% thường xuyên gặp khó khăn trong diễn đạt Qua kếtquả này cho thấy nhiều học sinh gặp khó khăn trong diễn đạt, số lượng HSkhông gặp khó khăn trong quá trình diễn đạt thì rất ít Với việc gặp khó khănnày thì sẽ gây cản trở HS trong việc thuyết minh về một vấn đề nào đó Bởinếu thuyết minh một cách trôi chảy thì HS sẽ phấn khởi, hứng thú hơn trongquá trình học tập.Thêm vào đó, về đánh giá mức độ của việc khó về lựa chọnngôn ngữ để diễn đạt lời nói của mình Từ thực tế khảo sát, chúng ta thấy rằng
HS không chỉ đang gặp trong việc khó khăn trong việc diễn đạt lời nói của
Trang 35mình mà đối với đa số HS việc lựa chọn ngôn ngữ cũng là một điều khó khăn(67,7 %) Vậy cần phải có những biện pháp giúp HS biết cách lựa chọn ngônngữ để có bài thuyết minh chính xác, mạch lạc và tự nhiên.
Ở câu hỏi 3 với nội dung: Bạn tự tin, mạnh dạn khi thuyết minh trướcđám đông? Để xác định tâm lí của HS khi thuyết minh một vấn đề thì kết quảthật đáng lo ngại có tới 64,61% HS thỉnh thoảng và 13,84% HS không baogiờ tự tin, mạnh dạn trước đám đông thuyết minh về một vấn đề nào đó Đểbài thuyết minh thuyết phục người nghe thì bên cạnh nội dung thuyết minh,người thuyết minh phải vượt qua nỗi sợ hãi, tự tin trước đám đông, vững vàng
tư tưởng và biết cách cuốn hút người đối diện
Để xác định một số lỗi của HS mắc phải khi thuyết minh, chúng tôi đặt
ra câu hỏi 4: Những lỗi mắc phải của bạn khi thuyết minh? Kết quả thựcnghiệm thu được như sau: 13,07% ý kiến HS mắc lỗi phát âm, 11,53% HSlặp từ, 58,46% thiếu ý, 19,23% không sắp xếp được ý, 30,76% không biếtcách trình bày vấn đề Với kết quả trên, có thể thấy đó là những lỗi phổ biếncủa HS hiện nay Tuy nhiên, số HS khi trình bày ý kiến mắc lỗi thiếu ý chiếm
tỉ lệ cao Và đặc biệt 30,76% HS không biết cách thuyết minh một vấn đề.Như vậy, có thể thấy rằng HS vẫn còn mắc lỗi khi thuyết minh, chưa có sựkhắc phục Vì vậy GV cần nhắc nhở và sửa chữa cho HS khi nói và khi viết
Với câu hỏi 5: Khi thuyết minh, bạn có kết hợp hợp với việc sử dụng
cử chỉ, ngữ điệu, tư thế để lời nói tăng sức thuyết phục với người nghe nhưthế nào? Thực tế cho thấy rằng, tỉ lệ HS chỉ thỉnh thoảng, có kết hợp với việc
sử dụng cử chỉ, ngữ điệu, tư thế để lời nói tăng sức thuyết phục với ngườinghe là cao (50%) Đây là một thực tế đáng được quan tâm
Đây cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá HS khi trả bài bằnglời nói, nên chúng tôi thiết kế câu hỏi 6 là: Các bài kiểm tra miệng ( trả bàiđầu giờ) của bạn đạt từ điểm 5 trở lên Qua khảo sát thực tế, HS đạt từ điểm 5