1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn học sinh lớp 5 lĩnh hội và sử dụng từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa

67 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc cung cấp kiến thức lý thuyết về từ cũng như kĩ năng nắm nghĩa,sử dụng từ cho học sinh tiểu học rất quan trọng.Tuy nhiên, ngôn ngữ tiếngViệt của chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh k

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

=== ===

VŨ THỊ KHƠI

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 5 LĨNH HỘI VÀ SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỒNG NGHĨA, TRÁI NGHĨA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

TS PHẠM THỊ HÒA

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường ĐHSP Hà Nội

2, các thầy cô khoa Giáo dục Tiểu học và các thầy cô khoa Ngữ văn đã giúp

em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóaluận tốt nghiệp

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô –TS Phạm Thị Hòa,

người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu vàhoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các cô giáo trong trường Tiểu hocNam Hồng đã giúp đỡ em có những tư liệu tốt

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡđộng viên em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận

Quá trình nghiên cứu và xử lí đề tài, em không thể tránh khỏi những hạnchế, em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn

để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Vũ Thị Khơi

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những sốliệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa đượccông bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào

Hà Nội, Tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Vũ Thị Khơi

Trang 4

KÍ HIỆU VIẾT TẮT

GV: Giáo viên

HSTH: Học sinh tiểu họcNXB: Nhà xuất bản SGK: Sách giáo khoa VD: Ví dụ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc của khóa luận 5

CHƯƠNG1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Các loại trường nghĩa 6

1.1.2 Từ ngữ đồng nghĩa 10

1.1.2.1 Khái niệm 10

1.1.3 Từ ngữ trái nghĩa 15

1.1.3.1 Khái niệm 15

1.1.3.2 Phân loại từ trái nghĩa 17

1.1.4 Đặc điểm ngôn ngữ học của HSTH 18

1.1.5 Đặc điểm của HSTH 20

1.1.5.1 Tính cách của HSTH 20

1.1.5.2 Đặc điểm nhận thức của HSTH 20

1.1.5.3 Đời sống tình cảm của học sinh Tiểu học 21

1.1.5.4 Ý chí của HSTH 22

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

Kết luận chương 1 26

Trang 6

CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỒNG NGHĨA, TRÁI NGHĨA TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC Ở SGK

TIẾNG VIỆT LỚP 5 27

2.1 Khảo sát các từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa trong các văn bản tập đọc ở SGK Tiếng Việt lớp 5 27

2.1.1 Kết quả khảo sát 27

2.1.2 Phân tích kết quả khảo sát 37

2.2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu giá trị sử dụng của các từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa 42

Kết luận chương 2 48

CHƯƠNG 3: DẠY HỌC SINH SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỒNG NGHĨA, TRÁI NGHĨA TRONG CÁC BÀI TẬP LÀM VĂN 49

3.1 Hướng dẫn học sinh huy động các từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa theo các đề bài tập làm văn cho trước 49

3.2 Hướng dẫn học sinh sử dụng các từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa tìm được để viết bài tập làm văn cụ thể 53

Kết luận chương 3 58

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

Việc cung cấp kiến thức lý thuyết về từ cũng như kĩ năng nắm nghĩa,

sử dụng từ cho học sinh tiểu học rất quan trọng.Tuy nhiên, ngôn ngữ tiếngViệt của chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh khó, một trong những nội dungkhó đó là phần ngữ pháp, từ vựng tiếng Việt (từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từđồng âm, từ nhiều nghĩa, đại từ, quan hệ từ, câu).Từ đồng nghĩa, trái nghĩa làmột hiện tượng độc đáo của tiếng Việt, nó làm cho tiếng Việt thêm phong phú

và mang đậm nét đặc sắc riêng mà không thể lẫn với một thứ ngôn ngữ nàokhác.Nghiên cứu từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa sẽ góp phần làm rõ hơn cấu trúcngôn ngữ và qua đó nâng cao hiệu quả của hoạt động lời nói

Thực tế, chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học bao gồm các phânmôn: Học vần, tập đọc, kể chuyện, luyện từ và câu, chính tả, tập làm văn.Trong đó, nội dung về từ vựng được tập trung biên soạn có hệ thống trongphần luyện từ và câu Một tiết cung cấp về nội dung lý thuyết, một tiết rèn kĩnăng luyện tập Học sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, việc tìm các từđồng nghĩa cũng không mấy khó khăn, tuy nhiên khi học xong từ đồng âm và

từ nhiều nghĩa thì học sinh bắt đầu có sự nhầm lẫn và khả năng phân biệt từđồng nghĩa - đồng âm - từ nhiều nghĩa cũng không được như mong đợi củagiáo viên, kể cả học sinh khá, giỏi đôi khi cũng còn thiếu chính xác

Trang 8

Luyện từ và câu là một phân môn có nhiệm vụ làm giàu vốn từ, pháttriển kĩ năng sử dụng từ và cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng Việtcho học sinh tiểu học Từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa là những nội dung dạyhọc khá thú vị trong phân môn luyện từ và câu lớp 5 Lớp 5 là lớp học cuốicủa bậc Tiểu học nên việc cung cấp cho học sinh những kiến thức và kĩ năng

sử dụng từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa để làm cơ sở nền tảng cho các em họctốt hơn ở các bậc học tiếp theo

Việc dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa hiệu quả sẽ góp phần cung cấpthông tin đa dạng về một đối tượng được nói đến

Dạy từ đồng nghĩa, trái nghĩa sẽ giúp học sinh biết cách huy động từđồng nghĩa, trái nghĩa biết lựa chọn từ đồng nghĩa, trái nghĩa để diễn đạt sinhđộng hơn

Từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Hướng dẫn học sinh lớp 5

lĩnh hội và sử dụng từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa” là cần thiết.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa đã có rất nhiều bài viết, công trìnhnghiên cứu.Ở đây tôi xin điểm qua một vài công trình nghiên cứu trong nước

về hiện tượng này

Tác giả Đỗ Hữu Châu được coi là người có khám phá mới mẻ khibàn về từ đồng nghĩa, trái nghĩa của Tiếng Việt Ông đã kế thừa nhữngthành quả nghiên cứu của những nhà nghiên cứu trước, đồng thời phát triển

và khắc phục những hạn chế còn tồn tại theo quan điểm truyền thống thànhnhững khái niệm có cơ sở lí luận chặt chẽ và có tính thực tế cao Theo ông:

“Đồng nghĩa có phạm vi rộng khắp trong toàn bộ từ vựng và trước tiênnhững từ đồng nghĩa phải có chung ít nhất một nét nghĩa, hay chúng phảicùng một trường nghĩa”, ông khẳng định: “Một nét nghĩa rộng có thể đượcphân hóa một cách cực đoan thành hai cực ta có những từ trái nghĩa” [2,Tr.196, 215]

Trang 9

Tác giả Nguyễn Văn Tu khi nói về “Nghĩa của từ” ông đã dành hơnmột trăm trang để bàn về đồng nghĩa và trái nghĩa Theo tác giả “Từ đồngnghĩa là từ có những nghĩa giống nhau, đó là những tên khác nhau của cùngmột hiện tượng Những từ đồng nghĩa có một chỗ chung là việc định danh”,[11, Tr.9] bàn về từ trái nghĩa tác giả nhất trí với khái niệm: “Từ trái nghĩa lànhững từ có ý nghĩa đối lập nhau” [11, Tr.9]

Trong cuốn: “Từ điển đồng nghĩa Tiếng Việt” Nguyễn Văn Tu đưa

ra khái niệm đồng nghĩa một cách cụ thể: “Từ đồng nghĩa là những từ có ýnghĩa biểu đạt giống nhau hoặc gần giống nhau, có thể thay thế cho nhau trongmột số ngữ cảnh Nói rộng ra chúng là những từ chỉ cùng một khái niệm” [12,Tr.14]

Thống nhất với quan điểm của những nhà nghiên cứu khác nhóm tácgiả Dương Kì Đức (chủ biên), Nguyễn Văn Dự, Vũ Quang Hào cùng khẳngđịnh bản chất của trái nghĩa là đối lập nhưng “Trái nghĩa là đối lập trong cùngmột bản chất” [6]

Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng cũng bàn

về từ đồng nghĩa, trái nghĩa Khi bàn về vấn đề này, tác giả khẳng định: “Từđồng nghĩa là từ tương đồng về nghĩa, khác nhau về sắc thái âm thanh và cóđặc biệt với nhau về một sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách nào đó”

“Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa đối lập nhau trong quan hệ tương liên”.[5, Tr.195]

Không đi sâu vào nghiên cứu từ đồng nghĩa, trái nghĩa trong Tiếng Việtnhưng nhóm tác giả Phan Thiều, Lê Hữu Tỉnh cũng đã đưa ra những kháiniệm đồng nghĩa, trái nghĩa một cách khái quát trên cơ sở thống nhất vớinhững ý kiến đi trước Bên cạnh đó, các tác giả còn đưa ramột số lưu ý hướngdẫn học sinh làm bài tập về từ đồng nghĩa, trái nghĩa

Trong những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy hầu hếtcác công trình nghiên cứu này đều đã nghiên cứu trực tiếp về từ đồng nghĩa,

Trang 10

trái nghĩavà đưa ra khái niệm về từ loại này.Xét về cơ bản chưa có công trình

nào nghiên cứu vấn đề “Hướng dẫn học sinh lớp 5 lĩnh hội và sử dụng từ ngữ

đồng nghĩa, trái nghĩa”.Vì vậy tôi có thể khẳng định rằng đề tài nghiên cứu

của tôi là một đề tài mới mẻ và cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 lĩnh hội và sử dụng từngữ đồng nghĩa, trái nghĩa góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy họctrong phân môn luyện từ và câu cũng như trong sử dụng lời nói và viết văn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những lý thuyết về từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa

- Khảo sát thực tếdạy từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa ở lớp 5 trường tiểuhọc Nam Hồng, Đông Anh, Hà Nội

- Đề xuất cách dạy học sinh lớp 5 lĩnh hội từ đồng nghĩa, trái nghĩatrong các văn bản tập đọc và sử dụng từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa trong cácbài tập làm văn

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy học hướng dẫn học sinh lớp 5 lĩnh hội và sử dụng từngữ đồng nghĩa, trái nghĩa

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn phạm vi nghiên cứu ở hai phân môn tập đọc và tập làm văntrên đối tượng học sinh lớp 5

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để tìm hiểu về mặt lýthuyết của từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa nhằm hệ thống hóa cơ sở lí luậncho đề tài

Trang 11

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tìm hiểu về việc dạy học từ ngữđồng nghĩa, trái nghĩa trong chương trình SGK Tiếng Việt lớp 5

6.3 Phương pháp phân tích

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích phương pháp, biệnpháp nhằm chỉ ra hiệu quả của việc sử dụng từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩatrong các văn bản Tập đọc ở SGK Tiếng Việt lớp 5

6.4 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp thống kê, phân loại được chúng tôi dùng để thống kê,phân loại các từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa thuộc phạm vi nghiên cứu

6.5 Phương pháp tổng hợp

Đây là phương pháp được chúng tôi vận dụng để tổng hợp các tài liệunghiên cứu về từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa nhằm hệ thống hóa lí thuyết cơ sở

lí luận cho đề tài; phương pháp này sử dụng cho phần tiểu kết và kết luận

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết thúc, danh mục tài liệu tham khảo, phầnnội dung của đề tài gồm có 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

- Chương 2: Tìm hiểu hiệu quả sử dụng các từ ngữ đồng nghĩa và tráinghĩa trong các văn bản Tập đọc ở SGK Tiếng Việt lớp 5

- Chương 3: Dạy học sinh sử dụng từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa trongcác bài tập làm văn

Trang 12

CHƯƠNG1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Các loại trường nghĩa

F.de Saussure trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra haidạng quan hệ ngang (hay quan hệ hình tyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữđoạn) và quan hệ dọc (hay quan hệ tộc tuyến, quan hệ hệ hình)

Theo hai dạng quan hệ đó có thể có hai dạng trường nghĩa: trườngnghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trựctuyến) Vì các đơn vị từ vựng có nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm nên cótrường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm Đây là các trường nghĩadọc, tức hệ thống các trường nghĩa đồng nhất về ngữ nghĩa.Ngoài các trườngnghĩa dọc còn có các trường nghĩa ngang tức trường nghĩa tuyến tính vàtrường nghĩa liên tưởng Trường nghĩa liên tưởng vừa có tính chất là trườngnghĩa dọc vừa có tính chất là trường nghĩa ngang do cơ chế liên hội mà có

1.1.1.1 Trường nghĩa dọc

1.1.1.1.1 Trường biểu vật

Trường biểu vật là tập hợp những từ đồng nhất về ý nghĩa biểu vật Để

có những căn cứ dựa vào đó mà ta đưa ra các ý nghĩa biểu vật của các từ vềtrường nghĩa biểu vật thích hợp, chúng ta chọn các danh từ làm gốc Các danh

từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặtbiểu vật là những nét nghĩa cụ thể thu hẹp ý nghĩa của từ Như vậy nghĩa biểuvật của nó trùng với tên gọi danh từ trên

VD: Như với từ “mắt”, chúng ta có trường biểu vật nhỏ như sau:

1 Bộ phận của mắt: lông mày, lông mi, mí, mi, lòng trắng, lòng đen,

con ngươi, nước mắt, lệ,

2 Đặc điểm của mắt:

Trang 13

a) Đặc điểm ngoại hình: bồ câu, ốc nhồi, lợn luộc, dao cau, phượng,

(mày) ngài, lươn, lá răm, him, (mày) lưỡi mác, chổi xể nhung, huyền, xanh đen, trắng dã, tròn

b) Đặc điểm về năng lực của mắt: đờ đẫn, sắc, lờ đờ, tinh anh, tốt, kém,

toét, mù, lòa

3 Cảm giác về mắt: chói, quáng, hoa, cộm, xót,

4 Bệnh của mắt: quáng gà, mắt hột, thong manh, cận thị, viễn thị, vẩy

cá, hạt gạo,

5 Hoạt động của mắt: nhìn, trông, thấy, ngó, liếc, nghé, nom, dòm,

lúng liếng, đong đưa, nhìn trộm, cụp mắt, trợn trừng, quắc,

1.1.1.1.2 Trường biểu niệm

Căn cứ để tập hợp các từ về một trường biểu niệm là khuôn nét nghĩachung (còn gọi là cấu trúc biểu niệm)

VD: Trường biểu niệm (vật thể nhân tạo) (thay thế hoặc tăng cường thao táclao động) (cầm tay)

1 Dụng cụ để chia, cắt: dao, cưa, búa, rìu, liềm, hái

2 Dụng cụ để xoi, đục: đục, dùi, chàng, dui, khoan,

3 Dụng cụ để nện, gõ: búa, vồ, dùi, đục, dùi cui

4 Dụng cụ để đánh bắt: lưới, nơm, đó, đăng, câu, vó

5 Dụng cụ để mài giũa: giũa, bào, đá mài, giấy ráp

6 Dụng cụ để kìm giữ: kìm, kẹp, néo, móc

7 Dụng cụ để chém, giết (vũ khí): dao, gươm, kiếm, kích, giáo, phủ,

việt, qua, nỏ, cung, tên, súng

8 Dụng cụ để xới đất: cày, cuốc, thuổng, mai, xẻng, búa, cào

9 Dụng cụ để lấy, múc: thìa, đũa, muôi, gáo

Vì tiêu chí tập hợp trường biểu niệm là cấu trúc biểu niệm nên thuộcmột trường biểu niệm lớn hoặc nhỏ có rất nhiều từ thuộc các trường biểuniệm khác nhau

Trang 14

Mặt khác, qua các trường biểu niệm chúng ta thấy rõ sự quy định lẫnnhau giữa các từ ngữ về mặt ngữ nghĩa Ví dụ: nghĩa của từ giải tán bị quyđịnh bởi nghĩa của các từ tập hợp nhóm, đoàn, đội, bầy là vì người ta chỉ giảitán một tập hợp người nào đó Nếu không có tập hợp người thì không có từgiải tán Ngoài ra, khi tìm nghĩa biểu niệm chính xác của từ này không thểkhông đối chiếu nó với các từ phân chia, chia và gần hơn là các từ phân tán,giải tán, giải tỏa, giải thể.

Sự phân lập về trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm nhưtrên đã nói dựa trên sự phân lập về trường nghĩa của từ Nó phản ánh hai cáchnhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau Tuy nhiên hai loại trường nghĩa dọc cóliên hệ với nhau nếu lấy nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêuchí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trường biểu vật Nhưng khi phân lập cáctrường biểu niệm, chúng ta dựa vào cấu trúc biểu niệm song khi phân nhỏchúng ra đến một lúc nào đó phải sử dụng nét nghĩa biểu vật

Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phải phân lập được các trường

1.1.1.2 Trường nghĩa ngang (Trường nghĩa tuyến tính)

Trường nghĩa ngang là tập hợp tất cả các từ có thể kết hợp với một từngữ nào đó lấy làm gốc lập thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấpnhận được một cách bình thường đối với người sử dụng ngôn ngữ

VD: Trường nghĩa ngang của từ đi là người, học sinh, voi, ngựa, xenhanh, chậm, tập tễnh, khập khiễng, thoăn thoắt chợ, học, làm, buôn giày, dép

Những nhận xét sơ bộ cho thấy:

- Các từ trong một trường nghĩa ngang là những từ thường kết hợp theochuẩn mực ngữ nghĩa của một ngôn ngữ chung

- Một từ nhiều nghĩa có thể lập những trường nghĩa ngang khác nhau

về tính chất tùy theo nghĩa nào đó được lấy làm trung tâm

- Các từ trong một trường nghĩa ngang là sự cụ thể hóa các nét nghĩatrong nghĩa biểu vật của từ

Trang 15

- Có rất nhiều từ đi với từ trung tâm nào đó lập thành trường nghĩangang của nó Tuy nhiên quan hệ giữa các từ lập thành trường nghĩa ngang cómức độ chặt, lỏng lẻo khác nhau.

1.1.1.3 Trường liên tưởng

Sự phân lập các trường biểu vật, biểu niệm như trênlà vấn đề cần thiết

để tìm hiểu quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ pháp, phát triển những đặcđiểm nôi tai và đặc điểm hoạt động của từ Nhưng đó mới chỉ là sự phân tích

“cấu trúc bề mặt” của ngôn ngữ.Ngôn ngữ còn có cấu trúc bề sâu Đó là lí do

để xác lập trường liên tưởng

Nhà ngôn ngữ học Pháp Ch.Bally là tác giả đầu tiên của khái niệmtrường liên tưởng Theo ông, mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liêntưởng như từ bò của tiếng Pháp chẳng hạn, có thể gợi ra do liên tưởng: 1 Bòcái, bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ, nhai trầu 2 Sự cày bừa, cái cày, cái ách 3.Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong các lối so sánh, trongcác thành ngữ Pháp

Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằngcác từ liên hội có thể có của từ trung tâm Các từ này trong một trường liêntưởng trước hết là những từ nằm trong trường biểu vật, các trường biểu niệm

và trường tuyến tính tức là những từ có cấu trúc quan hệ đồng nhất và đối lập

về ngữ nghĩa đối với từ trung tâm Song trong trường liên tưởng còn có nhiều

từ khác được liên tưởng do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong nhữngngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến chocác trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại, tính cá nhân

Các trường liên tưởng thường không ổn định nên ít tác dụng phát hiệnnhững quan hệ về cấu trúc ngữ nghĩa của từ và từ vựng Có nhiều trường hợpphải dùng tới nhiều trường liên tưởng nhưng như vậy thì dẫn tới một chuỗikết hợp mơ hồ về nghĩa VD: nhắc tới chiến tranh người ta liên tưởng tới bomđạn, rốc két, sụt lở, bom, cái chết

Trang 16

1.1.2 Từ ngữ đồng nghĩa

1.1.2.1 Khái niệm

Lâu nay tồn tại không ít những định nghĩa khác nhau về từ đồng nghĩa.Mỗi định nghĩa nhìn nhận vấn đề từ đồng nghĩa dưới một góc độ và thườngchỉ nhấn mạnh một phương diện nào đó của từ đồng nghĩa, nên trong nhiềuđịnh nghĩa khó tránh được những chỗ chưa thỏa đáng Để phù hợp với trình

độ nhận thức của học sinh tiểu học trong SGK Tiếng Việt lớp 5, tập 1, trang 8đưa ra định nghĩa về từ đồng nghĩa “là những từ có nghĩa giống nhau hoặcgần giống nhau”, đối với học sinh Tiểu học định nghĩa này đơn giản hơn

Dựa vào nghĩa biểu vật và sự vật, hiện tượng được gọi tên, NguyễnVăn Tu cho rằng từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau Đó là những

từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó.Đó lànhững tên khác nhau của một hiện tượng

Dựa vào nghĩa biểu niệm và khái niệm, Đỗ Hữu Châu cho rằng hiệntượng đồng nghĩa là hiện tượng xảy ra có tính rộng khắp trong hàng loạt từ,

nó xuất hiện khi giữa các từ chỉ cần có một nét nghĩa chung và không có nétnghĩa đối lập Ông viết: Đồng nghĩa trước hết là một hiện tượng có phạm virộng khắp trong toàn bộ từ vựng, chứ không chỉ bó hẹp trong những nhóm vớimột số có hạn những từ nhất định Nói khác đi, đồng nghĩa trước hết là quan

hệ về ngữ nghĩa giữa các từ trong toàn bộ từ vựng chứ không phải trước hết làgiữa những từ nào đấy Đó là quan hệ giữa các từ ít nhất có chung một nétnghĩa Cũng có thể nói: quan hệ đồng nghĩa bắt đầu xuất hiện khi bắt đầu xuấthiện một nét nghĩa đồng nhất giữa các từ Sau đó ông viết tiếp: Hiện tượngđồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tùy theo số lượng các nét nghĩachung trong các từ Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ ngữ có chungmột nét nghĩa chung (nét nghĩa phạm trù) Số lượng các nét nghĩa đồng nhấttăng lên thì từ càng đồng nghĩa với nhau Mức độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra

Trang 17

khi các từ đã có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùngnhau, chỉ khác ở một hoặc vài nét nghĩa cụ thể nào đó Tuy rằng cuối cùng tácgiả có phân ra chia nhiều mức độ đồng nghĩa, nhưng nói chung quan niệmnày nhìn nhận về hiện tượng đồng nghĩa vẫn quá rộng.

Cùng dựa vào nghĩa biểu niệm và khái niệm, Nguyễn Thiện Giáp viết:Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến hiện tượng đồng nghĩa là phải nói đến sựgiống nhau của các nghĩa sơ biểu Vì vậy tôi tán thành với quan điểm cho từđồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh,biểu thị những sắc thái khác nhau của một khái niệm [7; 216] Dựa vào cấutrúc nghĩa của từ như ta đã nêu trên, kết hợp với ý kiến của tác giả Đỗ HữuChâu và Nguyễn Thiện Giáp, có thể nêu lên quan niệm về từ đồng nghĩa nhưsau: từ đồng nghĩa là những từ có hình thức ngữ âmkhác nhau nhưng có quan

hệ tương đồng về nghĩa biểu niệm

Nếu căn cứ vào khái niệm có dung lượng rộng thì hệ thống đồng nghĩa

sẽ bao gồm các từ rất xa nhau về nội dung, ngược lại, nếu căn cứ vào kháiniệm có dung lượng hẹp thì những từ gần nhau về nghĩa cũng bị loại ra khỏi

Trang 18

như vậy, đến một lúc nào đó, ta sẽ có những đơn vị hoàn toàn trùng nhau vềnhững nét nghĩa cơ bản, chỉ khác nhau ở sắc thái ý nghĩa nào đó mà thôi Đóchính là những đơn vị đồng nghĩa thực sự Như vậy, giữa các từ đồng nghĩa

có mức độ đồng nghĩa cao thấp khác nhau, tùy thuộc ở số lượng nét nghĩachung, nét nghĩa đồng nhất Số lượng nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì mức độđồng nghĩa giữa các từ càng cao Mức độ đồng nghĩa cao nhất (đồng nghĩatuyệt đối) xảy ra khi các từ có tất cả các nét nghĩa trùng nhau

- Hai từ sau có ba nét nghĩa chung (“hoạt động chia cắt đối tượng” và

“thành các phần nhỏ”, “theo chiều dọc”): băm, thái

- Các từ sau có hầu hết các nét nghĩa chung: tàu hỏa, xe lửa, xe hỏa

Ở đây có điều cần chú ý là, nói tới khái nệm “nét nghĩa”, ta nghĩ ngayđến khái niệm “nghĩa biểu niệm”.Nói cách khác trong hệ thống ngôn ngữ,nóiđến từ đồng nghĩa là chủ yếu nói đến sự giống nhau của các nghĩa biểu niệmtrong các từ Nhưng nếu chỉ quan tâm đến nghĩa biểu niệm, mà không chú ýtới hai thành phần ý nghĩa quan trọng khác là nghĩa biểu vật và nghĩa biểuthái thì việc nghiên cứu vấn đề từ đồng nghĩa chưa được coi là đầy đủ

Nghĩa biểu vật là loại sự vật được từ gọi tên, biểu thị Nghĩa biểu vậtcủa từ thóc là tất cả những hạt giống mà chúng ta thấy, của từ bàn là tấtcảnhững cái bàn có trong đời sống (từ bàn của thầy giáo đến bàn của học sinh,bàn để ấm chén)

Nghĩa biểu niệm của từ là hiểu biết về nghĩa biểu vật của từ Cần chú ý,nói nghĩa biểu niệm là hiểu biết về nghĩa biểu vật, không phải hiểu biết về

Trang 19

chính sự vật có thật ở ngoài đời.Hiểu biết về sự vật ở ngoài đời là khái niệm

về sự vật đó Như vậy nếu nghĩa biểu vật là sự ngôn ngữ hóa sự vật ngoài đờithì nghĩa biểu niệm là sự ngôn ngữ hóa khái niệm về sự vật

Nghĩa biểu thái là nét nghĩa biểu thị tình cảm, thái độ đánh giá xấu tốt

đi kèm với nghĩa biểu niệm Ví dụ: hai từ ngoan cố và ngoan cường Ngoan

cố có nghĩa xấu, còn ngoan cường có nghĩa tốt, tán dương

1.1.2.2 Phân loại từ đồng nghĩa

Khi phân loại từ đồng nghĩa các nhà nghiên cứu đã đưa ra những tiêuchí khác nhau và kết quả cũng có sự khác biệt ví như: Căn cứ vào mức độđồng nghĩa (số lượng nét nghĩa chung nhiều hay ít), căn cứ vào mức độ đồngnhất về nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái, có thể chia các từđồng nghĩa thành hai loại lớn: từ đồng nghĩa tuyệt đối và từ đồng nghĩa tươngđối

a Từ đồng nghĩa tuyệt đối

Đó là những từ đồng nhất về nghĩa biểu vật (cùng chỉ một sự vật, hiệntượng trong thực tế khách quan), nghĩa biểu niệm (cùng diễn đạt một nội dungkhái niệm như nhau, có hầu hết các nét nghĩa trùng nhau), nghĩa biểu thái(cùng có sắc thái biểu cảm như nhau) và có thể thay thế được cho nhau, chỉkhác nhau ở phạm vi sử dụng, ở một số sắc thái: địa phương/toàn dân; ngoạilai/thuần Việt

Một số ví dụ:

- Xe lửa, xe hỏa, tàu hỏa

- Máy bay, tàu bay, phi cơ

- Sân bay, trường bay, phi trường

- Hộp quẹt, bao diêm, hộp diêm

- Có mang, có thai, có chửa

- Từ trần, tạ thế, mất, qua đời

Loại từ này không có nhiều trong ngôn ngữ Chúng luôn cạnh tranh vớinhauvà cuối cùng, nếu không có sự phân công giữa chúng, thì một số sẽ bịđẩy lùi, bị tiêu diệt

Trang 20

b Từ đồng nghĩa tương đối

Loại này bao gồm những từ có một số nét nghĩa trùng nhau, đồng thời

có một số nét nghĩa khác, tức là giữa những từ này vừa có mặt đồng nhất, vừa

có mặt khác biệt về sự vật, hiện tượng được biểu thị về khái niệm được diễnđạt, về sắc thái tình cảm, về phạm vi sử dụng Những từ đồng nghĩa tương đối

có thể chia thành hai loại nhỏ:

- Đồng nghĩa nhưng khác nhau về sắc thái biểu cảm

Trong các từ thuộc loại này, thường có một hoặc một vài từ mang sắcthái trung tính, trung hòa về mặt biểu cảm, còn các từ khác đứng trước và sau

nó mang sắc thái biểu cảm tốt, tích cực hoặc sắc thái biểu cảm xấu, tiêu cực Một số ví dụ:

Hi sinh, từ trần, tạ thế, qua đời, mất, chết, bỏ mạng, toi mạng, mấtmạng, bỏ xác, ngoẻo

Dẫn đầu, đứng đầu - lãnh đạo - cầm đầu

Phấn khởi, vui mừng - vui - hí hửng, tí tởn, rửng mỡ

Đoàn kết - liên kết - câu kết

- Đồng nghĩa nhưng khác nhau về sắc thái ý nghĩa, về phạm vi sử dụng.Đây là những từ đồng nghĩa khác nhauở một số nét nghĩa nào đó trong cấutrúc nghĩa biểu niệm, khác nhau ở phạm vi sử dụng Như ta biết, chẳng những

sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan vô cùng phong phú mà từng sựvật, hiện tượng lại có những biểu hiện muôn màu, muôn vẻ

Có thể nói các từ đồng nghĩa thuộc loại này giúp ta biểu thị chính xáccác khía cạnh, các biểu hiện khác nhau đó của sự vật, hiện tượng

Một số ví dụ:

- Rộng, rộng rãi, thênh thang, mênh mông, bao la, bát ngát

- Chạy, phi, lồng, lao

- Lan, phát triển, bành trướng, mở rộng

Trang 21

Từ trái nghĩa là một trong những biệnpháp tổ chức từ vựng theo sự đốilập Có thể định nghĩa từ trái nghĩa theo quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp:

“là những từ khác nhau về ngữ âm, đối lập về ý nghĩa, biểu hiện các kháiniệm tương phản về logic, nhưng tương liên lẫn nhau” [232]

V

í d ụ : Dài - ngắn, xấu - tốt, thiện - ác

Nếu nhấn mạnh mối quan hệ ngữ nghĩa giữa hiện tượng trái nghĩa vàhiện tượng đồng nghĩa ta có thể có cách định nghĩa khác của Đỗ Hữu Châu vềhiện tượng trái nghĩa: “Trái nghĩa là hiện tượng ngược lại với đồng nghĩa,nhưng cùng có cơ sở chung với hiện tượng đồng nghĩa Cụ thể, trái nghĩa làhiện tượng phân hóa hai cực của cùng một nét nghĩa lớn (nét nghĩa phạm trù,nét nghĩa có tính khái quát rất cao) Nói cách khác, khi nét nghĩa lớn ấy phânhóa một cách cực đoan thành hai cực (lưỡng cực hóa) thì ta có các từ tráinghĩa; còn khi các từ đồng nhất với nhau ở một trong hai cực đó thì ta có các

từ đồng nghĩa”

Ví d ụ:

- Lưỡng cực hóa nét nghĩa khái quát “độ rộng” ta có cặp trái nghĩa:rộng - hẹp

Trang 22

- Lưỡng cực hóa nét nghĩa khái quát “sức mạnh” ta có cặp trái nghĩa:yếu - mạnh.

Lưỡng cực hóa nét nghĩa khái quát “độ sâu” ta có cặp trái nghĩa: sâu nông

-Ở mỗi cực ta có thể xác lập được một hệ thống từ đồng nghĩa (hoặc các

Bên cạnh đó, ta còn thấy hiện tượng trái nghĩa là một hiện tượng cótính chất bộ phận - tức là chỉ xảy ra đối với từng nghĩa của từ nhiều nghĩa,chứ không phải xảy ra đối với toàn bộ ý nghĩa của một từ nhiều nghĩa

V

í d ụ :

1 “Già”

- Quả già >< quả non

- Người già >< người trẻ

- Già dặn >< non nớt

2 “Chạy”

- Người chạy >< người đứng

Trang 23

- Xe chạy ><xe dừng

- Đồng hồ chạy >< đồng hồ chết

Vì nét nghĩa đồng nhất làm cơ sở là một nét nghĩa trong một trườngnghĩa, cho nên có thể nói hiện tượng trái nghĩa là hiện tượng trong các trườngnghĩa Thế nên các từ trái nghĩa phải được đặt trong các trường nghĩa biểuniệm thích hợp thì mới xác định được các từ trái nghĩa đích thực Ví dụ, trongngôn bản, chúng ta có thể gặp hai từ “vang dội”- chiến thắng vang dội và “bénhỏ”- thắng lợi bé nhỏ, chúng trái ngược theo độ “lớn - bé” Một từ có nhiềunghĩa cho nên hiện tượng trái nghĩa là hiện tượng xảy ra trong quan hệ giữacác nghĩa của một từ nhiều nghĩa, do đó một từ có thể có nhiều từ trái nghĩavới nó mà những từ này có nét nghĩa chung, làm cơ sở khác nhau

V

í d ụ :

- Lành trái nghĩa với độc (thuốc độc), dữ (điềm dữ), dữ (tính dữ), mẻ, vỡ (bátlành - bát vỡ), rách (áo lành - áo rách)

- Chín trái nghĩa với xanh (quả xanh - quả chín), sống (cơm chín - cơm sống)

- Giả trái nghĩa với thật (hàng giả - hàng thật)

1.1.3.2 Phân loại từ trái nghĩa

Căn cứ vào đặc trưng ngữ nghĩa của các cặp trái nghĩa, người ta chiacác từ trái nghĩa thành hai loại như sau:

a Từ trái nghĩa loại trừ lẫn nhau

Những từ này biểu thị sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất khôngthể cùng tồn tại

Trang 24

No - lưng lửng - đói

Chín - ương ương- xanh

Già - đứng tuổi - trẻ

1.1.4 Đặc điểm ngôn ngữ học của HSTH

1.1.4.1 Ngôn ngữ không phải hiện tượng mang tính bẩm sinh hay di truyền Nó là kết quả của một sự học hỏi, bắt chước do tiếp xúc với xã hội chung quanh, với những người xung quanh

Điều này có thể chứng minh qua những cứ liệu trong thực tế như sau:

- Nếu trẻ sơ sinh phải sống tách biệt với xã hội thì mãi mãi chúngkhông biết đến ngôn ngữ mặc dầu chúng vẫn có những khả năng bẩm sinhnhư biết ăn, biết thở, biết đi

- Nếu trẻ sơ sinh sống ở một môi trường ngôn ngữ khác cách ly hẳn với

bố mẹ và chủng tộc xuất thân, thì chúng sẽ học nói và nói bằng ngôn ngữ củamôi trường xã hội này chứ không phải bằng ngôn ngữ của bố mẹ chúng, củachủng tộc xuất thân Chẳng hạn, nếu một đứa trẻ sơ sinh người Việt Nam,ngay khi mới ra đời, vì lí do nào đó, phải sống cách li với bố mẹ, sống và tiếpxúc với toàn những người nói tiếng Anh thì sau đó chúng không biết nói tiếngViệt mà chỉ biết nói tiếng Anh

1.1.4.2 Lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ của từng cá nhân vào những điều kiện giao tiếp cụ thể

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Sốngtrong xã hội, con người luôn luôn có nhucầu cần phải giao tiếp với nhau Giaotiếp chính là hoạt động trao đổi thông tin hay truyền đạt nhận thức tư tưởng,tình cảm từ người này sang người khác Nó vừa là khả năng, vừa là nhu cầucủa con người, không ai có thể sống cô độc, tách biệt hẳn với những ngườixung quanh

Thật ra với ngôn ngữ, con người có thể giao tiếp với nhau qua các thờiđại cách xa nhau hàng thế kỷ Những nhận thức, tư tưởng, những kinh nghiệm

Trang 25

sống và hoạt động, những tình cảm và thái độ của tổ tiên và các thế hệ đã quađều được lưu trữ trong ngôn ngữ và truyền đến ngày nay nhờ ngôn ngữ.

Nhờ các từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, nhờ các tác phẩm văn họctruyền miệng hoặc các văn bản viết, các thế hệ đã qua vẫn có thể “giao tiếp”được với xã hội ngày nay và thế hệ ngày nay lĩnh hội, hiểu biếtđược lịch sử,hiểu được những nội dung lưu trữ trong đó Cùng với chữ viết và cácphươngtiện kĩ thuật hiện đại như truyền thanh, truyền hình ngôn ngữ còn giúp chocon người giao tiếp được với nhau trong những không gian vô cùng rộng lớn

1.1.4.3 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thường có ít nhất 2 người: người nói (người viết) và người nghe (người đọc)

Hai người đó dùng cùng một phương tiện ngôn ngữ thông qua cácđường kênh giao tiếp mà thông báo và trao đổi các thông tin Sự giao tiếpluôn luôn diễn ra trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.Vì thế muốn hoạtđộng giao tiếp đạt được kết quả tốt, những người tham gia hoạt động giao tiếpcần nhận thức rõ tất cả các nhân tố của hoàn cảnh giao tiếp

V

í d ụ : Câu ca dao

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng:

“Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?”

Hoạt động giao tiếp này diễn ra trong hoàn cảnh “một đêm trăng thanh”với hai nhân vật là người nam với người nữ trẻ tuổi “anh” và “nàng” Cái ẩn ýcủa chàng trai được thể hiện bằng một hình ảnh bóng bẩy “tre non đủ lá đansàng” những nhân tố ấy tất nhiên rất dễ khiến cho cô gái và cả người đọc nhận

ra ẩn ý tế nhị của chàng trai Sự giao tiếp bằng ngôn ngữ như vậy đã đạt đếnhiệu quả mong muốn

Ngôn ngữ là công cụ của hoạt động nhận thức, tư duy Ngôn ngữ thamgia trực tiếp vào quá trình hình thành nhận thức, tư duy của con người

Trang 26

1.1.5 Đặc điểm của HSTH

1.1.5.1 Tính cách của HSTH

Tính cách của học sinh Tiểu học được hình thành từ rất sớm ngay khicác em chưa đến trường Ta có thể quan sát có em trầm lặng, sôi nổi, mạnhdạn, có em thì nhút nhát, rụt rè Song những nét tính cách này mới được hìnhthành nên chưa ổn định và nó có thể thay đổi dưới tác động của các môitrường giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội Hành vi của học sinh Tiểu học

có tính xúc động, các em có khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnhhưởng của kích thích bên ngoài hay bên trong Tính cách của học sinh Tiểuhọc có nhược điểm là hay bất thường, bướng bỉnh, nó phản ứng lại những nhucầu của người lớn, những yêu cầu mà các em xem là cứng nhắc, để bảo vệ cáimình muốn thay cho cái mình phải làm

Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học tính bắt chước còn đậm nét Các em bắtchước hành vi, cử chỉ của giáo viên - những người các em coi là “thầntượng”, kể cả nhân vật trong truyện, trong phim Tính bắt chước của các emcòn lợi hại như “con dao hai lưỡi”, có tác động tích cực nhưng cũng tiêucực.Chính vì vậy mà giáo viên cần hiểu thấu đáo và biết tận dụng tính bắtchước của trẻ để giáo dục học sinh có hiệu quả

Học sinh Tiểu học thích hoạt động và thích làm gì đó phù hợp với bảnthân mình nên có thể sớm hình thành ở các em thói quen đối với lao động, nó

sẽ giúp các em hình thành nên những phẩm chất tốt đẹp như tính kỉ luật, sựcần cù, óc sáng tạo, tính tiết kiệm, tình cảm đối với người lao động

1.1.5.2 Đặc điểm nhận thức của HSTH

Nhu cầu nhận thức được hình thành và phát triển ở trẻ em vào tuổi thơ,đến lớp mẫu giáo lớn nhu cầu này phát triển càng mạnh, xuất hiện mâu thuẫngiữa nhu cầu nhận thức và phương thức thỏa mãn nó Đến giai đoạn trở thànhhọc sinh Tiểu học, nhu cầu nhận thức của các em bắt đầu phát triển và thể

Trang 27

hiện rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh và khát vọnghiểu biết Đó là nhu cầu tìm hiểu vềnhững sự việc riêng lẻ, những hiện tượngriêng biệt.

Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học đó là nhu cầu tinh thần, nhucầu này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của các em Nếu không cónhu cầu nhận thức thì học sinh sẽ không có tính tích cực trí tuệ, sẽ nghĩ rằngmình học vì cha mẹ, vì thầy, cô hay vì cái gì đó chứ không phải là do sự tiến

bộ trong học tập Nhưng ngược lại, khi học sinh có nhu cầu nhận thức nếukhông được thỏa mãn thì các em sẽ bứt rứt, khó chịu, khi được đáp ứng rồi lạitiếp tục muốn thỏa mãn hơn nữa

1.1.5.3 Đời sống tình cảm của học sinh Tiểu học

Đối với học sinh Tiều học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâutrọng yếu gắn chặt với các hoạt động của các em Tình cảm tích cực sẽ kíchthích khả năng nhận thức và thúc đẩy các em hoạt động Xúc cảm, tình cảmcủa các em thường nảy sinh từ các tác động của những người xung quanh, từcác sự vật hiện tượng cụ thể, sinh động Nhìn chung, học sinh Tiểu học dễ bịkích động bởi hệ thống tín hiệu thứ nhất (sự vật, hiện tượng với các thuộc tínhcủa nó) hơn là hệ thống tín hiệu thứ hai (tiếng nói, chữ viết) Ở lứa tuổi này,tình cảm của các em có hai đặc trưng sau:

đủ phẩm chất và năng lực để tồn tại như một công dân trong xã hội, mà các

em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, nhà trường, gia đình và xã hội

Trang 28

Bên cạnh việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn học,các em còn được tiếp xúc với kĩ năng sống trong môi trường trường học vàmôi trường xã hội Cùng vớisự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dụcgia đình và quan hệ bạn bè (cùng độ tuổi, cùng lớp và cùng cấp học), học sinhTiểu học lĩnh hội các chuẩn mực và quy tắc đạo đức của hành vi Những biếnđổi cơ bản quan trọng trong sự phát triển tâm lý của học sinh Tiểu học chuẩn

bị cho các em những bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống ở tuổi thiếu tuổi học sinh Trung học cơ sở Vì thế, chúng ta cần có sự quan tâm, địnhhướng đúng đắn tác động đến trẻ nhằm hình thành và phát triển nhân cách chotrẻ một cách tốt nhất

niên-1.1.5.4 Ý chí của HSTH

Ý chí của học sinh Tiểu học được phát triển ở một trình độ mới trên cơ

sở là hoạt động học tập và các hoạt động khác được tiến hành theo nguyên tắc

nề nếp, nghiêm ngặt với sự kiểm tra thường xuyên của giáo viên và tập thể đó

là điều kiện quan trọng để cho ý chí của các em phát triển

Ở giai đoạn chuẩn bị, các em không lường trước được khó khăn, khigặp trở ngại các em khó vượt qua, không thực hiện đến cùng mục đích.Nhữngphẩm chất ý chí của học sinh gắn liền với kinh nghiệm và sự phát triển tìnhcảm, niềm tin

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Chương trình dạy học phân môn tập đọc và tập làm văn ở lớp 5

1.2.1.1 Chương trình giảng dạy phân môn tập đọc lớp 5

Chương trình SGK Tiếng Việt lớp 5 được đưa vào giảng dạy chínhthức từ năm học 2006- 2007 SGK Tiếng Việt 5 tập 1 được dạy trong 17 tuần,trừ 2 tuần ôn tập, kiểm tra, mỗi tuần có 2 bài tập đọc, tất cả có 30 bài SGKTiếng Việt 5 tập 2 được dạy trong 18 tuần, trừ 3 tuần ôn tập, kiểm tra, mỗituần cũng có 2 bài tập đọc, tất cả có 30 bài Bao gồm các chủ điểm sau:

Trang 29

- Việt Nam - Tổ quốc em

- Cánh chim hòa bình

- Con người với thiên nhiên

- Giữ lấy màu xanh

- Những chủ nhân tương lai

Như vậy, cả chương trình lớp 5 có 60 bài tập đọc, trong đó có 41 bàithuộc thể loại văn xuôi, chiếm 68,3 % và có 54 bài thuộc văn bản nghệ thuật,

4 bài là văn bản phi nghệ thuật

1.2.1.2 Chương trình giảng dạy phân môn tập làm văn lớp 5

Chương trình Tập làm văn lớp 5 gồm 62 tiết (HKI: 32 tiết, HKII: 30tiết), thực hiện trong 31 tuần không kể 4 tuần ôn tập giữa học kỳ và cuối học

kỳ, gồm các nội dung sau:

- Miêu tả

+ Tả cảnh+ Tả người

- Ôn tập về kể chuyện, miêu tả (tả đồ vật, cây cối, con vật, cảnh, người)

Trang 30

1.2.1.3 Nội dung chương trình dạy học từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa trong chương trình SGK Tiếng Việt lớp 5

Qua khảo sát sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 chúng tôi thu được kếtquả như sau:

- Có 19 bài dạy về mở rộng vốn từ: Tổ quốc, Nhân dân, Hòa bình, Hữunghị - Hợp tác, Thiên nhiên (2 tiết), Bảo vệ môi trường (2 tiết), Hạnh phúc,Công dân (2 tiết), Trật tự- An ninh (2 tiết), Truyền thống (2 tiết), Nam và nữ(2 tiết), Trẻ em, Quyền và bổn phận

Trong đó có 6 bài dạy nghĩa của từ trong mối quan hệ đồng nghĩa, trái nghĩa:

- Luyện tập về từ trái nghĩa (1 tiết)

1.2.2 Thực trạng dạy học sinh lĩnh hội và sử dụng từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa ở trường tiểu học Nam Hồng, Đông Anh, Hà Nội

Trong những năm gần đây, chất lượng đào tạo từng bước ổn định vàđem lại những hiệu quả thiết thực Song khi tiến hành giảng dạy môn TiếngViệt, học sinh còn mắc phải một số lỗi về dùng từ Nguyên nhân là các emcòn nhầm lẫn giữa từ đồng nghĩa - từ trái nghĩa; từ đồng âm - từ nhiều nghĩa.Một số thực trạng nằm ở các vấn đề thắc mắc mà các em chưa tự mình giải

Trang 31

quyết Khi cô giáo giảng các em hiểu bài ngay, nhưng không hiểu vì sao khivận dụng vào một số bài tập, các em thường hay mắc một số lỗi như: Tìm saimột số từ trái nghĩa hay lẫn lộn hiện tượng đồng nghĩa và trái nghĩa.

Thực tế ở đây đã cho thấycó nhiều giáo viên không ngừng say sưa tìmtòi sáng tạo trong giảng dạy, đưa chất lượng ngày càng đi lên về mọ mặt,đápứng được với nhu cầu đòi hỏi của xã hội trong thời kì đổi mới Mặt khác,chương trình các môn học ở trường Tiểu học hiện nay đã được sắp xếp mộtcách khoa học, hệ thống song song đối với học sinh tiểu học là bậc học nềntảng Đến trường là một bước ngoặt lớn của các em trong đó hoạt động học làhoạt động chủ đạo, kiến thức các môn học về tự nhiên xã hội chưa được baonhiêu, vốn từ sử dụng trong cuộc sống để diễn đạt trình bày tư tưởng, tìnhcảm của mình còn quá ít, học sinh thường lẫn lộn giữa từ nhiều nghĩa - từđồng âm với từ đồng nghĩa, trái nghĩa Hơn thế nữa các em chưa ý thức đượcvai trò xã hội của ngôn ngữ, chưa nắm được các phương tiện kết cấu và quyluật cũng như hoạt động chức năng của nó

Qua thực tế giảng dạy, dự giờ các tiết dạy của GV ở trường Tiểu họcNam Hồng, người viết nhận thấy việc dạy và học về từ đồng nghĩa - trái nghĩacòn một số tồn tại sau:

+ GV truyền kiến thức về khái niệm từ đồng nghĩa- trái nghĩa còn máymóc, rập khuôn và sơ sài, lấy ví dụ mà chưa hiểu được bản chất của nó Chỉ

bó hẹp trong phạm vi sách giáo khoa Khi thoát khỏi phạm vi này thì học sinhhều hết đều luống cuống và nhầm lẫn

+ Khi thể hiện tiết dạy hầu như GV chỉ chú ý đến đối tượng HS khá,giỏi, còn lại đa số học sinh khác thụ động ngồi nghe rồi một số em khác cómuốn nếu cách hiểu của mình về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa cũng sợ sai lệch,

từ đó tạo nên không khí một lớp học trầm lắng, học sinh làm việc tẻ nhạt,thiếu hứng thú không tạo được hiệu quả trong giờ học

Trang 32

+ Trong những bài dạy về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa hầu như GV ítđọc tài liệu tham khảo, ít học hỏi và trao đổi với đồng nghiệp.

Vì vậy khi thực tập giảng dạy những kiến thức này, cũng như nhiều GV

ở trong tổ nhận thấy rằng: kĩ năng hiểu nghĩa của từ nói chung và đặc biệt là

kĩ năng phân nghĩa và sử dụng từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa của học sinh lớp

5 có rất nhiều hạn chế Đứng trước thực trạng như vậy, đề tài nhằm giúp họcsinh lớp 5 lĩnh hội và sử dụng một cách có hiệu quả các từ ngữ đồng nghĩa,trái nghĩa tạo nền tảng để các em học tốt môn Tiếng Việt

Kết luận chương 1

Như vậy ở chương này chúng tôi đã lựa chọn một số lí thuyết tiêu biểucủa ngôn ngữ học và tâm lí học làm cơ sở lí luận của đề tài Những lí luậntrên sẽ là căn cứ khoa học giúp chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ và mục đíchnghiên cứu của đề tài khóa luận

Trang 33

CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỒNG NGHĨA, TRÁI NGHĨA TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌCỞ SGK

-Nước nhà - Nonsông

- Ngày hôm nay là ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam

- Sau 80 năm giời nô lệ làm cho

nước nhà bị yếu hèn, ngày nay

chúng ta cần phải xây dựng lai cơ

đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng

ta, làm sao cho chúng ta theo kịpcác nước khác trên hoàn cầu

- Non sông Việt Nam có trở nên

tươi đẹp hay không, dân tộc ViệtNam có bước tới đài vinh quang

để sánh vai với các cường quốcnăm châu được hay không, chính

Ngày đăng: 11/01/2020, 11:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
2. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
3. Đỗ Hữu Châu (2009), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2009
5. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng (2003), Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ họcvà Tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
6. Dương Kì Đức (chủ biên), Nguyễn Văn Dự, Vũ Quang Hào (1986), Từ điển trái nghĩa Tiếng Việt, Nxb ĐH &amp; THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển trái nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Dương Kì Đức (chủ biên), Nguyễn Văn Dự, Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb ĐH & THCN
Năm: 1986
7. Nguyễn Thiện Giáp (2010), Từ vựng học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
9. Hoàng Phê (Chủ biên), Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành (2005), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnTiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (Chủ biên), Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
11. Nguyễn Văn Tu (1985), Từ vựng Tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng Tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Tu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
12. Nguyễn Văn Tu (1985), Từ điển đồng nghĩa Tiếng Việt, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển đồng nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Tu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1985
4. Chương trình Tiểu học- Bộ Giáo dục &amp; Đào tạo Khác
8. Ts. Lê Thị Nguyên- Trần Đức Niềm, tuyển chọn những bài làm văn mẫu 5, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Khác
10. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 tập 1, 2 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w