Bài viết trình bày những vấn đề chung; xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học; tổ chức triển khai thực hiện; tổ chức đánh giá nghiệm thu kết quả nghiên cứu đề tài khoa học tại Tổng cục Thống kê.
Trang 1là chỉ tiêu thích hợp để áp dụng cho các
trường hợp gặp khó khăn trong việc tìm tỷ
suất chiết khấu thích hợp để tính NPV của
dự án hoặc người ta muốn biết mức sinh
lợi của vốn đầu tư trong thời gian hoạt
động của dự án là bao nhiêu
Tμi liệu tham khảo
1 Nguyễn Bạch Nguyệt - Giáo trình lập và quản lý dự án đầu tư Nhà xuất bản thống kê,
HN, 2000
2 Dự án khả thi trạm chiết nạp LPG Hải phòng của Công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm khí - Tổng công ty dầu khí Việt nam
Một số kiến nghị về qui trình quản lý
đề tμi khoa học của Tổng cục Thống kê
Phạm Hồng Vân
Viện Khoa học Thống kê
I Những vấn đề chung
Những nội dung nghiên cứu khoa
học của ngành Thống kê được xây dựng
thành các đề tài khoa học, nhằm giải
quyết về mặt cơ sở phương pháp luận
thống kê để đạt mục tiêu cụ thể trong
quá trình thực hiện công tác thống kê
Đề tài khoa học phải đạt trình độ về lý
luận thống kê tiên tiến của thế giới, đồng
thời đảm bảo cơ sở thực tiễn công tác
thống kê Việt nam Đề tài khoa học được
phân thành các loại sau:
- Đề tài cấp Tổng cục là những đề tài
có phạm vi nghiên cứu rộng, tính chất và
nội dung nghiên cứu phức tạp giải quyết
những vấn đề chung về phương pháp luận
thống kê của ngành Đề tài cấp Tổng cục
được thực hiện theo phương thức tuyển
chọn, do Tổng cục trưởng Tổng cục
Thống kê phê duyệt trên cơ sở ý kiến tư
vấn của Hội đồng tuyển chọn
- Đề tài cấp cơ sở và hợp đồng
nghiên cứu khoa học có phạm vi nghiên
cứu hẹp giải quyết những vấn đề vướng
mắc về chuyên môn nghiệp vụ trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ thường xuyên của các Vụ nghiệp vụ Đề tài cấp cơ sở và hợp
đồng nghiên cứu khoa học được thực hiện theo phương thức giao trực tiếp, do Viện trưởng Viện Khoa học Thống kê phê duyệt trên cơ sở ý kiến tư vấn của Hội đồng khoa học Viện Khoa học Thống kê
Mỗi đề tài khoa học do một cán bộ làm chủ nhiệm, có các thành viên tham gia nghiên cứu và có thư ký đề tài, đối với những đề tài cấp Tổng cục có thể có phó chủ nhiệm
Thời gian thực hiện đề tài khoa học cấp Tổng cục từ 1 đến 2 năm tuỳ thuộc vào nội dung nghiên cứu, trường hợp đề tài cấp Tổng cục trọng điểm có thể
được thực hiện đến 3 năm; đề tài cấp cơ sở, hợp đồng khoa học, thời gian thực hiện 1 năm
Tiêu chuẩn của chủ nhiệm đề tμi:
Chủ nhiệm đề tài khoa học là các cán bộ có trình độ đại học trở lên, có kinh nghiệm nghiên cứu và am hiểu sâu về lĩnh vực của đề tài, có khả năng tập hợp, chỉ
Trang 2đạo cán bộ khoa học khác tham gia thực
hiện đề tài Mỗi cán bộ khoa học không
đồng thời làm chủ nhiệm hai đề tài khoa
học trong cùng một năm kế hoạch
Nhiệm vụ của chủ nhiệm đề tμi:
- Xây dựng phiếu đăng ký, bản thuyết
minh đề tài khoa học, dự toán kinh phí chi
tiết cho các nội dung công việc của đề tài,
lập kế hoạch triển khai nghiên cứu Phân
công trách nhiệm cho các thành viên tham
gia nghiên cứu và ký hợp đồng với các
đơn vị và cá nhân thực hiện các nội dung
của đề tài
- Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm
vụ nghiên cứu theo đúng nội dung và tiến
độ được giao
- Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ
báo cáo hàng quí về tiến độ triển khai
nghiên cứu, chế độ chi tiêu tài chính và khi
đề tài kết thúc phải có báo cáo kết quả
nghiên cứu (1 bản đầy đủ và 1 bản tóm
tắt) và các báo cáo chuyên đề đã ghi
trong đề cương nghiên cứu cho cơ quan
quản lý đề tài Chủ nhiệm đề tài chịu toàn
bộ trách nhiệm về kết quả thực hiện đề tài
trước Hội đồng đánh giá nghiệm thu
Quyền hạn của chủ nhiệm đề tμi:
- Kiến nghị với thủ trưởng các đơn vị
(Vụ, Viện) tạo điều kiện về quĩ thời gian
để thực hiện đề tài, được trực tiếp tuyển
chọn cán bộ trong và ngoài đơn vị làm
thành viên tham gia nghiên cứu; được ký
hợp đồng với các cơ quan hữu quan
hoặc cá nhân để thực hiện một số nội
dung của đề tài
- Yêu cầu các bộ phận chức năng (tài
vụ, hành chính quản trị) cấp đủ kinh phí và
các điều kiện khác được duyệt theo dự toán chi tiết, phù hợp với tiến độ nghiên cứu của đề tài
- Sau khi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu và hoàn chỉnh hồ sơ, yêu cầu thành lập Hội đồng đánh giá nghiệm thu
và tổ chức đánh giá nghiệm thu kết quả nghiên cứu
- Sau khi đề tài được nghiệm thu, kiến nghị các cấp quản lý tạo điều kiện ứng dụng kết quả nghiên cứu
- Chủ nhiệm đề tài và các thành viên tham gia nghiên cứu được hưởng quyền tác giả theo luật định của nhà nước
II Xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê giao cho Viện Khoa học Thống kê có nhiệm vụ:
1 Hướng dẫn các đơn vị và cá nhân
đề xuất các đề tài khoa học và nhận hồ sơ
đăng ký tham dự xét chọn Khi đề xuất các đề tài khoa học phải có bản đề cương tóm tắt về: sự cần thiết, mục tiêu nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, sản phẩm đạt
được, các bước tiến hành và dự toán kinh phí cho từng nội dung cụ thể
2 Tổng hợp, bổ sung và hoàn thiện danh mục các đề tài nghiên cứu đưa vào
kế hoạch năm trình lãnh đạo Tổng cục và
Bộ Khoa học và công nghệ phê duyệt
III Tổ chức triển khai thực hiện
Sau khi nhận được thông báo của Bộ Khoa học và Công nghệ giao chỉ tiêu kế hoạch khoa học công nghệ cho Tổng cục Thống kê, Viện Khoa học Thống kê lập dự
Trang 3kiến phân bổ kinh phí cho các hoạt động
khoa học và công nghệ của Tổng cục:
Nghiên cứu khoa học (cho từng đề tài cấp
Tổng cục, chung cho các đề tài cấp cơ sở,
triển khai thực tế và phối hợp với địa
phương); thông tin khoa học thống kê
(xuất bản tờ thông tin KHTK, chuyên san,
tổng luận, tổng thuật, phổ biến thông tin,
mua dịch tài liệu); đào tạo và hợp tác quốc
tế v.v trình lãnh đạo Tổng cục phê duyệt
chính thức
- Viện KHTK tổ chức hội nghị với các
đơn vị trong Tổng cục, trong Viện để công bố
Quyết định của Tổng cục trưởng TCTK về
phân bổ kinh phí cho các nội dung hoạt động
và phổ biến kế hoạch triển khai thực hiện
- Thành lập và tổ chức họp Hội
đồng xét duyệt đề cương với các chủ
nhiệm đề tài
Bản đề cương của đề tài khoa học
phải đạt được các yêu cầu sau:
- Mục tiêu, nội dung nghiên cứu
phải rõ ràng và sản phẩm dự kiến đạt
được phải có tính khả thi, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra hoặc
được giao
- Có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
đối với công tác thống kê, có hiệu quả
kinh tế xã hội
- Thể hiện được tiềm lực nghiên cứu
(cán bộ tham gia có năng lực nghiên cứu),
có cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nghiên
cứu, có điều kiện tiếp nhận thông tin có
liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu
- Dự toán kinh phí phù hợp với mục
đích, nội dung, tiến độ nghiên cứu của đề tài
- Có địa chỉ áp dụng sau khi kết thúc
đề tài
Hội đồng xét duyệt đề cương vμ xác
định chủ nhiệm đề tμi do Lãnh đạo Tổng cục hoặc Lãnh đạo Viện KHTK ra quyết
định thμnh lập
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê
ký quyết định thành lập Hội đồng xét duyệt đề cương và xác định chủ nhiệm các đề tài cấp tổng cục; Viện trưởng Viện Khoa học Thống kê ký quyết định thành lập Hội đồng xét duyệt đề cương và xác
định chủ nhiệm các đề tài cấp cơ sở Yêu cầu đối với Hội đồng xét duyệt
đề cương và xác định chủ nhiệm đề tài như sau:
- Các thành viên của Hội đồng phải
là các cán bộ có trình độ đại học trở lên,
có uy tín, có trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, am hiểu về lĩnh vực nghiên cứu
- Số thành viên của Hội đồng có từ
7-9 người trong đó 2 - 3 phản biện Số thành viên phải có 2/3 có trình độ trên đại học (đối với đề tài cấp Tổng cục) và Hội đồng
có 5 người, trong đó 2 phản biện và số thành viên phải có ít nhất 2 người có trình
độ trên đại học (đối với đề tài cấp cơ sở)
- Hội đồng tuyển chọn chỉ tiến hành họp khi có mặt từ 2/3 số thành viên trở lên
- Kết quả xét duyệt phải được viết thành văn bản và có chữ ký của chủ tịch
và thư ký Hội đồng Khi bảo vệ đề tài, chủ nhiệm đề tài và các thành viên tham gia nghiên cứu đề tài không tham gia trong hội đồng đánh giá
Trang 4Căn cứ vào kết quả xét duyệt của
Hội đồng, Viện Khoa học Thống kê lập
danh mục đề tài trình lãnh đạo Tổng cục
phê duyệt (đối với đề tài cấp Tổng cục),
Viện trưởng Viện KHTK phê duyệt (đối với
đề tài cấp cơ sở)
Khi các đề tài thực hiện xong thủ tục
đăng ký, Viện KHTK chịu trách nhiệm
hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện các
đề tài, theo dõi kiểm tra giám sát tiến độ,
nội dung và việc sử dụng kinh phí của đề
tài Kết thúc đề tài phải tiếp nhận kết quả
nghiên cứu để chuẩn bị cho việc đánh giá
nghiệm thu
IV Tổ chức đánh giá nghiệm thu kết
quả nghiên cứu
Tất cả các đề tài khi kết thúc phải
được đánh giá nghiệm thu theo qui định
của Luật Khoa học và Công nghệ
Nghiệm thu sơ bộ và nghiệm thu chính
thức đối với đề tài cấp Tổng cục Nghiệm
thu một lần đối với đề tài cấp cơ sở
Trước khi đưa ra nghiệm thu, hồ sơ của
đề tài gồm:
- Báo cáo tổng kết toàn diện và báo
cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu của đề tài
- Báo cáo quyết toán kinh phí đề tài
đã được cơ quan quản lý xác nhận
- Quyết định thành lập Hội đồng
nghiệm thu đánh giá
Hội đồng đánh giá nghiệm thu:
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê
ký quyết định thành lập Hội đồng đánh giá
nghiệm thu đề tài cấp Tổng cục; Viện
trưởng Viện KHTK ký quyết định thành lập
Hội đồng đánh giá nghiệm thu đề tài cấp
cơ sở Các Hội đồng được thành lập riêng cho mỗi đề tài và hết hiệu lực khi đã đánh giá nghiệm thu xong đề tài
Hội đồng có từ 5-7 thành viên, trong
đó phải có 2/3 số thành viên là cán bộ khoa học có trình độ trên đại học Hội
đồng có chủ tịch Hội đồng, thư ký Hội
đồng, 2 uỷ viên phản biện Chủ tịch Hội
đồng phải là nhà khoa học am hiểu sâu sắc lĩnh vực nghiên cứu của đề tài Chủ nhiệm đề tài và các cán bộ tham gia thực hiện đề tài không được tham gia Hội đồng
đánh giá nghiệm thu
Tổ chức đánh giá nghiệm thu:
Sau khi có quyết định Hội đồng
đánh giá nghiệm thu đề tài, Viện KHTK phải tổ chức họp Hội đồng chậm nhất sau 45 ngày kể từ ngày ký Quyết định Hội đồng chỉ tiến hành họp khi có mặt từ 2/3 số thành viên trở lên, trong đó có 2 phản biện (trong trường hợp 1 phản biện vắng phải gửi cho Hội đồng bản nhận xét đánh giá)
Hoμn thiện hồ sơ vμ đăng ký kết quả nghiên cứu:
Sau 10 ngày kể từ ngày họp Hội
đồng đánh giá nghiệm thu, các đề tài phải hoàn thiện sản phẩm gửi cho Viện KHTK
để hoàn tất các văn bản đăng ký với Bộ Khoa học và công nghệ Hồ sơ nộp Bộ Khoa học và công nghệ gồm:
Báo cáo tổng kết toàn diện và báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu
Biên bản họp Hội đồng đánh giá nghiệm thu
Phiếu đăng ký kết quả nghiên cứu
Trang 5Quyết định thành lập Hội đồng đánh
giá nghiệm thu
V Kinh phí hoạt động của các
Hội đồng
Kinh phí chi cho Hội đồng tuyển chọn
đề tài, xét duyệt đề cương và chủ nhiệm
đề tài lấy từ kinh phí sự nghiệp khoa học
cấp cho Tổng cục Thống kê (Viện KHTK chi và quyết toán trực tiếp) Kinh phí chi cho Hội đồng đánh giá nghiệm thu lấy từ kinh phí của các đề tài Chế độ chi cho các Hội đồng nói ở phần trên phải tuân theo qui định chế độ tài chính hiện hành của nhà nước
Ba sự kiện thống kê đầu thế kỷ 20
do thực dân Pháp tiến hμnh
Tháng chín năm 1858 thực dân
Pháp nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà,
Đà Nẵng bắt đầu cuộc xâm lược nước ta
và đã mở ra một thời kỳ bi thương và đầy
biến động với dân tộc ta, với bao cuộc
khởi nghĩa cứu nước bị dìm trong biển
máu, với bao người Việt Nam yêu nước
đã ngã xuống, Thiết lập được quyền
thống trị trên phần lớn lãnh thổ nước ta,
thực dân Pháp đã tìm ngay những biện
pháp để quản lý, khai thác, bóc lột đất
nước và nhân dân ta - mà một trong các
giải pháp cơ bản là tiến hành điều tra dân
số Trong tư liệu này chúng tôi xin giới
thiệu ba cuộc điều tra dân số lớn mà
Pháp đã tiến hành trên lãnh thổ nước ta
và Đông Dương thời đó, hy vọng rằng
bạn đọc sẽ hình dung ra được phần nào
về dân số nước ta thời đó hoặc từ đây tìm
đến các tư liệu chi tiết hơn
Cuốn “Việt nam những sự kiện lịch sử
1919-1945” tác giả Dương Trung Quốc,
xuất bản năm 2003 đã chọn đưa ba sự
kiện thống kê quan trọng là:
Sự kiện thứ nhất:
“15 tháng Hai năm 1920, kết quả
điều tra dân số Nam Kỳ
Đến ngày 15-2-1920, dân số toàn Nam kỳ là 3.915.613 so với năm 1901 tăng 298.529 người Cụ thể số dân của các tỉnh trong bảng sau”: (xem bảng trang 29) Cho dù hiện nay các địa bàn hành chính cấp tỉnh đã có nhiều thay đổi nhưng
số liệu trên vẫn cho chúng ta hình dung ra một bức tranh phân bố dân cư thời kỳ Pháp thuộc ở Nam Kỳ Đặc biệt ở đây có số liệu
so sánh giữa hai thời điểm là 1901 và 1920, sơ lược chúng ta có thể thấy trong khoảng
20 năm dân số Nam Kỳ tăng 27% (14.927 người); điều này cho thấy cuộc sống nhân dân ta thời đó còn rất nghèo, điều kiện chăm sóc y tế gần như chưa có gì, cộng với chiến tranh xâm lược rất tàn bạo và các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta cũng rất quyết liệt cho nên tỷ lệ tử vong chắc rất cao Ngoài ra các biến động dân số có thể rất lớn, đặc biệt các cuộc di cư bắt buộc, nên chưa chắc số liệu đưa ra ở đây là đầy đủ