1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò, nhiệm vụ của viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự qua thực tiễn huyện hoài đức, thành phố hà nội

102 182 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 520 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo vệ quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án...39 Tiểu kết chương 1...43 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN CON

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THU PHƯƠNG ANH

VAI TRß, NHIÖM Vô CñA VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N

TRONG VIÖC B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI TRONG Tè TôNG H×NH Sù

- QUA THùC TIÔN HUYÖN HOµI §øC, THµNH PHè Hµ NéI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THU PHƯƠNG ANH

VAI TRß, NHIÖM Vô CñA VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N

TRONG VIÖC B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI TRONG Tè TôNG H×NH Sù

- QUA THùC TIÔN HUYÖN HOµI §øC, THµNH PHè Hµ NéI

Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc

nhất tới GS.TS Nguyễn Đăng Dung, người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và

giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Em cũng trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo tại Khoa Luậttrực thuộc Đại học Quốc gia, đặc biệt là các thầy cô giáo đã giảng dạy lớp caohọc khóa 22; cảm ơn hệ thống Thông tin thư viện của trường cùng các anh chị

em học viên khóa đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập

và nghiên cứu

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Thu Phương Anh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân th nh c m n! ành cảm ơn! ảm ơn! ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Thu Phương Anh

Trang 5

CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở NƯỚC

TA HIỆN NAY 9 1.1 Khái niệm quyền con người và đặc trưng của hoạt động bảo

vệ quyền con người trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 9

1.1.1 Khái niệm quyền con người 91.1.2 Đặc trưng của hoạt động bảo vệ quyền con người trong tố tụng

hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 11

1.2 Các nguyên tắc tố tụng làm nền tảng cho việc bảo vệ quyền

con người của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự

15

1.3 Hoạt động bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự của

Viện kiểm sát nhân dân 22

1.3.1 Bảo đảm quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công

tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết tin báo, tốgiác về tội phạm và kiến nghị khởi tố 221.3.2 Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tracác vụ án hình sự 251.3.3 Bảo vệ quyền con người trong hoạt động thực hành quyền công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án

Trang 6

hình sự 311.3.4 Bảo vệ quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo

pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam 341.3.5 Bảo vệ quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo

pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án 39

Tiểu kết chương 1 43 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC 44 2.1 Khái quát về hệ thống Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức

44

2.2 Thực trạng bảo vệ quyền con người trong hoạt động thực

hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tôi phạm, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, xét xử sơ thẩm các

vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức 47 2.3 Thực trạng bảo vệ quyền con người trong hoạt động thực

hành quyền công tố và kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức

57

2.4 Đánh giá chung về vai trò bảo vệ quyền con người của Viện

kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức trong tố tụng hình sự 60 Tiểu kết chương 2 66 CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ BẢO

VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUA THỰC TIỄN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 67 3.1 Các quan điểm về nâng cao vai trò bảo vệ quyền con người trong

tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức 67

Trang 7

người trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

huyện Hoài Đức 72

3.2.1 Hoàn thiện các quy định bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự và tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác hướng dẫn áp dụng bộ luật tố tụng hình sự 73

3.2.2 Nâng cao nhận thức về quyền con người trong đội ngũ cán bộ 75

3.2.3 Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng 76

3.3 Các giải pháp về tổ chức và hoạt động nhằm tăng cường vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân nhân 77

3.3.1 Tăng cường bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ về chính trị, nghiệp vụ và trách nhiệm của cán bộ, Kiểm sát viên 77

3.3.2 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của Lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ quyền con người 84

3.3.3 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát và hoàn thiện chính sách đối với cán bộ, Kiểm sát viên 85

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật Hình sự

BLTTHS Bộ luật Tố tụng Hình sựCQĐT Cơ quan điều tra

THQCT Thực hành quyền công tốTTHS Tố tụng hình sự

VKSND Viện kiểm sát nhân dânXHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc

giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi

tố, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức năm

Bảng 2.2 Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt

động điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài

Bảng 2.3 Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt

động xét xử, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo vệ quyền con người là một trong những yêu cầu và mục đích củaviệc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta Chăm lo đến conngười, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con người phát triển toàn diện là quanđiểm cơ bản, xuyên suốt, được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng vàNhà nước Việt Nam Bảo vệ quyền con người cần được thực hiện trên tất cảcác lĩnh vực, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm về nhân quyền như hoạtđộng tố tụng hình sự

Tố tụng hình sự là một mặt hoạt động của Nhà nước, có sự tham giacủa nhiều cơ quan, trong đó VKSND giữ vai trò rất quan trọng Hiến phápnăm 2013 quy định VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, thực hiệnchức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

tố tụng hình sự, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật, pháp chế,bảo vệ quyền con người Việc bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sáttrong tố tụng hình sự được thể hiện trên hai phương diện: Một là, đấu tranhchống tội phạm, phát hiện kịp thời để đưa ra xử lý nghiêm minh trước phápluật đối với người phạm tội xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp,trong đó có các quyền của con người Hai là, bảo đảm các quyền của conngười (của người bị tình nghi, bị can, bị cáo, người bị kết án) không bị phápluật tước bỏ được tôn trọng

Trong những năm vừa qua, bằng công tác thực hành quyền công tố(THQCT) và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự; VKSND

đã có những đóng góp lớn trong việc bảo vệ quyền con người trong các giaiđoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, bêncạnh những kết quả đạt được, vai trò bảo vệ quyền con người của VKSND

Trang 11

trong tố tụng hình sự còn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu Công tácTHQCT và kiểm sát điều tra còn nhiều lỗ hổng, dẫn đến việc các cơ quanđiều tra (CQĐT) ở một số nơi, trong một số thời điểm còn áp dụng các biệnpháp trái pháp luật, bức cung, dùng nhục hình đối với người bị tạm giữ, tạmgiam, bị can Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế đã nêu trên, trong đónhiều nguyên nhân đã được làm rõ, trong khi có nhiều nguyên nhân còn chưađược nhận diện đầy đủ Do vậy, việc nghiên cứu về vai trò bảo vệ quyền conngười trong tố tụng hình sự của VKSND hiện nay có ý nghĩa thiết thực cả trênphương diện lý luận và thực tiễn Đây đồng thời là một yêu cầu cấp thiết, đặcbiệt trong bối cảnh Luật tổ chức VKSND ban hành năm 2014 đã có hiệu lựcpháp luật và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã được thông qua

và có hiệu lực ngày 01/7/2016, trong đó nhấn mạnh vai trò bảo vệ quyền conngười của VKSND trong tố tụng hình sự

Hoài Đức là một huyện nằm ở phía tây trung tâm thủ đô Hà Nội, có vịtrí thuận lợi và tiềm năng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Bên cạnh đó, dotốc độ đô thị hóa khá cao; các dự án khu đô thị, khu công nghiệp mới pháttriển đã thu hút số lượng lớn lao động ở nơi khác đến làm việc trên địa bànnên trong những năm vừa qua, số lượng vụ án hình sự ở huyện Hoài Đức tăngcao, tình hình vi phạm, tội phạm trên địa bàn huyện có diễn biến phức tạp.Trong bối cảnh đó, VKSND huyện Hoài Đức đã có nhiều nỗ lực và đã đạtnhiều kết quả đáng khích lệ trong việc thực hiện vai trò bảo vệ quyền conngười trong hoạt động tố tụng hình sự Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạtđược, việc thể hiện vai trò bảo vệ quyền con người của VKSND huyện HoàiĐức còn nhiều hạn chế bất cập Những hạn chế, bất cập này do nhiều nguyênnhân, trong đó ngoài những nguyên nhân chung, còn có những nguyên nhânđặc thù ở địa phương, đòi hỏi phải nghiên cứu tìm ra giải pháp khắc phục

Trang 12

Là một Kiểm sát viên đang công tác trong ngành Kiểm sát ở địa

phương, trước tình hình trên, học viên quyết định chọn đề tài: “Vai trò,

nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự - qua thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội ”

để thực hiện luận văn thạc sĩ của mình, với mong muốn tìm ra các giải phápnâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự của VKSNDtrên địa bàn huyện Hoài Đức nói riêng và ở nước ta nói chung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở nước ta, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn

đề bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền con người trong tố tụnghình sự nói riêng Những công trình nghiên cứu về vấn đề này có thể đượcphân thành hai nhóm chính như sau:

- Các nghiên cứu về bảo đảm quyền con người nói chung gồm các công

trình tiêu biểu như: “Quyền con người trong thế giới hiện đại” - đề tài khoa

học cấp nhà nước do GS Hoàng Văn Hảo và GS Phạm Ích Khiêm đồng chủ

nhiệm; “Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị” do

GS.TS Nguyễn Đăng Dung, PGS TS Vũ Công Giao, TS Lã Khánh Tùng

(đồng chủ biên), NXB Hồng Đức, 2012; “Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” do PGS TS Vũ Công Giao, Nghiêm Kim Hoa (đồng chủ biên), NXB Hồng Đức, 2012; “Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người” do GS.TS Nguyễn Đăng Dung, PGS TS Vũ Công

Giao, TS Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), NXB ĐHQG Hà Nội, 2010, tái

bản năm 2011, 2015; “Tìm hiểu về quyền con người - Tài liệu hướng dẫn về giáo dục quyền con người” do Wolfgang Benedek (chủ biên), NXB Tư pháp, 2008; “Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người” - Trung tâm nghiên

cứu Quyền con người - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002;

“Bàn về quyền con người, quyền công dân” do Trần Ngọc Đường (chủ biên),

Trang 13

- Các nghiên cứu về bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự gồm

các công trình tiêu biểu như: “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình

sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” đề tài khoa học cấp Đại học Quốc Gia do GS TSKH Lê

Văn Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí, Ths Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì thực

hiện năm 2005; “Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự” của GS TSKH Lê Văn Cảm đăng trên tạp chí khoa học Luật học của ĐHQG Hà Nội, số 3/2011; “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam” sách chuyên khảo của TS Trần Quang Tiệp, NXB Chính trị Quốc gia, 2004; “Bảo vệ các nhóm

dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự” của Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng

Thái, Lê Văn Cảm, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), NXB

ĐHQG Hà Nội, 2011; “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay” - luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Huy Hoàng, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia năm 2011; “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam” - luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang Hiền bảo vệ tại Viện nhà nước và pháp luật năm 2008; “Quyền im lặng trong pháp luật quốc

tế, pháp luật của một số quốc gia và Việt Nam” của Vũ Công Giao, Nguyễn

Minh Tâm đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2015 …

Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp một lượng lớn kiếnthức, thông tin có liên quan đến đề tài Cùng với những văn bản pháp quy vàbáo cáo tình hình công tác kiểm sát của Viện KSND huyện Hoài Đức, nhữngcông trình nghiên cứu trên là các tài liệu tham khảo chính khi thực hiện đề tàinày Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung chuyên sâunghiên cứu về vai trò, nhiệm vụ của VKSND trong việc bảo vệ quyền conngười trong tố tụng hình sự Mặt khác, hầu hết các công trình nghiên cứu đã

Trang 14

nêu trên chưa cập nhật những quy định mới về VKSND và về bảo vệ quyềncon người trong tố tụng hình sự trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chứcVKSND năm 2014 và Bộ luật Hình sự, Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 Vìvậy, luận văn này là cần thiết và có giá trị lý luận, thực tiễn.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nhằm đánh giá một cách toàn diện, chuyên sâu về vai trò bảo vệ quyềncon người, quyền công dân của VKSND thông qua hoạt động thực hànhquyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các vụ án hình sự

Từ đó, chỉ ra những kết quả, tồn tại, hạn chế của Viện kiểm sát trong việcthực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người; đánh giá nguyên nhân của nhữngtồn tại, hạn chế và đề ra các giải pháp nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quảbảo vệ quyền con người của VKSND trong tố tụng hình sự ở nước ta

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn xác định những nhiệm

vụ cụ thể như sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về vai trò bảo vệ quyên con ngườicủa VKSND trong tố tụng hình sự, chỉ ra cơ sở lý thuyết của hoạt động này,bao gồm các khái niệm, định nghĩa, đặc điểm, tính chất, các yêu cầu và điềukiện tác động…

- Phân tích khuôn khổ pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam vềvai trò của VKSND trong bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự,chỉ ra những quy định còn thiếu hoặc chưa hợp lý trong pháp luật ViệtNam mà ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền con người của VKSNDtrong tố tụng hình sự

- Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện vai trò bảo vệ quyền con

Trang 15

người trong tố tụng hình sự của Viện KSND huyện Hoài Đức trong 5 nămgần đây, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và phân tích nguyên nhân.

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền conngười của VKSND trong tố tụng hình sự ở nước ta qua thực tiễn huyện HoàiĐức, thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thể hiện vai trò, nhiệm vụ bảo

vệ quyền con người của VKSND thông qua công tác thực hành quyền công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các vụ án hình sự trên địa bànhuyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vai trò bảo vệ quyền conngười của VKSND trong tố tụng hình sự, không mở rộng đến các cơ quantiến hành tố tụng khác

Về không gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng vai trò bảo vệquyền con người của VKSND trong tố tụng hình sự ở huyện Hoài Đức, thànhphố Hà Nội; không mở rộng đến các địa phương khác

Về thời gian, đề tài chỉ giới hạn phân tích thực trạng bảo vệ quyềncon người trong tố tụng hình sự của VKSND huyện Hoài Đức trong 5 nămtrở lại đây

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểmcủa Đảng, Nhà nước ta về quyền con người, quyền công dân

Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến củakhoa học xã hội để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra Cụ thể:

Trang 16

- Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứuhiện có và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vai tròcủa VKSND trong bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự ở nước

ta hiện nay

- Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các tài liệu,báo cáo chuyên môn của VKSND huyện Hoài Đức và phương pháp quan sátthực tế để đánh giá thực trạng bảo vệ quyền con người trong hoạt động tốtụng hình sự của huyện Hoài Đức trong 5 năm gần đây

- Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các quanđiểm, giải pháp nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con ngườitrong tố tụng hình sự của VKSND huyện Hoài Đức nói riêng và của ngành

KS nói chung

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về vai trò bảo vệ quyềncon người của VKSND trong tố tụng hình sự ở huyện Hoài Đức Luận văncũng là một trong số ít công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện vềvai trò bảo vệ quyền con người của VKSND ở nước ta từ trước đến nay

Vì vậy, luận văn cung cấp nhiều kiến thức, thông tin, luận điểm và đề xuấtmới có giá trị tham khảo với các cơ quan nhà nước ở Trung ương và thànhphố Hà Nội trong việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế nâng cao hiệu quảbảo vệ quyền con người của VKSND trong tố tụng hình sự

Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng là nguồn tài liệu tham khảocho việc giảng dạy, nghiên cứu các chuyên ngành luật có liên quan như luậthiến pháp, hành chính, luật hình sự, luật nhân quyền ở Khoa Luật ĐHQG HàNội và các cơ sở đào tạo khác của nước ta

Trang 17

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận, pháp lý về vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm

sát nhân dân trong việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự ở nước

ta hiện nay

Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự

của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức

Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao vai trò bảo vệ quyền con

người trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhân dân qua thực tiễn huyệnHoài Đức, thành phố Hà Nội

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ, NHIỆM VỤ

CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 Khái niệm quyền con người và đặc trưng của hoạt động bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người là khát vọng và giá trị chung của nhân loại Cùng với

sự phát triển của xã hội, các khái niệm về quyền con người dần được hìnhthành và pháp điển hóa trong luật quốc gia của hầu hết các nước trên thế giớicũng như trong luật pháp quốc tế Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyềncon người (human rights), dù định nghĩa của các chuyên gia, cơ quan nghiêncứu nêu ra không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người

thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

Bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, thì “nhân quyền” cũng là thuậtngữ được sử dụng nhiều trong thực tế ở Việt Nam Cả hai thuật ngữ này đều

bắt nguồn từ thuật ngữ “human rights”, theo đó quyền con người là từ thuần Việt, nhân quyền là từ Hán Việt Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa, do đó có thể sử dụng cả hai từ

trong nghiên cứu [30, tr.1239]

Qua các nghiên cứu khoa học, quyền con người có những đặc tính cơbản [4, tr.6] sau đây:

Tính phổ biến (universal): thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì

Trang 19

bẩm sinh, vốn có của con người, được áp dụng chung cho tất cả mọi người,không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, xuất thân, độ tuổi, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì Tuy nhiên, bình đẳng không

có nghĩa là ngang nhau về mức độ thụ hưởng các quyền, mà nó phụ thuộc vàonăng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa

xã hội mà người đó đang sống

Tính không thể chuyển nhượng (inaliernable): Thể hiện ở chỗ các

quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất

cứ chủ thể nào, kể cả bởi nhà nước Việc hạn chế hay tước bỏ quyền của một

cá nhân phải do pháp luật quy định nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đángcủa cộng đồng hay của các cá nhân khác

Tính không thể phân chia (indivisible): Thể hiện ở chỗ các quyền con

người đều có tầm quan trọng như nhau, không có quyền nào được coi là cógiá trị cao hơn quyền nào, việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tácđộng tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người Tuynhiên, tùy bối cảnh và những đối tượng cụ thể, có thể ưu tiên thực hiện một sốquyền con người nhất định do trong thực tế những quyền này có nguy cơ bị

đe dọa hoặc bị vi phạm nhiều hơn so với các quyền khác (ví dụ như cần cónhững quyền đặc biệt cho phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người thiểu số…

do đây là nhóm yếu thế)

Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependant): Thể

hiện ở chỗ việc bảo đảm quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trongmối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trựctiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác,

và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếptác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác

Trang 20

1.1.2 Đặc trưng của hoạt động bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Về nhận thức chung, chủ thể cơ bản của quyền con người là các cánhân Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chủ thể của quyền con người còn

là các nhóm người, ví dụ như các nhóm thiểu số về chủng tộc, dân tộc, tôngiáo,… Xét về nghĩa vụ, nhận thức phổ biến cho rằng, chủ thể cơ bản có tráchnhiệm tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người là các nhà nước (mà

cụ thể là chính phủ), các cơ quan nhà nước khác cùng các công chức, viênchức Về vấn đề này, các nhà nước đóng vai trò kép, vừa là thủ phạm chínhcủa những vi phạm nhân quyền, song đồng thời cũng được coi là chủ thể cóvai trò chính trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người

Bảo vệ nhân quyền vừa là quyền vừa là trách nhiệm của mọi cá nhân.Như đề cập ở trên thì nhà nước là chủ thể có trách nhiệm chính trong việcthúc đẩy và bảo vệ nhân quyền Để thực hiện được điều đó, Nhà nước phải sửdụng pháp luật Mặc dù quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn cónhưng nó không thể thành hiện thực nếu không có pháp luật

Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) là một trong những cơ sở pháp lýgóp phần bảo vệ quyền con người Một số nguyên tắc liên quan đến bảo vệquyền con người đã được ghi nhận trong BLTTHS năm 2015 như: Tôntrọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân;Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật; Bảo đảm quyền bất khả xâmphạm về thân thể; Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sảncủa cá nhân, danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân; Bảo đảm quyền bấtkhả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình,

an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân; Suy đoán vô tội;Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của bị hại, đương sự

Trang 21

Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một cơ quan nhà nước, một thiếtchế được thành lập theo quy định của Hiến pháp, là cơ quan tiến hành tố tụnghình sự, thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong tố tụng hình sự, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệpháp luật, pháp chế, bảo vệ quyền con người Việc bảo vệ quyền con ngườicủa VKSND trong tố tụng hình sự được thể hiện trên hai phương diện:

- Một là: Đấu tranh chống tội phạm, phát hiện kịp thời và đưa ra xử lýnghiêm khắc trước pháp luật những hành vi vi phạm quyền con người, đặcbiệt trong hoạt động tư pháp

- Hai là: Bảo đảm các quyền con người, đặc biệt của người bị tạm giữ,tạm giam, bị can, bị cáo được tôn trọng

Về mặt pháp lý, tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều có nhiệm vụbảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, mỗi cơ quan, phùhợp với chức năng, nhiệm vụ của mình, có những cách thức, biện pháp riêng

để thực hiện nhiệm vụ này

Đối với VKSND, hoạt động bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình

sự của cơ quan này có những đặc điểm sau:

- VKSND bảo vệ quyền con người thông qua việc thực hiện chứcnăng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tốtụng hình sự

Với mục tiêu xây dựng thành công nhà nước pháp quyền, Hiến phápnăm 2013 tiếp tục khẳng định VKSND thực hiện hai chức năng đó là “thựchành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [21] Như vậy, ở Việt Nam,trong bộ máy nhà nước, chỉ duy nhất có VKSND được Hiến pháp giao phóhai chức năng quan trọng này Hai chức năng thực hành quyền công tố vàkiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân song hành, bổ trợ chonhau Đặc biệt, trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, vai trò của hai chức

Trang 22

Với nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong tố tụng hình sự, VKSND cóvai trò tìm ra sự thật khách quan của vụ án hình sự Trong các nhiệm vụ củangành kiểm sát được Hiến pháp năm 2013 xác định, đó là: “Viện kiểm sátnhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyềncông dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấphành nghiêm chỉnh và thống nhất Như vậy, trong những nhiệm vụ củaVKSND, nhiệm vụ bảo vệ quyền con người chỉ được đặt sau nhiệm vụ bảo

vệ pháp luật Trong mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, việc bảo vệ các quyền con người, quyền công dân là nhiệm vụ cơ bản.Nhiệm vụ này được Nhà nước tin tưởng, giao cho Viện kiểm sát và các cơquan nhà nước khác

Trong tố tụng hình sự, VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sáthoạt động tố tụng nhằm bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể,được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, không bị tra tấn,bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác vi phạmquyền con người Hoạt động kiểm sát và hoạt động công tố là hai hoạt độngkhác nhau, với mục tiêu khác nhau Hoạt động kiểm sát là để bảo đảm chopháp luật được thực hiện, được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thốngnhất Hoạt động công tố là tập trung vào việc phát hiện, điều tra, truy tố,buộc tội chính xác, nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm không để xảy ra oansai, không bỏ lọt tội phạm

- Chủ thể được VKSND bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sựchủ yếu là những người tham gia tố tụng

Tố tụng hình sự chia các chủ thể tố tụng ra làm hai nhóm gồm: nhữngngười tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng Những người tiếnhành tố tụng là những chủ thể có các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định, sử

Trang 23

dụng quyền lực nhà nước trong việc làm sáng tỏ vụ án hình sự Do đó, chủ thểnày tham gia vào hoạt động tố tụng với những bảo đảm về quyền năng tố tụngcủa nhà nước Việc đặt ra vấn đề đảm bảo quyền con người của chủ thể này

có nhưng không thực sự cấp thiết

Chủ thể thứ hai là những người tham gia tố tụng Căn cứ vào tínhchất, nội dung, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có thể chia nhóm nàythành hai nhóm: một nhóm chủ thể tham gia tố tụng vì có quyền và nghĩa

vụ liên quan trực tiếp đến sự phán xét của các cơ quan tiến hành tố tụng.Nhóm chủ thể này gồm hai loại: một loại với tư cách pháp lý là người bịbắt, tạm giữ, bị can, bị cáo, người kết án do đã thực hiện hành vi vi phạmpháp luật hình sự Đối với loại chủ thể này, quyền và nghĩa vụ được giảiquyết theo trình tự tố tụng hình sự

Trong quá trình tố tụng, quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị bắt,tạm giữ, tạm giam (bị can), bị cáo, người bị kết án được đảm bảo thực hiệnthông qua những người tiến hành tố tụng Vì vậy, có thể xác định đây lànhững đối tượng được Viện kiểm sát nhân dân đảm bảo quyền con ngườitrong tố tụng hình sự

Ngoài nhóm chủ thể trên, trong hoạt động tố tụng còn có người thamgia tố tụng như người bị hại, người làm chứng, người phiên dịch, ngườibào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự

Họ cũng là chủ thể cần được đảm bảo quyền con người, mặc dù quyền của

họ không có nguy cơ bị xâm hại từ phía người tiến hành tố tụng, do họtham gia tố tụng để thực hiện trách nhiệm của mình nhằm góp phần làm rõ

sự thật khách quan của vụ án

- Việc vi phạm quyền con người trong tố tụng hình sự chủ yếu diễn ra

từ phía người tiến hành tố tụng

Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân

Trang 24

bảo vệ quyền con người, quyền công dân được quy định trong pháp luật Đó

là các quyền của người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng.Tuy nhiên, hoạt động tố tụng hình sự gồm tiếp nhận, giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đều được tiếnhành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm: Cơ quan điều tra, các cơquan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án,

Cơ quan thi hành án, Những cơ quan này được xác định trong tố tụng hình

sự là những cơ quan tiến hành tố tụng Khi tiến hành việc giải quyết các vụ ánhình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các biện pháp tố tụng, hoạtđộng tố tụng khác nhau Các biện pháp này có ảnh hưởng khác nhau tới quyềncon người của chủ thể bị áp dụng Trong trường hợp bị lạm dụng hoặc thựchiện không đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì sẽ ảnh hưởngnghiêm trọng tới quyền con người của họ, như quyền bất khả xâm phạm vềthân thể, tự do cá nhân, quyền bí mật thư tín, điện tín, quyền bất khả xâmphạm về chỗ ở,

Trước thực tế đó, việc tiến hành hoạt động kiểm sát các hoạt động tưpháp trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát có thể góp phần kiềm chế, ngănchặn các hành vi vi phạm tố tụng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền củangười bị áp dụng Bằng các hoạt động kiến nghị, yêu cầu, thực hành quyềncông tố, Viện kiểm sát buộc các cơ quan tiến hành tố tụng khác phải tuân thủđúng quy định khi áp dụng các biện pháp tố tụng cho hoạt động này, qua đógóp phần đảm bảo quyền con người được tôn trọng trên thực tế

1.2 Các nguyên tắc tố tụng làm nền tảng cho việc bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự

Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là hệ thống các tư tưởng,quan điểm mang tính chỉ đạo trong việc xây dựng và áp dụng các quy địnhcủa pháp luật tố tụng hình sự, giúp đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự

Trang 25

được tiến hành nhanh chóng, chính xác, đúng luật, góp phần bảo vệ quyềncon người, quyền công dân của các chủ thể trong tố tụng hình sự.

Hầu hết các nguyên tắc tố tụng đều hướng đến việc bảo vệ quyền con người

- Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích

hợp pháp của cá nhân

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 8 BLTTHS 2015 và là mộttrong những nguyên tắc cơ bản để bảo đảm quyền con người [24, Điều 8] Khitiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền conngười, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tínhhợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏhoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặckhông còn cần thiết Để thực hiện được nguyên tắc này, cần phải có nhữngquy định pháp luật làm cơ sở và cần phải có đội ngũ những người tiến hành tốtụng có chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp Mặt khác, người dân cũng cầnphải được nâng cao ý thức pháp luật để hiểu rõ hơn về quyền và lợi ích hợppháp của bản thân

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật

Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bìnhđẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo,thành phần và địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo phápluật Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức

sở hữu và thành phần kinh tế Theo quy định của Điều 9 BLTTHS năm 2015,người phạm tội, dù họ là ai cũng phải bị xử lý theo pháp luật hình sự Việckhởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự đều được tiến hành theo thủtục, trình tự thống nhất do BLTTHS quy định, không có ngoại lệ vì lý do dântộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội của người bị hại

Trang 26

hoặc của bị can, bị cáo Mọi người tham gia tố tụng đều được hưởng nhữngquyền và thực hiện những nghĩa vụ tố tụng ngang nhau [24, Điều 9]

- Nguyên tắc Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể BLTTHS

2015 quy định:

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể Không ai

bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phêchuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang

Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ,tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này Nghiêm cấm tratấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khácxâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người [24, Điều 10].Quy định này đòi hỏi cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tốtụng khi áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong tố tụnghình sự phải tuân thủ quy định của pháp luật Chỉ có toà án hoặc viện kiểm sátmới có thẩm quyền quyết định hoặc phê chuẩn lệnh bắt BLTTHS quy định

ba trường hợp bắt người: bắt bị can, bị cáo để tạm giam, giữ người trongtrường hợp khẩn cấp, bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang hoặcđang bị truy nã Tất cả các trường hợp bắt người đều phải được tiến hành theođúng quy định của BLTTHS về thẩm quyền, căn cứ và thủ tục Đây là bảođảm quan trọng để công dân không bị bắt một cách trái pháp luật hoặc không

có cắn cứ Mọi trường hợp bắt người trái pháp luật đều là vi phạm pháp luật,xâm phạm đến quyền dân chủ của công dân và phải bị xử lý nghiêm khắc.Những người tiến hành tố tụng hình sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt giamngười trái pháp luật phải chịu trách nhiệm hình sự

- Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sảncủa cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân Nguyên tắc này được quyđịnh tại BLTTHS 2015:

Trang 27

Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sứckhoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản.

Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khoẻ,danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uytín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật

Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhànước khác [24, Điều 11]

Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân;danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân cũng là nguyên tắc hiến định, được ghinhận tại các điều luật trong Chương “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơbản của công dân” của Hiến pháp năm 2013

Nội dung của nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhânphẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân thể hiện:

+ Mọi người (bao gồm công dân, người nước ngoài ở Việt Nam, ngườikhông quốc tịch) đều có quyền được pháp luật bảo hộ tính mạng, sức khỏe,danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản Trong quátrình tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không được xâm phạm tínhmạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người tham gia tố tụng nhưđánh đập, xúc phạm, hành hạ… Người có hành vi xâm phạm tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người tham gia tố tụng tùy theo mức

độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

+ Khi người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng kháchoặc người thân thích của họ bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạmdanh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cótrách nhiệm phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ họ Ví dụ: khingười làm chứng báo với Cơ quan điều tra có thẩm quyền là họ có nguy cơ bịngười trong gia đình của bị cáo trả thù vì đã có lời khai bất lợi cho bị cáo, Cơ

Trang 28

quan điều tra có trách nhiệm áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ người làmchứng và người thân của họ (nếu thấy thực sự cần thiết).

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sốngriêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại,điện tín của cá nhân

Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về quyền được bảo vệ đời tưtrong tố tụng hình sự:

Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sốngriêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thưtín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng

tư khác của cá nhân

Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín,điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổithông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộluật này [24, Điều 12]

Điều 21 Hiến pháp năm 2013 có quy định: Mọi người có quyền bất khảxâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyềnbảo vệ danh dự, uy tín của mình Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cánhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn Mọi người có quyền bímật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tưkhác Không ai được bóc mơ, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại,điện tin và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác Như vậy,không ai có quyền xâm nhập chỗ ở của người khác khi chưa được người đóđồng ý Chỗ ở được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nhà ở thuộc sở hữu củangười đó, chỗ ở do người đó thuê, mượn, ở nhờ Ngoài ra, bí mật đời tư, bímật cá nhân, điện thoại, các loại thư tín cũng như các hình thức thư điện từcủa cá nhân cũng là đối tượng bảo vệ của Hiến pháp và pháp luật

Trang 29

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhiều trường hợp để thu thậpchứng cứ, truy bắt tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền có quyền xâm nhậpchỗ ở, thư tín, điện thoại, bí mật cá nhân, đời tư? của cá nhân Tuy nhiên mọihoạt động này phải đảm bảo có căn cứ và đúng thẩm quyền, thủ tục theo quyđịnh của pháp luật Mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm chỗ ở, an toàn và bímật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân đều bị xử lý theo pháp luật.Chẳng hạn, những hành vi như: khám trái pháp luật chỗ ở của người khác,đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ, chiêm đoạt thư, điện báo,những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điệnthoại, điện báo của người khác.

- Nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại BLTTHS 2015:

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khiđược chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định

và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khikhông đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tộitheo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người

có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tộikhông có tội [24, Điều 13]

Thực tiễn của các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử cho thấy, cómột khuynh hướng nhìn nhận bị can, bị cáo như là người đã được coi làphạm tội, dù tội trạng của họ chưa được chứng minh Trong tâm lý học,khuynh hướng đó được gọi là khuynh hướng buộc tội, còn luật học thì gọi

đó là “suy đoán có tội” Đó chính là một trong những nguyên nhân của vấn

đề án oan, sai hiện nay.Nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc của mộtloại hình tố tụng lấy các giá trị công bằng, bình đẳng làm nền tảng; là láchắn quan trọng và hữu hiệu cho việc tôn trọng bảo vệ và bảo đảm quyềncon người trong tố tụng hình sự

Trang 30

Lần đầu tiên trong lịch sử lập Hiến của Việt Nam, Hiến pháp năm 2013đặt ra quy định tại Chương II – “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản

của công dân” như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật” [21, Điều 31, khoản 1] Đó chính là nội dung đầy đủ

của một nguyên tắc pháp lý quan trọng: Nguyên tắc suy đoán vô tội.Suy đoán

vô tội gồm 3 nội dung chính Trước hết, không ai có thể bị coi là có tội khi tộiphạm do họ thực hiện chưa được chứng minh theo đúng các quy định của Bộluật Tố tụng hình sự và chưa được xác định bằng bản án kết tội đã có hiệulực pháp luật của tòa Thứ hai, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc vềcác cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát (VKS) Bị can, bị cáo có quyền nhưngkhông buộc phải chứng minh là mình vô tội Thứ ba, buộc tội phải dựa trênchứng cứ Bản cáo trạng của VKS và bản án kết tội của tòa phải dựa trên cácchứng cứ khẳng định chắc chắn về lỗi của người bị buộc tội trong việc thựchiện tội phạm Mọi nghi ngờ về lỗi của bị can, bị cáo nếu không thể loại trừđược theo trình tự, thủ tục luật định và khi chưa có sự thống nhất trong việcgiải thích, áp dụng các quy phạm pháp luật đều phải được giải quyết theohướng có lợi cho họ

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự Đây cũng là nguyên tắc Hiếnđịnh, tiếp tục được ghi nhận tại Điều 16 BLTTHS 2015 Bảo đảm quyền bàochữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một trong những biểu hiện củadân chủ và nhân đạo xã hội chủ nghĩa, là bảo đảm quan trọng cho hoạt độngxét xử được tiến hành một cách khách quan, công bằng và nhân đạo

Quyền bào chữa là tổng hợp các quyền tố tụng hình sự tạo khả năngcho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bào chữa về hành vi do mình thực hiện đã

bi buộc tội và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác Quyền bào chữa

Trang 31

của người bị tạm giữ bị can, bị cáo được bảo đảm trong mọi giai đoạn của tốtụng hình sự Việc thực hiện bào chữa có thể do người bị tạm giữ bị can, bịcáo tự tiến hành hoặc do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhờ người khác tiếnhành Như vậy, quyền bào chữa bao gồm quyền tự bào chữa hoặc quyền nhờngười khác bào chữa Bào chữa là quyền chứ không phải là nghĩa vụ củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo.Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo gắn liền với các bảo đảm thực hiện quyền đó Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát và Toà án có trách nhiệm bảo đảm cho người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ.Những vi phạm quyền bào chữacủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những vi phạm nghiêm trọng phápluật tố tụng hình sự là căn cứ để hủy án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốcthẩm hoặc tái thẩm.

- Nguyên tắc trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việctuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

Nguyên tắc này thể hiện vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong việc thựchành quyền công tố, quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối vớingười phạm tội và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành

tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hình sự trong quátrình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được

xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người,đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làmoan người vô tội

1.3 Hoạt động bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

1.3.1 Bảo đảm quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết tin báo, tố giác

về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Trang 32

các giai đoạn tố tụng Chức năng thực hành quyền công tố của VKSND lànhững hoạt động trong việc xác định tội phạm, việc truy cứu trách nhiệm hình

sự và việc buộc tội trước Tòa án Do đó, để bảo đảm mọi hành vi phạm tộiđược phát hiện, khởi tố, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt người, lọttội, không làm oan người vô tội, thì các hoạt động công tố phải được thựchiện ngay từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Hơn nữa,trong tiến trình cải cách tư pháp và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tộiphạm, Đảng và Nhà nước luôn yêu cầu VKSND phải tăng cường hơn nữatrách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điềutra để bảo đảm các hoạt động tố tụng hình sự phải được kiểm tra, giám sát,kiểm soát chặt chẽ, bởi vì các hoạt động này đều có tác động, liên quan đếnquyền con người, quyền công dân, thậm chí là sinh mệnh chính trị của conngười đây là nguyên tắc tối thượng được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, bảo

vệ Như vậy, việc giải quyết tố giác, tin báo trở thành “một giai đoạn” của tốtụng hình sự, VKSND thực hành quyền công tố sớm hơn, ngay từ khi tiếpnhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm được quy định tại Điều 159 BLTTHS, bao gồm các hoạtđộng [24, Điều 159], cụ thể: Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt ngườitrong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chếquyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; yêucầu CQĐT khởi tố vụ án hình sự; hủy bỏ quyết định tạm giữ, quyết định khởi

tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đìnhchỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm và hủy bỏ các quyết định tố tụng kháctrái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo

về tội phạm Khi cần thiết đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ

Trang 33

quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm Đặc biệt, VKS trực tiếpgiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm khi có một trong những căn cứ quyđịnh tại điểm c khoản 3 Điều 145 BLTTHS năm 2015 và thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy định củaBLTTHS, nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội.

Tại Điều 160 BLTTHS năm 2015 quy định: Viện kiểm sát kiểm sátviệc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thông qua các hoạt động kiểm sáttuân theo pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong tốtụng hình sự thực hiện việc tiếp nhận, kiểm sát việc kiểm tra, xác minh vàviệc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm của CQĐT; kiểm sát việc tạmđình chỉ, phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát việc phục hồigiải quyết nguồn tin về tội phạm; yêu cầu CQĐT cung cấp tài liệu liên quan

để kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm [24, Điều 160] Trong Điềuluật này cũng quy định VKS tiến hành trực tiếp các cuộc kiểm sát, là nhữnghoạt động kiểm sát mang tính toàn diện, để kiểm tra, giám sát việc tuân thủpháp luật của CQĐT… trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất vàngăn ngừa các vi phạm, xử lý nghiêm tội phạm trong hoạt động tư pháp

Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có các quyền nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình cơ quan có thẩm quyềngiải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố, bao gồm: được thôngbáo về hành vi bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; được thông báo, giải thích vềquyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai, trình bày ý kiến; đưa ra chứng cứ, tàiliệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan

và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; tự bảo

vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; được thôngbáo kết quả giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố; khiếu nại quyết định, hành vi

tố tụng của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng [24, Điều 57]

Trang 34

Các quy định về quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố,xuất phát từ quan điểm coi những người này cũng là một trong các chủ thể bịtình nghi phạm tội Tuy nhiên, do các thông tin đánh giá vi phạm của họ chỉ là

ở mức độ ban đầu, một chiều nên BLTTHS quy định các quyền của hộ theohướng nhằm hạn chế những vi phạm của người có thẩm quyền tiến hành tốtụng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không cụ thể như người bịbuộc tội Chẳng hạn, họ chỉ có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp cho mình, chứ không phải là tự bào chữa hoặc nhờ ngườikhác bào chữa như người bị buộc tội

Cùng các quyền, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có nghĩa vụphải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, kiếnnghị khởi tố phục vụ cho việc giải quyết tin báo, tố giác, kiến nghị khởi tố

1.3.2 Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công

tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra các vụ án hình sự

Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, giai đoạn khởi tố, điều tra là giaiđoạn dễ xâm phạm quyền con người nhất Vì vậy, trong giai đoạn này, Việnkiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theopháp luật trong việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự để đảm bảo mọi tội phạmđược phát hiện phải bị khởi tố, việc khởi tố vụ án là có căn cứ, đúng phápluật Đồng thời, khi tiến hành hoạt động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn khởi

tố, điều tra, Viện kiểm sát được sử dụng tất cả những quyền năng pháp lý doluật định để phát hiện vi phạm và yêu cầu xử lý vi phạm của các cơ quan, củanhững người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra, nhằm bảo đảmcho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trìnhđiều tra vụ án, bảo đảm bất cứ hành vi phạm tội nào xâm phạm đến quyền conngười đều phải được phát hiện, xử lý trước pháp luật, và các hoạt động điều

Trang 35

tra, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người bị bắt, bị tạm giữ, bị canđược tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

BLTTHS 2015 có rất nhiều những nội dung quy định có tính nguyêntắc nhằm bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Khithực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, Viện kiểm sát có nhiệm vụ,quyền hạn: Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều trakhởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can Cácbiện pháp sau đây có thể được Viện kiểm sát sử dụng để bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của người bị tình nghi, bị can trong giai đoạn khởi tố:

Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra rõ ràng làkhông có căn cứ thì Viện kiểm sát ra văn bản yêu cầu cơ quan đã khởi tố raquyết định huỷ bỏ hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án theoquy định tại khoản 1 Điều 161 BLTTHS;

Nếu thấy quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra chưa

rõ căn cứ xác định bị can phạm tội Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan đãkhởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ khởi tố Viện kiểmsát có thể hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại

để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước quyết định việc phê chuẩn hayhuỷ bỏ quyết định khởi tố bị can [24, Điều 179]

Nếu hết thời hạn tạm giữ vẫn không đủ căn cứ phê chuẩn quyếtđịnh khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì Viện kiểm sát raquyết định huỷ bỏ quyết định khở i tố bị can và yêu cầu cơ quan đãkhởi tố bị can trả tự do ngay cho người bị tạm giữ [24, Điều 118]

Nếu qua nghiên cứu hồ sơ thấy có dấu hiệu của việc lạm dụngviệc bắt khẩn cấp, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa thể hiện rõ căn

cứ để bắt khẩn cấp hoặc người bị bắt không nhận tội, các chứng cứtrong hồ sơ có mâu thuẫn, người bị bắt là người nước ngoài, người có

Trang 36

chức sắc trong tôn giáo, người có uy tín trong đồng bào dân tộc ítngười hoặc trong trường hợp cần thiết khác thì Viện kiểm sát trực tiếpgặp, hỏi người bị bắt trước quyết định việc phê chuẩn hay không phêchuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp [24, Điều 110].

Nếu xét thấy việc gia hạn tạm giữ không có căn cứ hoặc không cầnthiết thì ra quyết định không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và yêu cầungười đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ theo quyđịnh tại Điều 118 BLTTHS

Khi nhận được hồ sơ xin phê chuẩn lệnh tạm giam, nếuthấy chưa rõ căn cứ thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra

bổ sung tài liệu chứng cứ làm rõ căn cứ để xem xét, quyết địnhviệc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn [24, Điều 119]

Nếu còn thời hạn tạm giam nhưng thấy biện pháp tạm giamđối với bị can không còn cần thiết thì Viện kiểm sát đề nghị Cơquan điều tra ra quyết định huỷ bỏ biện pháp tạm giam hoặc thaythế bằng một biện pháp ngăn chặn khác hoặc Viện kiểm sát trựctiếp huỷ bỏ biện pháp tạm giam đối với bị can [24, Điều 125].Trong giai đoạn điều tra, Nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hànhquyền công tố Viện kiểm sát được sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp

lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình

sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra truy tố để xét xử Đồng thời, kiểmsát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm việc điều tra được khách quan, toàndiện và đầy đủ, bảo đảm những vi phạm pháp luật trong hoạt động điều trađược phát hiện, khắc phục kịp thời Hoạt động điều tra là nội dung quantrọng của quyền công tố, về nguyên tắc, nếu hoạt động điều tra có thể làmsáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sựngười phạm tội góp phần bảo đảm pháp chế, bảo đảm quyền con người và

Trang 37

lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, nếu hoạt động điều tra vi phạmcác quy định của pháp luật, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự dựa trênkết quả điều tra, sẽ dễ xâm hại đến quyền lợi cơ bản của những người liênquan, đặc biệt là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can Do đó, khi thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát có trách nhiệm đảm bảo hoạt độngđiều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phảikhách quan, thận trọng, vô tư, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người

vô tội, không để người nào bị khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế cácquyền công dân một cách trái pháp luật

Trong quá trình điều tra vụ án, Viện kiểm sát có thể trực tiếp gặp, hỏicung bị can khi thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước sau không thốngnhất, lúc nhận tội, lúc chối tội; bị can khiếu nại về việc điều tra; có căn cứ đểnghi ngờ về tính xác thực trong lời khai bị can hoặc trường hợp bị can bị khởi

tố về tội đặc biệt nghiêm trọng Sau khi kết thúc điều tra, nhận hồ sơ vụ án từ

Cơ quan điều tra chuyển sang, Viện kiểm sát có thể trực tiếp hỏi cung bị can

để kiểm tra tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án

Khoản 6 Điều 183 BLTTHS quy định:

Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở cơquan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hành có âm thanh Việchỏi cung bị can tại các địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có

âm thanh theo yêu cầu của bị can, của cơ quan, người có thẩmquyền tiến hành tố tụng [24, Điều 183]

Với quy định này, đối với hoạt động hỏi cung được đánh giá là cần thiếtnhằm bảo đảm minh bạch quá trình hỏi cung, bảo vệ bị can, chống tra tấn, bứccung, dùng nhục hình, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo quy địnhcủa Hiến pháp, đồng thời bảo vệ người hỏi cung tránh bị vu cáo Bộ Công an -

Trang 38

Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Quốc phòng đãban hành Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-BQP hướngdẫn về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; sử dụng,bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thành trong quá trìnhđiều tra, truy tố, xét xử, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/3/2018.

Để thực hiện đồng bộ và có hiệu quả trên phạm vi toàn quốc, Quyếtđịnh 1172/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 11/9/2019 đãPhê duyệt Đề án về cơ sở vật chất, bộ máy, cán bộ và lộ trình cụ thể thực hiệnviệc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can theo quy định của

Trong quá trình kiểm sát điều tra, khi xác định bắt buộc phải có ngườibào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 BLTTHS mà bị can hoặc ngườiđại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa, thì Viện kiểm sát phảiyêu cầu Cơ quan điều tra yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư

cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổchức mình Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình sự làquy định mang tính nhân đạo của Luật Tố tụng hình sự nước ta Quy định về

sự tham gia của người bào chữa trong vụ án không phụ thuộc vào ý chí của bịcan, bị cáo như là sự nhân đôi bảo đảm quyền bào chữa cho họ; thù lao màNhà nước trả phải tương xứng với khối lượng công việc của người bào chữa

Trang 39

điểm sớm nhất mà người bào chữa tham gia tố tụng là từ khi có quyết địnhtạm giữ Tuy nhiên, BLTTHS 2015 đã thể hiện sự tiến bộ khi quy định thờiđiểm sớm nhất mà người bào chữa tham gia tố tụng là từ khi người bị bắt cómặt tại trụ sở của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một

số hoạt động điều tra BLTTHS 2015 đã mở rộng quyền của người bào chữa.Người bào chữa có quyền được gặp, hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo, quy định này triệt tiêu việc những người có thẩm quyền gây khókhăn cho người bào chữa khi muốn gặp thân chủ của mình

Sau khi nhận được kết luận điều tra cùng hồ sơ vụ án do Cơ quanđiều tra chuyển sang, nếu có một trong những căn cứ xác định bị can khôngphạm tội; bị can phạm tội nhưng thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu củangười bị hại và người bị hại không yêu cầu hoặc rút yêu cầu hoặc có căn cứ

để miễn trách nhiệm hình sự đối với bị can thì Viện kiểm sát ra quyết địnhđình chỉ vụ án [24, Điều 248]

Với nhiệm vụ, quyền hạn và các biện pháp thực hiện trong giai đoạnđiều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát vừa là người quyết định việc truy tốngười phạm tội trước Tòa án để xét xử, bảo đảm nguyên tắc, bất cứ hành viphạm tội nào xâm phạm đến quyền con người đều phải được phát hiện, xử lýtrước pháp luật, vừa bảo đảm các hoạt động điều tra, các biện pháp tư pháp ápdụng đối với người bị tình nghi, bị can, bị cáo được tuân thủ đúng quy địnhcủa pháp luật Như vậy, sự tham gia của Viện kiểm sát trong giai đoạn điềutra vụ án hình sự để thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra nhằm bảođảm mọi hành vi phạm tội và người phạm tội đều được phát hiện, xử lý theoquy định của pháp luật; đồng thời, bảo đảm việc điều tra tuân thủ đúng phápluật, mọi hoạt động xâm phạm đến các quyền của con người không bị phápluật tước bỏ đều phải được phát hiện và xử lý

Trang 40

1.3.3 Bảo vệ quyền con người trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự

Xét xử vụ án hình sự là một hoạt động chấp hành và áp dụng pháp luật

để bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người Nhưng thực tiễn cho thấy, hoạtđộng xét xử vụ án hình sự của Tòa án cũng có những vi phạm về nội dung, vềhình thức, không đảm bảo được quyền con người Do đó, cần thiết phải kiểmsát xét xử vừa để bảo đảm cho pháp luật được chấp hành đúng, thống nhất,nghiêm minh vừa kịp thời vừa ngăn ngừa, hạn chế, loại trừ và sửa chữa được

vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền con người

Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự,Viện kiểm sát có các nhiệm vụ và quyền hạn: Đọc cáo trạng và trình bày ýkiến bổ sung, nếu có; tham gia xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm; thựchiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phát biểu quan điểm vềviệc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; tranhluận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tạiphiên toà sơ thẩm, phúc thẩm; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạtđộng xét xử của Toà án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những ngườitham gia tố tụng; kiểm sát các bản án, biên bản phiên toà và quyết định củaToà án theo quy định của pháp luật; yêu cầu Toà án cùng cấp và cấp dướichuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị;kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án hoặcquyết định của Toà án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; tạm đìnhchỉ thi hành bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bịkháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; cấp, thu hồi giấy chứngnhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụngkhác theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Ngày đăng: 10/01/2020, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Cảm (2011), Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Tạp chí khoa học Luật học, ĐHQG Hà Nội, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Văn Cảm (2011), "Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con ngườibằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Tạp chí khoa học Luậthọc
Tác giả: Lê Văn Cảm
Năm: 2011
2. Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì) (2005), Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì) (2005),"Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụnghình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì)
Năm: 2005
3. Nguyễn Ngọc Chí (2014), “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Chí (2014), “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tốtụng hình sự”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2014
4. Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (đồng chỉ biên) (2009), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (đồng chỉ biên)(2009), "Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (đồng chỉ biên)
Nhà XB: Nxb Chínhtrị quốc gia
Năm: 2009
5. Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lê Văn Cảm, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2011), Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lê Văn Cảm, Vũ Công Giao, LãKhánh Tùng (đồng chủ biên) (2011), "Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thươngtrong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lê Văn Cảm, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2011
6. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2012), Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)(2012), "Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
7. Đảng Cộng sản Việt nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt nam (2002), "Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của côngtác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt nam
Năm: 2002
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), "Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Kết luận số 79/KL-TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về đề ấn đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, VKSND, Cơ quan điều tra, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), "Kết luận số 79/KL-TW ngày 28/7/2010của Bộ Chính trị về đề ấn đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án,VKSND, Cơ quan điều tra
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2010
10.Trần Ngọc Đường (chủ biên) (2004), Bàn về quyền con người, quyền công dân, Nxb Chính trị Quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Ngọc Đường (chủ biên) (2004), "Bàn về quyền con người, quyền côngdân
Tác giả: Trần Ngọc Đường (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia HN
Năm: 2004
11. Vũ Công Giao, Nghiêm Kim Hoa (đồng chủ biên) (2012), Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Công Giao, Nghiêm Kim Hoa (đồng chủ biên) (2012)," Giới thiệu Côngước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Tác giả: Vũ Công Giao, Nghiêm Kim Hoa (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
12.Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm (2015), “Quyền im lặng trong pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm (2015), “Quyền im lặng trong pháp luậtquốc tế, pháp luật của một số quốc gia và Việt Nam”, "Tạp chí Nhànước và pháp luật
Tác giả: Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm
Năm: 2015
13.Phạm Hồng Hải (2004), Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Hồng Hải (2004), "Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2004
14.Nguyễn Quang Hiền (2008), Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Hiền (2008), "Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sựViệt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Hiền
Năm: 2008
15.Nguyễn Huy Hoàng (2011), Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học của, Học viện Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Huy Hoàng (2011), "Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tưpháp ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Năm: 2011
16. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, xã hội, và văn hóa, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), "Giới thiệu Công ước quốctế về các quyền Kinh tế, xã hội, và văn hóa
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
17.P.Reichel (1999), Tư pháp hình sự so sánh, Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: P.Reichel (1999), "Tư pháp hình sự so sánh
Tác giả: P.Reichel
Năm: 1999
18.Nguyễn Thái Phúc (2007), “Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học pháp lý, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thái Phúc (2007), “Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừlàm chứng trong tố tụng hình sự”, "Tạp chí khoa học pháp lý
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 2007
22.Quốc hội (2014), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội (2014), "Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
32.Báo cáo nhân quyền của Việt Nam, http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w