1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền tự bào chữa của người bị buộc tội theo quy định trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

110 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 162,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm bảo đảm quyền tự bào chữa cho người bị buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng...61 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2...64 CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI P

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

HÀ NỘI – 2019

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêngtôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, tínhchính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn đều được rút

ra từ kết quả nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Bùi Bá Thành

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục hình

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 7

1.1 Khái niệm quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự 7

1.1.1 Tự bào chữa là quyền con người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế .7 1.1.2 Chủ thể của quyền tự bào chữa trong TTHS 12

1.1.3 Nội dung quyền tự bào chữa trong tố tụng hình sự 15

1.1.4 Cơ chế đảm bảo thi hành quyền tự bào chữa trong TTHS 16

1.2 Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định quyền tự bào chữa trong luật TTHS20 1.2.1 Cơ sở của việc quy định quyền tự bào chữa trong luật TTHS 20

1.2.2 Ý nghĩa của quy định về quyền tự bào chữa của người bị buộc tội 23

1.3 Quyền tự bào chữa trong luật TTHS một số nước 26

1.3.1 Quyền tự bào chữa trong luật TTHS Trung Quốc 26

1.3.2 Quyền tự bào chữa trong luật TTHS Nhật Bản 27

1.3.3 Quyền tự bào chữa trong luật TTHS Cộng hòa Liên bang Đức 28

1.3.3 Quyền tự bào chữa trong luật TTHS Australia 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2: QUYỀN TỰ BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 32

2.1 Pháp luật về quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trước năm 2015 32

2.1.1 Pháp luật về quyền tự bào chữa từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành 32

Trang 6

2.1.2 Quyền tự bào chữa trong pháp luật TTHS Việt Nam từ khi Bộ luật

TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành đến năm 2003 35

2.1.3 Quyền tự bào chữa từ từ khi có Bộ luật TTHS năm 2003 đến trước khi Bộ luật TTHS năm 2015 có hiệu lực 36

2.2 Pháp luật về quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong Bộ luật TTHS năm 2015 37

2.2.1 Quyền tự bào chữa của người bị bắt, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp 37

2.2.2 Quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ 39

2.2.3 Quyền tự bào chữa của bị can 43

2.2.4 Quyền tự bào chữa của bị cáo 51

2.2.5 Quyền tự bào chữa của người dưới 18 tuổi 57

2.2.6 Trách nhiệm bảo đảm quyền tự bào chữa cho người bị buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng 61

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 65

3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam 65

3.1.1 Thực tiễn bảo đảm quyền tự bào chữa cho người bị buộc tội theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 66

3.2 Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền tự bào chữa trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 76

3.2.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền tự bào chữa đối với người bị buộc tôi 76 3.2.2 Phương hướng hoàn thiện quyền tự bào chữa đối với người bị buộc tội .78

Trang 7

3.2.3 Các kiến nghị pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền

tự bào chữa đối với người bị buộc tội 80

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 92

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ Luật hình sự

BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sựTAND : Tòa án nhân dân

TANDTC : Tòa án nhân dân tối caoTTHS : Tố tụng hình sự

VKSND : Viện Kiểm sát nhân dânXHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

ST

Trang

1 Bảng 3.1 Tình hình thụ lý, giải quyết VAHS trong cả nước

2 Bảng 3.2 Một số nguyên nhân từ chối quyền tự bào chữa của

bị can, bị cáo do luật sư cung cấp 72

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

ST

Trang

1 Hình 3.1 Biều đồ tỉ lệ các vụ án đã được thụ lý, giải quyết

2 Hình 3.2 Tỉ lệ nhu cầu tự bào chữa của bị can, bị cáo 71

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tự bào chữa là một trong những nội dung cơ bản của quyền bào chữa một quyền cơ bảncủa người bị buộc tội Bào chữa là quyền con người đượcnhà nước đảm bảo bằng pháp luật tố tụng hình sự thông qua các quy định vàcác biện pháp thực thi có hiệu quả quyền bào chữa trong quá trình giải quyết

-vụ án hình sự Điều đó cũng có ý nghĩa rằng, việc bảo đảm quyền tự bào chữatrong tố tụng hình sự có vai trò quan trọng, và cũng là một bộ phận cấu thànhcủa các thiết chế bảo đảm quyền con người, tiêu chí cơ bản trong quá trìnhxây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Nhiều văn bảnphản ánh các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật củaNhà nước ta khẳng định tầm quan trọng của quyền bào chữa nói chung vàquyền tự bào chữa nói riêng trong hoạt động tố tụng hình sự Nghị quyết số08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâmcông tác tư pháp trong thời gian tới xác định:

“Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn

và những người có quyền, lợi ích hợp pháp Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa” [1];

Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải

cách tư pháp đến năm 2020khẳng định “nâng cao chấtlượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạtđộng tư pháp” [2]

Quyền tự bào chữa được xác định là quyền con người của người bịbuộc tội khi tham gia tố tụng, đồng thời là bộ phận không thể tách rời của

Trang 12

quyền bào chữa tạo thành thể thống nhất được ghi nhận trong các bản Hiếnpháp của nước ta từ 1945 đến nay, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 Việc đảmbảo thực thi có hiệu quả quyền tự bào chữa đóng góp to lớn vào việc bảo vệcác quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội; giúp cơ quan tiến hành

tố tụng giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện và chính xác.Tuy vậy, thực tiễn TTHS cho thấy việc bảo đảm quyền tự bào chữa củangười bị buộc tội còn có những chế, bất cập, chưa bảo đảm đầy đủ hoạt động

tự bào chữa trong các giai đoạn tố tụng hình sự của các cơ quan có thẩmquyền tiến hành tố tụng Việc vi phạm quyền tự bào chữa của người bị buộctội còn xảy ra, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng chứng minh sự vô tội hoặccác tình tiết giảm nhẹ tội dẫn đến việc giải quyết vụ án thiếu khách quan thậmchí còn làm oan người vô tội Những hạn chế, bất cập này cần phải được khắcphục nhằm bảo đảm tốt hơn nữa quyền con người trong TTHS, góp phần thựcthi có hiệu quả chiến lược cải cách tư pháp và Hiến pháp năm 2013 Vì vậy,

học viên chọn đề tài: “ Quyền tự bào chữa của người bị buộc tội theo quy

định trong Bộ luật TTHS năm 2015” làm luận văn thạc sĩ của mình.

Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận quyền để tiếp tục nghiên cứu,làm sáng tỏ về mặt khoa học các quy định của pháp luật TTHS về quyền tựbào chữa, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật TTHS có liên quan.Thông qua đó, bằng những nhận định khoa học và đánh giá thực tiễn đưa ra

đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc

áp dụng các quy định của pháp luật về quyền tự bào chữa trong quá trình giảiquyết vụ án hình sự

2 Tình hình nghiên cứu

Quyền tự bào chữa trong tố tụng hình sự là cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý

để bảo vệ quyền con người, góp phần xây dựng một nền tư pháp trong sạch,vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đáp ứng được yêu cầu bảo vệ các

Trang 13

quyền tự do, dân chủ của công dân Vấn đề tự bào chữa trong TTHS được ghinhận trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới như Nga, Đan Mạch ỞViệt Nam, quyền tự bào chữa không được quy định thành những chương, điều

cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật mà chỉ được quy định rải rác ởmột số điều luật trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật TTHS năm 2015 (điều11), Luật tổ chức toà án nhân dân năm 2014 Mặc dù về kỹ thuật lậppháp,quyền tự bào chữa vẫn còn nhiều hạn chế, tuy nhiên, việc ghi nhậnquyền tự bào chữa có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình đấu tranh phòng,chống tội phạm, phản ánh tư tưởng nhân văn trong chính sách đối với người

bị buộc tội

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên một

số tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành nghiên cứu về đề tài này như:

- Nguyễn Ngọc Chí: Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự - yếu tố quantrọng trong việc bảo đảm quyền con người, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN,Luật học 27 (2011) 221-239

- Hoàng Thị Sơn: Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trongluật TTHS Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, năm 2003

- Hoàng Thị Sơn: Thực trạng thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bàochữa của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học, số 4/2002

- Hoàng Thị Sơn: Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyềnbào chữa của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học, số 5/2000

- Trần Văn Bảy: Người bào chữa và vấn đề bảo đảm quyền của ngườibào chữa trong TTHS Việt Nam, Tạp chí KHPL, số 1/2001

- Nguyễn Duy Hưng (2006): Bị can và bảo đảm quyền của bị can trongBộluật TTHS năm 2003 - thực trạng và định hướng hoàn thiện Tài liệu hộithảo đề tài khoa học cấp bộ Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sựViệt Nam, Tp Hồ Chí Minh

Trang 14

- Phạm Hồng Hải: Những điểm mới về trách nhiệm, nghĩa vụ của ngườibào chữa trong Bộ luật TTHS năm 2003, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số5/2004.

- Lê Hồng Sơn: Vấn đề thực hiện quyền của người bào chữa trongTTHS, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 7/2002

Các công trình, bài viết nêu trên chỉ đề cập đến quyền bào chữa chứchưa thực sự nghiên cứu quyền tự bào chữa như một chế định độc lập Mặc

dù là một bộ phận không thể tách rời của quyền bào chữa, nhưng quyền tựbào chữa cũng có sự độc lập tương đối trong mối tương quan với các quyềnkhác được pháp luật quy định Thêm nữa, trong các công trình nghiên cứu kểtrên, các tác giả cũng chỉ nghiên cứu pháp luật thực định, đi sâu vào các nộidung quyền bào chữa mà chưa nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống vềquyền tự bào chữa

Hiện nay chưa có công trình, bài viết nào nghiên cứu chuyên sâu vềquyền tự bào chữa của người bị buộc tội ở cấp độ luận văn thạc sỹ Bên cạnh

đó, một số công trình được công bố cách đây khá lâu khi một số quy địnhpháp luật liên quan đến bảo đảm quyền tự bào chữa chưa được ghi nhận trongpháp luật thực định, vì vậy, chúng ta cần được tiếp tục nghiên cứu tổng quát,toàn diện hơn trên tinh thần của chiến lược cải cách tư pháp và thực tiễn ápdụng hiện nay để đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn nhất

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm sáng tỏ thêm cơ

sở lý luận và thực tiễn, nội dung của quyền tự bào chữa, chỉ ra những kết quả

và những bất cập còn tồn tại khi thực hiện quyền tự bào chữa ở nước ta hiệnnay Từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tự bàochữa trong thực tiễn và hoàn thiện pháp luật, góp phần giải quyết vụ án hình

sự khách quan, trung thực và hiệu lực, hiệu quả

Trang 15

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn đượcđặtra là:

1 Nghiên cứu khái quát quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trongTTHS như: khái niệm, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nguyên tắc

2 Phân tích các nội dung cơ bản của quyền tự bào chữa giành chongười bị buộc tội trong pháp luật TTHS Việt Nam

3 Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng, qua đó rút ra kết quả đạt được

và những tồn tại, hạn chế

4 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và những đánh giá về thực trạng thựchiện quyền tự bào chữa, người viết đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện,nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trongTTHS Việt Nam

4 Phạm vi –ý nghĩa nghiên cứu

Với đề tài này, phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào quyền tựbào chữa của người bị buộc tội dưới góc độ lý luận, phân tích những quy địnhcủa pháp luật đặc biệt là những quy định trong BLTTHS năm 2015 về nộidung của quyền này và chỉ ra vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luậtcủa quyền tự bào chữa

Đề tài đưa ra những luận cứ đồng thời phân tích các quy định hiện hànhcủa bộ luật TTHS năm 2015, làm kết quả để hoàn thiện pháp luật tố tụng hình

sự về quyền bào chữa của người bị buộc tội Đồng thời đề tài đưa ra những lýluận chặt chẽ để các chủ thể tham gia tố tụng nhận thức đúng vai trò về quyền

tự bào chữa của người bị buộc tội nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp phápcủa người bị buộc tội, góp phần giải quyết vụ án khách quan công bằng, hạnchế oan sai, bỏ lọt tội phạm qua đó xây dựng nền tư pháp trong sạch, vữngmạnh

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 16

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin(chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ ChíMinh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về cải cách tư pháp.

Phương pháp nghiên cứu: phương pháp so sánh, phân tích và phươngpháp tổng hợp kết hợp với việc phân tích thực tiễn áp dụng quyền tự bào chữathông qua báo cáo công tác của các cơ quan tư pháp và minh họa với các vụ

án cụ thể, điều luật cụ thể để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng cácvấn đề tương ứng để nghiên cứu Đồng thời, luận văn sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương phápthống kê, so sánh; phương pháp lịch sử; kết hợp với việc phân tích thực tiễn

6 Bố cục của Luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,Luận văn bao gồm ba chương với kết cấu như sau:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

Chương 2: Quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự

1.1.1 Tự bào chữa là quyền con người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế

Tự bào chữa là tự mình sử dụng lập luận, chứng cứ để bênh vực chohành vi của bản thân đang bị xem là phạm pháp hoặc đang bị lên án, đang bị

buộc tội.Theo từ điển tiếng Việt: “Bào chữa là dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho đương sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước tòa án hoặc cho một việc làm đang bị lên án” còn “tự bào chữa là tự mình thực hiện” [45] Trong khoa học pháp lý TTHS, khái niệm quyền bào chữa được

nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Quyền tự bào chữa là một bộ phậnkhông tách rời của quyền bào chữa và là một chuẩn mực bắt buộc trong quyềnđược xét xử công bằng và được xem là một trong những quyền cơ bản củacon người Theo nhiều nhà nghiên cứu, quyền bào chữa có lịch sử phát triểnlâu đời với những cách hiểu và quy định khác nhau từ thời Trung cổ ở Châu

Âu Để quyền tự bào chữa được thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm thực thi trênthực tế thì quyền này phải được quy định trong các văn bản pháp lý mang tínhbắt buộc thi hành Trước hết, quyền tự bào chữa phải được xây dựng dựa trên

cơ sở, chuẩn mực quốc tế, sau đó, được nội luật hóa bằng các quy định phápluật trong từng quốc gia cụ thể, với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Khinghiên cứu về quyền tự bào chữa, chúng ta bắt buộc phải nghiên cứu chế địnhnày trong mối tương quan với quyền bào chữa Với quá trình hình thành vàphát triển lâu đời, hiện nay, quyền tự bào chữa đã được công nhận như là một

Trang 18

chuẩn mực mang tính toàn cầu, được tất cả các quốc gia trên thế giới côngnhận Để có cái nhìn tổng quát về quyền tự bào chữa, chúng ta có thể thamkhảo những quy định đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận trong các văn bảnpháp lý quốc tế.

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) đã xác

định những quyền cơ bản của một người khi phải đối mặt với những cáo buộc

hình sự Tại Điều 10 của UDHR ghi nhận “Mọi người đều bìnhđẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Toà án độc lập và khách quan

để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ”[38] Điều 11 của Tuyên ngôn xác định“Bất cứ ai bị cáo buộc

về một hành vi phạm tội đều được quyềnsuy đoán vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội trước một phiên tòa công khai, nơi mà anh ta được cung cấp những bảo đảm cần thiết cho việcbào chữa”[37] Với cách quy định

này, Tuyên ngôn không quy định trực tiếp thế nào là quyền tự bào hay quyền

tự bào chữa cho một người chữa nhưng Tuyên ngôn đã ghi nhận một trongnhững tiêu chí cơ bản của xét xử công bằng là quyền được có những bảo đảmhợp lý cho việc bào chữa của người bị buộc tội Theo tinh thần chung củaUDHR thì các quy định về bảo đảm quyền bào chữa nói chung trong đó cóquyền tự bào chữa đã được ghi nhận và cụ thể hóa ở nhiều văn kiện quốc tếkhác

Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966

(ICCPR) của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc có hiệu lực ngày 23/3/1976; ViệtNam gia nhập Công ước vào ngày 24/9/1982, tạikhoản 3 Điều 14 của Côngước quy định các quyền cơ bản hay những bảo đảm tối thiểu mà một ngườiđược hưởng trong quá trình tố tụng nhằm bảo đảm việc xét xử công bằng,trong đó có quyền tự bào chữa Với những quy định này, trong quá trình xét

Trang 19

xử hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng một cách đầy đủ và hoàntoàn bình đẳng những quyền cơ bản như:

“(a) Được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình;

(b) Có đủ thời gian và điều kiện để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn;

(c) Được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý;

(d) Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu chưa có sự trợ giúp pháp lý; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả;

(e) Được đối chất hoặc yêu cầu đối chất những nhân chứng buộc tội mình, và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tham gia;

(f) Được có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên toà;

(g) Không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội.” [38]

Quyền tự bào chữa có vai trò đặc biệt do đây là quyền đầu tiên vàkhông thể bị tách rời, mang tính chất bảo đảm cho các quyền khác của conngười được thi hành trong quá trình tố tụng Khoản 3 Điều 14 ICCPR khẳngđịnh trong quá trình xét xử hình sự, mọi người phải được đáp ứng những bảođảm tối thiểu liên quan đến quyền tự bào chữa Các quyền đó bao gồm quyềnđược biết lý do buộc tội, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, được xét xửnhanh chóng, được đối chất với người làm chứng Để có thể thực hiện việcbào chữa, người bị buộc tội phải được thông báo về lý do buộc tội (điểm a)

Trong bộ Các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam giữ hay tù

Trang 20

dưới bấtkỳ hình thức nào (1988)được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bằng Nghị quyết 43/173 ngày 9/12/1988 tiếp tục nhấn mạnh quyền được thông báo này của người bị bắt giữ, theo đó “Bất kỳ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo ngay khi bị bắt giữ về lý do của việc bắt giữ, và phải được thông báo ngay về bất kỳ lời buộc tội nào đối với họ”[47] Bên cạnh

quyền có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc bào chữa (điểm b), bị cáo lại cóquyền được xét xử nhanh chóng, quyền tự bào chữa và quyền nhờ luật sư,quyền được có phiên dịch Bị can, bị cáo không phải đưa ra lời khai chống lạichính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội và nghĩa vụ chứng minh trong

vụ án hình sự thuộc về bên buộc tội

Những quy định này được cụ thể hóa tại Bình luận chung số 32 của Ủyban giám sát thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị vềquyền bình đẳng trước Tòa án và quyền được xét xử công bằng đã hướng dẫn

cụ thể về các bảo đảm tối thiểu được quy định tại Điều 14 Công ước Thuật

ngữ “thời gian đầy đủ (hay thời gian thích đáng)” được giải thích là : thời

gian đầy đủ” cho việc chuẩn bị phụ thuộc vào từng vụ việc Tòa án chỉ cóthể ra quyết định hoãn xét xử khi bị đơn bị kết tội hình sự nghiêm trọng vàcần thời gian chuẩn bị cho việc bào chữa Các điều kiện đầy đủ bao gồm:quyền tìm kiếm các tài liệu, chứng cứ khác; việc tiếp cận này bao gồm các tàiliệu liên quan đến việc khởi tố và thông tin có thể dùng để bào chữa.Bình luậnchung số 32 hướng dẫn cụ thể một số quy định như: bị cáo có quyền có mặttrong khi bị xét xử, nhưng trong một số trường hợp bị cáo có thể vắng mặtnếu sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến công lý và bị cáo đã được cơquan tư pháp thông báo kịp thời cho họ về thời gian, địa điểm xét xử và yêucầu họ tham gia trước đó nhưng họ vẫn từ chối thực hiện quyền có mặt trongphiên tòa (Đoạn 36) Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bàochữa Việc tự bào chữa hay nhờ người khác bào chữa của bị cáo phải được cơ

Trang 21

quan có thẩm quyền thông báo Cá biệt ở một số trường hợp, tòa án có thể chỉđịnh một luật sư không theo ý muốn của bị cáo Nhưng, việc hạn chế ý muốn

tự bào chữa của bị cáo phải thực sự “có mục đích hợp lý và khách quan và không vượt quá sự cần thiết thực thi công lý” [48] Cơ quan điều tra không

được can thiệp hoặc gây áp lực tâm lý đối với người bị tình nghi hay bị cannhằm ép họ nhận tội Đối với những lời khai hoặc lời nhận tội có được bằngphương thức tra tấn, thì không được coi là chứng cứ, trừ khi chúng được sửdụng làm bằng chứng của việc tra tấn hoặc những đối xử khác trái với quyđịnh (Đoạn 41 Bình luận chung số 32) Như vậy quy định tại Điều 14 đã xácđịnh nội dung của quyền bào chữa bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờngười khác bào chữa

Ngoài ra quyền tự bào chữa còn được ghi nhận và bảo đảm ở nhiều vănbản pháp lý khác có liên quan như “Các nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc

về vai trò của Luật sư”, “Quy chế Roma về Tòa án hình sự quốc tế”, Côngước Châu Âu về quyền con người (ECHR), Công ước Châu Mỹ về quyềnconngười (AmCHR) và Hiến chương Châu Phi về quyền con người và quyềncác dân tộc (AfCHPR), tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người

bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào được Đại Hội đồng Liên HợpQuốc thông qua bằng Nghịquyết 43/173 ngày 9/12/1988

Công ước Châu Âu về quyền con người (EHRC) cũng có các quy định

về quyền tự bào chữa cho người bị cáo buộc về hình sự Theo đó bất kỳ ai khi

bị cáo buộc phạm tội hình sự có các quyền tối thiểu sau:

“…(a) Được thông báo kịp thời bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu chi tiết về bản chất và lý do buộc tội mình;

(b) Có đủ thời gian và điều kiện để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn;

(c) Được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý do người

đó lựa chọn; hoặc nếu họ không có đủ khả năng chi trả cho người bào

Trang 22

chữa, họ sẽ được cung cấp sự trợ giúp pháp lý miễn phí vì lợi ích của công lý;

(d) Đối chất hoặc được đối chất những nhân chứng buộc tội mình,

và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tham gia đối chất với điều kiện tương tự như những nhân chứng buộc tội;

(e) Được có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên toà;…”[39].

Như vậy, qua nghiên cứu các văn bản pháp lý quốc tế được cộng đồngthế giới thừa nhận rộng rãi, quyền tự bào chữa đặt ra với người bị buộc tội, cóthể khẳng định, quyền tự bào chữa là một bộ phận không thể tách rời củaquyền bào chữa nói chung Bên cạnh đó, quyền tự bào chữa cũng liên quan mậtthiết đến những quyền, những đảm bảo pháp lý tối thiểu đối với người bị buộctội như các quyền về biết lý do bị buộc tôi, quyền được trợ giúp pháp lý, quyềnđược đối chất… Quyền tự bào chữa được ghi nhận có ý nghĩa vô cùng to lớntrong hoạt động đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội

1.1.2 Chủ thể của quyền tự bào chữa trong TTHS

Quyền tự bào chữa chỉ đặt ra trong trường hợp một người thực hiệnhành vi phạm tội hoặc họ bị tình nghi phạm tội bởi hành vi của mình đã thựchiện Có thể hiểu quyền tự bào chữa của người bị buộc tội chỉ xuất hiện khixuất hiện quyền buộc tội theo thẩm quyền của các cơ quan nhà nước có thẩmquyền Việc một người bị buộc tội đương nhiên dẫn đến hệ quả về việc mộtngười có khả năng phải chịu TNHS, do đó, để tránh cho một người khả năngphải chịu trách nhiệm pháp lý cao nhất thì quyền bào chữa nói chung và tựbào chữa nói riêng ra đời, tạo ra một khả năng đối trọng cần thiết, hướng đếnviệc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ Trên bình diện quốc tế, ngườibuộc tội ở mỗi quốc gia khác nhau, mỗi thể chế chính trị khác nhau lại cónhững cách tiếp cận khác nhau

Trang 23

Trên thực tế, những vấn đề pháp lý liên quan đến người bị buộc tội làmột nội dung quan trọng mà các nước đều quan tâm, do đó được quy định kháđầy đủ, toàn diện trong BLTTHS các nước Pháp luật tố tụng hình sự Liên Xôtrước đây và Liên bang Nga ngày nay có nhiều điểm chung với pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam Trong pháp luật TTHS Liên Bang Nga, một trong các

chủ thể tham gia tố tụng hình sự được xác định bao gồm: “người bị tình nghi,

bị can, bị cáo” Theo quy định này, người bị buộc tội được hiểu khá rộng, bao

gồm: người bị bắt và người bị tạm giữ trong các trường hợp Đối với nhữngngười bị buộc tội này, họ có các quyền như sau: quyền từ chối khai báo,quyền bào chữa, quyền gặp gỡ riêng và bí mật với người bào chữa Có thểthấy, người bị buộc tội trong TTHS Liên bang Nga bao gồm cả những người

bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Pháp luật TTHS ở Đan Mạch cũng ghi

nhận khái niệm “người bị tình nghi” Trong hệ thống pháp luật TTHS Đan

Mạch, hoạt động buộc tội được tiến hành song song với hoạt động khởi tố, baogồm cả khởi tố vụ án và khởi tố bị can Với quy định như vậy có thể hiểu người

bị buộc tội theo pháp luật TTHS Đan Mạch chỉ bao gồm: bị can và bị cáo

Hiện nay trong khoa học pháp lý hình sự và các quy định của pháp luật

tố tụng hình sự Việt Nam chưa đưa ra được khái niệm thống nhất về người bịbuộc tội Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 chỉ ghi nhận quyềncủa người bị buộc tội mà chưa xác định được định nghĩa pháp lý với nhóm

người này Theo đó, tại Điều 31 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khiđược chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã cóhiệu lực pháp luật” [9] Trong BLTTHS năm 2015, thuật ngữ người bị buộc tội đã được giải thích: “Người bị buộctội gồm người

bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”[12].Từng loại người được liệt kê nêu

trên được định nghĩa trong nhiều điều, nhiều phần riêng, tùy thuộc vào giaiđoạn tố tụng họ xuất hiện Theo nội dung được quy định trong những văn bản

Trang 24

này thì, thuật ngữ “người bị buộc tội” thường chỉ quy định theo hướng liệt kêcác đối tượng thuộc diện nghi là phạm tội, thêm nữa, quy định pháp luật vềnhóm người này cũng còn nhiều điểm chưa thực sự hợp lý Người bị buộc tộinên được hiểu là người bị tình nghi phạm tội, người này đang được đặt trongquá trình giải quyết vụ án hình sự và có thể bị các cơ quan tiến hành tố tụng

áp dụng biện pháp cưỡng chế của tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật kháchquan vụ án Người bị buộc tội có thể phải nhận một số quyết định áp dụngpháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng như: lệnh bắt, lệnh tạm giam, quyếtđịnh tạm giữ, quyết định khởi tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử…Tuy nhiên,theo qui định của pháp luật họ vẫn là người vô tội, chỉ khi nào bản án, quyếtđịnh có hiệu lực pháp luật của tòa án xác định họ là người có tội thì họ mới bịcoi là người phạm tội

Trong TTHS, người bị buộc tội được xác định là người bị các cơ quantiến hành tố tụng đặt ra nghi vấn là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội, mà BLHS coi là tội phạm Hành vi phạm tội có thể ở dạng hành độnghoặc không hành động Ở dạng hành động, đó là các hành vi vi phạm nhữngđiều cấm trong pháp luật hình sự Ở dạng không hành động là việc khôngthực hiện những nghĩa vụ bắt buộc phải làm trong những điều kiện, hoàn cảnhnhất định Việc thực hiện hành vi nêu trên là nguyên nhân dẫn đến hậu quảhay đe dọa gây ra hậu quả là những thiệt hại cho các quan hệ xã hội đượcpháp luật hình sự ghi nhận và bảo vệ Những người này chưa bị bản án, quyếtđịnh của Tòa án có hiệu lực pháp luật xác định là có tội nên họ đương nhiên

không bị coi là có tội Nhóm đối tượng này có thể là những người bị bắt, tạm

giữ, tạm giam, bị can, bị cáo trong quá trình xử lý vụ án hình sự Nhữngngười này không được xác định một cách ngẫu nhiên, theo ý muốn chủ quancủa bất kỳ một chủ thể nào mà phải là những người được quy định rõ trongluật với các trường hợp cụ thể khác nhau khi họ tham gia vào tiến trình TTHS

Trang 25

và có quyền và nghĩa vụ cụ thể Người bị buộc tội phải là người bị tình nghiphạm tội được đặt trong một quá trình TTHS theo các quy định pháp luật.Việc tình nghi trong TTHS không phải và không thể là sự ngờ vực, suy đoánchủ quan, cảm tính Người bị tình nghi là phạm tội được đặt trong hoàn cảnh

họ bị các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước dựa vào các căn cứ pháp lýkết hợp với hành vi, sự việc, sự vật được phản ánh trên thực tế để xác địnhrằng hành vi của người bị tình nghi này có dấu hiệu phạm tội do BLHS quyđịnh hay không? Không chỉ dừng lại ở đó, người bị buộc tội phải nhận mộthoặc nhiều quyết định mang tính quyền lực Nhà nước như lệnh bắt, quyếtđịnh tạm giữ, quyết định khởi tố bị can, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ

án ra xét xử…do các cơ quan hay người có thẩm quyền trong việc giải quyết

vụ án hình sự ban hành Các quyết định đó gắn với chủ thể bị buộc tội, đưa họthành chủ thể tham gia vào tiến trình tố tụng, đồng thời trao cho họ có cácquyền, nghĩa vụ tương ứng với từ giai đoạn Việc trao cho người bị buộc tộinhững quyền cơ bản, mặc dù có những hạn chế do họ đang bị tình nghi hoặc

bị kết án, đã phản ánh tính nhân văn tiến bộ của pháp luật hiện đại Tóm lại,nhóm người bị buộc tội là chủ thể của quyền tự bào chữa trong TTHS Nhữngngười này có thể là người bị tình nghi, người bị buộc tội đang tham gia trongquá trình giải quyết vụ án hình sự, họ đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng ápdụng các biện pháp cưỡng chế về TTHS nhằm xác định sự thật khách quan

của vụ án Như vậy, người bị buộc tội có thể là: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Về cơ bản, những người này chưa bị coi là người phạm

tội, đối với họ, vấn đề đặt ra xem xét chỉ là tình nghi phạm tội

1.1.3.Nội dung quyền tự bào chữa trong tố tụng hình sự

Thông qua những tìm hiểu về quyền tự bào chữa trong TTHS và chủthể của quyền tự bào chữa đã được đề cập ở phần trên, người viết đã có nhữngtổng hợp, so sánh và đưa ra được nhận định: quyền tự bào chữa là một bộ

Trang 26

phận không thể tách rời quyền bào chữa, những đảm bảo cho quyền tự bàochữa là đảm bảo cho quyền được xét xử công bằng được thực hiện, quyền tựbào chữa bắt buộc phải đặt trong mối tương quan với những quyền cơ bảnkhác trong TTHS khi một người đứng trước khả năng bị buộc tội từ phía cơquan Nhà nước có thẩm quyền Điều đó mang vai trò to lớn nhằm hướng đếnmục đích xét xử công bằng, bảo đảm quyền con người tối thiểu cho nhómngười bị buộc tội Quyền tự bào chữa bắt đầu từ khi một người bị bắt hay tạmgiữ về hình sự và kéo dài xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự chođến khi người này bị kết án bởi tòa án có thẩm quyền Theo những chuẩn mựcquốc tế được thừa nhận trong các công ước quốc tế, điều ước quốc tế nêu trên

có thể nhận định quyền tự bào chữa được phản ánh trực tiếp thông qua các

quyền năng sau:

Một là, quyền được thông báo về việc bị buộc tội và lý do buộc tội.Hai là, quyền được cung cấp đủ điều kiện và thời gian chuẩn bị để tựbào chữa và nhờ người khác bào chữa

Ba là, quyền được có mặt tại phiên tòa xét xử mình và tự bào chữa tại đây.Bốn là, quyền được tranh luận, đối chất với nhóm chủ thể buộc tội mình.Năm là, quyền không bị ép đưa ra lời khai chống lại mình

Sáu là, quyền được có phiên dịch trong suốt quá trình tố tụng nếu nhưkhông hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình tố tụng

Bảy là, quyền tự bào chữa là một bộ phận của quyền bào chữa, quyền

tự bào chữa không loại trừ khả năng nhờ người khác bào chữa của người bịbuộc tội

1.1.4 Cơ chế đảm bảo thi hành quyền tự bào chữa trong TTHS

Quyền tự bào chữa và những quyền cơ bản khác của con người đượcghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở để đảm bảo thực thiquyền con người Việc đảm bảo quyền tự bào chữa phải được ghi nhận theo

Trang 27

hướng các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia thể chế hóa những tiêuchuẩn, tiêu chí được xác định trong các văn bản pháp lý quốc tế, đảm bảo phùhợp với điều kiện, hoàn cảnh khi áp dụng tại quốc gia mình Các văn bảnpháp lý quốc gia phải ghi nhận từ Hiến pháp đến những luật, bộ luật chuyênngành, ở phạm vi vấn đề nghiên cứu là những luật hay bộ luật về TTHS.Những quy định đó phải đầy đủ, được áp dụng chính xác Điều đó thể hiệnviệc Nhà nước trao cho mọi người, chứ không chỉ riêng bất kỳ nhóm ngườithiểu số nào những phương tiện cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình Đồngthời với đó là việc Nhà nước phải tạo lập những cơ chế để giải quyết và đảmbảo những quyền của những người bị buộc tội Những quyền này khi áp dụng

sẽ kéo theo việc mọi chủ thể trong xã hội phải tôn trọng, không loại trừ các cơquan Nhà nước có thẩm quyền Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các

cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tôn trọng các quyền của người

bị buộc tội đã được pháp luật ghi nhận, điều đó thể hiện qua việc thực hiệnđúng và đầy đủ những quy định pháp luật nhằm tạo điều kiện tối đa cho người

bị buộc tội thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Trong quan hệ pháp luậthình sự, xuất hiện mối quan hệ giữa một bên là người bị buộc tội và một bên

là đại diện các cơ quan tiến hành tố tụng, có nghĩa vụ chứng minh hành viphạm tội của người bị tình nghi là có hành vi phạm tội Phải khẳng định trongmối quan hệ này, những người bị buộc tội đương nhiên được coi là nhómngười yếu thế hơn so với cơ quan, người tiến hành tố tụng được ủy quyềnthực hiện quyền lực Nhà nước trong giải quyết vụ án hình sự Để chống lạikhả năng bị các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp đặt ýchí mang tính buộc tội một chiều, pháp luật nói chung đã trao cho người bịbuộc tội quyền tự bảo vệ mình, quyền được chứng minh và tự chứng minh sự

vô tội trước các cáo buộc của các cơ quan tiến hành tố tụng, đó chính là quyền

tự bào chữa Pháp luật TTHS một mặt là công cụ của Nhà nước để bảo vệ

Trang 28

quyền con người, mặt khác cũng tạo ra cơ chế để công dân nói chung vàngười bị buộc tội nói riêng tự bảo vệ quyền lợi của mình thông qua các hành

vi tố tụng ở các giai đoạn tố tụng khác nhau Nhà nước ban hành pháp luậtTTHS như một công cụ đảm bảo thực thi quyền con người, pháp luật TTHSquốc gia sẽ nội luật hóa các Công ước quốc tế, điều ước quốc tế về quyền conngười trong đó những đảm bảo về quyền tự bào chữa không thể không được

đề cập Việc Nhà nước ghi nhận những quy định về quyền tự bào chữa cũngthể hiện sự cam kết cũng như trách nhiệm với cộng đồng quốc tế

Quyền tự bào chữa trong TTHS được ghi nhận trong pháp luật quốc gianhưng phải dựa trên nền tảng cơ bản là các Bộ luật về nhân quyền trong pháp

luật quốc tế Bởi, những văn bản pháp lý quốc tế về nhân quyền “là giá trị chung của nhân loại, là kết quả đấu tranh hàng nghìn năm của những tư tưởng tiến bộ với những thế lực độc tài, là sự cố gắng không mệt mỏi của các quốc gia và cộng đồng quốc tế sau những biến cố mang tính lịch sử, chà đạp quyền con người như cuộc chiến tranh thế giới thứ II…” [34 Tr119.] Việc

nội luật hóa các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế cũng thể hiện sự thay đổi mangtính tích cực và những nhận thức tiến bộ của mỗi quốc gia trong tiến trìnhphát triển của đời sống xã hội

Từ những nghiên cứu về khái niệm người bị buộc tội và quyền tự bàochữa đã nêu, người viết có thể đưa ra khái niệm về quyền tự bào chữa của

người bị buộc tội như sau: “Quyền tự bào chữa của người bị buộc tội là tổng hợp các hành vi tố tụng của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo được pháp luật quy định cho họ nhằm giúp họ tự mình đưa ra các chứng cứ để bảo

vệ các quyền và lợi ích hợp pháp trước các cơ quan có thẩm quyền trong các quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự.”

Từ định nghĩa đã nêu trên, quyền tự bào chữa của người bị buộc tộiđược xác định có một số đặc điểm như sau:

Trang 29

- Hoạt động thực hiện quyền tự bào chữa của người bị buộc tội có thểbiểu hiện dưới hai dạng hành động hoặc không hành động Điều này phản ánhthông qua việc người bị buộc tội đưa ra những lý lẽ, chứng cứ để chống lạinhững cáo buộc hướng về mình hoặc họ lựa chọn phương thức không hànhđộng mà thể hiện trực tiếp thông qua quyền im lặng;

- Quyền tự bào chữa chỉ xuất hiện và thuộc về người nào đó khi họ bịbuộc tội Quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc vềngười bị tình nghi phạm tội, túc là những người bị bắt, bị tạm giữ nhưng chưa

bị khởi tố và người bào chữa, người đại diện hợp pháp của họ Như vậy, chủthể của quyền bào chữa là người bị buộc tội, bao gồm người bị bắt, bị tạmgiữ, bị can, bị cáo

- Quyền tự bào chữa xuất hiện sớm nhất khi cơ quan có thẩm quyềntiến hành các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ trong một số trường hợpnhất định Quyền tự bào chữa kết thúc chậm nhất khi người bị kết án trìnhbày tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình tại phiên tòa giám đốcthẩm hoặc những tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án Nóicách khác, quyền tự bào chữa xuất hiện từ khi giữ người trong trườn hợp khẩncấp, bắt người, có quyết định tạm giữ hoặc từ khi khởi tố bị can Quyền tựbào chữa kết thúc khi vụ án được xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật.Trong một số trường hợp đặc biệt, khi những căn cứ của việc buộc tội khôngcòn, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án thì chức năng bàochữa sẽ kết thúc sớm hơn

- Bản chất của tự bào chữa là bảo vệ mình khỏi sự buộc tội, kết tội mộtcách oan, sai của các cơ quan có thẩm quyền tố tụng hình sự bằng cách đưa ranhững lập luận, bằng chứng chứng minh sự vô tội hay những căn cứ làm giảmnhẹ trách nhiệm hình sự Tự bào chữa là các hoạt động của người bị buộc tội

từ khi bị buộc tội đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa

Trang 30

án không bị kháng cáo, kháng nghị Thông qua hành vi cụ thể(có thể là hànhđộng hoặc không hành động) họ sử dụng các quyền luật định để làm sáng tỏnhững tình tiết chứng minh cho sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự cũng như những tình tiết khác có lợi cho người bị buộc tội Đó có thể làhành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của

cơ quan tiến hành tố tụng; hoặc nhằm đưa ra chứng cứ nhằm làm giảm nhẹtrách nhiệm của người bị buộc tội; hoặc các hành vi tố tụng nhằm đảm bảocác quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của người bị buộc tội kể cả khichúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm hình sự trong

vụ án

Quyền tự bào chữa được thể hiện thông qua hình thức trực tiếp một người

bị coi là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tự mình thực hiện cácquyền tố tụng được pháp luật quy định cho họ nhằm đưa ra các chứng cứ đểbảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước các cơ quan tiến hành tốtụng trong các quá trình giải quyết vụ án hình sự

Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu quyền tự bào chữa là một bộphận của quyền bào chữa của người bị cáo buộc phạm tội được quy địnhtrong pháp luật quốc tế mà các quốc gia có trách nhiệm bảo đảm nhằm giảiquyết vụ án khách quan, công bằng, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con ngườitrong hoạt động TTHS giải quyết cụ án hình sự

1.2.Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định quyền tự bào chữa trong luật TTHS

1.2.1 Cơ sở của việc quy định quyền tự bào chữa trong luật TTHS

Quyền con người là đặc quyền tự nhiên và riêng có của con người đượcnhiều văn kiện quốc tế, pháp luật của quốc gia ghi nhận và đảm bảo thi hành.Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội loài người, cùng với quátrình đấu tranh lâu dài của các dân tộc trên thế giới, quyền con người ngày

Trang 31

càng được tôn trọng, bảo đảm Suy đến cùng các cuộc đấu tranh của conngười trên thế giới đều hướng tới việc đòi hỏi bảo đảm bảo vệ tốt hơn quyền

con người Chủ nghĩa Mác – Lênin coi "quyền con người mang đặc tính tự nhiên nhưng có nội dung xã hội, bị chế ước bởi từng hoàn cảnh lịch sử, từng chế độ xã hội, từng Nhà nước" [45]

Tố tụng hình sự là một lĩnh vực đặc thù, gồm toàn bộ các hoạt động củacác chủ thể tố tụng hình sự nhằm giải quyết vụ án hình sự khách quan, côngbằng, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhànước, xã hội; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; trong đó cóngười bị buộc tội Đây là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm mà ở đó quyền conngười

có nguy cơ cao bị xâm phạm Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền con ngườitrong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo đảm quyền bào chữa nóichung và quyền tự bào chữa nói riêng được ghi nhận là quyền cơ bản của luật

tố tụng hình sự Theo quy định thì không ai bị coi là có tội cho đến khi đượcchứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tộicủa Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ căn cứ hoặc có căn cứnhưng căn cứ không đủ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luậtnày quy định thì cơ quan hay người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kếtluận người bị buộc tội không có tội Mặc dù người bị bắt, người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo đang là đối tượng bị nghi ngờ, có khả năng bị buộc tội thực hiệntội phạm từ phía các cơ quan nhà nước nhưng về mặt pháp lý họ chưa có tội

Do đó, họ vẫn phải được bảo đảm các quyền công dân, quyền con người nhưcác công dân khác; mặc dù, trong một số trường hợp, những quyền này có thể

bị hạn chế theo quy định của pháp luật Tuy nhiên khi người bị bắt, bị tạmgiữ, bị can, bị cáo bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện phápcưỡng chế như bị bắt, tạm giữ thì họ đã phải chịu những hạn chế, xâm phạmnhất định về quyền của họ như quyền tự do, quyền bảo hộ về danh dự, nhân

Trang 32

phẩm Để bảo đảm sự đúng đắn, khách quan trong quá trình các cơ quan tiếnhành tố tụng giải quyết vụ án, hạn chế tối đa việc xâm phạm đến quyền conngười trong tố tụng hình sự, pháp luật đã quy định quyền bào chữa, trong đó

có các nội dung về quyền tự bào chữa cho người bị buộc tội và trách nhiệmcủa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảmcho người bị buộc tội thực hiện các quyền này

Pháp luật tố tụng hình sự hướng đến mục đích chủ động phòng ngừa,đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm; phát hiện chính xác, nhanhchóng, kịp thời, xử lý công minh, công bằng mọi hành vi phạm tội, không đểlọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,

tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọingười ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Để xác định sự thật khách quan trong vụ án hình sự, cần thiết phải thu thậpđầy đủ các yếu tố, chứng cứ ở nhiều khía cạnh khác nhau Phải đánh giá toàndiện các chứng cứ buộc tội và gỡ tội, chứng cứ do các cơ quan tiến hành tốtụng thu thập cũng như chứng cứ do bên gỡ tội cung cấp Việc xác định sựthật khách quan sẽ không thể thực hiện được hoàn chỉnh nếu chỉ nghe ý kiến

từ một phía buộc tội, bởi ý kiến mang tính chủ quan và phiến diện Thông qua

đó, các cơ quan tiến hành tố tụng có cái nhìn toàn diện các tình tiết trong vụ

án để đưa ra kết luận Như đã trình bày, trong tố tụng hình sự, quyền bào chữa

và tự bào chữa luôn đi đôi cùng quyền buộc tội Việc giải quyết một vụ ánhình sự sẽ không bảo đảm tính chính xác, khách quan nếu chỉ coi trọng chứcnăng buộc tội mà không bảo đảm chức năng bào chữa Khi đó, trong các hoạtđộng tố tụng sẽ mang nặng ý chí chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng

và người tiến hành tố tụng Họ chỉ chú ý đến việc thu thập các chứng cứ buộctội mà bỏ qua các chứng cứ gỡ tội nên không đánh giá được toàn diện các

Trang 33

chứng cứ để xác định sự thật vụ án Trên thực tế, việc bảo đảm quyền bàochữa và tự bào chữa đã bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệuquả công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng dẫnđến tình trạng làm oan người không có tội hoặc bỏ lọt tội phạm; xâm phạmđến quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, xã hội và công dân Chính vì thế,việc quy định quyền tự bào chữa nói riêng trong tố tụng hình sự là vô cùngcần thiết.

1.2.2.Ý nghĩa của quy định về quyền tự bào chữa của người bị buộc tội

Thứ nhất, các quy định về quyền tự bào chữa góp phần bảo đảm quyền

và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội Quyền bào chữa nói chung vàquyền tự bào chữa nói riêng là một quyền lợi đặc thù, cơ bản của công dân,được ghi nhận xuyên suốt trong các văn bản pháp lý quốc tế cũng như các vănbản quy phạm pháp luật ở Việt Nam Việc ghi nhận bảo đảm quyền tự bàochữa có ý nghĩa to lớn về mọi mặt, là một biểu hiện của tư tưởng bảo vệquyền con người, quyền công dân Quyền tự bào chữa được ghi nhận cho thấymức độ quan tâm rất lớn của các nhà làm luật trong việc xây dựng những cơchế bảo đảm cho những người bị buộc tội những quyền và lợi ích căn bản.Với cơ chế này, người bị buộc tội trước hết khi đứng trước những cáo buộc từphía cơ quan công quyền, họ được quyền đưa ra những lý lẽ, bằng chứngnhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ vấn đề TNHS của mình.Quyền tự bào chữa không chỉ là tiêu chuẩn mà còn là yêu cầu trong hoạt động

tố tụng hình sự; là cơ chế để bảo vệ những người bị xếp trong nhóm bị tìnhnghi phạm tội trong tố tụng hình sự Việc ghi nhận quyền tự bào chữa trong tốtụng hình sự thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong tố tụng hình sự Việc ghinhận và đảm bảo thực thi quyền tự bào chữa trong tố tụng hình sự đã tạo cơ

sở pháp lý cho người bị buộc tội thực hiện việc chứng minh sự vô tội củamình, bác bỏ sự nghi ngờ phạm tội, bác bỏ buộc tội của người, cơ quan có

Trang 34

thẩm quyền và làm giảm trách nhiệm hình sự đối với tội phạm mà người đó

đã thực hiện

Thứ hai, các quy định về quyền tự bào chữa góp phần giải quyết vụ ánkhách quan, công bằng Quyền tự bào chữa không chỉ là quyền của người bịbuộc tội Mà song song với đó là những quy định liên quan đến trách nhiệm

và nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Đứng

từ phía các chủ thể buộc tội, bên cạnh tìm kiếm, đánh giá những chứng cứbuộc tội có liên quan đến vụ án, họ cũng phải tìm kiếm, cân nhắc, xem xétnhững chứng cứ mang tính chất gỡ tội có liên quan đến quá trình giải quyếtVAHS Một trong số những căn cứ gỡ tội là những lời khai, những hành độngcủa người bị buộc tội nhằm tự bào chữa cho hành vi có thể coi là tội phạm domình đã thực hiện Việc xem xét, đánh giá chứng cứ buộc tội và gỡ tội là yêucầu bắt buộc đối với bất kể vụ án hình sự nào Nếu xem trong những chứng

cứ buộc tội mà bỏ qua những chứng cứ gỡ tội – mà lời tự bào chữa là một yếu

tố cấu thành thì sẽ dẫn đến những hậu quả, sai lầm ảnh hưởng trực tiếp đến sốphận pháp lý của một con người như quyết định hình phạt nặng hơn tính chất,mức độ hành vi phạm tội, thậm chí là oan, sai trong TTHS Ngược lại, nếu chỉtập trung vào những chứng cứ gỡ tội, những lời tự bào chữa của người bịbuộc tội, hệ quả tất yếu dẫn đến có thể là việc quyết định hình phạt nhẹ hơn,thậm chí bỏ lọt tội phạm Từ đó dẫn đến mục đích của luật hình sự hướng đếnkhông được đảm bảo, gây mất niềm tin trong quần chúng nhân dân, vấn đềnày sâu xa hơn còn trực tiếp dẫn đến việc xâm hại các khách thể được luậthình sự bảo vệ do xử lý không chính xác vấn đề trách nhiệm pháp lý củangười phạm tội Vì vậy, cơ quan và người có thẩm quyền trong các cơ quan tốtụng phải bảo đảm quyền tự bào chữa được tôn trọng và đảm bảo thi hànhtrong suốt quá trình giải quyết VAHS, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệmtrong quá trình giải quyết vụ án

Trang 35

Thứ ba, các quy định về quyền tự bào chữa góp phần xây dựng nền tưpháp trong sạch vững mạnh Quyền tự bào chữa của người bị buộc tội chỉđược bảo đảm nếu cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cónhận thức đúng đắn về nội dung, ý nghĩa và vai trò của nó Cơ quan THTT,người THTT là những chủ thể tiến hành các hoạt động tố tụng theo thẩmquyền nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ án hình sự Bởi thế, họ phải nhận thứcđược việc bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa của người bị buộc chính làgiúp họ giải quyết vụ án khách quan, toàn diện và đầy đủ Khi trực tiếp giảiquyết vụ án hình sự, các chủ thể THTT phải am hiểu thấu đáo những quy địnhcủa pháp luật về quyền tự bào chữa Họ có nghĩa vụ phải giải thích cho người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo hiểu rõ quyền tự bào chữa, đồng thời tạo điều kiệnthuận lợi để quyền này được thực hiện có hiệu quả Hiệu quả đảm bảo thựchiện quyền tự bào chữa một mặt nâng cao hiệu quả của hoạt động bào chữanói chung, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đang bị buộctội; mặt khác, còn đảm bảo việc các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện đúng,

đủ nhiệm vụ quyền hạn của mình, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động giảiquyết vụ án hình sự Việc đảm bảo quyền tự bào chữa được thi hành có hiệulực hiệu quả trong thực tiễn tố tụng không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệmcủa những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền được Nhà nước tin tưởng giaonhiệm vụ Thực hiện tốt quyền và trách nhiệm trong đảm bảo quyền tự bàochữa nói riêng cũng như đảm bảo quyền con người nói chung còn góp phầnnâng cao pháp chế, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng oan, sai trongTTHS, từng bước gây dựng niềm tin trong quần chúng nhân dân vào một nền

tư pháp thực sự trong sạch, là chỗ dựa, là cơ sở bảo vệ Nhà nước

Thứ tư, tự bào chữa là một trong những nội dung cơ bản của tố tụnghình sự, đối trọng với chức năng buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng.Chính sự đối trọng này đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự được dân chủ,khách quan Điều đó phản ánh rõ cách tiếp cận: có buộc tội mà không có bào

Trang 36

chữa thì hoạt động tố tụng sẽ mang tính chất một chiều và kết buộc chứ khôngphải là tranh tụng Tố tụng hình sự không thể được thừa nhận là dân chủ khichức năng buộc tội không có đối trọng là chức năng bào chữa.

1.3 Quyền tự bào chữa trong luật TTHS một số nước

1.3.1 Quyền tự bào chữa trong luật TTHS Trung Quốc

Ở Trung Quốc, các tội danh và các hình phạt liên quan được quy định

tại Luật Hình sự, được sửa đổi năm 1997, được biết đến bởi rất nhiều sửa đổi

sau này của Nghị viện Nhân dân Toàn quốc Quyền bào chữa trong tố tụng

hình sự được xác định chủ yếu bởi Luật Tố tụng Hình sự, được sửa đổi phần

lớn vào tháng ba năm 2012 [47 Tr 16]

Ở giai đoạn điều tra, quyền tự bào chữa đặt ra yêu cầu “các cơ quan anninh công cộng bảo vệ quyền tự bào chữa và các quyền tố tụng khác củangười bị tình nghi hình sự” [41] Một người bị tình nghi hình sự có quyền tựbào chữa và chỉ định một “người bào chữa” như luật sư bào chữa vào bất kìthời điểm nào kể từ thời điểm bị cơ quan điều tra thẩm vấn lần đầu hay thờiđiểm phải chịu các biện pháp cưỡng chế bắt buộc “Cơ quan điều tra có nghĩa

vụ thông báo cho người bị tình nghi hình sự rằng họ có quyền này” [41].Quyền tự bào chữa bao gồm cả việc “đưa ra các ý kiến; làm đơn kiện; yêu cầuthay đổi các biện pháp bắt buộc; và yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp thôngtin về tội danh bị tình nghi và các thông tin có liên quan khác về vụ án” [41]

“Trước khi kết thúc điều tra, theo yêu cầu, cơ quan điều tra phải lắng nghe vàghi chép lại ý kiến của người bị tình nghi” [41] Vào bất kì giai đoạn nàotrong tố tụng nếu người bị tình nghi thấy rằng cơ quan công quyền hay cán bộcủa các cơ quan đó gây trở ngại cho việc thực hiện quyền tố tụng, họ cóquyền khiếu nại lên cơ quan kiểm sát, hay cơ quan cao nhất tiếp theo, cơ quannày sau đó có nghĩa vụ phải khẩn trương xem xét đơn kiện và, nếu đã xácminh, phải xử lí hành vi cản trở đó[47 Tr 17]

Trang 37

Trong giai đoạn truy tố, quyền tự bào chữa của người bị tình nghi được

mở rộng ở một số khía cạnh Bắt đầu từ ngày xem xét vụ án bởi viện kiểm sát,người bị buộc tội có thể tiếp cận, trích và sao tài liệu được thu thập trong vụán[41] Bên cạnh đó, Viện kiểm sát có nghĩa vụ thông báo cho người bị tìnhnghi hình sự quyền được chỉ định luật sư bào chữa của họ trong vòng 3 ngày

kể từ khi nhận được hồ sơ vụ án được chuyển để xem xét[41]

Ở giai đoạn xét xử, bị cáo có thể trình bày các tài liệu và ý kiến chứngminh cho sự vô tội của mình, những tiểu tiết của tội danh bị cáo buộc, haycho nhu cầu giảm nhẹ hình phạt hay miễn trách nhiệm hình sự, và có thể hànhđộng để bảo vệ các quyền tố tụng và ‘các quyền và lợi ích hợp pháp khác’ củabản thân Bị cáo có thể đề nghị tòa hay viện kiểm sát yêu cầu đưa đến trướctòa những bằng chứng có thể chứng minh sự vô tội của bị cáo[41] Bên cạnhkhả năng tự bào chữa, ý kiến của luật sư bào chữa phải được Tòa án Nhân dânTối cao lắng nghe, trong trường hợp Tòa đang xem xét vụ án có thể dẫn tới án

tử hình [41]

1.3.2 Quyền tự bào chữa trong luật TTHS Nhật Bản

Hiến pháp Nhật Bản là đạo luật tối cao của quốc gia này, được ưu tiên

áp dụng so với tất cả các luật và bộ luật khác của chính phủ [47 Tr 20] Hiếnpháp thời hậu chiến, có hiệu lực từ năm 1947, được phát triển chủ yếu từ các hệ

tư tưởng Anglo-America và có hẳn một chương về việc đảm bảo các quyền cơ

bản của con người [42] Bộ luật Tố tụng Hình sự Nhật Bản quy định các vấn đề

vềtố tụng hình sự tại Nhật Bản bao gồm những điều khoản cụ thể liên quan tớicác quyền khác nhau trao cho người bị tình nghi và bị cáo [42]

Điều 11 của Hiến pháp giải thích mục đích của chương này; quy địnhkhông được phép ngăn cản người Nhật Bản hưởng bất kì quyền cơ bản nàocủa con người Hơn nữa, những quyền này được đảm bảo, được hưởng vĩnhviễn và bất khả xâm phạm Chương này của Hiến pháp cũng khái quát và xác

Trang 38

định quyền bào chữa theo pháp luật Nhật Bản Điều 34 quy định: “không ai bịbắt hay giam giữ mà không có ngay đặc quyền được bào chữa” Ngoài ra,Điều 37(3) cũng quy định rằng “ vào mọi thời điểm bị can, bị cáo phải đượcluật sư bào chữa có đủ năng lực trợ giúp - người có thể được nhà nước chỉđịnh sử dụng nếu bị cáokhông thể tự bào chữa,”[42] Những quyền được đưa

ra theo Bộ luật Tố tụng Hình sự gây ra lo ngại đặc biệt trong quá trình thẩm

vấn Người bị tình nghi có thể bị giam giữ tới 23 ngày trong các trại tạm giam[42], việc thú tội trong thời gian này sẽ không coi là bị ép buộc, Mặc dù

ICCPR là một điều ước, các văn kiện và nghị quyết diễn giải, như Bộ Nguyên tắc (Body ofPrinciples) của Đại hội đồng Liên hợp quốc nêu rõ người bị tình

nghi và những người bị giam giữ có toàn quyền được bào chữa nhưng đâykhông phải là chếđịnh bắt buộc theo quy định của pháp luật Nhật Bản.Mặc dùHiến pháp Nhật Bản coi quyền bào chữa như một quyền cơ bản và tự do,nhưng những hạn chế nhất định đã giới hạn luật sư do Nhà nước chỉ định chỉdành cho bị cáo vàkhông cho người bị tình nghi, vấn đề này đã hạn chế rất lớn

“quyền” theo như cách hiểu của cộng đồng quốc tế và có thể cả những ngườisoạn thảo Hiến pháp ban đầu Khả năng để luật sư bào chữa tiếp cận thân chủcòn bị hạn chế hơn trong thực tế và trong việc giải thích Hiến pháp theo tưpháp và hành pháp – là những hạn chế nhìn chung bị cộng đồng quốc tế đánhgiá là vi phạm quyền bào chữa cơ bản

1.3.3 Quyền tự bào chữa trong luật TTHS Cộng hòa liên bang Đức

Hiến pháp Đức, Grundgesetz für die Bundesrepublik Deutschland (Luật

cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức) có hiệu lực từ sau chiến tranh thế giớithứ hai ở Tây Đức, và được giữ lại sau khi nước Đức thống nhất hai miền.Nguồn chính của các quy định tố tụng hình sự Đức và liên quan tới quyền bào

chữa là Strafprozeßordnung (Bộ luật Tố tụng Hình sự (CCP)) Bộ luật này có

hiệu lực từ năm 1877 với rất ít sửa đổi Điều 1 của Hiến pháp Đức quy định

Trang 39

công nhận tính chất không thể xâm phạm và không thể chuyển dịch củaquyền con người và tác động ràng buộc của những quyền đó đối với cơ quanlập pháp, hành pháp và tư pháp Tuy nhiên, Hiến pháp không quy định rõ ràng

về quyền bào chữa; thực tế quyền bào chữa được quy định trong CCP [47 tr25] CCP có một chương đầy đủ dành cho các quyền luật định và thủ tục tiếpcận người bào chữa cho cá nhân theo hệ thống luật hình sự [47 tr 25] Phầnđầu tiên của chương này quy định bị cáo phải được “sự hỗ trong đó có quyềnbào chữa và tự bào chữa vào bất kì giai đoạn nào của quá trình tố tụng” [43].Xét về hình thức, phần đầu này bao quát toàn bộ quá trình tố tụng hình sựtrong đó quyền bào chữa không bị giới hạn ở giai đoạn trước khi xét xử haytrong giai đoạn xét xử [43] CCP yêu cầu người bị tình nghi phải được thôngbáo về những quyền này vào thời điểm bắt đầu mỗi cuộc thẩm vấn, cho dùcuộc thẩm vấn đó là do cảnh sát [43], thẩm phán hay công tố viên thực hiện

và cho dù người bị tình nghi có đang bị giam giữ hay bị buộc tội không [43].Thông tin này chỉ cần được cung cấp cho những người bị tình nghi và khôngphải trong trường hợp cảnh sát hỏi ai đó “một cách không chínhthức” [43].Bởi vì trên thực tế, người bị tình nghi không thể bị cưỡng ép phải hiện diện đểcảnh sát thẩm vấn [43], do đó sự có mặt của luật sư trong trường hợp này làkhông bắt buộc Trước khi thẩm vấn chính thức, người bị tình nghi có quyềnhỏi ý kiến của luật sư Trên thực tế cảnh sát thường cho phép luật sư hiệndiện[43], vì người bị tình nghi thường giữ im lặng cho đến khi luật sư của họ

có mặt [43] Nếu người bị tình nghi bị buộc phải tham gia các cuộc thẩm vấn

để chuẩn bị buộc tội, thì quyền bào chữa phải được bảo đảm CCP quy địnhviệc chỉ định bắt buộc luật sư bào chữa cho những vụ án có thể dẫn tới hìnhphạt nghiêm khắc hay bị cáo bị khuyết tật để có thể tự bào chữa [47 tr 26].Thẩm phán thụ lý vụ án sẽ tiến hành chỉ định luật sư ở thời điểm sau khi công

bố cáo trạng

Trang 40

1.3.3.Quyền tự bào chữa trong luật TTHS Australia

Hệ thống pháp luật của Australia được điều chỉnh bởi Hiến pháp của Khối thịnh vượng chungcủa Australia Không có quy định cơ bản rõ ràng nào

về quyền bào chữa trong Hiến pháp, tuy nhiên quyền được xét xử công bằngthì tồn tại như một quyền của hệ thống thông luật cơ bản [47 tr 27] Hơn nữa,Tòa Thượng thẩm khẳng định rằng Hiến pháp Australia đã bao gồm quyềnđược xét xử công bằng thông qua những khái niệm mặc nhiên về công bằng

tư pháp theo Hiến pháp Australia [47 tr 28] Ở bang Victoria và Vùng Thủ đôAustralia, hiến chương quyền con người được áp dụng.Theo Phần 25(2)(b)của Hiến chương quyền con người của bang Victoria, một bị can hình sựđược có “đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị cho việc bào chữa và cóquyền liên hệ với luật sư hay người tư vấn do mình lựa chọn” Một quy định

rõ hơn về TGPL, cụ thể là yêu cầu một người bị tình nghi có thể tiếp cận vớiTGPL được đưa ra tại Phần 25(2)(e)-(f) Quy định này bị coi là chưa xác định

rõ ràng quyền bào chữa trong quá trình điều tra trước xét xử Đạo luật Hợp nhất Pháp luật Hình sự 1935 (Criminal Law Consolidation Act 1935) của

Nam Australia có một quy định rõ ràng về quyền bào chữa, tuy nhiên quyđịnh này dường như không bao gồm giai đoạn điều tra, cũng như không baogồm việc chỉ định người đại diện pháp luật được nhà nước cung cấp [47 tr28] Hiến pháp Australia và hệ thống thông luật không quy định rõ về quyền

tự bào chữa Hệ thống pháp luật Australia chỉ coi việc không có luật sư bàochữa có thể bị coi là xét xử không công bằng, thủtục tố tụng hình sự có thể bịđình, hoãn lại để nhận được TGPL, hay một yêu cầu hỗ trợ do tòa trực tiếpđưa ra

Ngày đăng: 10/01/2020, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w