Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, với vai trò là công cụ sắc bénnhất trong việc bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, Bộ luật hình sự BLHS năm 2015 hiện hành đã dành chương XV
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ PHƯƠNG ANH
CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO CỦA CON NGƯỜI, QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Tiến Việt
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Thị Phương Anh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO CỦA CON NGƯỜI, QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN TRONG LUẬT HÌNH SỰ 10
1.1 Khái niệm quyền con người, quyền tự do của con người, quyền công dân và quyền tự do, dân chủ của công dân 10
1.1.1 Quyền con người 10
1.1.2 Quyền tự do của con người 12
1.1.3 Quyền công dân 13
1.1.4 Quyền tự do, dân chủ của công dân 14
1.2 Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân trong luật hình sự Việt Nam 16
1.2.1 Khái niệm các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân 16
1.2.2 Ý nghĩa của việc quy định các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân trong luật hình sự Việt Nam 19
1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân từ năm 1945 đến nay 21
1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất – Bộ luật hình sự năm 1985 21 1.3.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước
Trang 5khi pháp điển hóa lần thứ hai – Bộ luật hình sự năm 1999 25
1.3.3 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ ba – Bộ luật hình sự năm 2015 27
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO CỦA CON NGƯỜI, QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ 32
2.1 Những quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân 32
2.1.1 Nhóm các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do của công dân 34
2.1.2 Nhóm các tội xâm phạm quyền dân chủ của công dân 50
2.2 Quy định tương tự của Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân .62
2.2.1 Bộ luật hình sự Liên bang Nga 63
2.2.2 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 66
2.2.3 Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức 68
2.3 Thực tiễn xét xử các quy định của luật hình sự về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân 71
2.3.1 Về công tác xét xử các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân trong thời gian qua 71
2.3.1 Một số tồn tại, vướng mắc trong công tác xét xử các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân và những nguyên nhân cơ bản 79 CHƯƠNG 3: TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH
SỰ NĂM 2015 VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO CỦA CON
Trang 6NGƯỜI, QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN VÀ NHỮNG
GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG 87
3.1 Sự cần thiết của việc tiếp tục hoàn thiện và bảo đảm áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân 87
3.1.1 Về mặt lập pháp 87
3.1.2 Về mặt lý luận 88
3.1.3 Về mặt thực tiễn 89
3.2 Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự 2015 về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân 90
3.3 Những giải pháp bảo đảm áp dụng quy định của Bộ luật hình sự 2015 về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân 94
3.3.1 Xây dựng hệ thống các cơ quan tố tụng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm hoạt động xét xử nghiêm minh, nhanh chóng, đúng người, đúng pháp luật 94
3.3.2 Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật cho nhân dân 96
3.3.3 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến những biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam 99
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật Hình sự
BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sựTDDC Tự do, dân chủ
TNHS Trách nhiệm hình sự
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ (TDDC) của côngdân là những quyền quan trọng nhất, không thể tách rời đối với mỗi cá nhân và
là các quyền tối thiểu mà cá nhân phải có Lịch sử đấu tranh giải phóng dântộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn gắn liền với mục tiêu bảo vệ quyền tựquyết thiêng liêng, cao quý của dân tộc là tiền đề tôn trọng, bảo đảm các quyềncon người, quyền công dân ở Việt Nam Vì vậy, ngay từ khi nhà nước ViệtNam ra đời, các quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân đãluôn luôn được nhà nước ta coi trọng, coi đó là một trong những nguyên tắcxây dựng pháp luật của hàng đầu, và được khẳng định rõ trong Hiến pháp vàpháp luật
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946chỉ gồm có 70 điều, nhưng đã có tới 13 điều quy định các quyền, nghĩa vụ cơ
bản của công dân và được trình bày tập trung ở Chương 2: “Nghĩa vụ và
quyền lợi công dân” Trải qua quá trình đổi mới và phát triển đất nước, các
bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và gần đây nhất là Hiến pháp năm 2013
đã lần lượt ra đời, ngày một hoàn thiện hơn việc ghi nhận một cách đầy đủ vàbao quát các quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân Đặcbiệt, trong Hiến pháp năm 2013, cùng với sự bổ sung một loạt các quyền mới
và củng cố hầu hết các quyền đã được ghi nhận, lần đầu tiên trong lịch sử lậphiến, “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” đã trởthành tên gọi của Chương, thay vì “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”như Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiến pháp trước đó Sự bổ sung cụm từ
“quyền con người” là điểm nhấn quan trọng, có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnhxây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Đây không chỉ đơn thuần là
sự bổ sung một cụm từ mang tính chất kỹ thuật lập hiến, mà còn phản ánh tư duy
Trang 10phát triển, phù hợp với xu hướng của dân tộc, thời đại và nhân loại, thể hiện sự
nỗ lực và cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện cácCông ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên
Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, với vai trò là công cụ sắc bénnhất trong việc bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, Bộ luật hình sự
(BLHS) năm 2015 hiện hành đã dành chương XV: “Các tội xâm phạm quyền
tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân” để quy định các tội
phạm này, trong đó quy định 11 tội danh tại 11 điều luật Bộ luật đã kế thừanhững quy định của BLHS năm 1999 và sửa đổi, bổ sung từ thực tế đấu tranhphòng chống tội phạm, từng bước đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền con người,quyền TDDC của công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổchức Đặc biệt, tại chương XV, BLHS năm 2015 đã điều chỉnh tên gọi củachương, lần đầu tiên trực tiếp ghi nhận quyền con người là một trong nhữngkhách thể được bảo vệ của BLHS
Tuy vậy, với sự phát triển không ngừng của xã hội, tội phạm ngày càngđược thực hiện một cách tinh vi và phức tạp hơn, đặt ra nhiều thách thức chocông cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Theo thống kê của Vụ tổng hợpTòa án nhân dân tối cao, trong giai đoạn 5 năm từ 2014 đến 2018, cả nướcxảy ra 855 vụ án xâm phạm các quyền tự do của con người, quyền TDDC củacông dân với 2414 bị cáo đã bị xét xử Đặc biệt, trong đó, hành vi bắt, giữhoặc giam người trái pháp luật xảy ra rất phổ biến, chiếm tới hơn 90% số vụ
và số bị cáo đã xét xử của cả chương Đây là vấn đề đặt ra cho Nhà nước vàtoàn xã hội, đòi hỏi cần có những biện pháp phòng chống các tội phạm nàyhiệu quả hơn trên thực tế
Mặc dù trong những năm qua, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã tích cựcđấu tranh, ngăn chặn các tội xâm phạm quyền con người, quyền TDDC củacông dân, nhưng việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nhóm tội phạm này
Trang 11còn hạn chế Điều này có thể xuất phát từ nguyên nhân khó khăn trong việc
áp dụng pháp luật, bởi một mặt nếu áp dụng không đúng dễ xâm phạm quyềncon người, quyền công dân, nhưng mặt khác, nếu không áp dụng rất dễ bỏ lọthành vi phạm tội Trên thực tế, nhiều hành vi xâm phạm dưới các hình thức,cách thức khác nhau, chưa được nhận diện, đánh giá đúng mức để xử lý tráchnhiệm hình sự (TNHS) Mặt khác, dù đã qua sửa đổi, tuy nhiên, trên thực tế,các quy định của BLHS về các tội xâm phạm quyền tự do của con người;quyền TDDC của công dân ở một số điểm còn chưa rõ ràng, cần được hướngdẫn kịp thời
Về mặt nghiên cứu khoa học, hiện nay, chưa có nhiều các công trìnhnghiên cứu đầy đủ và tổng thể về những vấn đề lý luận, tổng kết thực tiễn xét
xử và đưa ra giải pháp hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 về các tộixâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân Do vậy,việc nghiên cứu nhóm tội này một cách cụ thể nhằm làm sáng tỏ về mặt lýluận cũng như hoàn thiệu và bảo đảm áp dụng các quy định của BLHS trênthực tế đang là vấn đề rất cần được quan tâm; đặc biệt trong bối cảnh nhànước ta đang có những chính sách tích cực bảo vệ quyền con người, quyền
công dân hơn bao giờ hết Do vậy, việc lựa chọn đề tài “Các tội xâm phạm
quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân trong luật hình sự Việt Nam” là hoàn toàn cấp thiết và đúng đắn.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Với đề tài liên quan đến vấn đề các tội xâm phạm quyền tự do của conngười, quyền TDDC của công dân, có một số những công trình khoa họcnghiên cứu một cách chuyên sâu về vấn đề này có thể kể đến như:
Luận văn thạc sĩ gồm có:
- Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trong luật hình sự Việt
Nam, Nguyễn Thị Thanh, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc
Trang 12gia Hà Nội, năm 2010.
- Tội xâm phạm chỗ ở của công dân trong Luật hình sự Việt Nam, Lê
Thiết Hùng, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia HàNội, năm 2011
Luận án tiến sĩ có:
- Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ
của công dân, Nguyễn Xuân Hà, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm 2014
Sách chuyên khảo, bình luận gồm có:
- Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo luật Hình
sự Việt Nam, PGS.TS Trịnh Tiến Việt (Chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, năm 2010
- Bình luận chuyên sâu Bộ luật hình sự, Tập III - "Các tội xâm phạm quyền
tự do, dân chủ của công dân; xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình", Đinh Văn
Quế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2002
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các tội phạm)
-"Chương XIII - Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân", Trần
Văn Luyện, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2001
- Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm) – Chương XV: Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân”, PGS.TS Trịnh Tiến Việt,
Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2017
Các bài viết trên tạp chí:
- Bài viết Về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong
Bộ luật hình sự Liên bang Nga, Trung Quốc và Thụy Điển, Trịnh Tiến Việt và
Trần Thị Quỳnh, năm 2010
- Bài viết Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 124 Bộ luật hình sự
Trang 13năm 1999 về tội xâm phạm chỗ ở của công dân, Trịnh Tiến Việt, Tạp chí
Kiểm sát, năm 2012
- Bài viết Bàn về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật quy định tại
Điều 123 Bộ luật hình sự, Lê Văn Luật, Tạp chí Tòa án nhân dân, năm 2007.
- Bài viết Pháp luật về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật và kiến nghị sửa đổi, bổ sung, PGS.TS Trịnh Tiến Việt, ThS Nguyễn Thị
Thanh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, năm 2011
Ngoài ra, giáo trình của một số cơ sở đào tạo luật trên cả nước đều đềcập đến nhóm tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của
công dân, như: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I, Chương XIX - Các
tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, Trương Quang Vinh, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội năm 2005; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
(Phần các tội phạm), Lê Cảm (Chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội năm 2003; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội
phạm)-"Chương 5 - Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân", Phạm
Hồng Hải, Lê Cảm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, năm 2003
Các công trình trên ở các mức độ khác nhau đã làm rõ về vấn đề lýluận, thực tiễn xét xử và những vướng mắc ở một số tội phạm về xâm phạmquyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân hoặc ở một tội danhnhất định Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện
và đầy đủ về lý luận, thực tiễn xét xử và phương hướng hoàn thiện nhóm tộinày theo BLHS năm 2015 mà chỉ nghiên cứu theo bộ luật cũ hoặc ở mức độbình luận khoa học các điều luật theo bộ luật mới Vì lý do đó, việc lựa chọn
đề tài “Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ
của công dân trong luật hình sự Việt Nam” càng mang ý nghĩa cần thiết.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 14Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sâu sắc hơn lý luận về các tộixâm phạm quyền tự do của con người; quyền TDDC của công dân, phân tíchquy định của BLHS năm 2015 về các tội phạm này, có sự liên hệ, đánh giávới các BLHS trước đây, đồng thời phân tích thực tiễn xét xử về các tội phạmnói trên Trên cơ sở đó, đề xuất nội dung hoàn thiện quy định của BLHS vềcác tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân và
đề ra giải pháp bảo đảm áp dụng trong thực tiễn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiêncứu sau đây:
- Làm sáng tỏ khái niệm quyền con người, quyền tự do của con người,quyền công dân và quyền TDDC của công dân; phân tích ý nghĩa của cácquyền cơ bản này; khái quát lịch sử hình thành và phát triển quy định về cáctội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân trongpháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay
- Đánh giá các quy định của BLHS năm 2015 về các tội xâm phạmquyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân, đồng thời nghiên cứunhững quy định tương tự về các tội phạm này trong BLHS một số nước trênthế giới
- Phân tích thực tiễn xét xử đối với các tội xâm phạm quyền tự do củacon người, quyền TDDC của công dân trong BLHS ở nước ta trong thời gianqua để rút ra nhận xét, đánh giá, chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong côngtác xét xử và những nguyên nhân cơ bản
- Đề xuất kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 vềcác tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân,đồng thời, đưa ra những giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 154.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận, quy định
về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dântrong BLHS Việt Nam năm 2015 và một số nước trên thế giới, cũng như thựctiễn xét xử các tội phạm này trong giai đoạn từ năm 2014-2018
Phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2018
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vậtlịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh vềnhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhànước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp thể hiệntrong các nghị quyết của Đảng
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học luật hình sự, cụ thể là:
+ Chương 1, luận văn đã sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp,phương pháp lịch sử và phương pháp quy nạp
+ Chương 2, luận văn đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phươngpháp so sánh, phương pháp quan sát khoa học và phương pháp quy nạp
Trang 16+ Chương 3, luận văn đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp vàphương pháp quy nạp.
6 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
6.1 Những điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình khoa học ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học,nghiên cứu về đề tài các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyềnTDDC của công dân trong BLHS hiện hành đầu tiên kể từ khi BLHS năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực thi hành Do đó, luận văn cónhững điểm mới sau đây:
- Làm sâu sắc lý luận về các tội xâm phạm quyền tự do của con người,quyền TDDC của công dân;
- Phân tích quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 về các tội xâmphạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân và quy địnhtương tự trong BLHS một số nước về các tội phạm này
- Nghiên cứu thực tiễn xét xử các tội xâm phạm quyền tự do của conngười, quyền TDDC của công dân trong giai đoạn 5 năm 2014-2018
- Phân tích những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn xét xử và quy địnhpháp luật về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC củacông dân, qua đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp bảo đảm
áp dụng các quy định này trên thực tế
6.2 Những đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần hoàn thiện quy định tại Chương XVBLHS năm 2015 về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyềnTDDC của công dân, đồng thời có thể sử dụng làm tư liệu cho việc nghiêncứu khoa học pháp lý hình sự
- Về mặt thực tiễn: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm ápdụng quy định của BLHS năm 2015 về các tội xâm phạm quyền tự do của con
Trang 17người, quyền TDDC của công dân trong luận văn góp phần nâng cao hiệu quảcủa công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và các tội phạm xâmphạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội xâm phạm quyền tự do của con
người, quyền TDDC của công dân trong luật hình sự
Chương 2: Những quy định của BLHS năm 2015 và BLHS một số nước trên
thế giới về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC củacông dân và thực tiễn xét xử
Chương 3: Tiếp tục hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 về các tội xâm
phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân và các giải phápbảo đảm áp dụng
Trang 18CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ
DO CỦA CON NGƯỜI, QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm quyền con người, quyền tự do của con người, quyền công dân và quyền tự do, dân chủ của công dân
Quyền con người, quyền tự do của con người, quyền công dân vàquyền TDDC của công dân là các khái niệm thuộc phạm vi của nhân quyền.Trong đó, khái niệm quyền con người có nghĩa rộng nhất, khái niệm quyềncông dân ở nghĩa hẹp hơn và quyền tự do của con người, quyền TDDC củacông dân lại lần lượt thuộc nội dung của quyền con người và quyền công dân
Như vậy, việc làm rõ các khái niệm quyền con người, quyền tự do củacon người, quyền công dân và quyền TDDC của công dân vừa cho thấy bảnchất của mỗi loại quyền cơ bản trên, vừa phản ánh sự tương đồng nhưngkhông đồng nhất giữa chúng, đồng thời, cũng chỉ ra việc thể hiện nội dungcác quyền đó trong pháp luật nhà nước ta
1.1.1 Quyền con người
Quyền con người là quyền mà mỗi con người đều có từ khi sinh ra haynói cách khác là quyền tự nhiên, vốn có Đây là phạm trù rộng và có nhiều địnhnghĩa khác nhau Theo tài liệu Hỏi Đáp về Nhân quyền của Liên hợp quốc
(United Nations: Human rights: Questions and Answers) thì có đến gần 50 định
nghĩa quyền con người được công bố Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy
Liên hợp quốc, quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng
bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người
[51]
Ở Việt Nam, chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về quyền con
Trang 19người như một định nghĩa mà chỉ có những nội dung nêu ra nội hàm của khái
niệm quyền con người Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân
về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo
vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật
Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy địnhcủa luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”
Trên phương diện nghiên cứu khoa học pháp lý, theo Giáo trình Lýluận và pháp luật về Quyền con người của Khoa Luật Đại Học Quốc gia Hà
Nội, quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách
quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [21, tr.38] Đây là cách khái quát dể hiểu và cơ
bản nhất về quyền con người Nó phù hợp với học thuyết về “quyền tự nhiên”
(natural rights) cho rằng quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà
mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của giađình nhân loại
Với một khái niệm bao hàm rộng hơn, GS.TSKH Lê Cảm cho rằng:
“Quyền con người – một phạm trù lịch sử - cụ thể, là giá trị xã hội cao quýnhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tựnhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhâncon người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luậtbởi các quốc gia – thành viên Liên hợp quốc, cũng như bởi cộng đồng quốc tế[2, tr.12]
Như vậy, quyền con người với đặc tính là tự nhiên và vốn có, nhà nướckhông thể không thừa nhận Ngược lại, quyền con người chỉ được bảo đảm khiđược nhà nước ghi nhận bằng pháp luật Do đó, từ những định nghĩa và phân tích
Trang 20trên, có thể hiểu rằng: Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có của con
người, những nhu cầu, lợi ích chính dáng được Nhà nước thừa nhận và pháp luật bảo vệ.
1.1.2 Quyền tự do của con người
Quyền con người là một phạm trù khá rộng, bao gồm nhiều loại quyềnkhác nhau như quyền sống, quyền có nơi ở hợp pháp, quyền tự do về thân thể,quyền hưởng an sinh xã hội Trong đó, quyền tự do là một quyền cơ bảnnhất mà con người cần phải được bảo vệ
Tự do được nghiên cứu và luận giải từ nhiều góc độ triết học, chính trị,pháp lý, xã hội học Tự do trong từ điển được giải thích là “chỉ khả năngbiểu hiện ý chí, làm theo ý muốn của mình, không có sự ràng buộc và hạnchế” [41] Hiểu một cách khái quát, tự do là tình trạng một cá nhân có thể và
có khả năng hành động theo đúng với ý chí, nguyện vọng của mình
Như đã phân tích ở trên, tự do là quyền tự nhiên, vốn có của con người,không phải do sự ban phát của bất kỳ một chủ thể nào Tuy nhiên, tự dokhông có nghĩa là con người có thể làm bất cứ điều gì mong muốn mà khônggặp bất cứ cản trở nào, vì như vậy sẽ có nhiều người nhân danh tự do để thỏamãn những mong muốn hay tham vọng cá nhân của mình, phá hoại trật tự xãhội và xâm phạm đến quyền lợi của người khác, do đó làm phương hại đến sựphát triển của mỗi cá nhân, cũng như cả cộng đồng
Như vậy, từ định nghĩa quyền con người và định nghĩa về tự do đã
phân tích ở trên, có thể hiểu rằng: quyền tự do của con người là khả năng con
người được tự mình thực hiện và tiến hành những công việc nào đó theo ý muốn của mình mà không bị ngăn cấm, cản trở hay ràng buộc, được ghi nhận
và bảo vệ bằng pháp luật của quốc gia cũng như pháp luật quốc tế.
Quyền tự do của con người được trải rộng ở tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội Theo Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948, các quyền tự
Trang 21do của con người được ghi nhận bao gồm:
- Quyền tự do thân thể
- Quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia
- Quyền tự do suy nghĩ, ý thức và tôn giáo
- Quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm
- Quyền tự do họp hành và tham gia hiệp hội một cách hoà bình
- Quyền tự do lựa chọn công việc
- Quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được thưởngthức nghệ thuật và chia sẻ những thành tựu và lợi ích của tiến bộ khoa học
- Quyền tự do, dân chủ của công dân
1.1.3 Quyền công dân
Quyền công dân là khái niệm thuộc nội hàm của quyền con người và haikhái niệm này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mặc dù quyền con người đượcxác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận nhưng mức
độ thừa nhận ở mỗi quốc gia có sự khác nhau Mỗi nhà nước tự xây dựng nhữngthiết chế để bảo vệ quyền con người và đặc biệt, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp chocông dân trong chính quốc gia của mình Do vậy, việc nghiên cứu khái niệmquyền công dân trong mối tương quan với quyền con người là yêu cầu cần thiết
Khái niệm quyền công dân chỉ xuất hiện cùng với cách mạng tư sản Vìcách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị thần dân trở thành công dân - với
tư cách là những thành viên bình đẳng trong một nhà nước, và pháp điển hóacác quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân
Quyền công dân trong từ điển được định nghĩa như sau: Quyền côngdân là quyền của người công dân, bao gồm những quyền TDDC và các quyềnlợi cơ bản về kinh tế, văn hóa, xã hội được hiến pháp công nhận [41,tr.815]
Trang 22Về cơ bản, mỗi cá nhân đều là chủ thể của hai loại quyền – quyền conngười và quyền công dân, trừ trường hợp cá nhân đó là người không có quốctịch Quyền công dân gắn liền với mỗi quốc gia và được pháp luật mỗi quốcgia quy định khác nhau Sự gắn liền đó được thể hiện bởi dấu hiệu quốc tịch.Quốc tịch thể hiện sự quy thuộc của một cá nhân vào một quốc gia và là dấuhiệu để quốc gia xác định cá nhân đó có tư cách công dân nước mình haykhông Bên cạnh đó, quốc tịch cũng là căn cứ phát sinh quyền lợi và nghĩa
vụ giữa công dân và nhà nước Pháp luật Việt Nam cũng có quy định: Quốc
tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam (Điều 1 Luật Quốc
tịch năm 2008, sửa đổi bổ sung 2014) Như vậy, giữa công dân và nhà nước
có mối quan hệ qua lại Cụ thể: công dân có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình và có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật donhà nước đặt ra, Nhà nước cũng có quyền quy định các quyền và nghĩa vụcủa công dân và có nghĩa vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dânkhi chúng bị xâm phạm
Tóm lại, một cách khái quát, có thể hiểu quyền công dân là những lợi
ích pháp lý được nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện cho các cá nhân mang quốc tịch nước mình Quyền công dân bao gồm các quyền về chính trị,
văn hóa, kinh tế - xã hội, giáo dục và các quyền tự do cá nhân Quyền côngdân chính là một bộ phận của quyền con người được thừa nhận bởi pháp luậtquốc gia
1.1.4 Quyền tự do, dân chủ của công dân
Như đã được định nghĩa ở trên, quyền tự do của con người là khả năngcon người được tự mình thực hiện và tiến hành những công việc nào đó theo ý
Trang 23muốn của mình mà không bị ngăn cấm, cản trở hay ràng buộc, được ghi nhận
và bảo vệ bằng pháp luật của quốc gia cũng như pháp luật quốc tế Quyền tự
do của con người có chủ thể là tất cả con người trên trái đất, là người có quốctịch hoặc không có quốc tịch
Khác với quyền tự do của con người, quyền tự do của công dân đượcgiới hạn bởi đối tượng của quyền này, đó là công dân của một nước tức là
người mang quốc tịch của nước đó Vì vậy, có thể định nghĩa quyền tự do của
công dân là khả năng của công dân được tự mình thực hiện và tiến hành những công việc nào đó trong điều kiện, hành lang pháp luật quy định và cho phép Ví dụ: quyền tự do lập hội, cư trú, đi lại
Trong khi đó, dân chủ là khái niệm thường được đi cùng với tự do Cónhiều cách hiểu khác nhau về dân chủ Chữ “democracy” (dân chủ) trongtiếng Anh và một số ngôn ngữ Tây phương khác hiện nay có gốc gác từ tiếng
Hy Lạp cả hơn hai ngàn năm trăm năm trước, trong đó, “demos” là dân, nhândân; và “kratos” là trị, cai trị Phân tích theo hướng này, dân chủ có thể đượchiểu là sự cai trị của nhân dân
Trong Từ điển, dân chủ có hai nghĩa: “1) Dân chủ là dân có quyềntham gia, bàn bạc vào công việc chung, quyền lợi của từng thành viên trong
xã hội được tôn trọng; 2) Dân chủ là chế độ chính trị theo đó quyền làm chủthuộc về nhân dân” [49, tr.398] Thống nhất với cách hiểu này, có tác giảnhấn mạnh hơn và cho rằng: “dù quan niệm về dân chủ như thế nào thì bảnchất của dân chủ đích thực chỉ có một trong đó chế độ dân chủ đích thực,nhân dân quyết định hay mọi người dân đều có quyền tham gia một cách thựcchất vào quy trình ra quyết định hay thiết kế chính sách Bản chất của dânchủ là nhân dân quyết định các vấn đề của cộng đồng ”[7, tr.23]
Như vậy, có thể hiểu, dân chủ có nghĩa là người dân làm chủ và quyếtđịnh các vấn đề quan trọng của xã hội, đất nước; các quyền, lợi ích của người
Trang 24dân được tôn trọng, bảo vệ.
Ở nước ta, từ khi nhà nước được thành lập cho đến nay, dân chủ luôn lànhân tố được coi trọng hàng đầu Ngày nay, dân chủ là xu thế chung của thờiđại, mục tiêu hướng tới của công cuộc đổi mới đất nước, đặc biệt có sự đổimới và hoàn thiện Nhà nước và pháp luật Việc ngày càng mở rộng các hìnhthức pháp lý để bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước,quản lý xã hội chính là đáp ứng yêu cầu dân chủ Bên cạnh đó, dân chủ cònđược thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp ở các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các
cá nhân, tổ chức và nó phản ánh thông qua sự ghi nhận bởi pháp luật, đồngthời bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước và xã hội thông qua nhữnghình thức và cách thức phù hợp Được ghi nhận bởi pháp luật, cho nên phápluật chính là phương tiện của dân chủ Pháp luật thể chế hoá các nội dung dânchủ, làm cho dân chủ thông qua pháp luật mà đi vào cuộc sống
Qua những phân tích này, dưới góc độ khoa học, quyền dân chủ của
công dân được hiểu là khả năng của công dân được thực hiện những công việc, hoạt động nào đó do chế độ dân chủ đưa lại cho họ Ví dụ: quyền bầu
cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, hội đồng nhândân), quyền tham gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào công việc quản lý xã hội,
tổ chức, quyền khiếu nại, tố cáo…
1.2 Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định các tội xâm phạm quyền tự
do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân trong luật hình sự Việt Nam
1.2.1 Khái niệm các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự
do, dân chủ của công dân
Khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 nhưsau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS,
do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách
Trang 25cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốcphòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạmnhững lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy địnhcủa Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo GS.TSKH Lê Cảm, tội phạmđược định nghĩa là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, dongười có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách có lỗi (cố
ý hoặc vô ý) [5, tr.297]
Đối với các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDCcủa công dân, để đưa ra được định nghĩa khoa học cho nhóm các tội phạmnày cần phải nghiên cứu để chỉ ra được các đặc điểm chủ yếu thể hiện bảnchất của các tội phạm đó Mỗi một góc độ nghiên cứu, một cách tiếp cận lại
có thể rút ra được những đặc điểm riêng của nhóm tội phạm này Do vậy, đểgiới hạn lại vấn đề nghiên cứu, người viết chỉ nêu lên những đặc điểm cơ bảncủa các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân
từ góc độ pháp lý, dựa trên nền tảng lý luận về các dấu hiệu của tội phạm nóichung Theo đó, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDCcủa công dân mang những đặc điểm chung sau đây:
Một là, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của
công dân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội Hành vi bị coi là nguy hiểmcho xã hội dưới góc độ luật hình sự nhất thiết phải là hành vi gây nên (hoặc
có khả năng thực tế gây nên) thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội đượcbảo vệ bằng pháp luật hình sự [5, tr.299] Đối với các tội xâm phạm quyền tự
do của con người, quyền TDDC của công dân, đây là những hành vi xâmphạm tới các quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân – là
Trang 26những quyền cơ bản nhất của con người, của công dân được quy định trongHiến pháp và pháp luật Các hành vi này có thể được thể hiện dưới dạng hànhđộng như đấm, đá, trói hay đe dọa dùng vũ lực trong tội bắt, giữ hoặc giamngười trái pháp luật (Điều 157 BLHS), nhưng cũng có thể được thể hiện dướidạng không hành động như người có trách nhiệm xét giải quyết khiếu nại, tốcáo của công dân cố ý không chấp hành quyết định của cơ quan có thẩmquyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo, gây thiệt hại cho người khiếu nại, tốcáo (Điều 166 BLHS).
Hai là, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của
công dân được quy định trong BLHS Theo quy định tại Điều 1 BLHS năm
2015, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một trong những nhiệm vụhàng đầu của BLHS Với nhiệm vụ này, BLHS năm 2015 đã dành chương
XV: “Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công
dân” để quy định 11 điều luật tương ứng với 11 tội danh xâm phạm các
quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân như quyền bất khảxâm phạm về thân thể, quyền bầu cử, ứng cử, quyền có chỗ ở hợp pháp đãđược ghi nhận bởi Hiến pháp
Ba là, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của
công dân được thực hiện một cách có lỗi Lỗi là thái độ tâm lý của ngườiphạm tội thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý Trong nhóm tội này, lỗi củangười phạm tội đều là lỗi cố ý, tức là người thực hiện hành vi phạm tội nhậnthức rõ hành vi xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của côngdân do mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành
vi đó và mong muốn hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra
Bốn là, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của
công dân do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện.Người có năng lực TNHS là người đã đạt độ tuổi chịu TNHS (Điều 12 BLHS)
Trang 27và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực TNHS (Điều
21 BLHS) Cụ thể, theo Điều 12 BLHS năm 2015, chủ thể thực hiện các tộixâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân là người từ
đủ 16 tuổi trở lên, do các tội phạm này không thuộc các trường hợp được quyđịnh của khoản 2 Điều 12, tức là trường hợp phải chịu TNHS của người từ đủ
14 đến dưới 16 tuổi Ngoài ra, một số tội thuộc nhóm này đòi hỏi chủ thểngoài những dấu hiệu của chủ thể thường nêu trên phải có thêm dấu hiệu đặcbiệt khác như dấu hiệu chức vụ, quyền hạn trong tội bắt, giữ hoặc giam ngườitrái pháp luật (Điều 157), tội xâm phạm quyền khiếu nại tố cáo (Điều 166)…
Năm là, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC
của công dân xâm phạm các quyền tự do của con người, quyền TDDC củacông dân được Hiến pháp và pháp luật hình sự bảo vệ Chương XV BLHS năm
2015 với tên gọi “Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC
của công dân” đã trực tiếp chỉ ra hai nhóm quyền được luật hình sự bảo vệ
trong chương này, đó là quyền tự do của con người và quyền TDDC của côngdân Do vậy, các tội phạm quy định tại chương này xâm phạm tới các quan hệ
xã hội liên quan tới việc xác lập và thực hiện các quyền con người, quyềnTDDC của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận như các quyền bất khả xâmphạm về chỗ ở (Điều 22); tự do đi lại và cư trú (Điều 23); tự do tín ngưỡng, tôngiáo (Điều 24); tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin (Điều 25);bình đẳng giới (Điều 26); quyền bầu cử và ứng cử (Điều 27); quyền biểu quyếtkhi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29); quyền khiếu nại, tố cáo (Điều30)
Từ những phân tích này, trên cơ sở khái niệm tội phạm, dưới góc độ khoa
học luật hình sự, có thể đưa ra định nghĩa như sau: Các tội xâm phạm quyền tự do
của con người, quyền TDDC của công dân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, có lỗi, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi
Trang 28chịu TNHS thực hiện, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân được Hiến pháp và pháp luật hình sự bảo vệ.
1.2.2 Ý nghĩa của việc quy định các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân trong luật hình sự Việt Nam
Quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân là nhữngquyền cơ bản và thiêng liêng nhất của mỗi cá nhân Do vậy, trong Hiến pháp
và pháp luật Việt Nam, các quyền này được thể hiện đầy đủ và chủ yếu nhấttrong chế định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.Đây là nhóm quyền được đặt ở những vị trí ưu tiên và chiếm nội dung lớntrong các bản Hiến pháp Ngoài ra, những hành vi xâm phạm đến các quyền
tự do của con người, quyền TDDC của công dân ở các mức độ khác nhau đều
bị xử lý bằng pháp luật và ở mức độ nghiêm khắc nhất, sẽ bị xử lý bằng cácchế tài pháp lý hình sự Việc quy định các tội xâm phạm quyền tự do của conngười, quyền TDDC của công dân trong luật hình sự Việt Nam mang những ýnghĩa to lớn, được thể hiện ở các nội dung như:
Thứ nhất, là công cụ sắc bén nhất trong việc bảo vệ các quyền tự do
của con người, quyền TDDC của công dân Như đã khẳng định ở trên, quyền
tự do của con người, quyền TDDC của công dân là các quyền cơ bản và quantrọng nhất Vì vậy, việc xây dựng các chế tài hình sự nhằm xử lý các hành vixâm phạm các quyền này là một yêu cầu tất yếu khách quan Đây là cơ sởpháp lý vững chắc cho việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp hình
sự trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và phòng,chống các tội phạm xâm phạm quyền con người, quyền công dân nói riêng
Thứ hai, thể hiện chính sách, chủ trương đề cao quyền con người,
quyền công dân của Đảng và Nhà nước Ngay từ khi còn là một nhà nước nontrẻ, bên cạnh Hiến pháp là văn bản có tính pháp lý tối cao, các quy định về
Trang 29quyền con người, quyền công dân đã nằm trong nhiều Sắc lệnh của nhà nướcViệt Nam Dân chủ cộng hòa Trong giai đoạn hiện nay, các quyền con người,quyền công dân cũng luôn là phương hướng, yêu cầu mà Đảng và Nhà nước
đã chỉ đạo cho toàn ngành tư pháp cũng như toàn hệ thống pháp luật phảihướng đến Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị Banchấp hành Trung ương Đảng “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đãchỉ ra định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền conngười, quyền TDDC của công dân [12] Bên cạnh đó, bảo đảm quyền con người,quyền TDDC của công dân cũng là quan điểm chỉ đạo hàng đầu trong Nghịquyết số 48/NQ-TW ngày 24/05/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020 [11] Có thể thấy rằng, dù ở bất cứ điều kiện kinh tế, xã hội thế nào, quyềncon người và quyền công dân cũng luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọngbảo vệ hàng đầu
Thứ ba, thực hiện cam kết của Nhà nước ta trong việc thực hiện các
Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên Cho đếnnay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người.Song song với quá trình tham gia đó, việc hướng đến những chuẩn mực cơbản và phổ quát về quyền con người, đưa những quy định chung đã đượcquốc tế thừa nhận rộng rãi về các quyền con người vào pháp luật, chính sáchcủa Việt Nam, phù hợp điều kiện đặc thù của Việt Nam là một công tác trọngtâm trong việc triển khai chủ trương tăng cường hợp tác quốc tế về quyền conngười Nhà nước ta luôn xác định, xây dựng nhà nước pháp quyền của nhândân, do nhân dân, vì nhân dân và đảm bảo các quyền con người được thể chếhóa trong Hiến pháp năm 2013 Thực tế cho thấy, Việt Nam luôn nghiêm túctrong thực thi trách nhiệm, nghĩa vụ của một quốc gia thành viên các côngước, đặc biệt là nghĩa vụ nội luật hóa quy định của các công ước Nhờ đó, các
Trang 30quyền con người được quy định ngày càng cụ thể và toàn diện hơn trong luậtpháp quốc gia Tiêu biểu nhất chính là Hiến pháp năm 2013 với một chươngriêng quy định về quyền con người và quyền công dân và hàng loạt các bộluật, văn bản luật đã và đang được điều chỉnh, sửa đổi hoặc ban hành mớitheo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và các công ước quốc tế mà Việt Nam làthành viên, trong đó phải kể đến BLHS năm 2015.
1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam
về các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân từ năm 1945 đến nay
1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất – Bộ luật hình sự năm 1985
Sau thành công của Cách mạng tháng Tám, nhà nước Việt Nam dânchủ cộng hòa ra đời, mang đến nền tự do, dân chủ cho dân tộc Việt Nam cũngnhư mở ra sự phát triển cho các quyền con người, quyền công dân ở đất nước
ta
Tháng 11/1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam đượcthông qua Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đầy khó khăn, phức tạp, Hiến phápnăm 1946 thực sự là công cụ đặc biệt quan trọng và có hiệu lực nhất để bảo
vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng và thực hiện quyền lựcnhân dân Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các quyền TDDC củacon người, của công dân được đạo luật cơ bản ghi nhận và bảo đảm, cũng làlần đầu tiên người dân lao động Việt Nam được xác nhận có tư cách công dâncủa một nước độc lập có chủ quyền Nội dung của quyền và nghĩa vụ pháp lý
cơ bản của công dân nhằm mục tiêu bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàntoàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ Ba nguyên tắc xây dựngHiến pháp năm 1946 là đoàn kết toàn dân, đảm bảo các quyền TDDC và thựchiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân Trong số bảy chương
Trang 31thì chương về “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” được xếp thứ hai, gồm 13điều Các quyền TDDC của công dân được ghi nhận bao gồm quyền bìnhđẳng, quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng,
tự do cư trú, tự do đi lại; quyền bất khả xâm phạm về thân thể và bất khả xâmphạm về nhà ở, thư tín,… thể hiện trong các điều luật như:
- Tất cả các công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều đượctham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnhcủa mình (Điều thứ 7);
- Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện (Điều thứ 9);
- Công dân Việt Nam có các quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự
do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và đi
ra nước ngoài (Điều thứ 10);
- Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm công dânViệt Nam (Điều thứ 11)…
Các quy định trên của Hiến pháp năm 1946 đã được cụ thể hóa sau đótrong một loạt các văn bản pháp luật của nhà nước ta như: Luật số 101/SL-L003 ngày 20 tháng 5 năm 1957 quy định quyền tự do hội họp; Sắc luật số102/SL-L004 ngày 20 tháng 5 năm 1957 quy định quyền lập hội; Sắc luật số003/SL ngày 18 tháng 6 năm 1957 về quyền tự do xuất bản; Sắc luật số103/SL-L005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 bảo đảm quyền tự do thân thể vàquyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân; Sắc luật
số 002/SLT ngày 18 tháng 6 năm 1957 quy định những trường hợp phạmpháp quả tang và những trường hợp khẩn cấp…
Bên cạnh đó, nhà nước cũng quy định chế tài xử lý với các hành vi viphạm đến quyền TDDC của công dân, trong đó có các chế tài hình sự như Sắclệnh số 40/SL ngày 29 tháng 3 năm 1946 trừng trị tội bắt giam, giữ người tráiphép, tội tra tấn, bức cung Trong thời kỳ các văn bản pháp luật hình sự chưa
Trang 32có vị trí độc lập trong hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước thì ở các loạivăn bản thuộc các ngành luật khác cũng đã chứa đựng những điều luật quyđịnh về các hành vi xâm phạm quyền TDDC của công dân và các hình phạttương ứng Luật bầu cử đại biểu quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ cộng
hòa quy định: “Người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép
làm trở ngại đến quyền tự do bầu cử và ứng cử của công dân thì có thể bị phạt tù đến hai năm” (Điều 56); “Nhân viên trong các Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử và nhân viên trong các tổ chức chính quyền phạm tội giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng mọi thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả cuộc bầu cử có thể bị phạt tù đến 3 năm” (Điều 57), “Mỗi người đều có quyền tố cáo các việc làm trái phép trong các bầu cử Ai cản trở hoặc trả thù người tố cáo thì có thể bị phạt tù đến 3 năm” (Điều 58) Các quy định trên
sau này cũng được quy định lại tại các Điều 61, 62, 63 Pháp lệnh ngày18/01/1961 quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp
Bên cạnh đó, Luật ngày 24-01-1957 quy định quyền lập hội có quyđịnh: “Người nào xâm phạm đến quyền lập hội hoặc đến quyền tự do vào hội,
ra hội của người khác có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước tòa án và bị xửphạt tù từ một tháng đến một năm” (Điều 7) Luật ngày 24-01-1957 về bảođảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật,thư tín của nhân dân quy định: “Những người bắt, giam, khám người, khám
đồ vật, nhà ở, thư tín trái với đạo luật này thì tùy trường hợp có thể bị thi hành
kỷ luật hành chính hoặc xử phạt từ 15 ngày đến 3 năm tù Nếu phạm tội tratấn, dùng nhục hình thì sẽ bị xử phạt thêm theo hình luật chung” (Điều 16)
Sau khi đất nước ta được hoàn toàn giải phóng năm 1975, nhiều vănbản pháp luật liên quan đến tố tụng hình sự đã ra đời, song chủ yếu liên quanđến các biện pháp bắt người, tạm giữ, tạm giam áp dụng trong tố tụng hình sựnhư:
Trang 33- Sắc luật số 03/SL ngày 15-3-1976 của Hội đồng Chính phủ Cách mạnglâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định việc bắt, giam, khám người,khám nhà, khám đồ vật.
- Quyết định số 181-NQ/QHK6 ngày 02-01-1978 của Ủy ban thường vụQuốc hội giao cho Tòa án nhân dân đặc biệt xét xử những tội phạm đặc biệtnghiêm trọng về trật tự xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh [43, tr.90]
Trong giai đoạn này, sau Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và
1980 cũng lần lượt ra đời, quyền TDDC của công dân ngày càng được mở rộnghơn và được quy định đầy đủ hơn Đặc biệt, đã quy định rõ công dân có cácquyền về kinh tế, quyền văn hóa quyền chính trị Có thể thấy rằng Đảng và Nhànước ra đã dành sự quan tâm rất lớn đến nhiệm vụ củng cố, bảo vệ và phát triểncác quyền TDDC của công dân Các vi phạm pháp luật liên quan đến nhóm tộinày theo mức độ nặng nhẹ đã có thể bị xử lý bằng việc xử lý hành chính hayTNHS
Tuy nhiên, ở thời điểm này quyền con người và quyền công dân còn bịcoi là đồng nhất, do đó, quyền con người chưa được tách riêng và chưa đượccác bản Hiến pháp đề cập tới
1.3.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ hai – Bộ luật hình sự năm 1999
BLHS năm 1985 ra đời đã lần đầu tiên hệ thống hóa và pháp điển hóatất cả các văn bản trước đó thành một văn bản tổng thể và đầy đủ, mở ra mộtgiai đoạn mới trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước, tổ chức và xãhội, đặc biệt là quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân
Tại chương III Phần các tội phạm, BLHS năm 1985 đã quy định 9 điềuluật về các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân như:
- Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 119)
- Tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 120)
Trang 34- Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện báo củangười khác (Điều 121)
- Tội xâm phạm quyền bầu cử của công dân (Điều 122)
- Tội buộc người lao động thôi việc trái pháp luật (Điều 123)
- Tôi xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, quyền hội họp, lập hội của côngdân (Điều 124)
- Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ (Điều 125)
- Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền sáng chế, phát minh (Điều 126)
- Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân (Điều 127)
Tương thích với BLHS năm 1985, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)năm 1988 cũng có một số điều luật quy định về việc bảo vệ quyền cơ bản củacông dân trong hoạt động tố tụng như:
- Tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân (Điều 3)
- Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 4)
- Đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 5)
- Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm của côngdân (Điều 6)
- Đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín,điện thoại, điện báo của công dân (Điều 7)
Năm 1986, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hànhNghị quyết số 04-HĐTP ngày 29/11/1986 về hướng dẫn áp dụng một số quyđịnh trong phần các tội phạm BLHS, trong đó tập trung hướng dẫn riêng tộibắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trong Chương các tội xâm phạmquyền TDDC của công dân như:
- Khách thể của tội phạm này là quyền bất khả xâm phạm về thân thể củacông dân
- Mặt khách quan: bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là những
Trang 35trường hợp như: hành vi của người không có thẩm quyền về vấn đề này màbắt, giữ hoặc giam người không phải là phạm pháp quả tang, hành vi của cán
bộ, Công an, Tòa án, Kiểm sát có thẩm quyền về vấn đề này mà bắt, giữ hoặcgiam người khi không có căn cứ xác đáng để nghi ngờ người đó phạm tội;hành vi bắt, giữ hoặc giam người không có quyết định hợp pháp của Việnkiểm sát hoặc Tòa án từ cấp huyện, quận trở lên (đối với bị can) hoặc Ủy bannhân dân cấp tỉnh, thành (đối với người tập trung cải tạo)
- Chủ thể: công dân bình thường bị xử lý theo khoản 1, người có chức
vụ, quyền hạn (nhưng không có thẩm quyền trong việc bắt, giữ hoặc giamngười, hoặc tuy có thẩm quyền trong việc bắt, giữ hoặc giam người nhưng đãlợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái pháp luật), thì bị xử lý theo khoản 2 Hailoại chủ thể trên nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì bị xử lý theo khoản 3 Hậuquả nghiêm trọng có thể là thiệt hại đối với người bị bắt, giam hoặc gia đình họ;ảnh hưởng xấu về chính trị Cùng với hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái phápluật, tùy trường hợp cụ thể có thể xử lý thêm về tội khác (nếu có) (như tội cố ýgây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác, tội dùng nhục hình.Trong trường hợp bắt cóc người nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành vi bắt cóccũng xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, do đó bị xử lý theo tội bắtcóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân), mà không bị xử lý theo tội này)
Bên cạnh đó, Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thưTrung ương Đảng nêu rõ: Quyền cá nhân không tách rời nghĩa vụ và tráchnhiệm công dân Dân chủ đi đôi với kỷ cương Mở rộng dân chủ xã hội chủnghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời thực hiện chuyênchính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân [8]
Trong giai đoạn này, quyền con người và quyền công dân vẫn bị coi làđồng nhất, quyền công dân cũng chính là quyền con người Mặc dù thuật ngữ
“quyền con người” lần đần tiên được thừa nhận trong Hiến pháp 1992 nhưng
Trang 36quy định tại Điều 50 của Hiến pháp liên quan đến quyền con người vẫn còn
thiếu chính xác, dễ gây hiểu lầm hai khái niệm này: Điều 50: “Ở nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.” Vì lẽ đó, các văn bản cụ thể hóa tư
tưởng của hiến pháp như BLHS hay BLTTHS vẫn chưa đề cập một cách riêngbiệt quyền con người và quyền công dân
Trải qua quá trình thi hành và áp dụng, BLHS năm 1985 đã được sửađổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997 và đến năm 1999, BLHSmới đã ra đời
1.3.3 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ ba – Bộ luật hình sự năm 2015
BLHS năm 1999 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy nhữngnguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của nước ta, nhất là BLHS năm 1985cũng như những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng ngừa vàchống tội phạm
Về cơ bản, BLHS năm 1999 không bổ sung cũng không hủy bỏ tộiphạm nào so với BLHS năm 1985, tuy nhiên BLHS năm 1999 tách Điều 122của BLHS trước đó quy định về tội xâm phạm quyền bầu cử của công dânthành hai điều luật là Tội xâm phạm quyền bầu cử, ứng cử của công dân(Điều 126) và tội làm sai lệch kết quả bầu cử (Điều 127) Tuy nhiên, bộ luậtcũng có một số sửa đổi, bổ sung ở một số các điều luật trong nhóm tội nàymang tính chi tiết, đầy đủ và chính xác hơn Ngoài ra, hình phạt áp dụng đốivới các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân đã nghiêm khắc hơn so vớitrước đây, thể hiện ở các tội phạm như: Tội bắt, giữ hoặc giam người tráipháp luật (Điều 123), tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 124), tội xâmphạm bí mật, an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác (Điều 125)
Trang 37và tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 132)
Để khẳng định hơn nhiệm vụ bảo vệ quyền công dân của Đảng và Nhànước, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị khóa XI
về “một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” đãđưa ra định hướng cho công tác tư pháp nhằm kịp thời đối phó trước tình hìnhphức tạp, nhanh chóng của quá trình, xu thế đổi mới, hội nhập, việc vi phạmcác quyền TDDC của công dân ngày càng phức tạp, trong tố tụng hình sự còntình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội còn thường xuyên xảy
ra Nội dung cụ thể của Nghị quyết tập trung nhấn mạnh vấn đề cải cách tòa
án là khâu đột phá, đặc biệt bảo đảm tốt quyền TDDC của công dân [10]
Đề phù hợp với BLHS năm 1999, Quốc hội đã ban hành BLTTHS năm
2003 (thay thế BLTTHS năm 1988), trong đó có nhiều nguyên tắc cơ bản liênquan đến việc bảo vệ các quyền TDDC của công dân như:
- Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4)
- Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều5)
- Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6)
- Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân(Điều 7)
- Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín,điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8)
- Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11)
- Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 19)
- Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặcngười có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra (Điều 30)
- Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố hình sự (Điều 31),,,
Cụ thể hóa nguyên tắc này, BLTTHS năm 2003 đã dành một chươngmới (Chương XXXV) quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự,
Trang 38trong đó phạm vi khiếu nại, tố cáo không chỉ dừng lại ở việc khiếu nại, tố cáoquyết định, mà còn có quyền khiếu nại, tố cáo hành vi của những người tiếnhành tố tụng, qua đó bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.
Đặc biệt, trong giai đoạn này, Hiến pháp năm 2013 ra đời đã có nhữngđổi mới căn bản, quan trọng cả về cơ cấu, bố cục, cách viết và nội dung củacác quyền con người, quyền công dân, cụ thể đã dành chương II với tên gọi
“Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” để ghi nhận cácquyền cơ bản này Trong Hiến pháp năm 2013, về tên Chương, lần đầu tiêntrong lịch sử lập hiến, “quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của côngdân” đã trở thành tên gọi của Chương, thay vì chỉ gọi là “quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân” như Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiến pháp trước
đó Sự bổ sung cụm từ “quyền con người” là điểm nhấn quan trọng, có ýnghĩa rất lớn trong bối cảnh xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc
tế Cùng với đó, cũng xóa bỏ ranh giới còn chưa rõ ràng giữa khái niệm vềquyền con người và quyền công dân, ghi nhận việc mở rộng các chủ thể củaquyền, khẳng định chủ thể rộng nhất của quyền con người là mọi cá nhân,mọi người đều được hưởng
So với Hiến pháp năm 1992, cùng với việc hiến định các quyền mớinhư quyền sống, quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo vănhọc , Hiến pháp năm 2013 còn sửa đổi, bổ sung hơn 30 điều cụ thể trongChương quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đóđáng chú ý là quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân
và bí mật gia đình; quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình (Điều 21), quyền
có nơi ở hợp pháp (Điều 22), quyền tiếp cận thông tin (Điều 25), quyền đượcbảo đảm an sinh xã hội (Điều 34), v.v…
Như vậy, có thể nói, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định sự phát triểnmạnh mẽ trong chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
Trang 39dân Từ sau bản hiến pháp này, một loạt các luật và bộ luật đã có sự sửa đổi,
bổ sung, trong đó phải kể đến BLHS và BLTTHS với việc tăng cường bảo vệcác quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân cũng như có sựphân biệt một cách rạch ròi giữa quyền con người và quyền công dân trong lýluận cũng như lập pháp
Trang 40Kết luận chương 1
Các quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền tự do củacon người, quyền TDDC của công dân nói riêng là những quyền cơ bản vàthiêng liêng nhất Nếu như quyền con người là giá trị chung của nhân loại thìquyền công dân được thừa nhận khác nhau ở mỗi quốc gia
Là bộ phận của quyền con người, nên quyền tự do của con người,quyền TDDC của công dân cũng là những quyền tự nhiên, vốn có Tuy nhiên,những quyền này chỉ thực sự có ý nghĩa trên thực tế khi được thừa nhận vàbảo đảm bởi nhà nước bằng hiến pháp và pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình
sự Chính vì vậy, là một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tiến bộ, nhànước Việt Nam đã hình sự hóa các hành vi nguy hiểm xâm phạm quyền tự docủa con người, quyền TDDC của công dân trong BLHS bằng việc quy định về
“Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân”
Lịch sự hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam về các tộixâm phạm quyền tự do của con người, quyền TDDC của công dân từ năm
1945 đến nay cho thấy, từ khi còn là một nhà nước non trẻ, nhà nước ViệtNam đã rất nỗi lực trong việc ghi nhận rất nhiều những quyền cơ bản của conngười, của công dân như quyền tự do thân thể, tự do hội họp, quyền bìnhđẳng giới Và để bảo đảm các quyền đó, nhà nước cũng quy định chế tài xử
lý với các hành vi xâm phạm đến quyền tự do của con người, quyền TDDCcủa công dân trong nhiều văn bản luật, sắc luật Trải qua thời gian cùng với sựtiến bộ trong tư tưởng cũng như kỹ thuật lập hiến, các quyền tự do của conngười, quyền TDDC của công dân ngày càng được ghi nhận một cách đầy đủ
và rộng mở, việc quy định các hành vi xâm phạm đến nhóm quyền này trongBLHS ngày càng được hoàn thiện, trở thành công cụ sắc bén nhất của nhànước trong việc bảo vệ các quyền tự do của con người, quyền TDDC củacông dân