Mục đích cơ bản của luận án này là thông qua việc giới thiệu tổng quan lễ hội truyền thống người M’Nông Preh huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông nhằm chỉ ra tổng thể hình ảnh đời sống văn hóa cộng đồng, nêu được những giá trị văn hóa truyền thống thông qua sinh hoạt cộng đồng, đặc biệt là lễ hội.
Trang 1Lê Khắc Ghi
LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI M’NÔNG PREH
HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG
TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN
Hà Nội - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Lê Khắc Ghi
LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI M’NÔNG PREH
HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG
TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI
Chuyên ngành: Văn hóa dân gian
Mã ngành: 9229041
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
Trần Văn Ánh
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án tiến sĩ là công trình của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận án là trung thực Nếu có gì sai trái tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận án
Lê Khắc Ghi
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 11
1.2 Cơ sở lý luận 26
1.3 Người M’Nông Preh ở huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông 41
Tiểu kết 53
Chương 2: PHỤC HỒI LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI M’NÔNG PREH Ở HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG 55
2.1 Các lễ hội truyền thống 55
2.2 Chủ thể và khách thể với lễ hội 94
2.3 Tình hình tổ chức phục hồi lễ hội truyền thống ở huyện Krông Nô, tỉnh
Đắk Nông 107
Tiểu kết 113
Chương 3: NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ PHỤC HỒI LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI 115
3.1 Những vấn đề xung quanh việc phục hồi lễ hội 115
3.2 Nguyên nhân của sự thay đổi của lễ hội 133
3.3 Hệ quả của quá trình thay đổi của lễ hội 153
3.4 Giá trị văn hóa lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội đương đại 157
3.5 Xu hướng phát triển của lễ hội M’Nông Preh trong thời gian tới 160
3.6 Vấn đề bảo tồn, phát huy lễ hội truyền thống 166
Tiểu kết 170
KẾT LUẬN 173
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 177
TÀI LIỆU THAM KHẢO 178
PHỤ LỤC 194
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
GS.TSKH Giáo sư, tiến sĩ khoa học GS.TS Giáo sư, tiến sĩ
NVHCĐ Nhà văn hóa cộng đồng Nxb Nhà xuất bản
PGS.TS Phó giáo sư, tiến sĩ
tr Trang
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lễ hội truyền thống M’Nông Preh là sinh hoạt cộng đồng tiêu biểu và quy mô nhất của cư dân tại chỗ Đây là những hoạt động mang tính tổng hợp của tín ngưỡng tâm linh, sinh hoạt văn hóa, trao truyền kỹ năng sống, hoạt động vui chơi, giải trí; đồng thời xây dựng tinh thần cố kết cộng đồng, giữ cho cộng đồng tồn tại và phát triển qua hàng ngàn đời Những thành tố văn hóa trong lễ hội đã biểu hiện rõ sắc thái văn hóa của dân tộc, minh chứng cho sức sống mãnh liệt của văn hóa cộng đồng làm nên sự khác biệt khó trộn lẫn
Lễ hội thường tổ chức là: Mừng mùa (Bư brah bă), Sum họp cộng đồng (R’nglăp bon), Cúng bến nước (Bư brah dơrâm dăk), Cầu mưa (Bư brah qual mih), Cầu an (Tăm blang m’prang bon) Tuy mỗi lễ hội có sự khác nhau, nhưng nhìn chung đó là sinh hoạt lớn của cộng đồng gồm nhiều yếu tố như: các nghi thức tế lễ, lễ vật, trưng bày cây nêu, trồng cây blang, ẩm thực và hoạt động vui chơi, giải trí Phải thấy rằng, lễ hội giữ vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng, là sự tái hiện các hoạt động sáng tạo, nơi biểu diễn, giới thiệu nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc; là môi trường học hỏi đa diện các kỹ năng sống, sản xuất và sáng tạo văn hóa nghệ thuật; tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng cuộc sống và biết ơn ông bà, những thế hệ đi trước bằng lối ứng xử văn hóa giữa con người với con người, con người với môi trường tự nhiên và con người với thần linh
Từ góc độ của người quản lý và làm công tác nghiên cứu khoa học trong quá trình điền dã và thực tế tôi nhận thấy trước sự thay đổi mau chóng của đời sống xã hội, kinh tế phát triển đã tác động đến cuộc sống sinh hoạt của người M’Nông Preh Hoạt động văn hóa truyền thống bản địa nơi đây ngày một phai nhạt dần, các lễ hội cũng thưa thớt và không còn quy mô, đầy
đủ như trước Các bài bản nghi thức lễ hội, phương cách trình diễn, môi
Trang 7trường diễn xướng, lễ vật dâng cúng, ăn uống, vui chơi, ca hát dân gian cũng dần mai một và lãng quên Môi trường sống đã bị bó hẹp, xa rừng - nơi hình thành nên cốt lõi của văn hóa truyền thống Không gian lễ hội - không gian thiêng của bon làng với ngôi nhà truyền thống của người M’Nông hầu như không còn nữa, chỉ còn trong ký ức đã được cộng đồng định vị trong suốt hàng ngàn đời nay “Ăn trâu” là một tập tục có từ lâu đời trong lễ hội, nó kéo theo hàng loạt các nghi lễ: cột trâu, khóc trâu, đâm trâu, bôi máu trâu và cúng cầu may cho người đâm trâu; tạo nên sự linh thiêng, khí thế hào hùng và bi tráng đầy chất nhân văn của buổi tế lễ Hiện nay, có nơi lễ hội đang thay con trâu bằng con bò, heo đã bỏ đi những nghi lễ và nghi thức đặc biệt đó của lễ hội, làm giảm đi tính thiêng và sự sôi động của một lễ hội truyền thống Mặt khác sự cố kết cộng đồng, một ước nguyện ngàn đời giữ cho họ tồn tại và phát triển trong môi trường rừng núi còn nhiều khó khăn và thử thách đã không giữ được cái hồn cốt, mong ước của cộng đồng trong mùa lễ hội Nguy
cơ hơn là việc cải đạo, giảm sút thực hành tín ngưỡng; sự xúi giục của Tin lành Đê Gar loại bỏ sinh hoạt lễ hội, nghi lễ trong đời sống cộng đồng, do đó ảnh hưởng đến việc phục hồi lễ hội truyền thống
Xuất phát từ thực tiễn qua các lễ hội truyền thống M’Nông Preh được
khái lược như trên, tôi đi đến xác định và lựa chọn đề tài nghiên cứu: Lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông trong
xã hội đương đại
Những vấn đề nghiên cứu chính mà luận án muốn giới thiệu, phân tích,
lý giải về lễ hội truyền thống với những nét riêng độc đáo và đa dạng trong sinh hoạt cộng đồng của người M’Nông Preh huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông Trước sự thay đổi nhanh chóng của đời sống mới, lễ hội truyền thống
đã bị cuốn theo trong sự gắng gượng để chấp nhận tồn tại trong bối cảnh mới Cộng đồng, đặc biệt là những nghệ nhân, người giữ hồn cốt cho lễ hội cũng
Trang 8cảm thấy bối rối và tiếc nuối cho di sản cha ông ngày càng mai một Tại sao những lễ hội truyền thống tồn tại từ ngàn đời lại nhanh chóng bị mai một, thay đổi và lãng quên trên chính mảnh đất đã sinh ra loại hình sinh hoạt văn hóa giàu bản sắc? Những tồn tại của quá trình phục hồi lễ hội các dân tộc tại chỗ đã tác động tiêu cực đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đặt ra những thử thách mới trong việc hài hòa giữa bảo tồn và phát triển Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến phong trào “xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở”, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp trong cộng đồng, cố kết bằng sức mạnh truyền thống và ý thức công dân trong thời đại mới; tạo điều kiện phát triển kinh tế-xã hội Trong nhiều vấn đề quan tâm ngày nay, những vấn
đề tồn tại kéo dài, tiêu cực, khó kiểm soát của lễ hội các dân tộc bản địa đặt ra phải có sự nhìn nhận đánh giá thực tế để xây dựng chương trình hành động trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống bằng các hành động thiết thực, bằng công việc cụ thể như: tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn, tổ chức phục dựng, tái hiện, giới thiệu, quảng bá hình ảnh các lễ hội đặc sắc này thông qua các đề
án, dự án, chương trình hỗ trợ cộng đồng, trong đó gắn lễ hội với du lịch Cộng đồng hưởng lợi trong các hoạt động lễ hội và cộng đồng là người quyết định giữ gìn loại hình văn hóa độc đáo này Đó là những vấn đề thực tế đặt ra cho tác giả luận án quan tâm, nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tổng kết các công trình nghiên cứu về lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh cư trú tại huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông, chúng tôi giới thiệu, phân tích và đưa ra kiến giải của riêng mình Luận án có mục đích
cụ thể:
- Thông qua việc giới thiệu tổng quan lễ hội truyền thống người M’Nông Preh huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông nhằm chỉ ra tổng thể hình ảnh
Trang 9đời sống văn hóa cộng đồng, nêu được những giá trị văn hóa truyền thống thông qua sinh hoạt cộng đồng, đặc biệt là lễ hội
- Nêu ra những nhân tố tác động làm thay đổi lễ hội truyền thống M’Nông, nói cách khác chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi lễ hội truyền thống người M’Nông Preh sinh sống tại huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông trong xã hội đương đại
- Chỉ ra những tác động của việc phục hồi lễ hội đến đời sống cộng đồng, trong mối quan hệ ứng xử của cộng đồng, cũng như việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
- Cách thức triển khai nội dung, chương trình hỗ trợ cộng đồng bảo tồn
lễ hội truyền thống, trong đó cộng đồng đóng vai trò chủ đạo, tích cực tham gia Đề xuất những giải pháp cụ thể để phục dựng lễ hội trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội; giữ gìn sự đoàn kết trong cộng đồng với các dân tộc anh em; đồng thời đảm bảo hài hòa giữa bảo tồn và phát triển văn hóa ở đại phương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Lễ hội truyền thống M’Nông Preh huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông trong bối cảnh chung của lễ hội và sinh hoạt cộng đồng M’Nông tại tỉnh Đăk Nông Khi tiếp cận nghiên cứu đối tượng trên, luận án sẽ nghiên cứu giới thiệu tổng thể và những thành tố của lễ hội truyền thống M’Nông Preh huyện Krông Nô: Mừng mùa (Bư brah bă), Sum họp cộng đồng (R’nglăp bon), Cúng bến nước (Bư brah dơrâm dăk), Cầu mưa (Bư brah qual mih), Cầu an (Tăm blang m’prang bon) Mặt khác, lễ hội truyền thống M’Nông Preh cũng được đặt trong bối cảnh hiện nay với sự phát triển của đời sống xã hội
Trang 104 Giả thuyết nghiên cứu
Từ những mục đích, nội dung đặt ra như trên luận án sẽ đưa ra các giả
thuyết nghiên cứu như sau:
-Sự cởi mở, đổi thay của điều kiện kinh tế xã hội có sự tác động đến đời sống cộng đồng Tuy nhiên với lối sống không còn gắn bó với rừng, từ canh tác nương rẫy sang canh tác cây công nghiệp, sinh hoạt tôn giáo mới đã ảnh hưởng tiêu cực đến tín ngưỡng dân gian dẫn đến thay đổi sinh hoạt văn hóa cộng đồng làm thay đổi lễ hội truyền thống
- Sự hạn chế của tổ chức lễ hội truyền thống hoặc những thay đổi của lễ hội đã tác động tiêu cực và ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hóa cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên nói chung và người M’Nông Preh nói riêng trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống góp phần phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo
an ninh ở địa phương
- Lễ hội truyền thống người M’Nông Preh là sinh hoạt cộng đồng hết sức tích cực nếu như các giá trị truyền thống được giữ vững và các sinh hoạt
Trang 11cộng đồng được bảo tồn là điều kiện tiên quyết trongviệc tuyên truyền, hướng dẫn tổ chức phục dựng, tái hiện và giới thiệu, quảng bá hình ảnh các lễ hội đặc sắc Thông qua các đề án, dự án, chương trình, hỗ trợ cộng đồng, trong đó gắn lễ hội với du lịch, cộng đồng sẽ được hưởng lợi trong các hoạt động lễ hội
và cộng đồng là người quyết định giữ gìn vốn quý của loại hình văn hóa độc đáo này
5 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu chính của luận án là phân tích, lý giải: tại sao lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh ở huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông có sự thay đổi trong bối cảnh đương đại và những lý do gì mà hiện tượng sinh hoạt văn hóa cộng đồng lại có nhiều thay đổi và diễn ra mạnh mẽ đến như vậy
Tại sao xã hội ngày nay cộng đồng có điều kiện hơn và có đời sống kinh tế khá giá hơn so với trước kia nhưng lễ hội không được tổ chức thường xuyên theo đúng nguyện vọng của cộng đồng và phát huy giá trị văn hóa truyền thống mà càng ngày mai một Sự thay đổi truyền thống diễn ra như thế nào, nguyên nhân nào dẫn đến sự thay đổi này và hệ quả của quá trình thay đổi này ra sao Những thay đổi trong việc tổ chức lễ hội truyền thống đã nói lên điều gì trong điều kiện có sự hỗ trợ của nhà nước, các cấp chính quyền trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống, vận động xây dựng nông thôn mới
Trong nhiều vấn đề quan tâm ngày nay, sự thay đổi liên tục, tiêu cực khó kiểm soát về lễ hội đã đặt ra phải có sự nhìn nhận, đánh giá thực tế để xây dựng chương trình hành động trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu
Trong quá trình quan sát, tham dự chúng tôi tiếp cận với các hoạt động trong quá trình triển khai tổ chức lễ hội Từ việc chuẩn bị triển khai lễ hội cho
Trang 12đến các nghi lễ, các sinh hoạt văn hóa, trò chơi dân gian và hoạt động vui chơi, giải trí của cộng đồng Trong đó chúng tôi tiến hành gặp gỡ, trao đổi, phỏng vấn cộng đồng đặc biệt là già làng, trưởng bon, lãnh đạo chính quyền
xã, huyện, tỉnh vì họ là những cán bộ quản lý, tổ chức, người con của bon làng và thực hành lễ hội Với việc tham gia lễ hội, tôi là cán bộ công tác lâu năm trong ngành văn hóa, là người sống và làm việc ở địa phương được quan sát nhiều lễ hội, chứng kiến quá trình tổ chức chúng tôi đã ghi hình, ghi âm, ghi chép, cụ thể thời điểm nơi hành lễ và hoạt động lễ hội Bên cạnh đó, là những cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng có chủ đích, nhất là cộng đồng Tuy nhiên, tôi cũng gặp những khó khăn do phần lớn nghệ nhân cao tuổi, không nói rành tiếng phổ thông, nghệ nhân giỏi đã mất; thế hệ sau chưa tiếp nhận hết những tinh túy của văn hóa truyền thống Với nguồn tư liệu này sẽ là
cơ sở quan trọng để giúp chúng tôi nhận diện rõ hơn về quá trình hình thành, quá trình tổ chức và thực hành lễ hội với những thay đổi trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội như hiện nay, đặc biệt là bảo tồn văn hóa truyền thống của
cư dân M’Nông
6.2 Nghiên cứu tư liệu đã xuất bản
Tư liệu liên quan đến đề tài rất quan trọng, giúp cho việc nghiên cứu được thuận lợi có hệ thống, có cơ sở, cứ liệu để dẫn chứng, tham khảo Trước khi tiến hành nghiên cứu thực tế, các lễ hội được tổ chức tại huyện Krông Nô với các đối tượng khác nhau với các bon làng trong cộng đồng, chúng tôi đã tiến hành tìm kiếm các tài liệu, công trình đã công bố, thu thập thông tin, phân loại, sắp xếp, phân tích các kết quả nghiên cứu, trong đó bao gồm các sách chuyên khảo, các tài liệu thống kê, các báo cáo, các đề tài khoa học, các dự án
từ trung ương đến địa phương, các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến
đề tài Nguồn tài liệu này có 3 lĩnh vực cơ bản mà chúng tôi đã sắp xếp, chuẩn
bị
Trang 13- Các tài liệu nghiên cứu về lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh ở huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông nói riêng và nghiên cứu lễ hội cộng đồng M’Nông của Tây Nguyên nói chung
- Các tư liệu nghiên cứu về sự thay đổi của sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến lễ hội và sinh hoạt cộng đồng của người M’Nông Preh ở huyện Krông Nô Và đặc biệt là nguồn tài liệu về Tây Nguyên của các học giả chuyên sâu nói về sự thay đổi của xã hội Tây Nguyên nói chung và cộng đồng M’Nông Preh nói riêng liên quan đến sinh hoạt cộng đồng, đặc biệt là lễ hội
- Các tài liệu về lý thuyết có liên quan đến nghiên cứu lễ hội truyền thống
6.3 Mô tả
Dựa trên những thông tin thu thập từ nghiên cứu điền dã và xử lý trên phần mềm máy tính về những tài liệu, các cuộc phỏng vấn, kể cả hình ảnh, băng hình Luận án sẽ mô tả chi tiết các địa điểm các bon làng tổ chức lễ hội
và một số sinh hoạt cộng đồng trong việc tổ chức lễ hội, tác giả sẽ bám sát vào thực tế những hình thức sinh hoạt cộng đồng thực hành nghi lễ trong lễ hội ở các bon làng với việc mô tả hết sức tỉ mỉ, nơi tổ chức lễ hội, thực hành nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng, vui chơi giải trí và các trò chơi dân gian trong
lễ hội để làm rõ được sự giống và khác nhau về cơ bản của một số lễ hội, giữa các bon làng; đồng thời, cho người đọc có cái nhìn cận cảnh có hệ thống về quá trình tổ chức các sinh hoạt cộng đồng, có những sự thay đổi của lễ hội trong xã hội đương đại
6.4 Phân tích diễn giải so sánh
Việc lý giải phân tích việc thay đổi hiện nay trong quá trình tổ chức lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh ở huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông trên nhiều nguồn thông tin khác nhau:
Trang 14Thứ nhất, phân tích các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động
lễ hội từ năm 1986 đến nay
Thứ hai, phân tích những quan điểm học thuật của những học giả đi trước về những vấn đề tổ chức lễ hội, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng có ảnh hưởng đến sinh hoạt lễ hội, đặc biệt là những năm sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, những năm 2000 thời điểm Tây Nguyên
có những biến chuyển dữ dội như: di dân tự do, hoạt động mạnh của tôn giáo,
mở rộng sản xuất phát triển kinh tế, trồng cây công nghiệp, xung đột về đất đai
Thứ ba, phân tích những luận điểm khoa học và lý thuyết đề tài
Thứ tư, tìm hiểu và phân tích, lý giải của cộng đồng trong việc tổ chức
và bảo tồn văn hóa truyền thống nhất là lễ hội, đặc biệt là vào thời điểm phục hồi sau những năm dài không tổ chức lễ hội
Thứ năm, dựa vào các cuộc phỏng vấn, các băng ghi hình, ảnh chụp với việc kết hợp đa dạng những tài liệu điền dã, những tâm tư, tình cảm của cộng đồng bon làng, các quan điểm học thuật giúp cho việc phân tích, lý giải những vấn đề nghiên cứu một cách khoa học để từ đó đưa ra những kết quả nghiên cứu mới
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Trên cơ sở cái nhìn tổng quát về lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông và việc phục hồi trong xã hội đương đại của một loại hình sinh hoạt văn hóa nguyên hợp; nó thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của cộng đồng M’Nông Preh, luận án góp phần tìm hiểu tư tưởng, nguyện vọng của cộng đồng trong điều kiện xã hội mới
- Góp phần vào việc nhận thức của chủ thể văn hóa, của xã hội về nguy
cơ của một loại hình văn hóa đang bị mai một, từ đó thay đổi cách nhìn, ý thức trong bảo tồn văn hóa truyền thống
Trang 15- Từ cơ sở lý thuyết của đề tài ứng dụng vào thực tế của địa phương nhằm phục hồi lễ hội truyền thống theo tâm nguyện của cộng đồng và chính quyền địa phương
Chương 3: Nhận định về sự phục hồi lễ hội truyền thống trong xã hội đương đại (58 trang)
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trường Sơn - Tây Nguyên là vùng văn hóa đa dạng, phong phú, trong
đó văn hóa M’Nông là một trong những chủ thể nền văn hóa đã cuốn hút nhiều nhà nghiên cứu Trước năm 1954, những công trình nghiên cứu liên quan đến người M’Nông phần lớn là của một số học giả người Pháp Trước
hết phải nói đến H Bernard với tác phẩm: Những cư dân mọi ở Đắk Lắk; Henri Maitre với khảo cứu đồ sộ Rừng người Thượng: Vùng rừng núi cao nguyên miền Trung Việt Nam Có thể nhận thấy các công trình này chủ yếu
phác thảo và giới thiệu khái quát về người M’Nông trong cộng đồng các dân tộc thiểu số cao nguyên miền Trung Việt Nam; chủ thể văn hóa của những vùng cao nguyên rộng lớn này
Sau năm 1954, có một số công trình nổi bật như Minority group in the Republic of Viet Nam (Các nhóm thiểu số ở Việt Nam cộng hòa) (Shrock II and others) hay Son of the mountains; Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands to 1954 (Những người con của núi rừng: lịch sử tộc người ở Cao Nguyên Việt Nam đến năm 1954) Đáng chú ý là công trình của G C Hickey Free in the forest: Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands 1954 -
1976 (Tự do trong rừng: lịch sử tộc người ở Cao Nguyên Việt Nam 1976) Đặc biệt là công trình nghiên cứu về người M’Nông Gar của Georges Condominas Nous avons mangé la forêt xuất bản năm 1974 lần đầu tiên ở
1954-Pháp Vào năm 2003 và năm 2008 Ở Việt Nam, công trình được Nhà xuất bản
Thế giới ấn hành với tựa đề Chúng tôi ăn rừng đá - Thần Gôo và tiểu tựa (Hii saa Brii Mau-Yaang Gôo), Biên niên sử về làng Sar Luk của người M’Nông Gar (Bộ tộc tiền Đông Dương trên cao nguyên miền Trung Việt Nam) Bên
cạnh đó, với cách tiếp cận liên ngành xã hội học, dân tộc học và ngôn ngữ học
Trang 17Georges Condominas đã rất thành công trong các bài biên khảo ở Việt Nam
và Đông Nam Á từ năm 1953 đến năm 1976 được ấn hành năm 1978 với tên
gọi L’Espace social A propos de l’Asie du Sud-Est, cho đến năm 1997 công trình này được dịch ra bản tiếng Việt với tựa đề Không gian xã hội vùng Đông Nam Á được đánh giá khá cao, là tư liệu khảo cứu có giá trị
Trước năm 1975, những học giả, nhà khoa học ở miền Nam Việt Nam
cũng có một số công trình nghiên cứu về người M’Nông như Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam; nguồn gốc và phong tục (1970) của Nguyễn Trắc
Dĩ; một số bài báo của Nghiêm Thẩm in trên Nguyệt san Quê Hương năm
1961 như: “Tìm hiểu đồng bào Thượng”,“Nền kinh tế của đồng bào Thượng Trung nguyên Trung phần”; hay một số bài “Phong quang tỉnh Đắk Lắk” (Hồ
Xuân Đàm, 1969); “Đồng bào sơn cước tại Việt Nam cộng hòa” (Lê Đình Chi, 1972); “Việt Nam chí lược: Cao nguyên miền Thượng” (1974) của Cửu Long Giang- Toan Ánh… Những công trình nghiên cứu văn hóa tộc người M’Nông vào thời điểm trước năm 1975 đã có sự chú ý đầu tư, nhưng người M’Nông được đề cập chỉ mang tính khái lược và giới thiệu chưa có tính chuyên sâu và hàm lượng khoa học còn hạn chế
Sau năm 1975, với sự quan tâm và tập trung của các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu, đặc biệt là Viện Dân tộc học, người M’Nông đã được đề cập
chuyên sâu trong các công trình khoa học Tiêu biểu là công trình: Các dân tộc ít người ở Việt Nam - các tỉnh phía Nam (1984) của Viện Dân tộc học; Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam (1999) của nhóm tác giả Hoàng Văn Trụ, Đặng Văn Lung, Sông Thao; Lưu Hùng với Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên (1996); Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, thực trạng và những vấn đề đặt ra (2004) do Trần Văn Bính chủ biên; Công trình Những khía cạnh của văn hóa dân gian M’Nông Noong (2001) của Đỗ Hồng Kỳ; Văn hóa, xã hội
và con người Tây Nguyên (2007) Nguyễn Tấn Đắc; Những mảng màu văn
Trang 18hóa Tây Nguyên (2007) của Ngô Đức Thịnh… Đây là những công trình
nghiên cứu có đầu tư với hàm lượng khoa học cao về người M’Nông, khái quát về tộc người với những đặc điểm chung về dân số, địa bàn cư trú, đời sống vật chất, tinh thần; trong đó đã khảo tả tương đối cụ thể về văn hóa của tộc người M’Nông đề cập đến lễ hội của cư dân bản địa Ngoài ra còn có nhiều bài báo trên các tạp chí chuyên ngành nghiên cứu một vài khía cạnh cụ thể trong đời sống văn hóa xã hội và lễ hội của cộng đồng M’Nông
Với những nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa dân gian M’Nông và có nội dung liên quan đến luận án, chúng tôi phân thành hai nhóm vấn đề sau:
* Những công trình nghiên cứu về văn hóa M’Nông
Việc nghiên cứu lễ hội truyền thống người M’Nông Preh tỉnh Đắk Nông, kể cả những công trình nghiên cứu chuyên sâu về người M’Nông còn hạn chế Những công trình bài viết của các tác giả, nhà nghiên cứu chủ yếu đề cập đến đời sống tinh thần của cư dân M’Nông, trong đó có tộc người M’Nông Preh được tập hợp trong nhóm này để có cái nhìn chung, nhằm đánh giá toàn diện về sinh hoạt văn hóa tinh thần của người M’Nông
Địa phương chí tỉnh Quảng Đức do Tòa hành chính tỉnh Quảng Đức
phát hành năm 1960 sau khi đơn vị hành chính tỉnh Quảng Đức được thành lập theo Sắc lệnh số 24 NV ngày 23/01/1959 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký; toàn tỉnh có 03 quận gồm: Khiêm Đức, Kiến Đức và
Đức Lập với 215 buôn Thượng của các sắc dân M’Nông, Mạ, Ê Đê, K’ho, dân tộc Thượng ở tỉnh Quảng Đức chiếm gần 2/3 dân số toàn tỉnh, khoảng 20.000/30.792 người, trong đó Bộ lạc M’Nông chiếm đa số Tuy nhiên, về
phía Bắc quận Đức Lập có một số người M’Nông Preh tiến bộ hơn Về việc
sản xuất, đồng bào Thượng chuyên sống về nông nghiệp họ không biết cày cấy như đồng bào Kinh mà chỉ biết chuyên làm rẫy trên các ngọn đồi
Trang 19Về phong tục tập quán, cũng như đồng bào Thượng thuộc các Bộ lạc khác, Bộ lạc M’Nông và Mạ trong tỉnh có phong tục, tập quán rất phức tạp
nặng tính chất mê tín dị đoan Về tín ngưỡng, đồng bào Thượng tại tỉnh Quảng Đức không theo tôn giáo nào mà trái lại thờ nhiều thần: thần trời, thần đất, thần nông, thần núi, thần lửa Tuy nhiên, họ tín ngưỡng trên các vị thần
ấy có một vị thần nhân là Đấng tối cao như thượng đế vậy, do tin tưởng nhiều thần nên đồng bào Thượng thường cúng tế quanh năm Địa phương chí tỉnh Quảng Đức là một tài liệu có giá trị, tuy mang tính khái lược giới thiệu về
mảnh đất và con người nơi đây nhưng cho thấy bức tranh tương đối toàn diện
về đời sống của cộng đồng các dân tộc tại chỗ với những số liệu cơ bản làm
cơ sở để đối chiếu nghiên cứu, đóng góp một phần tư liệu trong tài liệu nghiên cứu về Đăk Nông
Năm 1966, Bộ Quân lực Hoa Kỳ đã công bố công trình Minoroty group inder Rubulist of Viet Nam - các nhóm thiểu số ở Việt Nam Cộng hòa Công
trình này nằm trong chương trình nghiên cứu về các dân tộc ở Việt Nam được miêu tả qua hơn 50 trang và chia thành 12 phần, bên cạnh việc giới thiệu về các tộc người thiểu số ở Việt Nam, đặc biệt là ở Tây Nguyên thì công trình này còn giới thiệu tương đối toàn diện về người M’Nông từ đặc điểm nhân chủng đến ngôn ngữ, nguồn gốc tộc người; đặc biệt là văn hóa, tập quán, những cấm kị trong sinh hoạt tín ngưỡng Trên cơ sở giới thiệu về đời sống văn hóa cộng đồng có đề cập đến sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội, trong đó giới thiệu một số nghi lễ quan trọng gắn liền với đời sống cư dân bản địa Mặc dù giới thiệu hết sức khái quát nhưng tư liệu đã giúp cho người nghiên cứu có thêm những cơ sở để nhận định và đánh giá cơ bản về người M’Nông
Đại cương về các dân tộc Ê Đê, M’Nông ở Đắk Lắk, năm 1982, Sở Văn
hóa, Thông tin Đắk Lắk xuất bản do Bế Viết Đẳng chủ biên Cũng như các công trình nghiên cứu khác, các tác giả đề cập vấn đề phân bố dân cư, thành
Trang 20phần dân tộc, đặc điểm nhân chủng của hai dân tộc bản địa M’Nông và Ê Đê Trong phần thứ 3 của công trình này đã tập trung trình bày những phong tục tập quán và nghi lễ của hai tộc người M’Nông và Ê Đê Tuy nhiên, những giới thiệu này chỉ mang tính khái quát; tác giả Vũ Đình Lợi chỉ mong muốn giới thiệu một vài hình ảnh cơ bản về sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người M’Nông và Ê Đê mang tính gợi mở, cho những định hướng nghiên cứu sâu hơn để sau này các tác giả tiếp tục nghiên cứu về hai tộc người nói trên
Năm 2007, tác giả Trương Bi cho ra mắt công trình Văn hóa mẫu hệ M’Nông, đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về một lĩnh vực của cư dân
M’Nông Tuy nhiên, việc nhận định, đánh giá và phân tích về văn hóa mẫu hệ M’Nông từ gia đình, dòng họ cho đến cộng đồng trong các mối quan hệ xã hội phức tạp Bên cạnh đó, các hoạt động xã hội, các hoạt động cộng đồng như tín ngưỡng, lễ hội của người M’Nông là cơ sở để chi phối về loại hình văn hóa đặc biệt này Tác giả Trương Bi đã nhấn mạnh dấu ấn thiết chế mẫu
hệ trong đời sống cộng đồng M’Nông xưa và nay, như một mặt để khẳng định những giá trị văn hóa đó đã làm nên nền tảng đời sống cộng đồng và duy trì cho đến ngày nay; mặt khác tác giả đã cung cấp cho bạn đọc, những người nghiên cứu những kiến thức bổ ích
Công trình Phong tục tập quán cổ truyền của một số dân tộc thiểu số Tây Nguyên (2007) nhà xuất bản Văn hóa dân tộc của tác giả Ngô Đức Thịnh,
Lê Văn Kỳ Tuy chỉ tập trung nghiên cứu phong tục tập quán của tộc người Ê
Đê và M’Nông nhưng cho thấy sự đóng góp mới của lĩnh vực nghiên cứu đã
có một số tác giả đề cập với sự thuận lợi của Viện Văn hóa lúc bấy giờ, hai tác giả đã có dịp tiếp cận và nghiên cứu sâu về hai tộc người có một nền di sản văn hóa hết sức độc đáo và phong phú Qua công trình nghiên cứu đã cho thấy các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trong đó có các phong tục, tập quán và sinh hoạt lễ hội, nghi lễ có những lý giải sâu sắc và nhiều kết luận
Trang 21xác đáng với những đóng góp mới cho vấn đề nghiên cứu về tộc người và đặc biệt là vùng đất Nam Tây Nguyên
Nhạc cụ dân gian Ê Đê, M’Nông do Nhà Xuất bản Văn hóa Dân tộc,
xuất bản năm 2010 của Vũ Lân và Trương Bi Đây là một công trình văn hóa tập trung nghiên cứu chuyên sâu về nhạc cụ dân gian của người M’Nông và Ê
Đê Trên cơ sở đời sống xã hội, những phong tục tập quán, tín ngưỡng, nhạc
cụ dân gian của người M’Nông, Ê Đê gắn bó mật thiết đến sinh hoạt cộng đồng và đời sống xã hội, cho thấy tính đa dạng và đa diện trong việc sử dụng các nhạc cụ dân gian trong sinh hoạt cộng đồng Nhạc cụ dân gian M’Nông, Ê
Đê đã góp phần tạo nên các giá trị văn hóa, là mối quan hệ khăng khít giữa nhạc cụ với đời sống cộng đồng, giữa nhạc cụ với tín ngưỡng, nghi lễ và lễ hội
Sau năm 2004, tỉnh Đắk Nông được tái lập, Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch đã thực hiện đề tài khoa học Văn hóa M’Nông và vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc M’Nông ở tỉnh Đắk Nông, do Viện Khoa học xã
hội vùng Nam bộ thực hiện do Nguyễn Thế Nghĩa làm chủ nhiệm Văn hóa M’Nông và vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc M’Nông ở tỉnh Đắk Nông là một công trình có ý nghĩa, bởi vì lần đầu tiên được nghiên cứu chuyên biệt về tộc người M’Nông, về văn hóa truyền thống; đồng thời đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc M’Nông trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
Trong báo cáo khoa học này, với hai chương quan trọng là chương IV:
“Tín ngưỡng và tôn giáo của tộc người M’Nông” và chương IX: “Lễ hội dân gian M’Nông”, tập trung về giới thiệu tín ngưỡng M’Nông dân gian và các lễ hội, nghi lễ của người M’Nông; đã cho thấy những nét chung nhất về các hoạt động sinh hoạt văn hóa của cộng đồng M’Nông, nhấn mạnh công tác bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, ít tập trung lý giải về một số vấn
Trang 22đề quan trọng như những thay đổi của văn hóa tín ngưỡng và lễ hội truyền thống của người M’Nông Tuy nhiên, công trình cũng đã cung cấp những dữ liệu quan trọng để làm cơ sở nghiên cứu tiếp theo
Công trình Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc người Ê Đê, M’Nông 2009 - Nhà Xuất bản Văn hóa Dân tộc của Trương Bi - Bùi Minh
Vũ Công trình nghiên cứu mang tính chất tổng họp những vấn đề liên quan đến đời sống cộng đồng và di sản văn hóa truyền thống cũng như những thực trạng của nó trong việc bảo tồn và phát huy Công trình cũng đã tập trung nghiên cứu và giới thiệu một số nghi lễ về nông nghiệp, vòng đời người được phân tích và giới thiệu kỹ, cung cấp nhiều thông tin bổ ích về vấn đề đặc trưng của vùng đất và con người M’Nông, Ê Đê, với sự quan tâm của độc giả
và những người nghiên cứu Nhìn chung, công trình chỉ hướng đến định hướng về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người M’Nông và Ê Đê Bên cạnh đó, cũng cung cấp một số dữ liệu quan trọng để làm cơ sở nghiên cứu
Năm 2011, tác giả Vũ Ngọc Khánh đã công bố công trình Người M’Nông ở Việt Nam, do Nhà xuất bản Thông tấn ấn hành Đây là công trình
nghiên cứu của tập thể do Vũ Ngọc Khánh chủ biên, là tập sách ảnh nghiên cứu tổng quan về người M’Nông, trên cơ sở khái quát vấn đề tổ chức xã hội, đời sống cộng đồng, trong đó đề cập đến sản xuất và sinh hoạt văn hóa truyền thống của người M’Nông, đặc biệt là các nghi lễ và lễ hội được giới thiệu và đưa ra một số nhận xét cơ bản về tín ngưỡng dân gian cũng như nghi lễ và lễ hội của người M’Nông Đây là công trình song ngữ Việt - Anh, do đó tập sách mang nhiều ý nghĩa nhằm giới thiệu những kiến thức nhất định về người M’Nông ở Việt Nam với đầy đủ những hình ảnh minh họa hết sức độc đáo và mới lạ
Trang 23Công trình Địa chí Đắk Nông do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân tỉnh Đắk Nông chỉ đạo biên soạn, được Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa xuất bản năm 2011, đây là công trình nghiên cứu tổng hợp có tính quy mô lớn nhất của tỉnh Đắk Nông từ trước đến nay, là một bộ sách tổng hợp mang tính bách khoa thư của địa phương được ghi chép một cách toàn diện, các mặt, đặc điểm tự nhiên dân cư, cũng như kinh tế văn hóa xã hội của địa phương; đây là dữ liệu quý báu với độ tin cậy cao góp phần đắc lực vào việc xây dựng các luận cứ khoa học cho nhiều chuyên đề nghiên cứu sau này
Với vùng đất hiện có 40 dân tộc anh em sinh sống, nhưng đặc biệt các dân tộc bản địa M’Nông, Mạ và Ê Đê đã có vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống xã hội với nhiều loại hình văn hóa độc đáo, phong phú như: lễ hội, cồng chiêng, sử thi và các loại hình văn hóa dân gian khác; đó là những nét đặc trưng, độc đáo, phong phú đã làm nên hình ảnh, văn hóa và con người độc đáo ở vùng đất Tây Nguyên
Trong chương Về văn hóa tinh thần của Địa chí Đắk Nông tập trung
phản ảnh phong tục tập quán, các nghi lễ và lễ hội truyền thống của các dân tộc bản địa M’Nông, Mạ và Ê Đê bên cạnh các tộc người đến sinh sống tại Đắk Nông với những lễ hội và nghi lễ phong phú Với một công trình đồ sộ
để nghiên cứu về vùng đất, con người cũng đã giành phần lớn để giới thiệu về văn hóa truyền thống của các cư dân bản địa chủ yếu là người Mạ, M’Nông
và Ê Đê; trong đó đặc biệt quan tâm đến các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nghi lễ và lễ hội của người M’Nông Tuy nhiên, đó là những kiến thức chung nhất mang tính khái quát và làm cơ sở để tham khảo và vận dụng cho các nghiên cứu sau này
*Các công trình nghiên cứu liên quan đến lễ hội M’Nông, lễ hội M’Nông Preh, huyện Krông Nô
Để có góc nhìn tương đối cụ thể về một đối tượng nghiên cứu của luận
án về lễ hội truyền thống người M’Nông Preh tỉnh Đắk Nông, chúng tôi giới
Trang 24thiệu những công trình liên quan trực tiếp đến tín ngưỡng các sinh hoạt văn hóa cộng đồng trong đó có lễ hội truyền thống M’Nông nói chung, M’Nông Preh nói riêng
Chúng tôi ăn Rừng Đá - Thần Gôo của Georges Condoninas nhà dân
tộc học người Pháp trong hai năm 1948, 1949 đã cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt với cộng đồng M’Nông Gar ở bon Sar Luk Biên niên sử về bon Sa Luk
đã phản ảnh chân thật và sinh động về sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, nghi lễ cũng như lễ hội của cộng đồng M’Nông Gar hết sức cụ thể Trong lời dẫn nhập ông đã chỉ ra:
Cuốn sách về một cộng đồng M’Nông Gar này chủ yếu là một sưu tập thô thu nhặt được rút ra từ các sổ tay ghi chép của chúng tôi trong thời gian sống tại Sar Luk huyện Lăk Trước khi dựng lên một
mô hình về cấu trúc xã hội M’Nông, chúng tôi thấy cần trình bày những khía cạnh khác nhau trong đời sống của nhóm người này bằng những thí dụ cụ thể rút ra từ thực tế hàng ngày Chẳng hạn, ở đây chúng tôi không đưa ra một Lễ Tăm Bôh M’Nông Gar lý thuyết
mà trình bày một lễ trao đổi hiến sinh trâu cụ thể, có ngày tháng và được đặt trong bối cảnh cuộc sống thường ngày [40, tr.12]
Condominas đã mô tả một lễ cúng rất lớn của người M’Nông Gar gọi
là Niditdong của Bon Sala cách Bon Salut 04km về phía thượng nguồn Lễ hội này tục cúng tế cực kỳ “xa hoa”(chữ dùng của Condominas) Họ giết tới
11 con trâu; riêng khách mời đã đến 120 người gồm 9 bon làng lân cận mà
cộng đồng làng chỉ có 80 người Chúng tôi ăn Rừng Đá - Thần Gôo đã có
tiếng vang lớn trong giới học thuật Phương Tây, là nguồn tư liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu văn hóa người M’Nông Gar, đặc biệt là văn hóa các tộc người Tây Nguyên Đối với văn hóa M’Nông nó đã đánh dấu một khởi đầu với nhiều giá trị về nghiên cứu tộc người M’Nông trước năm 1954 Cuốn sách
Trang 25là cơ sở, nguồn tài liệu viện dẫn, so sánh, đối chiếu cho các nhà nghiên cứu về văn hóa M’Nông sau này
Văn hóa dân gian M’Nông do Ngô Đức Thịnh chủ biên (1993) và Đỗ
Hồng Kỳ, Tô Đông Hải đã đề cập đến những thành tố văn hóa dân gian của tộc người này Phần lễ hội chỉ được đề cập đến như những nét phác thảo có tính chung nhất Đây là công trình nghiên cứu văn hóa M’Nông sau năm 1975
có hệ thống với sự nhìn nhận, quan sát, khảo tả khái quát Công trình này là nguồn tư liệu tham khảo quan trọng cho các thế hệ kế tiếp nghiên cứu về người M’Nông, về văn hóa truyền thống M’Nông
Kế thừa kết quả nghiên cứu kể trên Tô Đông Hải đã tập trung tìm hiểu:
nghi lễ và âm nhạc nghi lễ trong công trình Nghi lễ và âm nhạc trong nghi lễ của người M’Nông (Bu Noong) Ở đây, tác giả cũng giới thiệu hầu hết các
nghi lễ của người M’Nông, trong đó trình bày cụ thể các nghi lễ, phần thực hành nghi lễ có liên quan trong quá trình tổ chức lễ hội Tuy nhiên, nghi lễ được chỉ ra ở đây cũng chỉ mang tính khái quát và trình tự những nghi lễ và
âm nhạc sử dụng trong lễ hội, chứ chưa trình bày đầy đủ, chi tiết của lễ hội M’Nông Dù sao đây cũng là nguồn tư liệu cần thiết cho những người nghiên cứu và tìm hiểu về văn hóa M’Nông tham khảo, đối chiếu với thực tế điền dã
Đỗ Hồng Kỳ với công trình Những khía cạnh của văn hóa dân gian M’Nông Noong (2001) đã khảo tả tương đối cụ thể về văn hóa dân gian tộc
người M’Nông; trong đó, đề cập đến lễ hội của cư dân này Từ đặc điểm lịch
sử tộc người, địa bàn cư trú, phong tục tập quán cũng như những sinh hoạt văn hóa dân gian của tộc người này Tác giả đã chỉ ra được những đặc điểm của các thành tố văn hóa của người M’Nông Đỗ Hồng Kỳ là người nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa M’Nông; ông là người đầu tiên phát hiện ra Ot n’drong - sử thi M’Nông Công trình này được sự đón nhận và quý trọng của độc giả và những nhà nghiên cứu văn hóa Đây là dữ liệu quan trọng để bạn
Trang 26đọc thêm hiểu biết về văn hóa dân gian M’Nông một cách toàn diện và đầy
đủ hơn
Công trình Nghi lễ cổ truyền của người M’Nông của tác giả Trương Bi,
do Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc ấn hành năm 2006 Công trình này giới thiệu những nghi lễ quan trọng của người M’Nông, trong đó có nghi lễ của vòng đời người như: sinh đẻ, cưới hỏi, tang ma; nghi lễ nông nghiệp như: phát rẫy, canh tác, thu hoạch và một số nghi lễ khác liên quan với cuộc sống của cộng đồng Tuy là công trình văn hóa giới thiệu các nghi lễ của người M’Nông, nhưng sự phân định giữa nghi lễ và lễ hội chưa được xác định ranh giới rõ ràng Dù sao đây cũng là công trình giới thiệu được nhiều nghi lễ truyền thống của người M’Nông làm cơ sở cho những độc giả và những người nghiên cứu, tìm hiểu về nghi lễ cổ truyền và lễ hội của người M’Nông
Năm 2016, Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành công trình Nghi lễ
và phong tục các tộc người Tây Nguyên do Ngô Đức Thịnh tuyển chọn và
giới thiệu, có thể nói đây là công trình có giá trị vừa là phản ánh từ những người con của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên như: Ê Đê, M’Nông, S’Tiêng, Ba Na, Ca Dong, Gia Rai tham gia khóa đào tạo cao học do Quỹ Ford tài trợ Công trình này phản ánh khá đầy đủ về tín ngưỡng nghi lễ, phong tục và lễ hội các tộc người Tây Nguyên bản địa Trong đó có hai đề tài nghiên cứu đáng chú ý về nghi lễ của người M’Nông: “Diễn biến trong tang lễ cổ truyền của người M’Nông Rlâm ở Uôn Dlei” và “Nghi lễ cưới xin truyền thống của người M’Nông Gar ở bon Rchai A”
Sự phản ảnh chân thực và có giá trị từ những người con của vùng đất Tây Nguyên đã tạo nên một sắc thái mới trong nghiên cứu và đã để lại những sản phẩm có giá trị giúp ích cho những người nghiên cứu chuyên sâu về cộng đồng các tộc người Tây Nguyên thông qua các nghi lễ, phong tục và lễ hội của chính họ
Trang 27Năm 1995, Cục Văn hóa Thông tin cơ sở đã phát hành kỷ yếu Nếp sống phong tục Tây Nguyên, được Nhà xuất bản Thông tin ấn hành, cuốn sách tập
trung những bài tham luận tham gia hội thảo khoa học: Nếp sống và phong tục tập quán đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tại Buôn Ma Thuột tháng 5 năm 1994 Mục đích của hội thảo này là nhằm tìm ra các biện pháp nhằm bảo tồn, làm sống lại những nét đẹp trong lễ hội, trong nếp sống, phong tục của các dân tộc sống ở vùng đất Cao nguyên miền Trung, các bài viết đã tập trung phản ảnh về các lễ hội truyền thống, các nghi lễ cổ truyền của các dân tộc sống ở Tây Nguyên như: M’Nông, Ê Đê, K’Ho, Gia Rai và một số phong tục tập quán, văn hóa, lễ hội cũng như sinh hoạt của họ Ngoài việc giới thiệu, hội thảo còn đặt ra một số vấn đề về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, phương thức để duy trì và phát huy bản sắc văn hóa độc đáo của các tộc người
Tác giả Trần Tấn Vịnh đã bước đầu tìm hiểu về việc kế thừa và phát huy lễ hội dân gian M’Nông trong sinh hoạt văn hóa của đồng bào M’Nông ở Đắk Lắk (nay là Đăk Lăk và Đăk Nông) Tác giả đã giới thiệu một số nghi lễ quan trọng của lễ hội vòng đời người, cây trồng và các nghi lễ quan trọng khác trong đời sống của người M’Nông; đồng thời đề xuất một số kiến nghị
để bảo tồn văn hóa truyền thống, tác giả tin tưởng rằng lễ hội M’Nông sẽ được phục hồi và phát huy để phục vụ đắc lực cho cuộc sống hôm nay
Chuyên luận Nghi lễ truyền thống của người Bu Noong (M’Nông) được
Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản năm 2010 của tác giả Tô Đông Hải, tiếp tục trình bày một loạt các nghi lễ truyền thống từ nghi lễ vòng sinh trưởng cây trồng đến nghi lễ vòng đời người và một số nghi lễ liên quan đến sinh hoạt cộng đồng Việc trình bày những nghi lễ truyền thống chỉ mang tính khái quát nhưng cũng đã phản ánh bức tranh tổng thể về nghi lễ truyền thống của người M’Nông Đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những
Trang 28người nghiên cứu về M’Nông, nghiên cứu về văn hóa truyền thống của dân tộc M’Nông
Tác phẩm Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên do Nhà xuất bản Trẻ
ấn hành năm 2007 của tác giả Ngô Đức Thịnh, là công trình tâm huyết và có giá trị khoa học của một tác giả, nhà nghiên cứu đã dành nhiều cho Tây Nguyên Công trình phản ảnh những nét độc đáo về một vùng đất giàu có về văn hoá Gần 500 trang của công trình nghiên cứu, phản ảnh những vấn đề cốt lõi của văn hóa, các tộc người Tây Nguyên, trong đó đề cập đến văn hóa của người M’Nông Trong phần thứ nhất, phác họa về văn hóa Tây Nguyên, tác giả đã giành 12 trang để phản ảnh về văn hóa dân gian M’Nông, cũng như nếp nhà cổ truyền M’Nông Trong đó tác giả giới thiệu nội dung lễ hội dân gian của người M’Nông và các nghi lễ, lễ hội này diễn ra trong cộng đồng bon làng, trong gia tộc và dòng họ Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các tộc người Tây Nguyên; trong đó có
đề cập các khuynh hướng biến đổi văn hóa Tây Nguyên hiện nay và đồng thời chỉ ra những nguyên nhân cụ thể và đặt ra các giải pháp để bảo tồn và phát huy các văn hóa truyền thống, các tộc người ở Tây Nguyên Phải nói rằng đây
là một công trình viết về Tây Nguyên hết sức có giá trị làm cơ sở cho việc nghiên cứu chuyên sâu vấn đề văn hóa tộc người ở Tây Nguyên nói chung và
lễ hội cũng như các sinh hoạt văn hóa cộng đồng khác
Công trình nghiên cứu chuyên sâu về lễ hội M’Nông là Lễ hội R'nglăp Bon của người M’Nông Noong xã Đắk Rung huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông
- Luận văn Thạc sỹ Văn hóa học của Đinh Thị Hoài Mỵ bảo vệ tại Viện Nghiên cứu văn hóa năm 2014 đã giới thiệu cụ thể về một lễ hội tiêu biểu của người M’Nông Đây là lễ hội thắt chặt tình đoàn kết giữa các bon trong vùng với nhau cùng hỗ trợ nhau trong sản xuất, phát triển cộng đồng và bảo vệ bon làng Những thành tố của lễ hội được khảo tả cụ thể, sinh động như các nghi
Trang 29lễ, lễ vật dâng cúng, sinh hoạt văn nghệ và các trò chơi dân gian của một ngày hội lớn cộng đồng Luận văn đã giới thiệu về sinh hoạt lễ hội của người M’Nông Noong, một nhánh của tộc người M’Nông cư trú tại địa bàn huyện Đắk Song với nhiều hoạt động văn hóa đa dạng và độc đáo; đồng thời, góp thêm một sản phẩm nghiên cứu khoa học về tộc người M’Nông, về một loại hình văn hóa còn chưa được quan tâm nhiều của người nghiên cứu
* Nhận xét về tình hình nghiên cứu các vấn đề đã được đề cập tới
Thông qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về con người và văn hóa M’Nông có thể cho thấy một bức tranh tổng thể về đời sống xã hội, với những vấn đề về lịch sử, thành phần dân tộc, địa bàn sinh sống, sản xuất đến các sản phẩm văn hóa Những nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đã đóng góp đáng kể cho ngành văn hóa dân gian, văn hóa học, nhân học về phương pháp nghiên cứu tiếp cận cũng như lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào các trường hợp nghiên cứu cụ thể Có thể nhận thấy khá rõ về những nét tiêu biểu về văn hóa tinh thần của các nhóm địa phương của tộc người M’Nông phản ánh các sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội và các sinh hoạt văn hóa cộng đồng khác; đặc biệt các nghi lễ, lễ hội tiêu biểu của người M’Nông, trong đó có người M’Nông Preh Bên cạnh nghi lễ vòng đời người, nghi lễ vòng cây trồng đã cho thấy một số lễ hội truyền thống của người M’Nông nói chung và người M’Nông Preh nói riêng như: Lễ hội Mừng mùa, Cầu mưa, Cúng bến nước, Cầu an, Sum họp cộng đồng Tuy nhiên, ở những công trình nghiên cứu chuyên sâu về lễ hội chỉ mang tính chất miêu tả một số lễ hội tiêu biểu và phản ánh chân thực đời sống lễ hội của cộng đồng Những lễ hội được phản ánh trong một số công trình nghiên cứu mang tính chất đại diện của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về người M’Nông bên cạnh việc khảo tả
cụ thể và chi tiết về lễ hội, các tác giả cũng đã lý giải và mạnh dạn đề xuất một số vấn đề về sinh hoạt truyền thống của tộc người M’Nông ở Tây
Trang 30Nguyên nói chung và Đăk Nông nói riêng, tiêu biểu là tác giả Condominas, Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Tô Đông Hải
Lễ hội là hoạt động cộng đồng, loại hình sinh hoạt văn hóa tiêu biểu của tộc người Đó là một hiện tượng văn hóa xã hội tổng thể phản ánh những quy luật vận động của xã hội; mặt khác đây không phải là một hiện tượng văn hóa xã hội bất biến mà nó có thay đổi theo điều kiện, đó là những diễn tiến, những động thái biến chuyển trong đời sống xã hội nhất là trong sinh hoạt văn hóa Một số tác giả đã tập trung nghiên cứu phục hồi di sản văn hóa Tây Nguyên và chỉ ra những tồn tại trong xã hội đương đại, trong đó có việc giao lưu ảnh hưởng về văn hóa, đứt gãy về văn hóa truyền thống, đồng hóa tự nhiên về văn hóa và xu hướng phục hồi văn hóa truyền thống Tuy nhiên, những vấn đề đặt ra cũng đã chỉ rõ những quy tắc, sự vận động tìm hiểu những biến chuyển của loại hình văn hóa truyền thống của tộc người M’Nông trong đó người M’Nông Preh huyện Krông Nô là chủ thể của lễ hội truyền thống Tuy các công trình nghiên cứu sự phục hồi của lễ hội truyền thống của người M’Nông nói chung và của người M’Nông Preh nói riêng còn có những hạn chế, bất cập, nhưng cũng đã chỉ rõ những vấn đề cốt lõi, cơ bản về sự thay đổi với những nhận định chung nhất về các tộc người Tây Nguyên mà người M’Nông cũng mang tính đại diện
Điểm lại các công trình nghiên cứu về lễ hội truyền thống, sự phục hồi
lễ hội truyền thống người M’Nông trong đó có người M’Nông Preh ở huyện Krông Nô thật sự chỉ dừng ở mức độ hạn chế Với những kết quả đạt được của các công trình trên đã cung cấp nguồn thông tin đáng kể về lễ hội truyền thống của người M’Nông Ở khía cạnh nào đó, lễ hội được nghiên cứu bằng những phương pháp chủ yếu là phân tích tổng hợp, ít tiếp cận về các lý thuyết nghiên cứu liên ngành nên việc nhận diện, lý giải về hiện tượng văn hóa tổng thể này cũng như việc phục hồi chỉ dừng lại ở mặt phản ánh tổng thể và đánh
Trang 31giá chung nhất về các tộc người, lễ hội truyền thống và các sinh hoạt văn hóa cộng đồng khác
Các công trình nghiên cứu và bài viết cũng còn ít ỏi về lễ hội, về phục hồi lễ hội của tộc người M’Nông, đặc biệt là người M’Nông Preh và đây là
một khoảng trống, một thực tế cần phải quan tâm và tác giả đã chọn vấn đề Lễ hội truyền thống người M’Nông Preh huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông trong
xã hội đương đại làm đề tài luận án của mình
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Các khái niệm cơ bản
Có nhiều cách hiểu về lễ hội, những nhà nghiên cứu trong nước đã gọi tên khác nhau như: lễ hội dân gian, lễ hội cổ truyền, lễ hội truyền thống, hội
hè Tuy có những cách gọi khác nhau nhưng chung quy để chỉ một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng Chúng tôi xin nêu một số khái niệm của các nhà nghiên cứu để làm cơ sở nhận thức cho luận án của mình: Lễ hội truyền thống với các tác giả Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý, Bùi Hoài Sơn, Thạch Phương, Ngô Đức Thịnh; lễ hội dân gian với các tác giả Đinh Gia Khánh, Lê Trí Đức; lễ hội cổ truyền với các tác giả Nguyễn Chí Bền, Thu Linh, Đặng Văn Lung, Lê Trung Vũ; hội hè có các tác giả Toan Ánh, Đặng Quốc Vượng, Trương Thìn Theo tác giả Nguyễn Chí Bền:
Lễ hội là sản phẩm của cộng đồng Người dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là khách thể tiếp nhận sáng tạo của mình, cũng lại là người lưu truyền, bảo lưu sáng tạo ấy Bản chất sức sống của mỗi sáng tạo văn hóa, muốn sống cùng thời gian phải sống được với lòng người
Lễ hội cổ truyền, có thể nói là sáng tạo văn hóa đã được thử thách với thời gian Bởi nó mang đậm tính xã hội hóa [6]
Theo nhà nghiên cứu Lê Trung Vũ:
Trang 32Lễ là phần nghi thức Nghi thức trong hệ thống lễ, nghi thức cả trong hệ thống hội Lễ liên quan tới tín ngưỡng dân gian và tôn giáo chính thống Lễ thiên về mối quan hệ giữa người với giới siêu thực, giới tự nhiên (thần linh, ma quỷ, mưa, gió, sấm chớp, núi sông…)
Lễ được tiến hành trong không khí thiêng và thường là với số người hạn chế, trong không gian thiêng (trước bàn thờ, khu vực trong đình, khu vực dâng cúng…) [94, tr.144]
Hội là phần phát triển - nối tiếp với Lễ - có thể hiểu như vậy - liên quan nhiều với các hoạt động vui chơi - nghệ thuật của quần chúng rộng rãi, được thể hiện một phần thông qua các quan điểm tôn giáo và các phong tục Hội,
dù sao cũng thiên về mối quan hệ giữa người với người nhiều hơn Lại cũng thường ở không gian “rộng mở”, “trần tục” hơn, ngoài hiên đình, sân đình, trên bãi ruộng, đường làng, đường đê… Phần vui chơi hay trò diễn được thể hiện bằng nghệ thuật biểu diễn (ca, múa, âm nhạc, động tác, hành động kịch, ngôn ngữ biểu cảm của các nhân vật hội…); bằng nghệ thuật tạo hình (màu sắc, hình khối, đường nét trong đám rước; trang phục, đạo cụ… của các nhân vật hội…) Tất cả: trò diễn, trò chơi, đám rước… được hiểu là nằm trong hệ thống hội [94, tr.118]
Tuy nhiều nhà khoa học dùng từ lễ hội trong các khái niệm khác nhau nhưng với ý nghĩa chỉ một hình thức diễn xướng tâm linh trong tương quan với các loại hình, hoạt động văn hóa truyền thống Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh cho rằng:
Lễ hội truyền thống là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể,
“lễ hội là một hình thức diễn xướng tâm linh” và “tính tổng thể trong lễ hội không phải là một thực thể “chia đôi” như người ta quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh, lịch sử hay một
Trang 33thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nẩy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội, cho nên trong lễ hội phần lễ là phần gốc rễ chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp [119, tr.37]
Như vậy, việc dùng thuật ngữ lễ hội các nhà nghiên cứu để chỉ một cách thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng do cộng đồng sáng tạo mang ý nghĩa thiêng liêng cùng với các hoạt động cộng đồng khác được tích hợp và cũng nhuốm màu thiêng liêng một cách có ý thức của người tổ chức và cộng đồng tham gia Tuy nhiên đối với nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh không có sự phân chia giữa “lễ” và “hội”, đây là đợt sinh hoạt văn hóa gian dân mang tính nguyên hợp rất gần gũi với đời sống cộng đồng Tuy nhiên, hai thành tố này
có mối quan hệ chặt chẽ và bổ trợ cho nhau Khi nghiên cứu về lễ hội của người M’Nông tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng:
Trong một bon (làng) M’Nông, hiếm có ngày nào không có những cuộc cúng lễ với các quy mô lớn nhỏ khác nhau Dường như, ngoài mục đích chính của một cuộc cúng lễ là sự khẩn cầu các thần linh giúp đỡ cộng đồng bon, một tộc họ, hoặc một cá nhân, vượt qua những trở ngại và đạt được những điều họ mong muốn, cúng lễ còn
là cơ hội để những thành viên trong cộng đồng thêm gắn bó với nhau, ràng buộc nhau trong mối quan hệ cộng đồng Đó chính là một trong những lý do tồn tại của những lễ hội nói chung và của lễ hội M’Nông nói riêng [116, tr.160]
Do tính chất hay yêu cầu của một loại nghi lễ nào đó cần có sự tham gia của cộng đồng thì lúc đó “lễ” sẽ thành ngày “hội”, còn việc tổ chức của một hộ gia đình thì những nghi lễ mang tính chất riêng biệt chỉ dừng lại ở sinh hoạt trong tư gia Khi nghiên cứu về lễ hội M’Nông, tác giả Trương Bi cũng
đã nhận định ở tộc người M’Nông “nghi lễ, lễ hội chưa có ranh giới rõ ràng”,
Trang 34có nghĩa rằng tính chất lễ ở đây được coi trọng hơn hội “Do đó chúng tôi gọi:
Lễ hội dân gian của đồng bào M’Nông là nghi lễ” [12] Tuy nhiên, qua tìm hiểu lễ hội người M’Nông mà chúng tôi nhận thấy quan điểm này chưa hoàn toàn hợp lý và đúng thực tế trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng Trong lễ hội,
lễ vẫn là yếu tố then chốt quyết định cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng này, đương nhiên các lễ hội phụ thuộc vào các nghi lễ Trong đó có những nghi lễ đặc biệt quan trọng mang tính cộng đồng cao thì dễ trở thành hội hơn Trong rất nhiều nghi lễ của đồng bào M’Nông thì chỉ có một số nghi lễ quan trọng:
“Cầu mưa”, “Mừng mùa”, “Bến nước”, “Cầu an” thì sẽ trở thành lễ hội Do vậy, chúng tôi nhận thấy rằng: Lễ hội là một chỉnh thể gồm cả nghi lễ lẫn sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nhưng yếu tố quyết định vẫn là lễ và những nghi lễ nào được cộng đồng tham gia với các sinh hoạt đa dạng và phong phú, thì lễ
đó theo thời gian trở thành lễ hội
Khái niệm về truyền thống (tradition) “là thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác” [137, tr.1053] Với nghĩa đó, truyền thống là chuẩn mực, hành vi và tư tưởng, thói quen, tập quán, lối sống của cộng đồng người được hình thành trong lịch
sử và truyền thống đó là sức mạnh của tập quán xã hội Do xu hướng lạc hậu của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, những thay đổi của tồn tại xã hội thường diễn ra với mức độ nhanh và ý thức không thể phản ánh kịp thời; mặt khác ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội nên thường thay đổi chậm hơn tồn tại xã hội Song cũng cần nhận thấy rằng, tính kế thừa của ý thức xã hội trong
sự phát triển cần phải phát huy truyền thống tốt đẹp, truyền thống thì góp phần giữ gìn những giá trị quý giá làm nền tảng cho sự phát triển của xã hội;
do đó, truyền thống mang ý nghĩa hết sức tích cực góp phần tạo nên niềm tin sức mạnh của cộng đồng và truyền thống đồng thời cũng là nền tảng của xã hội và góp phần giữ gìn và phát huy đời sống nhưng cũng giữ lại bên cạnh
Trang 35của nó những mặt bảo thủ, lạc hậu Chính vì điều đó làm cản trở sự phát triển của xã hội và níu kéo làm chậm sự phát triển của một cộng đồng, dân tộc Theo Giáo sư Trần Văn Giàu “truyền thống là những đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực cũng có thể tiêu cực” [41] Vì vậy, khi nói đến truyền thống chúng ta cần phải có sự nhận định rõ ràng giữa yếu tố tiến bộ và những vấn đề lạc hậu, lỗi thời để phân định và định hướng phục hồi và phát huy cho phù hợp với điều kiện cuộc sống của cộng đồng Đối với người M’Nông Preh việc giữ gìn văn hóa truyền thống là một việc làm hết sức cần thiết trong điều kiện hiện nay Như vậy những giá trị truyền thống tốt đẹp phải được lưu giữ, bảo tồn; những vấn đề lạc hậu phải được thay thế và từng bước có tiếp thu cái mới của xã hội hiện đại để cùng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
Theo Từ điển tiếng Việt của Hội ngôn ngữ học Việt Nam từ “phục hồi”
là trả lại, hồi lại Trong tác phẩm Xây dựng năng lực thiết kế, triển khai và đánh giá các dự án bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: “Phục hồi di sản phi vật
thể là việc dựa trên các tư liệu khoa học và nhân chứng hồi ức lịch sử để tái tạo lại một phần hoặc toàn bộ nội dung và hình thức thể hiện của di sản phi vật thể đã mất” [141, tr.33]
Hay có thể hiểu một nghĩa cụ thể hơn thì phục hồi lễ hội truyền thống
là làm hồi sinh hay sống lại các di sản cộng đồng, đồng nghĩa với việc tái hiện, thực hành các nghi lễ và các thành tố trong lễ hội truyền thống
1.2.2 Lý thuyết tiếp cận vấn đề
Lễ hội nói chung và lễ hội truyền thống người M’Nông Preh huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông trong thời kỳ hiện đại là một đề tài khá hấp dẫn, các nhà nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn quan tâm để nghiên cứu và
sử dụng nhiều trường phái lý thuyết, quan điểm khác nhau, nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra cho phù hợp với từng chuyên ngành Thực tế cho thấy rằng
Trang 36trong khoa học xã hội không có một mô hình lý thuyết nào là tốt nhất, tối ưu nhất có thể lý giải làm sáng tỏ được mọi vấn đề, hiện tượng trong đời sống văn hóa xã hội vốn rất phức tạp và chịu nhiều chi phối của những điều kiện kinh tế, lịch sử, xã hội cụ thể khác nhau Mỗi mô hình lý thuyết, quan điểm hay cơ sở lý luận chỉ có thể làm sáng tỏ một khía cạnh hay thỏa mãn những vấn đề nhất định trong đời sống văn hóa xã hội và đặc biệt trong nghiên cứu
lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh huyện Krông Nô tỉnh Đăk Nông
Với một đối tượng nghiên cứu là hiện tượng lễ hội có nhiều vấn đề đặt
ra như trên thì khó có thể tồn tại một lý thuyết, quan điểm hay một phương pháp duy nhất để giải quyết những vấn đề có liên quan Để hiểu được sâu sắc
và làm sáng tỏ các khía cạnh của hiện tượng sinh hoạt cộng đồng này, rõ ràng cần phải có cách tiếp cận khác nhau Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi
sẽ sử dụng cơ sở lý thuyết, quan điểm học thuật trong ngành khoa học văn hóa dân gian, nhân học văn hóa làm phương pháp tiếp cận mong muốn rằng
từ góc độ tiếp cận về văn hóa học, văn hóa dân gian và nhân học văn hóa, chúng tôi sẽ sử dụng quan điểm học thuật về phục hồi di sản văn hóa phi vật thể để giải quyết các mục tiêu đặt ra của luận án
* Quan điểm học thuật về phục hồi di sản văn hóa phi vật thể
Việc phục hồi lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông là hết sức cần thiết Tuy nhiên, việc tổ chức phục hồi lễ hội truyền thống đang phải đối diện với những khó khăn, thách thức to lớn của đời sống có nhiều thay đổi trong xã hội đương đại Dưới sự tác động
đa chiều, sự biến chuyển của chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, những thuận lợi về tiện ích khả năng tiếp cận với đời sống mới dễ dàng trong sinh hoạt và thụ hưởng đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của xã hội phát triển Dựa trên các nguyên tắc bảo vệ di sản phi vật thể nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng thì đảm bảo bốn đặc tính cơ bản: tính chỉnh thể, tính bình đẳng, tính
Trang 37cộng đồng và tính biến đổi Do vậy, khi soi chiếu về việc nghiên cứu, phục hồi các lễ hội truyền thống, những đặc tính đó đều có giá trị quan trọng trong việc tái tạo và thực hành các thành tố trong lễ hội truyền thống
Vấn đề phục hồi những di sản văn hóa nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng đã phát sinh những quan điểm khác nhau trong vấn đề nhận thức, quản lý, tổ chức; sự đồng thuận của cộng đồng và chính quyền các cấp đã là những vấn đề hết sức quan trọng, trở thành chủ đề tranh luận trong các bàn nghị sự, trong chính sách quản lý, kế hoạch bảo tồn và tổ chức cho cộng đồng trở thành những đề tài nóng và có tính thời sự cao Điều đó cũng đặt ra cho những người nghiên cứu, những nhà quản lý tìm hiểu nghiên cứu và đề ra những phương pháp, cách thức tổ chức, phục hồi vừa đảm bảo hài hòa giữa những quy định, nguyên tắc của liên hiệp quốc, của thể chế chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, nhà nước, của bộ ngành có liên quan và cộng đồng tìm được tiếng nói chung trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị của lễ hội truyền thống; nhìn nhận về di sản văn hóa hiện nay nhất là công tác phục hồi
lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh ở huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông
Theo quan điểm phục hồi văn hóa phi vật thể của Công ước về bảo vệ văn hóa phi vật thể Unesco năm 2003, di sản được xác định vẫn còn hiện diện trong đời sống cộng đồng và trong kí ức của các thành viên, đặc biệt là lễ hội truyền thống là đối tượng của hoạt động phục hồi “Được chuyển giao từ thế
hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ” (Khoản 1, Điều 2) Lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh được lưu giữ và tổ chức trong đời sống cộng đồng suốt hàng ngàn đời, được già làng, nghệ nhân, cộng đồng ghi nhận và bảo tồn vì trong đó hàm chứa những giá trị truyền thống hết sức tốt
Trang 38đẹp; lễ hội trở thành đối tượng quan trọng trong việc phục hồi đối với di sản văn hóa phi vật thể Tuy nhiên, để đảm bảo tính xác thực của di sản sau sự phục hồi đòi hỏi có sự gắn kết hay sự tương tác của di sản văn hóa đối với cộng đồng, sự tạo dựng không gian mới cho di sản lễ hội truyền thống đều có liên quan tới những yếu tố mật thiết đến sự lựa chọn, quyết định của chủ thể
di sản văn hóa đó Ta đã biết, lễ hội truyền thống là sinh hoạt văn hóa dân gian đang sống trong đời sống cộng động và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Việc thực hành các nghi lễ tái hiện các hoạt động lễ hội đã trở nên bức thiết và là nhu cầu tự thân của cộng đồng Lễ hội truyền thống là một chỉnh thể nguyên hợp, tính thống nhất cao giữa các thành tố để tạo nên; đương nhiên việc tách ra khỏi các loại hình văn hóa khác của cộng đồng đối với lễ hội là điều nên tránh Lễ hội truyền thống gắn chặt với sinh hoạt văn hóa đời sống bon làng, với môi trường sống, sự tồn tại có tính chất hữu cơ ấy
đã giữ cho loại hình văn hóa dân gian tồn tại và được trao truyền cho nhiều thế hệ Trong quan điểm bảo tồn lễ hội truyền thống với những quan điểm khác nhau được đặt ra nhưng chung quy nhằm nghiên cứu sâu hơn về những vấn đề bảo tồn di sản phi vật thể có tính khoa học và sáng tạo, rút ra những luận cứ xác đáng để đảm bảo việc bảo tồn di sản được đồng nhất
Tính chỉnh thể được thể hiện nổi bật và làm rõ hơn màu sắc của từng địa phương, tạo nên sự khác biệt và độc đáo của lễ hội truyền thống khó trộn lẫn Những vấn đề được đặt ra với cộng đồng là làm sao tái hiện được những di sản của cha ông để lại gắn kết với đời sống, với những quan niệm tốt đẹp trong đời sống tâm linh và sinh hoạt cộng đồng, cầu mong cho đời sống được tốt đẹp và phồn vinh Tuy nhiên, để xác định đâu là những tập tục, những hủ tục lạc hậu, giữa cái mới và cái cũ, giữa tồn tại vĩnh viễn và những cái nhất thời có thể thay thế Việc cộng đồng lựa chọn, quyết định thì vấn đề thực hành
và tái hiện sẽ trọn vẹn theo ý nguyện của cộng đồng Họ sáng tạo thì họ biết
Trang 39cái gì là tốt đẹp, những vấn đề gì chưa phù hợp, cần loại bỏ Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn:
Sau nhiều năm gián đoạn, cộng với những thay đổi trong một số quy định về tổ chức lễ hội, việc phục hồi và tổ chức lễ hội ở nhiều địa phương đã gây nên nhiều vấn đề quản lý nhất định, đó là việc phục hồi và tổ chức lễ hội một cách máy móc, bắt chước nhau, không chú ý đến đặc thù của địa phương trong việc khôi phục và tổ chức lễ hội [106]
Trong quá trình bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống đặc biệt là lễ hội, có thời điểm chủ trương và quan điểm còn nặng về tính chỉ đạo chưa đồng nhất phục hồi văn hóa truyền thống trong xã hội hiện đại Vẫn còn quan điểm cho rằng lễ hội truyền thống là yếu tố không còn phù hợp với xã hội hiện đại và việc bảo tồn di sản văn hóa đó sẽ làm cản trở sự phát triển của xã hội Do không nhìn nhận thấu đáo về văn hóa truyền thống ở mặt tích cực của cộng đồng, của nền tảng phát triển của xã hội mà đánh đồng với sự lạc hậu, còn nặng tính mê tín dị đoan và không theo kịp với xã hội hiện đại
Cộng đồng là người sáng tạo văn hóa truyền thống, là chủ thể của loại hình văn hóa truyền thống đó Trong công ước 2003 đều nhấn mạnh vai trò
của cộng đồng trong việc sáng tạo, bảo tồn và trao truyền cho các thế hệ: Ghi nhận rằng các cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân bản địa đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra, bảo vệ, duy trì và tái sinh di sản văn hóa phi vật thể, từ đó làm giàu thêm sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người
Do vậy, việc phục hồi lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh ở huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông phải dựa trên nguyên tắc cơ bản, cần xuất phát từ nhu cầu tự thân hoặc đề nghị của cộng đồng với mục tiêu duy trì những giá trị
Trang 40của di sản đối với cộng đồng nếu không sẽ dẫn đến sự áp đặt làm thay người khác, không phát huy được nội lực và sự tham gia tích cực của cộng đồng
Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh:
Một vấn đề về mặt nhận thức là lâu nay chúng ta thường tự cho mình có cái quyền tự đưa ra các phán quyết về hiện tượng văn hóa này là “tiến bộ”, hiện tượng kia là “lạc hậu” rồi từ đó quyết định người dân được làm cái này mà không được làm cái kia Đứng từ góc độ chủ thể văn hóa chúng ta có thể định hướng cho người dân còn lựa chọn cái này hay cái kia trong hoạt động sinh hoạt văn hóa phải là do người dân tự đánh giá, lựa chọn và quyết định [128, tr.475]
Do vậy, trong nguyên tắc phục hồi lễ hội truyền thống cộng đồng là người quyết định di sản văn hóa của họ được lưu giữ hay không và không ai khác họ sẽ làm tốt điều đó Việc phục hồi lễ hội truyền thống của người M’Nông Preh trong môi trường xã hội đương đại chính là thể hiện quan điểm tính tích cực chủ thể trong việc bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống, vì lễ hội là sản phẩm của cộng đồng và không ai hiểu các nghi lễ thực hành văn hóa bằng họ
Tính bình đẳng là tiêu chí quan trọng để nhận diện vị trí ngang bằng của văn hóa các dân tộc Tại diễn đàn quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể tổ chức tại Thành Đô, Trung Quốc ngày 29/5/2011, Cécile Duvelle đã nhấn mạnh “Không thứ bậc nào có thể được đặt ra để có thể phân biệt được di sản phi vật thể với cộng đồng này là tốt hơn, giá trị hơn, quan trọng hơn hoặc hay hơn so với di sản của bất kỳ cộng đồng nào khác” Đó là một trong bốn đặc tính cơ bản của di sản văn hóa phi vật thể mà tính bình đẳng đã được đề cao
Do vận dụng quan điểm bảo tồn có chọn lọc trong quá trình thực hiện hiện đại hóa đã làm một số di sản văn hóa, trong đó có lễ hội đã bị mai một; làm thay