1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ Lịch sử: Quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965)

203 69 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của luận án là làm rõ các giai đoạn phát triển và bản chất của quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965), đồng thời chỉ ra nét riêng biệt, độc đáo trong con đường đi tới độc lập dân tộc của quốc gia này.

Trang 3

nghiên cứu chưa từng được công bố Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này

Tác giả

Phạm Thị Huyền Trang

Trang 4

luận án Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến GS.TS Đỗ Thanh Bình, giảng viên khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy, Cô giáo trong Khoa Lịch

sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Ban Lãnh đạo Trường Đại học Tân Trào, Lãnh đạo Khoa KH Cơ bản cùng bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôi hoàn thành công trình luận án

Trong quá trình hoàn thành công trình luận án sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo và đồng nghiệp để luận án tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Phạm Thị Huyền Trang

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Association of Southeast Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông

Nam Á

BPUKI Badan Penyelidik Usaha Persiapan

Kemerdekaan Indonesia

Ủy ban điều tra độc lập Indonesia

Indonesia

ISDA Indies Social Democratic Association Hiệp hội Dân chủ Xã hội

Trang 6

OLDEFOS Old Established Forces Trật tự cũ

quốc

PNI - mới

(PNI baru) Pendidikan Nasional Indonesia Giáo dục Quốc gia Indonesia

PPKI Panitia Persiapan Kemerdekaan

Indonesia

Ủy ban trù bị độc lập Indonesia

PPPKI Permufakatan Perhimpunan Politikek

giáo PSII Partai Sarekat Islam Indonesia Liên minh các Đảng Hồi giáo PUSA Persatuan Ulama - ulama Seluruh Aceh Liên minh ulama ở Aceh

RUSI Republic of the United States of

Trang 7

VOC Vereenigde Geoctroyeerde Oost

Trang 8

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Các nguồn tài liệu 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận án 6

7 Bố cục luận án 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 8

1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 8

1.1.1 Các công trình nghiên cứu khái quát về lịch sử Indonesia có liên quan đến đề tài 8

1.1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia 14

1.2 Những vấn đề đã được nghiên cứu và chưa được nghiên cứu 24

1.3 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu giải quyết 25

CHƯƠNG 2: ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC Ở INDONESIA (1927 - 1945) 26

2.1 Những nhân tố tác động đến quá trình đấu tranh giành độc lập ở Indonesia (1927 - 1945) 26

2.1.1 Chính sách cai trị của thực dân Hà Lan, quân phiệt Nhật và những chuyển biến trong đời sống kinh tế - xã hội - văn hóa ở Indonesia thời thuộc địa 26

2.1.2 Sự phát triển của phong trào đấu tranh giành độc lập ở Indonesia trước năm 1927 35

2.1.3 Sự thành lập Đảng Dân tộc Indonesia 42

Trang 9

2.2 Quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1945) 47

2.2.1 Đấu tranh giành độc lập trong những năm 1927 - 1941 47

2.2.2 Đấu tranh giành độc lập trong những năm 1942 - 1945 58

Tiểu kết chương 2 73

CHƯƠNG 3: ĐẤU TRANH BẢO VỆ VÀ CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC Ở INDONESIA (1945 - 1965) 75

3.1 Những nhân tố mới tác động đến quá trình đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1945 - 1965) 75

3.1.1 Tình hình thế giới và khu vực sau Chiến tranh thế giới thứ hai 75

3.1.2 Sự thay đổi của tình hình Indonesia sau Tuyên bố độc lập tháng 8/1945 78 3.2 Đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước 82

3.2.1 Đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc 82

3.2.2 Đấu tranh thống nhất đất nước 87

3.3 Đấu tranh củng cố độc lập dân tộc (1950 - 1965) 88

3.3.1 Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị 88

3.3.2 Phát triển nền kinh tế - văn hóa độc lập, tự chủ 92

3.3.3 Thi hành chính sách đối ngoại nhằm nâng cao vị thế của Indonesia trên trường quốc tế 97

Tiểu kết chương 3 106

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH GIÀNH VÀ CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC Ở INDONESIA (1927- 1965) 108

4.1 Thành tựu và hạn chế 108

4.1.1 Thành tựu 108

4.1.2 Hạn chế 115

Trang 10

4.2.2 Hồi giáo đóng vai trò quyết định đến sự lựa chọn con đường cứu nước

ở Indonesia 126 4.2.3 Hình thức đấu tranh chính trị ôn hòa đóng vai trò chính, nhưng các hình thức đấu tranh khác cũng hỗ trợ và góp phần đi đến thành công của cách mạng Indonesia 130 4.2.4 Quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia từ năm 1927 đến năm 1965 gắn liền với vai trò lãnh đạo của Sukarno 133 4.2.5 Trong quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965), PKI ngày càng mất dần vai trò lãnh đạo, PNI ngày càng thắng thế 140 4.2.6 Indonesia nhận được sự ủng hộ lớn lao của quốc tế: các nước tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa và các nước Á, Phi, Mĩ Latinh 143 Tiểu kết chương 4 147

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA

TÁC GIẢ 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Indonesia - quốc đảo lớn nhất thế giới với hàng chục nghìn đảo lớn nhỏ, nằm giữa hai lục địa: Châu Á và Châu Đại Dương, nối liền hai đại dương là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Với vị trí chiến lược - nắm giữ các con đường giao thông huyết mạch trên biển, ngay từ thời cổ trung đại, Indonesia đã trở thành một trong những trung tâm giao lưu kinh tế - văn hóa của khu vực và thế giới Trong những thế kỷ XV - XVI, Indonesia trở thành đối tượng xâm lược của rất nhiều nước thực dân phương Tây như: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh Với ưu thế vượt trội về quân sự và hàng hải, Hà Lan đã gạt bỏ các đối thủ thực dân, đặt Indonesia dưới sự kiểm soát của mình Trong suốt hơn 300 năm cai trị, thực dân Hà Lan đã sử dụng nhiều chính sách hà khắc về chính trị, bóc lột về kinh tế, kìm hãm

sự phát triển văn hóa bản địa, chà đạp lên Hồi giáo… nhưng không thể khuất phục được nhân dân Indonesia Bằng chứng là đến mãi đầu thế kỷ XX, Hà Lan chỉ có thể kiểm soát các vùng đất trên lãnh thổ Indonesia một cách lỏng lẻo

Ngay từ khi Hà Lan xâm lược và đặt ách cai trị lên Indonesia, các phong trào đấu tranh chống thực dân đã diễn ra sôi nổi, tiêu biểu như: Cuộc khởi nghĩa của Diponegoro (1825 - 1830); Cuộc chiến tranh của nhân dân Aceh (1873 - 1903)… buộc

Hà Lan phải huy động một lực lượng quân đội lớn, cùng khối lượng vật chất chiến tranh tốn kém mới có thể đàn áp được Sang đầu thế kỷ XX, những biến đổi trong đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội, cũng như tư tưởng cải cách, canh tân đất nước của các quốc gia châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Xiêm) đã đem đến một làn gió mới trong phong trào dân tộc ở Indonesia Đó là phong trào cải cách kinh tế - văn hóa, khôi phục lại các giá trị Java cổ xưa để nâng cao tinh thần dân tộc, do tầng lớp trí thức bản địa khởi xướng Các phong trào đấu tranh giành độc lập theo các xu hướng vô sản và tư sản cũng phát triển mạnh để đáp ứng với yêu cầu của lịch sử lúc bấy giờ - phải thống nhất dân tộc để đi đến độc lập Năm 1927, Đảng Dân tộc Indonesia ra đời, đánh dấu quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc của Indonesia bước vào một giai đoạn phát triển mới

Trang 12

Trong những năm 1927 - 1941, các phong trào đấu tranh chính trị ở Indonesia

đã liên tiếp nổ ra đòi chính quyền thực dân phải công nhận độc lập Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, các phong trào này đều không giành được thắng lợi Năm

1942, Nhật vào Indonesia và thực hiện chính sách cai trị kiểu quân sự, đồng thời, Nhật cũng đưa ra “những lời hứa hẹn ngọt ngào” về việc sẽ trao trả độc lập Trong bối cảnh đó, các nhà lãnh đạo cách mạng, đứng đầu là Sukarno, Hatta đã khơi dậy một phong trào đấu tranh mới, theo hướng hợp tác ôn hòa với người Nhật để chuẩn

bị cho quá trình trao trả độc lập Khi Nhật Tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện (15/8/1945), các tầng lớp thanh niên sôi nổi đã thúc giục Sukarno và Hatta

phải Tuyên bố độc lập, không nhận độc lập như một món quà ban phát từ tay người Nhật Ngày 17/8/1945, Sukarno đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập của Indonesia, khai

sinh ra nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á

Ngay sau khi giành được độc lập, nhân dân Indonesia lại tiếp tục tiến hành đấu tranh chống lại cuộc tái chiếm của Hà Lan trong suốt 5 năm (1945 - 1950) và tiếp

tục chứng minh với thế giới rằng: “nước Cộng hòa Indonesia cũng không phải là món quà từ tay người Hà Lan” [119; 1] Trong những năm 1950 - 1965, chính phủ

Cộng hòa Indonesia đã lần lượt thực hiện các chính sách về kinh tế, chính trị, ngoại giao… để củng cố nền độc lập dân tộc Đây cũng là thời kỳ bản lề, là thời kỳ Indonesia đứng trước nhiều sự lựa chọn để đi lên xã hội hiện đại Thành tựu và hạn chế trong 20 năm đầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc sẽ giúp Indonesia có những bước tiến dài và vững chắc trong tương lai

Có thể nói, quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia (1927 - 1965) là một quá trình lịch sử đặc biệt và độc đáo Không thể tìm thấy một mô hình lý thuyết

xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa được áp dụng ở quá trình này, cũng không thể thấy sự trùng lặp của quá trình này ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới Mặt khác, sau độc lập, Indonesia đã “chuyển mình” mạnh mẽ từ một quốc gia có thu nhập thấp trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình và ngày nay là nền kinh tế lớn thứ 16 trên thế giới Indonesia cũng trở thành một trong những cường quốc ở khu vực khi tham gia sáng lập ASEAN (8/8/1967) và khẳng định vị thế của mình ở

Trang 13

các diễn đàn khác nhau trên thế giới như: G771; APEC2, G203 Việc nghiên cứu về

quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965) sẽ

làm sáng tỏ bản chất cũng như những tác động của quá trình này đối với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn sau, đồng thời mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

Về ý nghĩa khoa học, nghiên cứu đề tài sẽ góp phần làm phong phú lý thuyết

về độc lập dân tộc, trong đó có các vấn đề về giải phóng dân tộc, bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc, không chỉ có giá trị khoa học đối với Indonesia, mà còn đối với các dân tộc khác trên thế giới Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài còn chỉ ra một con đường, một cách thức đi tới độc lập dân tộc hoàn toàn khác biệt của Indonesia, đó là độc lập dân tộc gắn liền với hòa hợp và thống nhất dân tộc

Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu đề tài là cơ sở chứng minh quy luật của lịch

sử: trong đấu tranh giành và củng cố độc lập, giai cấp nào trong xã hội có con đường, biện pháp phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, giai cấp ấy sẽ là giai cấp lãnh đạo của dân tộc Việc nghiên cứu đề tài còn góp phần bù lấp một khoảng trống về lịch

sử Indonesia nói chung, cũng như lịch sử quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia nói riêng Mặt khác, nghiên cứu đề tài cũng góp phần tăng

sự hiểu biết về Indonesia với vị trí là một quốc gia lớn, đông dân trong khu vực, có mối quan hệ lâu đời với Việt Nam, làm cơ sở cho sự tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị song phương và đa phương giữa hai nước trong thời kỳ hiện nay

Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, nghiên cứu sinh chọn vấn đề

“Quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965)”

làm đề tài cho Luận án Tiến sĩ lịch sử

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm rõ các giai đoạn phát triển và bản chất của quá trình

đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965), đồng thời chỉ ra

nét riêng biệt, độc đáo trong con đường đi tới độc lập dân tộc của quốc gia này

3

Group of 20: Nhóm các nền kinh tế lớn

Trang 14

Nhiệm vụ của luận án: Một là, phân tích những nhân tố tác động đến quá trình đấu

tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965) trong từng thời kì cụ

thể; Hai là, làm rõ tiến trình vận động đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965); Ba là, chỉ ra thành tựu và hạn chế cũng như những đặc điểm

của quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965)

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình đấu tranh giành và củng

cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965) trên góc độ lịch sử chính trị, trong đó, tập trung vào các nhân tố tác động, hoạt động của các đảng chính trị, các phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, đấu tranh trên lĩnh vực văn học… và các biện pháp của chính phủ trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - chính trị - ngoại giao

để củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Luận án nghiên cứu quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập

dân tộc (1927 - 1965) ở Indonesia, trong bối cảnh khu vực Đông Nam Á và thế giới

Về phạm vi thời gian: Đề tài giới hạn từ năm 1927 đến 1965 Năm 1927 là mốc lịch sử mang tính bước ngoặt: sự thất bại của cuộc khởi nghĩa ở Sumatra do Đảng Cộng sản Indonesia lãnh đạo và sự ra đời của Đảng Dân tộc Indonesia với

nền tảng là hệ tư tưởng Marhaenism đã đánh dấu bước chuyển mình trong con đường đấu tranh giành độc lập ở nước này Đây cũng là thời kỳ chứng kiến sự trưởng thành của ý thức dân tộc ở Indonesia khi các phong trào đấu tranh giành độc lập đều tỏ rõ khát vọng thống nhất, hòa hợp dân tộc Năm 1965 đánh dấu sự kết thúc 20 năm đầu đấu tranh củng cố độc lập dân tộc dưới thời Tổng thống Sukarno (1945 - 1965) Tuy nhiên, để đảm bảo tính hệ thống, tính toàn diện của vấn đề nghiên cứu, cũng như làm sáng tỏ những nhân tố tác động đến quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965), luận án mở rộng thời gian nghiên cứu trước năm 1927

4 Các nguồn tài liệu

Luận án tập trung khai thác và sử dụng những nguồn tài liệu chủ yếu sau đây:

Các nguồn tư liệu gốc bao gồm các tài liệu lưu trữ như: các văn bản về chủ

nghĩa thực dân Hà Lan (bao gồm các chính sách cai trị như: “Hệ thống trồng trọt”,

Trang 15

“Chính sách kinh tế tự do”, “Chính sách đạo đức” được lưu trữ tại Kho lưu trữ thuộc địa của Hà Lan), các Tuyên ngôn, chương trình hành động, báo cáo Đại hội của các tổ chức chính trị, tôn giáo ở Indonesia như: “Báo cáo cuộc họp của đảng Sarekat Islam tổ chức vào ngày 26/1/1928 nhân kỷ niệm 10 năm tồn tại” của H.A.Salim - nhà lãnh đạo thứ hai của tổ chức này; “Báo cáo trong cuộc họp của Đảng dân tộc Indonesia”, ngày 27/10/1929”; “Báo cáo của Hiệp hội chính trị Nhân dân Indonesia” tại Solo, ngày 25/12/1929”; “Báo cáo cuộc họp công khai đầu tiên của Đảng Indonesia” ở Batavia, ngày 12/7/1931”; “Báo cáo Đại hội lần thứ 23 của Muhammadyah” tại Jogjakarta, tháng 7/1934”; “Báo cáo về cuộc họp kín của Hiệp hội Indonesia tổ chức tại Leiden ngày 12/6/1936”; “Báo cáo Đại hội lần thứ hai của Đảng Indonesia vĩ đại”, tháng 12/1938”; … Các cuốn hồi ký, tự truyện, các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo cách mạng, các bức thư, các bài văn, bài thơ Tiêu biểu có thể kể đến như: “Các bức thư của một công chúa Java” của R.A.Kartini; “Cuộc tìm kiếm sự thống nhất quốc gia”; “Hướng tới mặt trận màu da nâu” của Sukarno;

“Thoát khỏi lưu vong” của Sjahrir; Văn bản gốc Tuyên ngôn độc lập ngày 17/8/1945; Các bài phát biểu của Tổng thống Sukarno trong những năm 1959 -

1962 nhân kỷ niệm ngày Tuyên bố độc lập 17/8/1945; Nội dung các Hiệp định Lingadjati, Hiệp định Renville, các nghị định thư giữa chính phủ Hà Lan và chính phủ Indonesia trong những năm 1947 - 1949

Các tài liệu tham khảo bao gồm: các chuyên khảo, các bài nghiên cứu, một

số website lịch sử, thư viện chính thống trên internet, các công trình chuyên khảo

về lịch sử Indonesia nói chung cũng như về quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia từ năm 1927 - 1965

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 16

tộc, chủ nghĩa dân tộc để phân tích các biện pháp, chính sách của chính phủ Indonesia trong giai đoạn củng cố độc lập (1945 - 1965)

5.2 Về phương pháp nghiên cứu

Phương pháp Lịch sử là phương pháp chính để làm rõ tiến trình vận động của

cuộc đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia Các tư liệu được sưu tầm, chọn lọc, phân tích, đối chiếu… để tạo dựng nên bức tranh toàn diện, khách quan về quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965) Đồng thời, quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965) cũng được đặt trong mối quan hệ đồng đại và lịch đại với phong trào đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới trong thế kỷ XX để làm rõ một số điểm tương đồng và khác biệt Luận án cũng

sử dụng phương pháp Logic để luận giải các vấn đề thông qua sự kiện lịch sử một cách chặt chẽ và có liên kết Đồng thời, phương pháp chính trị học được vận dụng

nghiên cứu để làm rõ vai trò của các lãnh tụ, các đảng phái chính trị trong quá trình

đấu tranh củng cố độc lập dân tộc Ngoài ra, các phương pháp phân tích, tổng hợp,

so sánh… cũng được vận dụng để rút ra những nhận xét trong quá trình nghiên cứu

- Trên cơ sở phân tích quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965), luận án làm rõ đặc điểm, cũng như những thành tựu và hạn chế của quá trình này

- Bổ sung nguồn tư liệu và là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu

về quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia nói riêng cũng như lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á nói chung

Trang 17

7 Bố cục luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án được trình bày trong 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

Chương 2: Đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1945)

Chương 3: Đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia

(1945 - 1965)

Chương 4: Một số nhận xét về quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1945)

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia từ năm 1927 đến năm 1965 là một nội dung quan trọng trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới nói chung và lịch sử Indonesia nói riêng Kể từ khi Indonesia Tuyên bố độc lập (17/8/1945) đến nay, các học giả, các chính trị gia quan tâm đến lịch sử nước này đã cho ra đời khá nhiều các công trình nghiên cứu có giá trị Trong

đó, các vấn đề liên quan đến đề tài cũng được phản ánh ở một mức độ nhất định Có thể chia thành hai nhóm nghiên cứu như sau:

1.1.1 Các công trình nghiên cứu khái quát về lịch sử Indonesia có liên quan đến đề tài

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam

Việc nghiên cứu về lịch sử Indonesia theo cách tiếp cận khu vực bắt đầu được các học giả Việt Nam nghiên cứu trong khoảng 20 năm trở lại đây Có thể kể đến

các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay (1945 - 1996), của tác giả Trần Thị Vinh, (NXB Giáo dục, Hà Nội, năm 1995); Lịch sử Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay (1945 - 1999), của hai tác giả Lê Văn Anh, Nguyễn Văn Tận (NXB Giáo dục, Hà Nội, năm 2005); Lịch

sử Đông Nam Á, của nhóm tác giả Lương Ninh, Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vinh (NXB Giáo dục, Hà Nội, năm 2005); Đông Nam Á Lịch sử từ nguyên thủy đến ngày nay, của nhóm tác giả Lương Ninh, Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vinh, (NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, năm 2015) Bên cạnh việc giới thiệu một cách khái quát về lịch

sử các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Indonesia từ khi hình thành các quốc gia đầu tiên cho đến ngày nay, các tác giả cũng tập trung đi sâu vào các mốc lịch sử quan trọng như: sự xâm lược và ách cai trị của chủ nghĩa thực dân, các phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân để giành độc lập dân tộc, quá trình đi đến độc lập và các chính sách, biện pháp để củng cố độc lập của mỗi nước, từ đó, phác họa những nét chung, những nét tương đồng, tạo nên lịch sử khu vực

Trang 19

Công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam mang tính khái quát về lịch sử

Indonesia theo cách tiếp cận quốc gia riêng biệt là cuốn Lược sử Indonesia, của tác

giả Võ Văn Nhung, (NXB Sử học, Hà Nội, năm 1962) Trong đó, tác giả đã đề cập tương đối đầy đủ các giai đoạn trong tiến trình lịch sử Indonesia từ khi hình thành các quốc gia cổ đại đến trước năm 1957, tức là mốc đánh dấu kết thúc thời kỳ Dân chủ tự do (1950 - 1957) dưới “trật tự cũ” của Tổng thống Sukarno Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc chống ách đô hộ của thực dân Hà Lan, quá trình xâm lược

và chiếm đóng của Nhật, quá trình đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập được tác giả nêu một cách khái quát từ trang 74 đến trang 133 của cuốn sách Tuy nhiên, tác giả không đề cập đến Tuyên bố độc lập ở Indonesia ngày 17/8/1945 và một chuỗi các

sự kiện vô cùng quan trọng đối với quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia trong tháng 8/1945

Trong những năm 1970 - 1980, do ảnh hưởng của cuộc Chiến tranh lạnh, đặc biệt là vấn đề Campuchia, nên mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Indonesia

bị gián đoạn Vì vậy, hầu như trong thời kỳ này hầu như không có bất cứ một công trình nghiên cứu nào về lịch sử Indonesia Phải đến năm 1991, sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết, xu hướng đối đầu chuyển sang đối thoại, đồng thời, yêu cầu của xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng trở nên cấp thiết, thì mối quan hệ giữa Việt Nam và Indonesia cũng thay đổi theo hướng hợp tác song phương

và đa phương Các công trình nghiên cứu về lịch sử Indonesia trong thời kỳ này đề cập đến quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia có thể kể đến như:

cuốn Lịch sử Indonesia từ thế kỷ XV - XVI đến những năm 1950, của tác giả Huỳnh

Văn Tòng (Viện đào tạo mở rộng, Bộ giáo dục và đào tạo, Tp Hồ Chí Minh, năm

1992); cuốn Indonesia - Những chặng đường lịch sử, của tác giả Ngô Văn Doanh,

(NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1995) Các tác giả đều trình bày về các giai đoạn phát triển của lịch sử Indonesia, đồng thời, liệt kê các sự kiện theo chiều dài của lịch sử và không đi sâu vào phân tích tỉ mỉ Vì vậy, bức tranh về lịch sử Indonesia, trong đó có quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập của Indonesia được phục dựng lại một cách khái quát

Trang 20

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu của các học giả Indonesia

Đối với người Indonesia, việc tìm hiểu lịch sử chung của quần đảo tương đối khó khăn bởi khoảng cách về mặt địa lý giữa các đảo, cũng như sự phân tán trong phân bố cư dân Vì vậy, đa số các công trình nghiên cứu đều tập trung về lịch sử Java - nơi đông dân cư, có lịch sử lâu đời, cũng như là một trong những trung tâm của quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc

Năm 1979, Mochtar Lubis cho ra đời cuốn Indonesia - Land under the rainbow (Indonesia - Đất nước dưới cầu vồng), (NXB Đại học Oxford, chi nhánh ở

Mĩ) Đây là cuốn sách đầu tiên viết về lịch sử Indonesia, dưới nhãn quan của chính người Indonesia, được viết bằng tiếng Hà Lan, về sau, cuốn sách được xuất bản bằng tiếng Anh Mochtar Lubis cũng khẳng định rằng, để giữ được tính khách quan trong suốt quá trình nghiên cứu của mình, ông đã phải liên tục đấu tranh tư tưởng trước những nguồn tài liệu dồi dào và phong phú của người Hà Lan về lịch sử Indonesia trước khi người phương Tây xuất hiện trên quần đảo Mặc dù bản thân ông là một nhà văn, và cuốn sách cũng không phải là một tác phẩm học thuật về lịch

sử, tuy nhiên, thông qua nội dung của cuốn sách, lịch sử Indonesia đã được tái hiện lại tương đối đầy đủ, mà theo ông, đó là “một cỗ máy thời gian” giúp những người Indonesia có thể tìm ra bản sắc của mình sau khi đọc xong Trong mục 8 - “Con tàu của thế kỷ XX”, tác giả đã dành 46 trang để trình bày về quá trình đấu tranh giành

và củng cố độc lập ở Indonesia từ đầu thế kỷ XX đến năm 1966 Với lối viết thiên

về kể chuyện, tác giả không tập trung vào liệt kê hay phân tích các sự kiện một cách

tỉ mỉ, mà chủ yếu đánh giá các sự kiện lịch sử thông qua các đoạn văn ngắn gọn, thể hiện cách nhìn của cá nhân tác giả Vì vậy, cuốn sách là công trình nghiên cứu tương đối mạch lạc, dễ hiểu, dễ tiếp cận với nhiều tầng lớp trong xã hội và là một tài liệu tham khảo hữu ích đối với luận án

Từ năm 1992 đến năm 2008, các học giả Indonesia đã lần lượt cho ra đời công

trình nghiên cứu về lịch sử nước này trong Bộ sách 6 tập: Sejarah nasional Indonesia (Lịch sử quốc gia Indonesia) của hai tác giả M D Poesponegoro và N

Notosusanto, NXB Balai Pustaka, Jakarta, Indonesia Thông qua 6 tập sách, toàn bộ

Trang 21

bức tranh về lịch sử Indonesia theo chiều dọc đã được phản ánh rất rõ qua từng tập sách: Tập I, giới thiệu khái quát về những dấu vết đầu tiên của con người tiền sử, những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của quần đảo; Tập

II, trình bày về sự ra đời của các quốc gia cổ đại đầu tiên trên quần đảo và ảnh hưởng của Hinđu giáo tới đời sống văn hóa của cư dân; Tập III, trình bày về quá trình du nhập của đạo Hồi và sự phát triển thịnh vượng của các vương quốc Hồi giáo; Tập IV, dành trọn vẹn để trình bày về quá trình xâm nhập, thống trị của các quốc gia phương Tây (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan) và sự sụp đổ của các vương quốc Hồi giáo Các tác giả cũng khái quát lại các phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân từ cuối thế kỷ XVIII đến những năm đầu thế kỷ XX; Tập V, tiếp tục trình bày về cuộc đấu tranh giành độc lập trong thời đại mới, khi Đảng Quốc gia Indonesia ra đời và đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo dân tộc Đến cuối năm 1941, Nhật Bản hất cẳng Hà Lan để độc chiếm Indonesia, thiết lập một chế

độ cai trị kiểu quân phiệt lên quần đảo; Tập VI, trình bày về thời kỳ chiếm đóng của Nhật Bản và quá trình thành lập nước cộng hòa Indonesia cũng như tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở Indonesia trong những năm đầu độc lập cho đến thời kỳ

“trật tự mới” của Tổng thống Suharto

Lịch sử Indonesia cũng được trình bày khái quát trong cuốn Sejarah nasional Indonesia: Masa prasejarah sampai masa proklamasi kemerdekaan (Lịch sử

Indonesia: Từ thời tiền sử đến Tuyên bố độc lập), của tác giả M J A Anshori (xuất bản tại Mitra Aksara Panaitan, Jakarta, Indonesia, năm 2010) Trong chương V -

“Thời kỳ thuộc địa” và chương VI - “Phong trào dân tộc”, tác giả đã trình bày khái quát về quá trình xâm lược và đặt ách đô hộ của Hà Lan với Indonesia, trong đó nhấn mạnh đến chính sách cai trị về mặt kinh tế, và giáo dục mà cụ thể là sự độc quyền của tư bản Hà Lan đối với các loại cây trồng, gia vị, thuộc sở hữu của Indonesia và “chính sách đạo đức” Đồng thời, tác giả cũng khẳng định “chính sách đạo đức” mặc dù để lại nhiều hệ quả tiêu cực, nhưng cũng làm thức tỉnh ý thức dân tộc của người Indonesia, đặc biệt là giới trí thức nước này, làm dấy lên phong trào dân tộc trong những năm đầu thế kỷ XX để đòi độc lập cho Indonesia Tác giả không đi sâu vào trình bày các sự kiện theo tuần tự thời gian, mà chỉ tập trung

Trang 22

vào giới thiệu các tổ chức chính trị cũng như hoạt động của các nhà lãnh đạo cách mạng có vai trò nổi bật trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc Cuốn sách cũng cung cấp một hệ thống kênh hình minh họa khá phong phú về các nhân vật và sự kiện trong tiến trình lịch sử của Indonesia, là tài liệu tham khảo hữu ích cho Luận án

1.1.1.3 Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài

Việc nghiên cứu về lịch sử Indonesia được các học giả phương Tây quan tâm khá nhiều ở cả góc độ khu vực và góc độ quốc gia Tuy nhiên, thời kỳ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945) đến những năm 80 của thế kỷ XX là thời kỳ mà hầu hết các quốc gia Đông Nam Á vẫn còn tiến hành đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc, cũng như tìm những hướng đi cho riêng mình trong quá trình củng cố độc lập

Ở hầu hết các nước Đông Nam Á, tâm lý hướng nội, căm ghét phương Tây vẫn còn tồn tại, nên việc các nhà nghiên cứu phương Tây tiếp cận để nghiên cứu về lịch sử khu vực cũng như lịch sử của từng quốc gia là điều không mấy dễ dàng Do vậy, ở thời kỳ này chỉ có một vài công trình nghiên cứu về lịch sử Indonesia của các học

giả người Úc, Mĩ, được công bố như: Indonesia, của tác giả J.D Legge, (xuất bản bởi Pretice - Hall, New Jersey, năm 1964); A history of modern Southeast Asia: Colonialism, Nationalism, and decolonization (Lịch sử Đông Nam Á hiện đại:

Chủ nghĩa thực dân, Chủ nghĩa dân tộc và phi thực dân hóa), của tác giả J Bastin, (xuất bản bởi Prentice - Hall, Englewood Cliffs, New Jersay, năm 1968); Cả hai tác giả J Bastin và J.D Legge đều ít quan tâm đến niên đại của các sự kiện, mà chỉ tập trung vào trình bày theo các chủ đề mang tính luận giải về những đặc điểm trong lịch sử Indonesia: sự thống nhất trong đa dạng, ảnh hưởng của văn hóa Hinđu giáo, Hồi giáo, ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân phương Tây đến phong trào đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia Sự phong phú trong cách thể hiện tư duy nghiên cứu đã cung cấp cho người đọc cái nhìn khái quát về lịch sử Indonesia cũng như quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia Năm 1981, M C Ricklefs cho ra đời công trình nghiên cứu khá chi tiết, cụ thể

về lịch sử Indonesia từ thế kỷ XIV đến thời kỳ “trật tự mới” của Tổng thống

Suharto Đó là cuốn A history of modern Indonesia, 1200 to the present (Lịch sử

Trang 23

Indonesia hiện đại: Từ năm 1200 đến nay), NXB Đại học Indiana, Bloomington Cuốn sách đã được tái bản lần thứ hai vào năm 1993 và lần thứ ba vào năm 2001, theo đó, các sự kiện lịch sử được bổ sung thêm cho đến hết năm 1999 Với sự tổng hợp và nghiên cứu nghiêm túc, tỉ mỉ các công trình đi trước, đây là một cuốn sách

có giá trị rất lớn về mặt khoa học Quá trình xâm lược và ách thống trị của thực dân, cũng như quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia được tác giả đề cập đến trong chương II, chương III, chương IV, chương V và chương VI của cuốn sách Tác giả cũng lý giải rõ lý do tại sao trong quá trình nghiên cứu, ông lại tập trung vào lịch sử Java nhiều nhất và ông cũng cho rằng điều đó là xứng đáng, khi Java luôn ở vị trí trung tâm của quần đảo, có dân số bằng nửa dân số Indonesia và được các nhà nghiên cứu quan tâm chú ý từ rất sớm Tuy nhiên, không gian của việc nghiên cứu về quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia phải là

cả quần đảo, việc nghiên cứu nghiêng quá nhiều về Java sẽ không đem lại một sự hiểu biết toàn diện về quá trình này

Năm 1983, D.R Sardesai cho ra đời cuốn Southeast Asia: past and present

(Đông Nam Á: Quá khứ và hiện tại) (NXB Vikas, New Delhi), trong đó cung cấp một

sự cắt nghĩa cân bằng và dễ đọc về lịch sử khu vực, trong đó có Indonesia từ thời tiền

sử đến những năm 60 của thế kỷ XX Trong đó, khi trình bày về thời kỳ các quốc gia phương Tây xâm lược và đặt ách thống trị lên các quốc gia Đông Nam Á, D.R Sardesai tránh đánh giá quá cao những ảnh hưởng của thời kỳ này mà chỉ chú trọng vào quá trình đấu tranh giành độc lập, bảo vệ độc lập dân tộc và các con đường phát triển kinh tế - xã hội của các nước Đông Nam Á, trong đó có Indonesia Với quan điểm thuần châu Á, với cách tiếp cận cả theo chủ đề và theo thời gian, cuốn sách cung cấp tương đối đầy đủ những hiểu biết về chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa dân tộc, các vấn đề trong từng quốc gia và quan hệ giữa Đông Nam Á với các nước khác trên thế giới Cuốn sách đã trải qua 7 lần tái bản và bổ sung, lần gần đây nhất là năm 2013

Công trình nghiên cứu được ví như một cuốn bách khoa toàn thư về lịch sử

Đông Nam Á là cuốn Lịch sử Đông Nam Á, của tác giả D.G Hall, (NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, năm 1997) Thông qua ba phần đầu tiên của cuốn sách, tác giả

Trang 24

người Anh đã phác họa một bức tranh khá rõ nét về lịch sử ra đời, phát triển của các quốc gia cổ đại trên quần đảo, quá trình bị thực dân phương Tây xâm lược và thiết lập chế độ cai trị thuộc địa ở Indonesia trong sự tương đồng với các quốc gia khác ở khu vực Ở phần thứ tư, tác giả tập trung nghiên cứu về các phong trào đấu tranh giành độc lập ở Indonesia và các nước Đông Nam Á khác Với sự tham khảo từ nhiều nguồn tư liệu phong phú, bao gồm cả tư liệu lưu trữ lẫn tư liệu văn bia, sử

dụng cả phương pháp nghiên cứu điền dã, Lịch sử Đông Nam Á là một công trình

nghiên cứu nghiêm túc và có giá trị

Sang đầu thế kỷ XXI, khi xu thế toàn cầu hóa ngày càng nổi trội, nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về các quốc gia đã thôi thúc sự ra đời của nhiều công trình nghiên cứu về Indonesia ở cả góc độ quốc gia và khu vực, trong đó, các tác giả đều có đề cập đến quá

trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia Tiêu biểu như: Cuốn Lịch sử Đông Nam Á hiện đại của tác giả Clive J Christie (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000); Cuốn A Short History of Indonesia (Lược sử Indonesia), của tác giả C Brown (xuất bản bởi Allen & Unwin, Australia, năm 2004); Cuốn Lịch sử phát triển Đông Nam Á, của tác giả Marry Somers Heidhues (NXB Văn hóa Thông tin, Tp Hồ Chí Minh, năm 2007); Cuốn The idea of Indonesia: A history (Lịch sử tư tưởng của

Indonesia), của tác giả R Elson, NXB Đại học Cambridge, London

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về lịch sử Indonesia ở cả cách tiếp cận khu vực và quốc gia đều bước đầu đề cập đến quá trình xâm lược và ách thống trị của thực dân, cũng như quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia (1927 - 1965) ở mức độ khái quát Đây đều là những công trình hữu ích, có liên quan gián tiếp đến đề tài luận án và đều là những gợi mở hết sức quý báu cho tác giả luận án

1.1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam

Trong những năm trở lại đây, việc nghiên cứu về các sự kiện nổi bật trong quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia đã được các học giả Việt Nam rất quan tâm, chú trọng Có thể kể đến các công trình tiêu biểu như:

Trang 25

Cuốn Indonesia đấu tranh vì độc lập tự do (1942 - 1950), của tác giả Nguyễn

Văn Hồng, (tài liệu tham khảo nội bộ của Trường Đại học Tổng hợp, Hà Nội, năm 1991) nghiên cứu về quá trình đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc ở Indonesia từ khi Nhật chiếm đóng nước này, đến hết năm 1950, khi Hà Lan phải công nhận độc lập chủ quyền của Indonesia tại Hội nghị Bàn tròn La Hay Cuốn sách được bố cục làm ba chương: Chương 1, tác giả đi sâu vào quá trình xâm lược

và các chính sách cai trị của Nhật Bản trong những năm 1942 - 1945, trong đó nhấn mạnh về cách chính sách kinh tế - quân sự, là nguyên nhân dẫn đến phong trào đấu tranh vũ trang chống Nhật của nhân dân Indonesia; Chương 2, tác giả trình bày về

sự ra đời của Tuyên ngôn độc lập tháng 8/1945 và cuộc chiến đấu của nhân dân Indonesia để bảo vệ nền Cộng hòa trong những năm 1945 - 1950; Chương 3, tác giả

đi sâu vào phân tích một số đặc trưng của quá trình đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc ở Indonesia thời kỳ này, trong đó nhấn mạnh đến chính sách đấu tranh

ôn hòa của Sukarno, vai trò của Mĩ trong mối quan hệ Indonesia - Hà Lan, vai trò của nông dân trong cách mạng

Cuốn Con đường cứu nước trong đấu tranh giải phóng dân tộc ở một số nước châu Á, của tác giả Đỗ Thanh Bình (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1999) là

một chuyên khảo rất hữu ích cho luận án Trong công trình nghiên cứu này, tác giả không trình bày về lịch sử Indonesia mà đi sâu vào phân tích quá trình hình thành con đường giải phóng dân tộc của nhân dân Indonesia trong những năm 1927 -

1945 Đó là con đường do giai cấp tư sản lãnh đạo, con đường thống nhất các lực lượng trong xã hội, là con đường riêng của chủ nghĩa dân tộc Indonesia Tác giả cũng dành một phần để lý giải nguyên nhân vì sao con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc theo khuynh hướng vô sản ở Indonesia lại thất bại, từ đó, đặt Indonesia

và Việt Nam trong sự so sánh để làm rõ tính phù hợp của con đường đấu tranh giành độc lập với hoàn cảnh lịch sử của mỗi dân tộc

Tuyên bố độc lập của Indonesia ngày 17/8/1945 cũng là một sự kiện tiêu biểu, được rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến trong các công trình của mình Trong đó

phải kể đến các công trình: “Đông Nam Á trong cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật

Trang 26

(1941 - 1945): Lịch sử và vấn đề”, của tác giả Trần Thị Vinh, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5, năm 2005; “Con đường đi đến độc lập của Indonesia”, của tác

giả Jan Pluvier (Tuyển tập các bài viết trong cuốn Đông Nam Á tháng Tám năm

1945, đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước, NXB Thế giới, Hà Nội, năm

2005); “Nét độc đáo của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Indonesia”, của

tác giả Bùi Thị Ánh Vân, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5, năm 2010 Bên cạnh việc trình bày hoàn cảnh đưa đến bản Tuyên ngôn độc lập ngày 17/8/1945, các tác giả còn đặt cuộc cách mạng tháng Tám ở Indonesia trong bối cảnh khu vực để thấy rõ rằng trong cùng một thời cơ cách mạng như nhau (Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh không điều kiện), nhưng có những nước lại Tuyên bố độc lập sớm như: Indonesia, Việt Nam, còn lại hầu hết các nước trong khu vực đều chưa nắm bắt được thời cơ đó, để giành độc lập

Việc nghiên cứu về quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965) cũng được các tác giả đề cập trực tiếp từ góc độ khu vực và

trên thế giới Tiêu biểu là các công trình: Phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX - một cách tiếp cận mới, của tác giả Đỗ Thanh Bình, (NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội năm 2005, tái bản 2010); Lịch sử Đông Nam Á, tập 4: Đông Nam Á trong thời kỳ thuộc địa và phong trào đấu tranh giành độc lập (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX, của

nhóm tác giả do Trần Khánh (chủ biên), (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm

2012); Lịch sử Đông Nam Á, tập 5: Đông Nam Á trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và xây dựng đất nước (từ năm 1945 đến năm 1990) của nhóm tác giả do

Phạm Đức Thành (chủ biên), (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 2012) Thông qua các cuốn sách này, quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia được trình bày một cách khái quát trong bối cảnh chung của khu vực, cũng như trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới Các tác giả đều có cách tiếp cận rất mới mẻ khi không chỉ đi vào phân tích các sự kiện lịch sử theo tiến trình, mà còn rút ra những đặc điểm của quá trình giải phóng dân tộc ở từng quốc gia, từng khu vực, từ đó, tạo ra một cách nhìn toàn diện về lịch sử phong trào giải phóng dân tộc ở Indonesia trong mối liên hệ với các quốc gia trên thế giới

Trang 27

Ngoài ra, một số Luận án Tiến sĩ Lịch sử cũng đã đề cập một cách khái quát đến các sự kiện tiêu biểu trong quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở

Indonesia giai đoạn này như: “Quá trình đấu tranh củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Indonesia (1967 - 1998)”, Luận án Tiến sĩ Lịch sử của tác giả Đinh Thanh Tú, Hà Nội, năm 2010; “Con đường đấu tranh giành độc lập của Malaya từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1957”, Luận án Tiến sĩ Lịch sử của tác giả Lý Tường Vân,

Hà Nội, năm 2014 Nếu Đinh Thanh Tú đề cập đến quá trình đấu tranh củng cố độc lập ở Indonesia dưới thời Tổng thống Sukarno (1945 - 1965) như là một nhân tố tác động đến quá trình đấu tranh củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia giai đoạn cầm quyền của Tổng thống Suharto (1967 - 1998), thì Lý Tường Vân lại dành một phần trong luận án để so sánh những điểm khác biệt giữa con đường đấu tranh giành độc lập của Malaya với Indonesia

Quá trình đấu tranh củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia cũng được đề cập một

cách cụ thể trong “Beyond Political Skin: Convergent Paths to an Independent National Economy in Indonesia and Vietnam” (Chính trị vượt qua mọi màu da: Những con đường đưa đến nền kinh tế quốc dân độc lập ở Indonesia và Việt Nam,

Luận án Tiến sĩ Lịch sử của tác giả Phạm Văn Thủy, Leiden, Hà Lan, năm 2014) Trong đó, tác giả tập trung chủ yếu vào việc phân tích các chính sách khác nhau của chính phủ Indonesia và chính phủ Việt Nam nhằm loại bỏ những di sản của chủ nghĩa thực dân còn sót lại ở mỗi nước sau khi giành được độc lập Luận án cũng dành hai chương (Chương 4: Thử nghiệm nền dân chủ, 1950 - 1957 và chương 5: Nền kinh tế

có chỉ đạo, 1957 - 1965) để tìm hiểu về cách thức chính phủ Indonesia quyết tâm đặt toàn bộ nền kinh tế dưới sự sở hữu và kiểm soát của nhà nước theo tinh thần dân chủ

có chỉ đạo Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích đối với hướng nghiên cứu quá trình phi thực dân hóa ở Indonesia nói riêng, cũng như các nước Đông Nam Á nói chung trong hệ thống kinh tế được thiết lập bởi các nước thực dân phương Tây

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu của các học giả Indonesia

Khác với các nhà nghiên cứu Việt Nam, đại đa số các nhà nghiên cứu Indonesia tập trung chuyên sâu vào quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở nước này kể từ sau khi Nhật chiếm đóng Indonesia (năm 1942)

Trang 28

Trong cuốn Sejarah revolusi nasional (Lịch sử cuộc cách mạng dân tộc) của

tác giả N Dekker, (NXB Balai Pustaka, tại Jakarta, Indonesia, năm 1980), quá trình đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc ở Indonesia từ năm 1945 đến năm 1949

đã được tái hiện lại một cách khá chân thực, rõ nét Cuốn sách được bố cục làm 3 chương: Chương 1, tác giả giới thiệu khái lược về hoàn cảnh ra đời của Tuyên bố độc lập ngày 17/8/1945 ở Indonesia; Chương 2, tác giả trình bày về một số sự kiện trong nước diễn ra sau Tuyên bố độc lập, cuộc đấu tranh vũ trang trong cuối năm

1945, đầu năm 1946, để chống lại cuộc chiến tranh tái xâm lược của Hà Lan; Chương 3, tác giả trình bày về quá trình đấu tranh đòi Hà Lan phải công nhận chính quyền Cộng hòa Indonesia, thông qua các Hiệp định Linggadjati và Hiệp định Renville Bên cạnh việc tái hiện lại bức tranh cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Indonesia trong những năm 1945 - 1949, N Dekker còn khẳng định cuộc cách mạng ở Indonesia cũng giống như các cuộc cách mạng khác (cách mạng Mỹ, cách mạng công nghiệp, cách mạng văn hóa - xã hội…) đều phải có quá trình vận động của nó, chứ không phải là thay đổi một cách nhanh chóng Vì vậy, Tuyên bố độc lập ngày 17/8/1945 là một sự kiện mang tính tất yếu, là kết quả của quá trình đấu tranh không mệt mỏi của nhân dân Indonesia cho độc lập, tự do

Quá trình đấu tranh giành độc lập được nghiên cứu dưới góc độ những đóng góp của Hồi giáo hiện đại đối với phong trào dân tộc Indonesia cũng được đề cập

trong cuốn Muhammadiyah: The political behavior of a muslim modernist organization under Dutch colonialism (Muhammadiyah: Hoạt động chính trị của tổ

chức Hồi giáo hiện đại dưới chính quyền thực dân Hà Lan), xuất bản tại Đại học Gadjah Mada, Jakarta, Indonesia, năm 1989 Không chỉ trình bày về quá trình ra đời

và phát triển của Hồi giáo ở Indonesia, tác giả còn phân tích những vai trò của Hồi giáo trong việc kích thích sự trưởng thành của chủ nghĩa dân tộc ở nước này Đồng thời, tác giả cũng dành 3 chương (chương III, IV, V) để nghiên cứu riêng về nguồn gốc và sự phát triển của một trong những tổ chức Hồi giáo hiện đại có thành viên và phạm vi hoạt động lớn nhất ở Indonesia thời thuộc địa - Muhammadiyah Qua đó, tác giả khẳng định sự đồng hành liên tục của Hồi giáo trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Indonesia giai đoạn 1900 - 1942

Trang 29

Năm 1990, tác giả I.A.A.G Agung cũng cho tái bản lần thứ hai cuốn Twenty years Indonesian foreign policy 1945 - 1965 (Chính sách đối ngoại của Indonesia từ

năm 1945 đến năm 1965), xuất bản tại Đại học Duta Wacana, Yogyakarta, Indonesia Vốn có ý định nghiên cứu về chính sách đối ngoại của chính quyền Sukarno trong những năm 1945 - 1965, Agung đã hiện thực hóa ý định đó sau khi được thả ra khỏi nhà tù ở Madium vào tháng 5/1966 và được đãi ngộ khá tốt dưới thời của Tổng thống Suharto Năm 1973, ấn bản đầu tiên của cuốn sách đã được ra đời, và chính sự hữu ích của nó với vai trò là một tài liệu tham khảo công phu cho các nhà nghiên cứu về lịch sử Indonesia nói chung, cũng như quá trình đấu tranh củng cố độc lập ở Indonesia nói riêng đã khiến các chuyên gia cao cấp của Đại học Duta Wacana tiếp cận và yêu cầu tác giả để được xuất bản cuốn sách lần thứ hai tại Indonesia, vẫn bằng tiếng Anh Trong cuốn sách, tác giả đã chia quá trình thực hiện các chính sách đối ngoại ở Indonesia trong những năm 1945 - 1965 thành hai giai đoạn: Giai đoạn 1 (1945 - 1956) là giai đoạn Indonesia thực hiện chính sách ngoại giao nhằm giữ vững độc lập dân tộc, thu hồi miền Tây Irian và tranh thủ sự ủng hộ của cả các nước tư bản chủ nghĩa (đứng đầu là Mĩ) và các nước xã hội chủ nghĩa (đứng đầu là Liên Xô); Giai đoạn 2 (1957 - 1965) là giai đoạn Indonesia bắt đầu có những chính sách đối ngoại thể hiện lập trường chống chủ nghĩa đế quốc và những động thái quyết liệt hơn để giải quyết vấn đề Tây Irian

Quá trình đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập ở Indonesia cũng được đề cập

đến trong cuốn Genesis of power: General Sudirman and the Indonesian Military in Politics, 1945 - 49 (Nguồn gốc của quyền lực: Tướng Sudirman và quân đội

Indonesia trong nền chính trị, 1945 - 1949) của tác giả S Said, xuất bản tại Jakarta, Indonesia, năm 1991 Thông qua việc phân tích vai trò của quân đội trong các sự kiện chính trị ở Indonesia trong những năm 1945 - 1949, tác giả đã trình bày một cách khái quát về Tuyên bố độc lập ở Indonesia ngày 17/8/1945 và cuộc đấu tranh vũ trang bảo vệ nền độc lập dân tộc, có sự tham gia lãnh đạo của các lực lượng quân đội ở các làng mạc, các vùng xa trung tâm Đồng thời, tác giả cũng làm sáng tỏ mối quan hệ dân sự - quân sự trong thời kỳ cách mạng và hậu cách mạng, từ đó, lý giải vì sao quân

Trang 30

đội lại có sức mạnh gần như tuyệt đối trong nền chính trị Indonesia dưới thời Tổng thống Suharto sau này

Từ năm 1999 đến năm 2014, nhóm tác giả P A Toer, K S Toer, E Kamil

cũng lần lượt cho ra đời bộ sách Kronik: Revolusi Indonesia (Biên niên sử: Cách

mạng Indonesia) gồm 4 tập (từ năm 1945 đến năm 1949), xuất bản bởi Kepustakaan Popular Gramedia, Jakarta, Indonesia Đây là bộ sách viết về các sự kiện lịch sử nổi bật trên các lĩnh vực: chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội, được trình bày dưới dạng biên niên Bộ sách được coi là nguồn tài liệu hết sức quý báu, bởi các tác giả chỉ cung cấp các sự kiện lịch sử đơn thuần, theo thứ tự ngày, tháng, năm, chứ không đưa ra bất kỳ một quan điểm cá nhân nào, để đảm bảo được yếu tố khách quan nhất Với độ dày ít nhất 500 trang sách mỗi cuốn, có thể nói, đây là bộ sách đầy đủ và hoàn chỉnh nhất về cuộc cách mạng Indonesia trong những năm 1945 - 1949 Các

số liệu lịch sử trong bộ sách là nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy của luận án Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu Indonesia đặc biệt quan tâm đến sự kiện Tuyên bố độc lập ngày 17/8/1945 Có thể kể đến các bài viết chuyên

sâu như: “Jepang dan perjuangan kemerdekaan Indonesia” (“Nhật Bản và cuộc

Lontar, tập 4, số 2, ra ngày 2 tháng 7 tháng 12 năm 2007; “Proklamasi 17 Agustus 1945: Revolusi politik bangsa Indonesia” (Tuyên ngôn ngày 17/8/1945: Cách mạng

tập 2, số 1, ra ngày 31 tháng 10 năm 2017 Nếu Yasmis xem xét vai trò của Nhật Bản như là một chất xúc tác thúc đẩy sự phát triển của cuộc đấu tranh giành độc lập

ở Indonesia, hướng tới sự thành lập một nhà nước và Tuyên bố độc lập, thì Haryono Rinardi lại cho rằng Tuyên bố độc lập ngày 17/8/1945 không phải là “món quà” của một quốc gia khác ban tặng cho Indonesia mà chính là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài mà người Indonesia đã cố gắng không ngừng nghỉ

1.1.2.3 Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài

Công trình nghiên cứu đầu tiên về quá trình đấu tranh giành và bảo vệ độc lập

ở Indonesia dưới góc độ chủ nghĩa dân tộc là cuốn Nationalism and revolution in

Trang 31

Indonesia (Chủ nghĩa dân tộc và cách mạng ở Indonesia) của tác giả G M T

Kahin, xuất bản lần đầu năm 1952, tại Đại học Cornell, Ithaca, New York và được

bổ sung, tái bản nhiều lần, bản mới nhất xuất bản năm 2013 Cuốn sách là công trình nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về mối liên hệ giữa sự hình thành chủ nghĩa dân tộc ở Indonesia và quá trình đấu tranh giành độc lập từ những năm đầu thế kỷ XX đến năm 1950 Có thể nói, tác giả đã nghiên cứu khá chi tiết về các sự kiện, nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Indonesia thời kỳ này, theo đó, sự trưởng thành chủ nghĩa dân tộc Indonesia cũng gắn liền với sự vận động tiến lên của phong trào giải phóng dân tộc Quá trình đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc ở Indonesia (từ năm

1900 đến 1950) được tác giả dành một thời lượng khá lớn trong cuốn sách (13 chương trong tổng số 15 chương của cuốn sách)

Khác với cách tiếp cận mang tính tổng quát của Kahin, Benedict Richard

O‟Gorman Anderson trong Java in a time of Revolution: Occupation and resistance, 1944 - 1946 (Java trong thời gian cách mạng: Sự chiếm đóng và kháng

chiến, 1944 - 1946), xuất bản bởi Đại học Cornell, Ithaca và London (năm 1972) lại

đi vào phân tích chuyên sâu và tiết lộ những điểm quan trọng của cuộc cách mạng Indonesia trong những năm 1944 - 1946 Trong đó, tác giả đã dành một sự quan tâm đặc biệt đến vai trò cách mạng sôi nổi của tầng lớp thanh niên Indonesia đối với những sự kiện quan trọng như: Tuyên bố độc lập ngày 17/8/1945, thành lập chính quyền, thành lập lực lượng quân đội quốc gia… Đặc biệt, đóng góp lớn nhất của Anderson là ông đã cho thấy mối liên hệ giữa bản chất của những chính sách cai trị của Nhật Bản với sự thay đổi nhận thức về vị trí của tầng lớp thanh niên trong cuộc đấu tranh giành độc lập và sự thay đổi xã hội Cuốn sách cũng cung cấp một khối lượng kiến thức rộng lớn hơn so với bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây về nguồn gốc của sự mâu thuẫn giữa các đảng phái chính trị và lực lượng quân đội Từ

đó, giúp các nhà nghiên cứu có một cách nhìn toàn diện về những xung đột chính trị giữa hai lực lượng này trong những năm đấu tranh củng cố độc lập ở Indonesia Bên cạnh những công trình nghiên cứu mang tính tổng quát về các sự kiện trong quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia, còn có những công trình nghiên cứu về từng sự kiện nổi bật trong quá trình này Có thể kể đến như:

Trang 32

Cuốn Indonesian National Revolution 1945 - 1950 (Cuộc cách mạng dân tộc

Indonesia 1945 - 1950) của tác giả A Reid, NXB Longman, London, Anh, xuất bản lần đầu năm 1974 Với quan điểm đã dùng thuật ngữ “cuộc cách mạng”, thì đó phải

là cuộc cách mạng thật sự, A Reid cho rằng quá trình diễn ra cách mạng giải phóng dân tộc ở Indonesia thực sự bắt đầu vào năm 1945, khi nhân dân nước này cầm vũ khí chiến đấu chống lại hành động tái xâm lược của Hà Lan Là người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Kahin - người đã tuyên bố rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ nghĩa dân tộc Indonesia và cuộc cách mạng nước này, Anthony cũng nhấn mạnh đến các yếu tố tác động đến cuộc cách mạng ở Indonesia bao gồm: việc hình thành một xã hội mới trong những năm 1900 - 1942, sự phát triển của Hồi giáo, chủ nghĩa Cộng sản, Chủ nghĩa dân tộc và sự chiếm đóng của Nhật Bản trong những năm 1942 - 1945 Tác giả cũng chủ yếu nhấn mạnh đến quá trình đấu tranh vũ trang

ở Indonesia trong những năm 1945 - 1950 và coi đây là một trong những nguồn gốc

để hình thành nên lực lượng quân đội sau này

Quá trình quân phiệt Nhật hất cẳng Hà Lan và độc chiếm Indonesia, cũng như các chính sách cai trị của Nhật Bản đối với quần đảo này được trình bày trong khá

nhiều công trình nghiên cứu Chẳng hạn như cuốn The Japanese Occupation of Borneo, 1941 - 1945 (Routledge Studies in the Modern History of Asia) (Thời kỳ

Nhật Bản chiếm đóng Borneo, 1941 - 1945 (Nghiên cứu định tuyến trong lịch sử hiện đại của châu Á) của tác giả Ooi Keat Gin (xuất bản tại Routledge, London, năm 2011), trình bày về đời sống kinh tế - xã hội của Borneo dưới thời Nhật chiếm Trong

đó, tác giả cũng dành một chương để trình bày về các cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân Borneo chống Nhật Mặc dù bị đàn áp nhanh chóng, nhưng hành động dám đứng lên đánh và giết quân Nhật là một trong những cú sốc lớn mà nhân dân tạo ra

với chính quyền quân phiệt Hay trong bài viết “Irony in Indonesia: Promises, Aspirations, and the Japanese Military Presence, 1942 - 46” (Trớ trêu ở Indonesia:

Lời hứa, nguyện vọng và sự hiện diện của quân đội Nhật Bản, 1942 - 46) của E Fenrich, xuất bản bởi Welebaethan: Tạp chí Lịch sử, California, năm 2007, tác giả đã vạch trần bộ mặt thật của những lời hứa hẹn của Nhật Bản đối với việc sẽ trao trả độc

Trang 33

lập cho Indonesia trong tương lai Thông qua việc trình bày quá trình xâm lược của Nhật Bản, tác giả lý giải nguyên nhân vì sao Nhật lại tìm mọi cách để dụ dỗ, mua chuộc người dân để nhanh chóng hất cẳng Hà Lan khỏi Indonesia Tác giả cũng dành một phần để lý giải vì sao trong thời kỳ đầu, người dân Indonesia lại có thái độ hợp tác với người Nhật và sự hợp tác đó dần biến mất trong quá trình Nhật Bản thực hiện các chính sách cai trị đối với quần đảo này

Sau khi Indonesia giành được độc lập, chính phủ Indonesia đã có những biện pháp, chính sách cụ thể trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại để bảo vệ và củng cố độc lập, nâng cao vị thế của Indonesia trên trường quốc tế Đây cũng là thời kỳ nở

rộ của các công trình nghiên cứu về các chính sách đối nội và đối ngoại của chính

phủ Indonesia như: Cuốn “From Colonial to Guided Economy” in T.R McVey (ed.), (Từ nền kinh tế thuộc địa đến nền kinh tế chỉ huy) của tác giả Douglas Paauw, (xuất bản bởi HRAF, New Haven, năm 1963); Cuốn Indonesian communism under Sukarno: Ideology and politics (Chủ nghĩa Cộng sản Indonesia dưới thời của Tổng

thống Sukarno: Tư tưởng và chính trị) của R Mortimer, xuất bản lần đầu bởi Đại học Cornell, Ithaca, New York, năm 1974

Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu về quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia (1927 - 1965) gắn liền với cuộc đời của vị Tổng thống đầu

tiên - Sukarno Có thể kể đến cuốn The life and times of Sukarno (Cuộc đời và thời gian

của Sukarno), của tác giả C L M Penders, xuất bản năm 1974, bởi NXB Đại học Oxford, Anh Quốc Đây là công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ về cuộc đời, cũng như sự nghiệp chính trị của Sukarno từ những năm tháng tuổi thơ đầu tiên, cho đến khi ông qua đời Thông qua các mốc sự kiện chính trong cuộc đời của Sukarno, quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia (1927 - 1965) được trình bày cụ thể trong các phần như sau: Chương II (Nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa: Bung Karno); Chương III (Theo bước chân Nippon); Chương IV (Lãnh đạo cách mạng); Chương V (Tổng thống theo Hiến pháp); Chương VI (Nhà lãnh đạo vĩ đại của cuộc cách mạng) Mặc dù không đi sâu vào phân tích vai trò của Sukarno đối với quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập của Indonesia thời kỳ này, nhưng tác giả vẫn làm nổi bật lên dấu ấn của Sukarno đối với tiến trình lịch sử cuộc cách mạng của cả dân tộc

Trang 34

Cuốn Sukarno and the Struggle for Indonesian Independence (Sukarno và

cuộc đấu tranh giành độc lập của Indonesia) của tác giả B.Dahm, xuất bản năm

1969, bởi NXB Đại học Cornell, Ithaca, New York cũng đề cập trực tiếp đến quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia (1927 - 1965) Các mốc sự kiện quan trọng liên quan đến quá trình này đều được nêu một cách cụ thể dưới góc

độ tiếp cận cá nhân nhà lãnh đạo Sukarno, đồng thời, tư tưởng cũng như những quyết sách của ông cũng được tác giả phân tích một cách khách quan Là một người chuyên viết về tiểu sử của các chính trị gia, Dahm đã đặt Sukarno hoàn toàn trong bối cảnh lịch sử Indonesia với sự ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa Java để từ

đó, hình thành nên một vị lãnh tụ có tư tưởng thống nhất các giá trị văn hóa Java truyền thống với chủ nghĩa dân tộc

1.2 Những vấn đề đã đƣợc nghiên cứu và chƣa đƣợc nghiên cứu

Thông qua quá trình sưu tầm, khai thác các nguồn tài liệu tham khảo, chúng tôi nhận thấy quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia đã được đề cập đến ở cả trong các công trình nghiên cứu khái quát về lịch sử Indonesia, cũng

như các công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến đề tài Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã giải quyết được một số vấn đề sau:

Thứ nhất, các tác giả đã nghiên cứu về lịch sử Indonesia kể từ khi hình thành

đến nay ở nhiều góc độ khác nhau, làm rõ được những đặc trưng về văn hóa, tôn giáo, tộc người… Trên cơ sở đó, quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia (1927 - 1965) cũng được nghiên cứu ở cả góc độ gián tiếp và trực tiếp

Thứ hai, các tác giả đã bước đầu có những nghiên cứu về một số sự kiện tiêu

biểu liên quan đến quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia như: quá trình xâm lược và chiếm đóng của Nhật Bản, Tuyên bố độc lập ngày 17/8/1945, cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập trong những năm 1945 - 1950, các biện pháp, chính sách của chính phủ Indonesia trong thời kỳ dân chủ tự do (1950 - 1956)

và thời kỳ dân chủ có chỉ đạo (1957 - 1965)

Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt mang tính hệ thống

về quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia từ năm 1927 đến năm

Trang 35

1965 Đặc biệt là các hoạt động đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị, cũng như

đặc điểm, thành tựu và hạn chế của quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1945) vẫn còn là một vấn đề lớn cần được giải đáp

1.3 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu giải quyết

Trên cơ sở khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài, Luận án tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, làm rõ những nhân tố tác động đến quá trình đấu tranh giành độc lập

ở Indonesia (1927 - 1945) và những nhân tố mới trong giai đoạn củng cố độc lập dân tộc ở nước này (1945 - 1965)

Thứ hai, làm rõ quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc ở

Indonesia theo tiến trình vận động từ năm 1927 đến năm 1965, trong đó tập trung vào các hình thức đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao để giành độc lập và các chính sách đối nội, đối ngoại của chính phủ Indonesia (1945 - 1965) để củng cố độc lập dân tộc

Thứ ba, trình bày những thành tựu và hạn chế của quá trình đấu tranh giành và

củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia (1927 - 1965), đồng thời, rút ra những đặc điểm của quá trình này, từ đó chỉ ra những nét riêng, nét độc đáo trong con đường đi đến độc lập dân tộc ở Indonesia, để đảm bảo tính toàn diện và khách quan của Luận án

Trang 36

CHƯƠNG 2: ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC Ở INDONESIA

(1927 - 1945) 2.1 Những nhân tố tác động đến quá trình đấu tranh giành độc lập ở Indonesia (1927 - 1945)

2.1.1 Chính sách cai trị của thực dân Hà Lan, quân phiệt Nhật và những chuyển biến trong đời sống kinh tế - xã hội - văn hóa ở Indonesia thời thuộc địa

2.1.1.1 Sự xâm lược và chính sách cai trị của thực dân Hà Lan, quân phiệt Nhật

* Sự xâm lược và chính sách cai trị của thực dân Hà Lan

Người Hà Lan đến Indonesia vào khoảng cuối thế kỷ XVI, muộn hơn người

Bồ Đào Nha và người Tây Ban Nha, và vấp phải sự cạnh tranh gay gắt từ người Anh Mặc dù đến sau, nhưng Hà Lan đã có sự chuẩn bị tương đối kĩ càng Người

Hà Lan đã có kinh nghiệm trong cuộc chiến tranh giành độc lập (1566 - 1648) Họ cũng đã có những cuộc chiến trên biển với người Anh và có điều kiện để phát triển các kỹ năng hải quân Đồng thời, họ cũng có một nền thương mại phát triển, sẵn sàng cho những cuộc phiêu lưu lớn hơn ở những nơi xa xôi nhất của thế giới Từ những chuyến tàu buôn gia vị đầu tiên vào các năm 1595, 1598, người Hà Lan đã tự tìm đường sang Indonesia mà không cần đến sự chỉ đường của bất kỳ một cường

quốc thực dân nào Doanh thu khổng lồ từ các lần buôn bán gia vị đã khiến “những giấc mơ táo bạo của họ thành hiện thực Người Bồ Đào Nha không còn giữ vị trí độc quyền trong vùng đất tuyệt vời của gia vị” [122; 97]

Để tránh sự cạnh tranh giữa các công ty thương mại Hà Lan với nhau, chính phủ Hà Lan đã thành lập Công ty Đông Ấn Hà Lan (Vereenigde Geoctroyeerde Oost Indische Compagnie - VOC) Theo sắc lệnh ngày 20/3/1602, VOC được độc quyền buôn bán, quyền xây dựng pháo đài, quyền tuyên chiến, quyền duy trì quân đội, cơ quan tư pháp riêng, quyền kí hiệp ước với các nhà cai trị địa phương… Với các quyền đặc biệt, VOC được ví như một nhà nước riêng, thay mặt chính phủ Hà Lan theo đuổi những mục tiêu dài hạn, đưa ra những quyết định mang tính chiến lược thay vì phải trả lại lợi nhuận cho mỗi chuyến đi

Chẳng hạn như, để chuẩn bị cho công cuộc chinh phục Indonesia, “năm 1605,

200 lính đã được gửi đến Indonesia để tăng cường cho VOC, trong đó tất cả đều được trang bị và huấn luyện cho mục đích mở rộng chiến tranh, và đến năm

Trang 37

1609, tổng số binh lính và sĩ quan quân đội của VOC đã lên tới 600 người Vào cuối thế kỷ XVII, số lượng binh lính đã lên tới 10.000 người” [129; 19], khi các

cuộc chiến tranh mở rộng ra toàn bộ Đông Indonesia

Quá trình xâm lược của Hà Lan đối với Indonesia được tiến hành theo phương

thức “gặm dần từng mảnh” Trong những năm 1605 - 1606, Hà Lan đánh chiếm các

lãnh thổ mà người Tây Ban Nha và người Bồ Đào Nha đã chiếm của Indonesia như: Ambon, Tidore, Ternate Từ giữa thế kỷ XVII đến nửa đầu XVIII, lợi dụng mâu thuẫn giữa các Hồi quốc, người Hà Lan đã tìm cách chia rẽ, làm suy yếu họ, dần mở rộng vùng chiếm đóng ra toàn bộ Đông Indonesia (bao gồm: Bantam, Mataram, Molucas, Makassar…) và phần lớn Java Đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, quá trình xâm lược Indonesia của Hà Lan bị gián đoạn, khi người Anh dần dần chiếm được Tây Sumatra, Ambon, Banda (1795) và hầu hết các vùng khác của Hà Lan ở Indonesia (1811)

Để có được quyền lợi ở Indonesia, Hà Lan và Anh đã cùng thỏa hiệp với nhau

Ngày 13/8/1814, theo công ước London, “Anh trả lại tất cả những thuộc địa cũ của công ty Đông Ấn Hà Lan mà Anh đã thôn tính từ năm 1803, trừ thuộc địa Mũi Hảo Vọng” [20; 797] Đổi lại, Hà Lan nhượng cho Anh đảo Ceylon và những quyền lợi

của mình ở Ấn Độ Đối với người Hà Lan, Công ước này là một món hời, bởi với giá trị và nguồn tài nguyên dồi dào của Indonesia, thì việc người Anh trả lại Java

cho Hà Lan được coi như một “sự đãng trí” [20; 797]

Sau khi người Anh hoàn toàn rút khỏi Indonesia (9/1816), người Hà Lan tiếp tục mở rộng quyền chiếm đóng của mình ra khắp Indonesia: chiếm Đông Bắc Borneo, thôn tính một số vùng lãnh thổ trên đảo Bali, khống chế khu vực Tây Nam của đảo Celebes, đặc biệt là tiến hành chiến tranh với vương quốc Aceh trên đảo Sumatra (1873 - 1904) Đến đầu thế kỷ XX, việc thiết lập chế độ cai trị của Hà Lan

ở Indonesia đã hoàn thành về cơ bản Cho tới năm 1911, “có khoảng hơn 300 quốc

Quá trình xâm lược và bình định của Hà Lan đối với Indonesia diễn ra trong một khoảng thời gian dài (hơn 300 năm), nên người Hà Lan tiến hành áp dụng ngay

gọi Indonesia

Trang 38

chính sách cai trị lên từng khu vực đã chiếm được Vì vậy, quá trình xâm lược của

Hà Lan đối với Indonesia dài đến đâu, thì cũng đồng nghĩa với quá trình cai trị của

Hà Lan dài đến đó

Về chính trị, Hà Lan vừa áp dụng chính sách cai trị trực tiếp, vừa áp dụng

chính sách cai trị gián tiếp Đứng đầu chính quyền thuộc địa là một Thống đốc5, dưới Thống đốc là các Tổng đốc6 Thống đốc cai trị trực tiếp đối với 6 tỉnh: Tây Java, Trung Java, Đông Java, Sumatra, Borneo (Kalimantan), còn 4 công quốc khác thuộc vùng Yogyakarta và Solo thì thuộc xứ bảo hộ Người Hà Lan cũng vẫn dựa vào tầng lớp quý tộc phong kiến bản địa (Priyayi) để kiểm soát thuộc địa, đồng thời, các tù trưởng ở làng vẫn được giao quyền hành cai quản các công việc chung của làng, thậm chí là cả thu thuế

Về kinh tế, Hà Lan thực hiện chính sách độc quyền thương mại và đóng cửa

thuộc địa, nhằm thu về lợi nhuận tối đa cho chính quốc Đối với những khu vực

kiểm soát trực tiếp của VOC, chẳng hạn như ở Moluccas, hay Java, “người Hà Lan can thiệp cả vào quá trình sản xuất: những người nông dân trồng cà phê của Moluccas buộc phải đốt cây gia vị bất cứ khi nào gia vị xuống giá trên thị trường thế giới Tương tự, ở các tỉnh thuộc miền Tây Java, Công ty cũng đưa ra một hệ thống trồng cà phê cưỡng ép, buộc nông dân phải thay đổi cây trồng” [137; 3]

Năm 1799, VOC sụp đổ, chính quyền thuộc địa đã lần lượt áp dụng các chính sách cai trị mới như: Hệ thống trồng trọt7 (1830 - 1870); Chính sách kinh tế tự do8(1870 - 1900); Chính sách đạo đức9 (1901 - 1940) để vơ vét sức người, sức của ở Indonesia một cách triệt để nhất Theo báo cáo của Hà Lan, từ những năm 60 của thế kỷ XIX có hơn 2,5 triệu người Indonesia bị lao động cưỡng bức trong các

5

Thống đốc được lập ra từ năm 1610 với nhiệm vụ cai quan thuộc địa cùng với VOC, nhưng từ sau khi VOC giải thể, Thống đốc nắm mọi quyền hành

khẩu như mía, chàm, cà phê, chè và gia vị, phải giao cho Công ty Thương mại Hà Lan với giá thấp, bù lại, nông dân ở những vùng này sẽ được miễn thuế

định rõ ràng về việc thuê đất của các danh nghiệp tư nhân và việc kí kết các hợp đồng lao động và điều kiện làm việc phải được sự chứng kiến của quan tòa, đổi lại, những người lao động bị ràng buộc chặt chẽ vào đồn điền trong suốt thời gian của hợp đồng

kinh tế bản địa, tăng cường giáo dục và thực hiện phân cấp về hành chính và chính trị, đặc biệt là việc thành lập Hội đồng Nhân dân (Volksraad) với sự tham gia của người bản địa vào chính quyền thuộc địa

Trang 39

nhà máy sản xuất đường hoặc các nhà máy sản xuất các loại gia vị khác [103;

215, 229] Chẳng bao lâu, sự thâm hụt ngân sách kinh niên của nửa thế kỷ trước

đã biến thành thặng dư Trong những năm 1831 - 1877, đã có 832.400.000 guilder10 được chuyển từ Đông Ấn sang kho bạc của mẫu quốc [137; 7] Vào thời điểm đỉnh cao, Hệ thống Trồng trọt đã cung cấp hơn 1/3 thu nhập của chính phủ

Hà Lan và chiếm 4% GDP của Hà Lan [142; 159], làm cho Indonesia trở thành một trong những thuộc địa sinh lợi nhất thế giới

Chính sách độc quyền thương mại và đóng cửa thuộc địa của Hà Lan có sự tương đồng với người Pháp ở Đông Dương và người Anh ở Ấn Độ, Mã Lai Mục đích của chính sách này đều nhằm vơ vét tối đa của cải ở các nước thuộc địa, biến thuộc địa trở thành “cái đuôi” của chính quốc Tuy nhiên, ở Indonesia, chính sách độc quyền thương mại và đóng cửa thuộc địa của Hà Lan còn nhằm mục đích cô lập thuộc địa, không cho cư dân tiếp xúc với nền kinh tế thị trường,

tạo ra “khoảng cách giữa người sản xuất và thị trường” [117; 14], do đó,

“thương mại bản xứ không có khả năng phát triển” [117; 14] Đặc điểm này tác

động rất lớn đến con đường, cách thức đấu tranh giành độc lập dân tộc của Indonesia dưới ách đô hộ của Hà Lan - đó là con đường đấu tranh chính trị “bất bạo động”, “bất hợp tác” trên mọi mặt với chính quyền thực dân

Về văn hóa - giáo dục, trong suốt những thế kỉ đầu cai trị, chính quyền đô hộ

không quan tâm đến hệ thống giáo dục ở Indonesia Các trường học được mở ra chủ yếu là phục vụ cho con em của người châu Âu và một số con em của tầng lớp quý tộc

bản địa Phải đến năm 1900, khi Chính sách đạo đức được thực hiện, thì số học sinh,

sinh viên từ bậc Tiểu học đến bậc Cao đẳng và Đại học mới thật sự gia tăng về số

lượng “Nếu cuối thế kỷ XIX, có khoảng 150.000 trẻ em Indonesia được đi học ở các trường tiểu học, thì đến năm 1907, con số này đã tăng lên khoảng 265.000 và đến năm

1930 là hơn 1,5 triệu người” [88; 99] Tuy nhiên, con số này chỉ chiếm 2,8% tổng dân

số và chiếm 8% cho nhóm dân số trong độ tuổi đi học (dưới 7 tuổi) [142; 203] Ở bậc

Đại học, năm 1930, “có 178 người Indonesia tham gia vào các khóa học bậc đại học, chỉ chiếm 0,000003 % dân số” [88; 100] Vì vậy, không quá ngạc nhiên khi chính sách

10

Guilder: Đơn vị tiền tệ của Hà Lan

Trang 40

đạo đức chỉ đem lại một kết quả khiêm tốn là 7,4 % người trưởng thành ở Indonesia biết đọc, biết viết [142; 203].(Xem thêm phụ lục 2)

* Sự chiếm đóng và ách đô hộ của quân phiệt Nhật

Ý đồ chiếm Indonesia từ tay Hà Lan của Nhật đã có từ sau khi Đức mở cuộc tấn công chớp nhoáng vào Đan Mạch và Na Uy (9/4/1940) Tháng 7/1941, Nhật chiếm toàn bộ Đông Dương thuộc Pháp và nhanh chóng có kế hoạch tiến xuống phía Nam Tuy nhiên, thái độ của Mĩ khá cứng rắn, buộc Nhật phải tạm hoãn kế hoạch mở rộng xâm lược trong vài tháng Sau sự kiện Trân Châu Cảng11, Nhật tiến hành các cuộc tấn công chớp nhoáng vào Thái Lan, Singapore, Malaysia và Indonesia Chỉ trong vòng chưa đầy 3 tháng (từ 10/1/1941 đến 9/3/1942), Nhật đã chiếm được Indonesia và đuổi người Hà Lan ra khỏi quần đảo này Số người châu

Âu còn ở lại quần đảo (trừ người Đức) đều bị giam giữ và tra tấn Theo ước tính,

có khoảng 170.000 người châu Âu bị bắt và bị giam cầm, trong đó có 65.000 quân

Hà Lan, 25.000 quân Đồng minh và 80.000 dân thường (bao gồm 60.000 phụ nữ

và trẻ em) [142; 248]

Trong vài tuần chiếm đóng đầu tiên, Nhật Bản tỏ ra là người sẽ trao trả độc lập cho Indonesia sớm hơn người Hà Lan khi hàng ngàn tờ rơi được máy bay Nhật rải khắp nơi, tuyên truyền rằng họ đến là để thực hiện lời tiên tri Djojobojo12 Nhưng ngay sau khi thiết lập chính quyền quân phiệt, người Nhật đã tiến hành các chính sách cai trị còn khắc nghiệt hơn cả người Hà Lan

Về chính trị, chính quyền quân sự quản lý ở hai khu vực: Đông Indonesia nằm

dưới sự chiếm đóng của hải quân, có trụ sở tại Makassar; Java và Sumatra nằm dưới sự kiểm soát của lục quân Sự di chuyển giữa các khu vực bị hạn chế, đồng thời, hệ thống thông tin liên lạc hầu như cũng không tồn tại trong suốt thời gian

Nhật chiếm Các kempetai (đội ngũ do thám) có mặt ở khắp nơi, lá cờ quốc gia và

bài hát Indonesia Raya cũng nhanh chóng bị kiểm duyệt và cấm đoán gắt gao hơn

cả thời kỳ Hà Lan

Thái Bình Dương của Mĩ đang đóng quân, gây cho Mĩ thiệt hại nặng nề, không thể can thiệp vào các hành động quân sự của Nhật ở Đông Nam Á

các hòn đảo Tembini, các thành viên của họ là da vàng, chân ngắn, và họ sẽ chiếm Java nhưng chỉ bằng khoảng thời gian sống của cây ngô” [138; 58]

Ngày đăng: 10/01/2020, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w