1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng công tác giám sát từ xa đối với quỹ tín dụng nhân dân của bảo hiểm tiền gửi việt nam – chi nhánh thành phố hà nội

89 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 598,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài: Bảo hiểm.tiền gửi Việt Nam BHTGVN tại Chi nhánh T.P Hà Nội được thànhlập với một mục tiêu quan trọng là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, nâng cao niềmtin c

Trang 1

-HOÀNG HUỆ LINH

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT

TỪ XA ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM – CHI NHÁNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà Nội, Năm 2018

Trang 2

-HOÀNG HUỆ LINH

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT

TỪ XA ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM – CHI NHÁNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.LÊ VIỆT NGA

Hà Nội, Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đãnêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và chưađược công bố trong công trình nào khác

Hà Nội, tháng năm 2018

Tác giả Luận văn

Hoàng Huệ Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn với đề tài: “Nâng cao chất lượng công tác giám sát từ xa đối với

Quỹ tín dụng nhân dân của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam – Chi nhánh Thành phố

Hà Nội” được hoàn thành tại trường Đại học Thương Mại Để hoàn thành được

Luận văn, bên cạnh những cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệttình của nhiều tập thể, cá nhân

Trước tiên, với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

tới TS.Lê Việt Nga, đã nhiệt tình hướng dẫn khoa học cho tôi để Luận văn được

hoàn thành

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, Quý Thầy, Quý Côtrường Đại học Thương Mai; Ban lãnh đạo và đồng nghiệp Chi nhánh Bảo hiểmtiền gửi Việt Nam tại T.p Hà Nội đã hết sức giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thànhLuận văn

Tác giả cũng xin được cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luônquan tâm, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình hoàn thành bảnluận văn thạc sĩ của mình

Hà Nội, tháng năm 2018

Tác giả Luận văn

Hoàng Huệ Linh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài luận văn ở trong và ngoài nước 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu đề tài 5

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CỦA TỔ CHỨC BHTG 6

1.1 Khái quát về công tác giám sát từ xa đối với Quỹ tín dụng nhân dân của Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi 6

1.1.1Tổng quan về Quỹ tín dụng nhân dân 6

1.1.2Tổng quan về Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi 8

1.1.3 Công tác giám sát từ xa đối với Quỹ tín dụng nhân dân của Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi 9

1.2 Chất lượng công tác giám sát từ xa đối với Quỹ tín dụng nhân dân của BHTG 15

1.2.1 Khái niệm chất lượng giám sát từ xa 15

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng giám sát từ xa 15

1.3 Các nhân tố tác động đến hoạt động giám sát từ xa của tổ chức bảo hiểm tiền gửi đối với QTDND 17

1.4 Kinh nghiệm của một số tổ chức BHTG tiêu biểu trên thế giới 20

1.4.1 Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc (KDIC) 20

1.4.2 Tổng Công ty bảo hiểm tiền gửi Malaysia (PIDM) 21

1.4.3 Tổng công ty BHTG Đài Loan (CDIC) 22

1.4.4 Bài học rút ra đối với hoạt động giám sát từ xa tại Chi nhánh tại T.P Hà Nội 24 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI VỚI QTDND CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM - CHI NHÁNH T.P HÀ NỘI 27

2.1 Khái quát về Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - Chi nhánh T.P Hà Nội 27

Trang 6

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển tại Chi nhánh T.P Hà Nội 27

2.1.2 Mạng lưới hoạt động và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại Chi nhánh T.P Hà Nội 27

2.2 Thực trạng công tác giám sát QTDND tại Chi nhánh T.P HN 28

2.2.1 Đối tượng của hoạt động giám sát tại Chi nhánh 28

2.2.2 Tình hình áp dụng cơ sở pháp lý tại Chi nhánh T.P HN 29

2.2.3 Quy trình giám sát từ xa 29

2.3 Thực trạng chất lượng công tác giám sát từ xa đối với QTDND của BHTGVN- Chi nhánh T.P HN 32

2.3.1Tính đầy đủ, chính xác và độc lập của thông tin đầu vào 32

2.3.2 Tần suất báo cáo giám sát, báo cáo tài chính vĩ mô của Chi nhánh BHTG liên tục và đều đặn 35

2.3.3 Tính đầy đủ, trung thực của nội dung giám sát 35

2.3.4 Mức độ tuân thủ của các QTDND 39

2.4 Đánh giá thực trạng chất lượng công tác giám sát từ xa của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - Chi nhánh T.P Hà Nội 42

2.4.1 Kết quả đạt được 42

2.4.2 Hạn chế 43

2.4.3 Nguyên nhân hạn chế đến chất lượng công tác giám sát từ xa của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - Chi nhánh T.P Hà Nội 46

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI VỚI QTDND CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM - CHI NHÁNH T.P HÀ NỘI 52

3.1 Định hướng và quan điểm nâng cao chất lượng giám sát từ xa của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại Chi nhánh T.P Hà Nội 52

3.1.1 Định hướng phát triển chung của Bảo hiểm tiền gửi Việt nam tại Chi nhánh T.P Hà Nội 52

3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động giám sát từ xa của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại Chi nhánh T.P Hà Nội 54

3.1.3 Quan điểm của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại Chi nhánh T.P Hà Nội về nâng cao chất lượng hoạt động giám sát từ xa 55

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giám sát từ xa tại Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại Chi nhánh T.P Hà Nội 56

3.2.1 Phát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu của hệ thống giám sát với các tiêu chuẩn quốc tế 56

3.2.2 Đổi mới phương pháp giám sát từ xa 57

Trang 7

3.2.3 Nâng cao chất lượng dữ liệu thông tin đầu vào 58

3.2.4 Hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động giám sát 59

3.2.5 Xây dựng cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các đơn vị có liên quan 60 3.2.6 Xây dựng và hoàn thiện chỉ tiêu giám sát và tiêu chí xếp loại 62

3.2.7 Hoàn thiện văn bản nội bộ về hoạt động giám sát 63

3.3 Một số kiến nghị 66

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước liên quan 66

3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước, Bộ tài chính và các Bộ ngành liên quan 67

3.3.3 Kiến nghị đối với Bảo hiểm tiền gửi việt nam 68

3.3.4 Kiến nghị đối với hệ thống các QTDND 68

KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

Chữ viết tắt Nguyên văn

BHTG Bảo hiểm tiền gửi

BHTGVN Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

TTBC Thông tin báo cáo

TCTGBHTG Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửiTCBHTG Tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Trang 9

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU

Bảng

Bảng 1.1 Một số phương pháp được Tổng công ty BHTG Đài Loan áp dụng 24Bảng 2.1 Tiêu chuẩn phân loại các QTDND 31Bảng 2.2 Tổng hợp tình hình nợ xấu, nợ có khả năng mất vốn của QTDND (năm2014-2016) 37Bảng 2.3 Tổng hợp tỷ lệ tài sản có sinh lời so với tổng tài sản có của QTDND (năm2014-2016) 38Bảng 2.4 Thống kê thu nhập, chi phí của QTDND (năm 2014-2016) 38Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả thu phí BHTG của các QTDND (năm 2014-2016) 40Bảng 2.6 Tổng hợp tình hình vi phạm về phí BHTG của các QTDND (năm 2014-2016) 41Bảng 2.7 Tổng hợp tình hình vi phạm tỷ lệ an toàn hoạt động và tỷ lệ lỗ lũy kếcủa QTDND (năm 2014-2016) 41

Hình

Hình 1.1 Quy trình giám sát rủi ro tại Hàn Quốc 20Hình 1.2 Mô hình giám sát rủi ro của KDIC 21Hình 1.3 Mô hình cơ chế chia sẻ thông tin giám sát 23Hình 3.1 Mô hình chia sẻ thông tin của các tổ chức giám sát theo sự chỉ đạo của Uỷban quản lý các hoạt động giám sát dịch vụ tài chính quốc gia 61

Sơ đồ

Sơ đồ 2.1: Quy trình giám sát tại Chi nhánh T.P Hà Nội 30

Sơ đồ 2.2 Mô hình hiện tại hệ thống mạng kết nối của BHTGVN trong nội bộ vàvới bên ngoài 49

Sơ đồ 3.1 Quy trình giám sát đề xuất 66

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Bảo hiểm.tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) tại Chi nhánh T.P Hà Nội được thànhlập với một mục tiêu quan trọng là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, nâng cao niềmtin công chúng, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng Mục tiêu

đó được thực hiện bằng các công cụ: kiểm tra tại chỗ, giám sát từ xa, hỗ trợ tài chính,tiếp nhận và xử lý, chi trả tiền gửi được bảo hiểm trong đó hoạt động giám sát từ xa,kiểm tra tại chỗ có vai trò hết sức quan trọng Việc làm tốt công tác này không nhữnggóp phần đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), làm cơ

sở để đánh giá, xếp loại chất lượng hoạt động đối với tổ chức tham gia BHTG mà còngián tiếp bảo.vệ quyền lợi người gửi tiền một cách tích cực

Thực tế trong những năm vừa qua, BHTGVN tại Chi nhánh T.P Hà Nội đã rấtquan tâm, chú trọng đến hoạt động kiểm tra, giám sát, bao gồm từ khâu xây dựng kếhoạch và đề cương kiểm tra; bố trí cán bộ, đào tạo tập huấn nghiệp vụ; xây dựng cácchỉ.tiêu giám sát; tăng cường trang thiết bị công nghệ nhằm không ngừng nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác này Tính đến hết năm 2016, BHTGVN tại Chi nhánh T.P HàNội đã.thực hiện giám sát thường xuyên 100% tổ chức tham gia BHTG gồm 24 ngânhàng thương mại (NHTM),03 ngân hàng Hợp tác xã và 383 QTDND, 03 tổ chức tàichính vi mô Qua kiểm tra, giám sát đã phát hiện khoảng 3.356 lượt tổ chức tham giaBHTG có vi phạm quy định về BHTG, quy định về an.toàn trong hoạt động ngân hàng,trên cơ sở đó đã thực hiện những thông báo nhắc nhở để tổ chức tham gia BHTG.chỉnhsửa các tồn tại, vi phạm trong những năm vừa qua

Kết quả từ hoạt động này giúp BHTGVN tại Chi nhánh T.P Hà Nội có nhữngthông báo, cảnh báo kịp thời tới các TCTGBHTG, đồng thời cũng là cơ sở để Chinhánh tiến hành nghiệp vụ kiểm tra tại chỗ các.TCTGBHTG Tuy nhiên, trên đà pháttriển của ngành công nghiệp ngân hàng trên thế giới hiện nay, các TCTGBHTG đanggia tăng về số lượng và loại hình bao gồm cả những tổ chức có vốn nước ngoài, thịthường tài chính ngân hàng thường xuyên biến động, môi trường cạnh tranh ngàycàng gay gắt nên rủi ro cho các TCTGBHTG ngày càng cao Hơn nữa,.do quyền hạn,trách nhiệm giám sát cũng như năng lực tài chính của cơ quan này còn hạn chế khiếnnhững đóng góp của Bảo hiểm tiền gửi trong HTGSTC Việt Nam chưa được thực sựđúng với vai trò của nó Nội dung giám sát bảo hiểm mới chỉ dừng lại ở mức độ kiểmtra sự tuân thủ như việc tính và nộp phí, chấp hành các quy định của pháp luật về bảohiểm tiền gửi là chủ yếu, còn giám sát theo tiêu chí rủi ro vẫn còn nhiều bất cập; chưa

có sự phối hợp chặt chẽ trong trao đổi thông tin về hoạt động thanh tra giám sát vềcác tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi với các cơ quan giám sát khác Vì vậy, chấtlượng của hoạt động giám sát từ xa cần được nâng cao hơn nữa để đảm bảo, cảnh báosớm và giảm thiểu rủi ro cho hệ thống

Xuất phát từ tầm quan trọng của hệ thống giám sát từ xa và hiệu quả thực tế

Trang 11

của hệ thống giám sát này nên tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất

lượng công tác giám sát từ xa đối với Quỹ tín dụng nhân dân của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội ” làm đề tài nghiên cứu cho bản

chuyên đề này Mục đích chính của đề tài này là tìm ra những nhân tố tác động đếnchất lượng giám sát này và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng đó Từ đó góp phần nâng cao vai trò của BHTGVN đối với mạng an toàn tàichính quốc gia

2 Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài luận văn ở trong và ngoài nước

BHTGVN tại Chi nhánh T.P Hà Nội là tổ chức tài chính nhà nước hoạt độngkhông vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửitiền, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi góp phần duy trì sự ổn định của hệthống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt độngngân hàng Để thực hiện mục tiêu bảo vệ tích cực quyền lợi và lợi ích của người gửitiền, BHTGVN tại Chi nhánh T.P Hà Nội rất cần thiết phải quan tâm phát triển cácnghiệp vụ của mình Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong định hướng pháttriển nghiệp vụ BHTGVN tại Chi nhánh T.P Hà Nội là giám sát từ xa (GSTX).Thông qua nghiệp vụ GSTX, giúp cho các tổ chức tham gia BHTG giảm thiểu rủi rotrong hoạt động kinh doanh của mình, ngăn ngừa sự đổ vỡ dây chuyền, ảnh hưởngđến toàn hệ thống ngân hàng, từ đó tạo sự ổn định chính trị và kinh tế, giúp pháttriển đất nước Liên quan tới những vấn đề về nâng cao chất lượng công tác giámsát từ xa của BHTG , có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có liên quan như:

- Dương Thị Hải Anh (năm 2006), Hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam –

Thực trạng và giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập Luận văn đã phân tích

thực trạng hoạt động của tổ chức này dựa trên cơ sở tham chiếu mục tiêu, chức năng,định hướng với thực tiễn hoạt động của tổ chức Thành tựu của bảo hiểm tiền gửi VNđược đánh giá trên hai mặt: bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và duy trì củng cố sự

ổn định hoạt động ngân hang VN, khẳng định vai trò quan trọng của BHTGVN trong

hệ thống tài chính quốc gia Luận văn cũng tổng kết những hạn chế trong hoạt độngcủa tổ chức bảo hiểm tiền gửi VN, chủ yếu là hạn chế về cơ sở pháp lý, cơ sở vật chất

và hiệu quả của hoạt động nghiệp vụ.Từ việc đánh giá những thành tựu đạt được cầnphát huy, những tồn tại cần khắc phục và nội dung chiến lược phát triển bảo hiểm tiềngửi VN giai đoạn 2006-2015 Luận văn đã đưa ra được những giải pháp, kiến nghị về

lộ trình thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bảo hiểm tiền gửi VN tươngxứng với vị thế của tổ chức trong hệ thống ổn định tài chính quốc gia, phù hợp vớichiến lược phát triển và đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế

- Nguyễn Minh Phương (năm 2008), Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ giám

sát từ xa của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Luận văn đã từ những hoạt động chủ yếu và nội dung cơ bản của

Trang 12

đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức nhận tiền gửi, luận văn đã chỉ ra nhiềuyếu tố tác động đến sự an toàn trong hoạt động ngân hàng của tổ chức nhận tiềngửi Qua đó khẳng định được sự cần thiết của hoạt động giám sát của tổ chức nhậntiền gửi nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng Tiếp theo luận văn đã trìnhbày một số vấn đề cơ bản về thực trạng công tác giám sát từ xa của BHTGVN Chỉ

ra được kết quả, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, từ đó khẳng định được sự cầnthiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát từ xa đối với tổ chức nhận tiền gửi

Từ đó đưa ra một số kiến nghị đối với công tác giám sát từ xa

- Nguyễn Đình Hảo (năm 2013), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt

động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trên địa bàn khu vực Bắc Trung Bộ.

Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm tiền gửi, sự hìnhthành và phát triển bảo hiểm tiền gửi trên thế giới, các vấn đề lý luận về bảo hiểmtiền gửi như: Khái niệm, bản chất, mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi, sự khácbiệt giữa BHTG với các loại hình bảo hiểm thương mại khác; Bảo hiểm tiền gửi vớivấn đề bảo vệ người gửi tiền, hoạt động của các ngân hàng thương mại gắn với cácrủi ro điển hình, các biện pháp phòng ngừa và quản trị rủi ro trong hoạt động ngânhàng; Luận văn làm rõ cơ sởpháp lý, các hoạt động chính, cũng như hiệu quả tronghoạt động của BHTGVN, định hướng phát triển và kinh nghiệm quốc tế về BHTG;phân tích thực trạng hoạt động của BHTGVN khu vực Bắc Trung Bộ như: Kháiquát về quá trình hình thành và phát triển, chức năng và nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức

bộ máy của BHTGVN CNKV Bắc Trung Bộ; khái quát tình hình hoạt động của các

tổ chức tham gia BHTG trên địa bàn, phân tích thực trạng hoạt động BHTGVNCNKV Bắc Trung Bộ, bên cạnh những kết quả đạt được Luận văn đã chỉ rõ nhữngtồn tại trong hoạt động, về cơ chế chính sách và tìm ra những nguyên nhân của của

nó Tác giả hy vọng các giải pháp được đưa ra nhằm giải quyết những vấn đề cònhạn chế, tồn tại và yếu kém trong hoạt động của BHTGVN Chi nhánh khu vực BắcTrung Bộ, nhằm nâng cao hiệu quả về nghiệp vụ; hoàn thiện về cơ chế chính sách;

đề xuất những kiến nghị với các cơ quan cấp trên liên quan như: Đối với Bảo hiểmtiền gửi Việt Nam, Đối với Ngân hàng Nhà nước và Đối với Chính Phủ hỗ trợ tạođiều kiện để BHTGVN triển khai các chức năng nhiệm vụ theo quy định của phápLuât Nhà nước; hoàn thiện hệ thống văn bản quản trị nội bộ; nâng cao trình độ độingũ cán bộ viên chức của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam… hy vọng sẽ đóng góp mộtphần nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTGVN, bảo vệ tốt hơnquyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự phát triển ổn định và bềnvững hệ thống Tài chính – ngân hàng quốc gia

- Nguyễn Thị Hòa (năm 2017), Thanh tra, Giám sát trên cơ sở rủi ro – Kinh

nghiệm quốc tế và một số đề xuất, Tạp chí Ngân hàng,- Số 4/2017 ,Tr 48 – 54 Đây

là một bài nghiên cứu khoa học được viết trên Tạp chí Ngân hàng Bài viết đã thể hiện

Trang 13

thực trạng trước sự phát triển ngày càng sâu rộng của hệ thống ngân hàng nói riêng và

hệ thống tài chính nói chung, gắn liền với mở cửa hội nhập tài chính khu vực và thếgiới, công tác thanh tra, giám sát ngân hàng cần phải được nâng cao một bước về nănglực, hiệu quả nhằm xác định các rủi ro đối với sự ổn định của hệ thống, cảnh báo sớm,

hỗ trợ các tổ chức tín dụng (TCTD) kịp thời phát hiện xà xử lý rủi ro, phát triển antoàn, bền vững Điều này đòi hỏi tăng cường khuôn khổ pháp lý; xây dựng và thựchiện phương pháp thanh tra, giám sát dựa trên cơ sở rủi ro kết hợp với thanh tra, giámsát tuân thủ; tạo lập một cơ chế quản lý, thanh tra, giám sát đồng bộ phù hợp với hệthống ngân hàng đa dạng về sở hữu và quy mô theo thông lệ quốc tế

3 Mục tiêu nghiên cứu:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng hoạt động giámsát từ xa của tổ chức BHTG để tìm ra các nhân tố tác động đến chất lượng hoạtđộng giám sát từ xa

- Nghiên cứu kinh nghiệm giám sát từ xa của các tổ chức BHTG quốc tế

- Phân tích thực trạng chất lượng hoạt động giám sát từ xa tại BHTGVN tại Chinhánh T.P Hà Nội để thấy được những mặt tích cực, hạn chế cũng như nguyên nhâncủa chất lượng công tác giám sát

- Từ đó, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng công tác giámsát từ xa đối với QTDND của BHTGVN - Chi nhánh T.P Hà Nội

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng hoạt động giám sát từ xa của tổ chức

BHTG

- Phạm vi nghiên cứu: Chất lượng hoạt động giám sát từ xa tại BHTGVN từ

năm 2014 đến 2016

Phần thực trạng sẽ tập trung nghiên cứu phân tích điển hình nội dung giám sát

từ xa đối với Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) bởi đây là loại hình tổ chức thamgia BHTG có số lượng lớn, xảy ra nhiều vi phạm an toàn hoạt động ngân hàng và cónhiều trường hợp đổ vỡ và cần hỗ trợ tài chính

4 Phương pháp nghiên cứu

a Cơ sở lý thuyết sẽ sử dụng để phân tích thực tiễn:

- Các yếu tố phản ánh chất lượng giám sát từ xa

- Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động giám sát từ xa

- Kinh nghiệm quốc tế về hoạt động giám sát từ xa tại một số quốc gia như:Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc

Trang 14

b Các phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính trong thu thập và xử lýthông tin đồng thời sử dụng các dữ liệu đã có sẵn để phân tích, so sánh, tổng hợp Cách thức tiếp cận nguồn dữ liệu thông qua quan sát, phỏng vấn, thu thậpthông tin từ nhiều nguồn khác nhau: Đề tài sử dụng nguồn dữ liệu thu thập từ các tàiliệu, báo cáo, thông tin của các phòng tại BHTGVN tại Chi nhánh T.P Hà Nội Nguồn dữ liệu thu thập từ bên ngoài bao gồm: các bài báo, bài nghiên cứu, báo cáothường niên,… được đăng tải trên các báo, tạp chí, thông tin từ các website, thôngcáo báo chí của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức có uy tín Các nguồn dữ liệunày được trích dẫn trực tiếp trong đề tài và được ghi chú chi tiết trong mục Tài liệutham khảo

5 Kết cấu đề tài :

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, có kết cấu 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về chất lượng công tác giám sát từ xa đối với Quỹ tín

dụng nhân dân của Tổ Chức BHTG

Chương 2:Thực trạng chất lượng công tác giám sát từ xa đối với QTDND củaBảo hiểm tiền gửi Việt Nam - Chi nhánh T.P Hà Nội

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giám sát từ xa đối với

QTDND của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - Chi nhánh T.P Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CỦA TỔ CHỨC BHTG 1.1 Khái quát về công tác giám sát từ xa đối với Quỹ tín dụng nhân dân của Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi

1.1.1 Tổng quan về Quỹ tín dụng nhân dân

 Khái niệm về QTDND

Dựa theo Thông tư 04/2015 và Luật các tổ chức tín dụng 2010 khoản 6 Điều

4 thì có thể đưa ra khái niệm về QTDND như sau :

Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộgia đình tự nguyện thành lập dưới hình hợp tác xã để thực hiện một số hoạt độngngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu làtương trợ nhau phát triển trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống

Các QTDND có phạm vi hoạt động nhỏ trong phạm vi liên phường, liên xãnên dễ bị ảnh hưởng bởi các nhân tố tác động bên ngoài như thay đổi về chính sách,điều kiện khách quan Khánh hàng của QTDND thường là sống ở các vùng nôngthôn, xa xôi, găp nhiều khó khăn trong việc đi lại, hạn chế về điều kiện sinh hoạt.Khách hàng có khả năng tài chính yếu kém, sản suất kinh doanh còn theo tập quán,phong trào, năng lực sản xuất nhỏ bé và trình độ nhận thức có nhiều hạn chế nênchưa đat hiệu quả cao trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như vận dụngtiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất Kết quả sử dụng vốn vay và tiết kiệm củakhách hàng phần nào bị ảnh hưởng bởi những điều trên, đưa đến rủi ro cho cácQTDND

QTDND có hoạt động đơn thuần chỉ là hoạt động cho vay với công nghệ lạchậu, trình độ quản lý thấp, có hạn chế trong việc phát hiện và ngăn ngừa xử lý rủi

ro Bên cạnh đó, những lỗ hổng trong việc kiểm soát rủi ro tại các QTDND ngàycàng gia tăng do quy trình quản lý thiếu hiệu quả tại một số QTDND đã ảnh hưởnglớn đến tình hình hoạt động của bản thân mỗi QTDND

 Vai trò của QTDND:

QTDND là loại hình tài chính trung gian, hoạt động như một Ngân hàng thunhỏ Hoạt động dịch vụ QTDND chủ yếu ở nông thôn với mục tiêu hoạt động củaQTDND là nhằm huy động nguồn vốn tại chỗ để cho vay tại chỗ, tương trợ cộngđồng, vì sự phát triển bền vững của các thành viên là chủ yếu Qua quá trình hoạtđộng, hình thức QTDND này đã và đang đóng vai trò đáng kể trong việc phát triểnbền vững kinh tế nông thôn như :

Trang 16

Tạo ra sự thịnh vượng cho cộng đồng địa phương: Từ khi hoạt động theo

hình thức tương trợ, các hợp tác xã tài chính bén rễ mạnh mẽ trong cộng đồng củamình và là đòn bẩy có ý nghĩa cho việc phát triển tài sản tập thể và kinh tế xã hộiđịa phương Do vậy, vai trò của các hợp tác xã là tạo ra các dịch vụ tài chính có sẵn,cho phép tạo ra thặng dư trong hộ gia đình và doanh nghiệp bằng việc xây dựng ýthức trách nhiệm của những người dân là những người sẽ tái đầu tư những thặng dưnày vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng theo các nhu cầu ưu tiêncủa họ Trên thực tế, việc tiếp cận tín dụng là một phương tiện hiệu quả cho phépnhững cộng đồng dân cư trong đó đặc biệt là người nghèo huy động được tiềm năngtập thể của họ Các hoạt động tập thể này tạo ra sự thịnh vượng (việc làm và cácdịch vụ) cho cộng đồng, trong nhiều trường hợp, là nguồn tạo thu nhập để cho phépđáp ứng các nhu cầu cơ bản, như lương thực, y tế và giáo dục cho các cộng đồngdân cư nói trên Những đối tượng như người nghèo, người bị thiệt thòi, đặc biệt làphụ nữ được xác định như là nhóm chiến lược trong việc phát triển mô hìnhQTDND; việc phát triển nhóm này nên được thúc đẩy như một phần của chiến lượcxóa đói giảm nghèo Do vậy, các QTDND chính là loại hình tổ chức tín dụng(TCTD) có vai trò tích cực trong việc huy động nguồn lực tài chính của địa phươngđồng thời có vị thế tốt nhất để đáp ứng cơ sở hiện tại và tương lai về các nhu cầu đadạng (tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm, … ) của các nhóm khách hàng nói trên Quantrọng hơn, quỹ góp phần đẩy lùi các mô hình rủi ro hơn như chơi hụi, tín dụng đen

Cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp vi mô và kinh doanh nhỏ : Như

chúng ta đã biết, khả năng tiết kiệm của người nghèo, người bị thiệt thòi, đặc biệt làphụ nữ, trong một thời gian dài bị mọi người, kể cả các chuyên gia về phát triển,đánh giá thấp Trên thực tế, mặc dù dòng vốn do những nhóm khách hàng này tạo ra

có thể là nhỏ nhưng nếu chúng được gửi vào một tổ chức an toàn thì những khoảntiết kiệm này vừa có tác dụng điều hòa dòng tiền, vừa góp phần tạo cảm giác antoàn Việc quay vòng an toàn khoản tiền này (cho vay thành viên) vào các hoạtđộng của cộng đồng là một đóng góp có ý nghĩa cho sự phát triển môi trường vàhạnh phúc của người dân nói chung và các đối tượng trên đây nói riêng

Như vậy, việc thành lập và kinh doanh QTDND là rất cần thiết Nó đáp ứngđược yêu cầu cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng một cách thuận tiện, thườngxuyên và ổn định, lâu dài với mức giá cả có thể chấp nhận được Đồng thời gópphần phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, hạn chếcho vay nặng lãi trên địa bàn hoạt động

Hiện nay, các QTDND mới chỉ dừng lại với quy mô nhỏ.Tổng nguồn vốnhuy động cho vay từ một vài tỷ đồng đến vài chục tỷ đồng, chỉ có một vài quỹ lênđến trăm tỷ đồng, nợ xấu thường rất thấp (dưới 1%) Đây là ưu điểm rất lớn so với

mô hình ngân hàng thương mại Nhưng mô hình sở hữu tập thể này cũng có vấn đề

Trang 17

riêng của nó Những thành viên không thể giám sát thường xuyên hay quá tin vàogiám đốc quỹ, khiến sự lạm dụng quyền lực như quỹ Hoằng Hóa, Thanh Hóa có thểxảy ra Việc lãnh đạo một số quỹ cố tình chiếm đoạt tài sản chung, cho vay sainguyên tắc, lập chứng từ khống, hoặc không chịu trả tiền gửi cho người dân khiếnquỹ bị thua lỗ không phải mới xảy ra lần đầu Mà những người gửi tiền tại nhữngQuỹ này đều là những người dân nghèo, những hộ dân nhỏ lẻ, có mức thu nhậpthấp Đối với họ những khoản tiền gửi này là vốn lũy cả đời, là các khoản tiết kiệm,

là tiết của.Vì vậy khi xảy ra những việc như vậy, họ sẽ bị mất tiền bạc, sẽ bị mấtlòng tin vào hệ thống ngân hàng Do vậy cần phải có một tổ chức để bảo vệ ngườidân, mang lại niềm tin và bảo hiểm cho các QTDND

1.1.2 Tổng quan về Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi

Theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2012), ta có một số

định nghĩa sau :

“ Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo

hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản.”

“ Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi: là đối tác nhận đóng góp tài chính từ tổ chức

tham gia BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền bảo hiểm tới người có tiềngửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó chấmdứt hoạt động và mất khả năng thanh toán.”

“ Tổ chức tham gia BHTG là các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước

ngoài, tổ chức tài chính vi mô, Quỹ tín dụng nhân dân Các tổ chức này khi đượctham gia BHTG có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và đượcquyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức đótrong trường hợp tổ chức này mất khả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyềnchấm dứt hoạt động.”

“ Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm là khách hàng có tiền gửi

thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG Người gửi tiền khôngphải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chứcBHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền lãi tích lũy trên tiền gửi đó trong hạn mức chitrảt iền gửi được bảo hiểm của tổ chức BHTG có thể là toàn bộ hoặc một phần tiềngửi do chính sách của mỗi quốc gia.”

Tổ chức BHTG được thành lập với mục tiêu bảo vệ người gửi tiền, góp phầnduy trì sự ổn định của hệ thống các QTDND và bảo đảm sự phát triển an toàn, lànhmạnh của hoạt động tài chính - ngân hàng Điều này được thể hiện rõ qua vai trò cơbản của tổ chức BHTG như sau:

Trang 18

Một là Bảo vệ người gửi tiền nhỏ, có ít hoặc hạn chế về mặt thông tin đối vớihoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi;

Hai là Góp phần đảm bảo hệ thống tài chính – ngân hàng hoạt động lànhmạnh, ổn định và ngăn chặn đổ vỡ ngân hàng thông qua các hoạt động nghiệp vụ;

Ba là Góp phần xây dựng thị trường tài chính lành mạnh, có tính cạnh tranhbình đẳng giữa các tổ chức tài chính với quy mô và loại hình khác nhau;

Bốn là Giảm thiểu gánh nặng cho Chính phủ trong trường hợp xử lý đổ vỡcủa QTDND giảm gánh nặng cho người dân đóng thuế trong trường hợp ngân hàngphá sản Theo đó, Nhà nước sẽ không phải sử dụng ngân sách Nhà nước để xử lý đổ

vỡ của các QTDND

Như vậy, có thể thấy BHTG là tổ chức có vai trò quan trọng trong việc tạodựng và giữ vững niềm tin của nhân dân đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Tổchức BHTG đã thay mặt Chính phủ bảo vệ tiền gửi của dân và giữ vững niềm tincho người gửi tiền Trong trường hợp QTDND bị đổ vỡ, TCBHTG sẽ chi trả toàn

bộ hoặc một phần tiền gửi cho người gửi tiền QTDND là một trung gian tài chính,tín dụng là cầu nối giữa người có vốn và người cần vốn Yếu tố niềm tin sẽ là yếu tốquyết định trong quá trình chu chuyển của nguồn vốn nếu không thì chu trình đó sẽ

bị “tắc nghẽn” và ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế

1.1.3 Công tác giám sát từ xa đối với Quỹ tín dụng nhân dân của Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi

1.1.3.1 Khái niệm về công tác giám sát từ xa

Theo Từ điển tiếng Việt, “giám sát” được hiểu là “sự theo dõi, xem xét làmđúng hoặc sai những điều đã quy định” hoặc được hiểu là “theo dõi và kiểm tra xem

có thực hiện đúng những điều quy định không”

Trong hoạt động giám sát nói chung cả chủ thể giám sát, đối tượng đượcgiám sát, nội dung, tính chất của hoạt động giám sát đều rất đa dạng, tuy nhiêntrong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi chỉ đề cập đến hoạt động GSTX củaBHTG đối với QTDND

Theo Sahajwala R, and Bergh P.V trong Supervisory Risk Assessment and

Early Warning Systems thì khái niệm “giám sát từ xa” được hiểu là một trong những

công cụ hữu hiệu phục vụ cho mục tiêu kiểm soát thường xuyên hoạt động của các tổchức tài chính Các cơ quan kiểm soát tài chính ở những quốc gia không đủ nguồn lực

và thẩm quyền để thực hiện việc kiểm tra trực tiếp, định kỳ thường sử dụng nhiều công

cụ này để quản lý tình hình và điều kiện tài chính của các ngân hàng cũng như các tổchức tài chính khác, qua đó xác định những tổ chức nào cần phải áp dụng những biệnpháp kiểm soát chặt chẽ hơn

Đối tượng giám sát của tổ chức BHTG là các tổ chức tài chính có thực hiện

Trang 19

hoạt động nhận tiền gửi của các chủ thể trong nền kinh tế và tham gia BHTG.Chủthể giám sát là các cơ quan có chức năng giám sát thuộc mạng an toàn tài chínhquốc gia như Ngân hàng Trung ương, Bộ Tài chính, Tổ chức bảo hiểm tiền gửi, Ủyban Chứng khoán Vì chi phí cho hoạt động BHTG khá lớn trong khi khoản thuphí bảo hiểm có hạn nên tổ chức BHTG phải do một tổ chức chính trị hoặc cơ quannhà nước đứng ra thành lập và quản lý, có thể đó là Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tàichính hoặc Ngân hàng Trung ương, hiệp hội nghề nghiệp Mặc dù vậy, chức nănggiám sát của tổ chức BHTG không giống nhau tại tất cả các quốc gia Thôngthường, tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro được trao các chức năng giám sát đầy đủ.Theo Quyết định định 629/QĐ-BHTG112 của BHTG về định nghĩa khái niệm

“giám sát từ xa” được hiểu như sau: “Là quá trình theo dõi, phân tích, đánh giá

việc thực hiện quy định về bảo hiểm tiền gửi, tình hình hoạt động và mức độ rủi ro của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi dựa trên nguồn thông tin của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và các nguồn thông tin khác, từ đó đưa ra các cảnh báo, đề xuất biện pháp chấn chỉnh, giúp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi hoạt động đúng pháp luật, an toàn và hiệu quả” Trong phạm vi nghiên cứu, Luận văn sẽ sử dụng

khái niệm “giám sát từ xa” theo cách hiểu như quyết định này

Tổ chức BHTG liên tục thực hiện các hoạt động GSTX trên cơ sở các thôngtin về khách hàng tham gia BHTG Hoạt động giám sát từ xa có nội dung chính làđánh giá hoạt động của QTDND và từ đó đưa ra các khuyến nghị đối với hoạt độngcủa các tổ chức đó với mục đích đảm bảo quy định về an toàn trong hoạt động ngânhàng và tuân thủ các quy định về BHTG

Hoạt động GSTX không chỉ là cơ sở để tiến hành hoạt động kiểm tra tại chỗđối với QTDND Để tiến hành kiểm tra liên tục tất cả các tổ chức tham gia BHTG

có thể sẽ rất khó khăn cho cả tổ chức BHTG và QTDND, vì vậy hoạt động giám sát

từ xa cho phép tổ chức BHTG có thể tiến hành kiểm tra tại chỗ theo phương thứcchọn mẫu, không nhất thiết phải kiểm tra đồng loạt các tổ chức tham gia BHTG

1.1.3.2 Vai trò của công tác giám sát từ xa đối với Quỹ tín dụng nhân dân của tổ chức BHTG

Hoạt động GSTX của tổ chức BHTG đối với các QTDND xuất phát từ mụctiêu của tổ chức BHTG là nhằm đảm bảo sự ổn định và an toàn hệ thống ngân hàng,bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền Vậy vai trò của hoạt động giám sát từ xađược thể hiện cụ thể đối với từng đối tượng liên quan sau:

Một là, đối với tổ chức BHTG giám sát từ xa thể hiện trách nhiệm, quyền

hạn giữa BHTG với QTDND Giúp tổ chức BHTG đánh giá kịp thời, đầy đủ và có

hệ thống về tình hình hoạt động của QTDND Đưa ra các cảnh báo về rủi ro, đưa ranhững kiến nghị cho QTDND, giúp QTDND chỉnh sửa các vi phạm, nhằm nâng caohiệu quả hoạt động của hệ thống Ngân hàng Khi TCBHTG hoạt động hiệu quả sẽ

Trang 20

giúp cắt giảm được chi phí của TCBHTG như không phải hỗ trợ tài chính, khôngphải chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền Ngoài ra, khi chất lượngcông tác giám sát được nâng cao, TCBHTG sẽ có cơ sở để chủ động hỗ trợ tài chính

và thu phí BHTG theo mức độ rủi ro đối với tổ chức nhận tiền gửi Có thể nói, hoạtđộng GSTX đối với QTDND là nhiệm vụ trọng yếu của TCBHTG Nó khẳng định

vị thế của một tổ chức BHTG và là cơ sở để tiến hành mọi hoạt động khác

Hai là, đối với QTDND, hoạt động GSTX của tổ chức BHTG góp phần đảm

bảo an toàn cho bản thân QTDND và cho cả hệ thống tài chính ngân hàng Thêm vào

đó, sư phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng, sự bùng nổ về khoa học công nghệcùng xu thế toàn cầu hóa tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hệ thống tài chính ngân hàng KhiQTDND có hạn chế trong việc kiểm soát rủi ro của mình thì vai trò giám sát củaBHTG càng trở nên quan trọng Trong hoạt động của mình, QTDND với đội ngũkiểm soát, kiểm toán nội bộ có hạn, việc vi phạm hay bỏ qua yêu cầu an toàn có thể

do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Do đó, chính kết quả giám sát từ xa củaTCBHTG giúp QTDND nhìn nhận ra các sai sót, tổn tại để từ đó đưa ra các biệnpháp khắc phục và chỉnh sửa để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình Tình trạngchấp nhận rủi ro quá mức trong hoạt động của QTDND sẽ được hạn chế nếu đượccảnh báo sớm Dưới tác động của hoạt động giám sát từ xa, QTDND sẽ nâng caotrách nhiệm trong chấp hành các tỷ lệ an toàn, tự bổ sung, hoàn thiện để nâng caonăng lực tài chính, năng lực quản trị nói chung và quản trị rủi ro nói riêng

Ba là, đối với người gửi tiền, hoạt động GSTX mang lại lợi ích qua việc tổ

chức nhận tiền gửi hoạt động an toàn bởi thường xuyên được tổ chức BHTG giámsát và đưa ra cảnh báo sớm Lợi ích còn được thể hiện qua việc người gửi tiền đượccung cấp các thông tin cần thiết về tổ chức nhận tiền gửi, và từ những thông tin đó

để chọn nơi gửi tiền

Bốn là, đối với xã hội, hoạt động GSTX của tổ chức BHTG đối với các

QTDND sẽ giảm thiểu rủi ro khi QTDND có hạn chế trong tầm kiểm soát rủi ro củamình Chính hoạt động giám sát từ xa đã ngăn ngừa việc đổ vỡ ngân hàng theo tínhdây chuyền, và lây lan toàn hệ thống trong một quốc gia ra khu vực và quốc tế giúp

ổn định chính trị xã hội và kinh tế, tạo điều kiện phát triển cho nền kinh tế và xã hội

1.1.3.3 Nội dung công tác giám sát từ xa đối với Quỹ tín dụng nhân dân của tổ

chức BHTG

Dựa theo khái niệm giám sát từ xa ở mục 1.1.3.1 có thể thấy Nội dung giámsát từ xa đối với QTDND bao gồm các công việc như: theo dõi việc thực hiệncác quy định của tổ chức BHTG đối với QTDND; phân tích và đánh giá tìnhhình hoạt động, mức độ rủi ro của các QTDND Cụ thể:

* Giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về BHTG:

Trang 21

- Giám sát việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo: Đánh giá tình hình vi

phạm thông tin báo cáo của từng đơn vị theo các tiêu chí về tính đầy đủ, tính kịpthời và tính chính xác của các loại báo cáo: báo cáo tài chính, báo cáo thống kê vàcác loại báo cáo khác theo yêu cầu của BHTGVN Tình hình vi phạm củaQTDNDtrong việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo được tổng hợp theo biểu mẫuđược quy định

- Giám sát việc chấp hành quy định của pháp luật về phí bảo hiểm: Trên

cơ sở bảng cân đối tài khoản kế toán, báo cáo thống kê và báo cáo kiểm tra theo quyđịnh tại các văn bản của BHTGVN:

- Xác định số phí phải nộp của từng QTDND trên cơ sở số liệu các loại tiềngửi thuộc đối tượng bảo hiểm

- Đối chiếu số phí phải nộp với số phí thực nộp của từng QTDND để xácđịnh số phí nộp thừa, thiếu hoặc chưa nộp.Xác định nguyên nhân của việc nộp thừa,thiếu hoặc chưa nộp

- Giám sát việc chấp hành thời hạn nộp phí của từng QTDND để xác định sốngày nộp chậm phí theo quy định

Thực tế việc giám sát nộp bảng tính phí và phí BHTG định kỳ cũng là hoạtđộng quan trọng nhằm xác định chính xác số phí thu về cho BHTGVN giúp tăngcường nguồn vốn, tạo điều kiện hỗ trợ hoặc chi trả kịp thời khi xảy ra sự cố tại cácQTDND Trong thời gian qua, hầu hết các đơn vị tham gia đều nộp tương đối đầy

đủ bảng tính phí và phí đúng hạn.Bên cạnh đó, chỉ còn một số đơn vị nộp chậmhoặc tính chưa đúng, đủ số phí phải nộp

Hiện nay phí BHTG được tính và nộp bốn lần trong năm tài chính theo quyđịnh của NHNN như sau:

Cơ sở tính phí BHTG: là toàn bộ số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền

gửi được bảo hiểm của quý trước quý nộp phí BHTG Cách tính phí BHTG phảinộp cho mỗi quý theo công thức sau đây:

- P là số phí bảo hiểm tiền gửi phải nộp trong quý thu phí (quý hiện hành);

- So là số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm đầu tháng thứ nhất của quýtrước quý thu phí BHTG;

Trang 22

- S1, S2, S3 là số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm ở cuối các tháng thứnhất, thứ hai, thứ ba của quý trước sát với quý thu phí BHTG;

0,15

- - là tỷ lệ phí BHTG phải nộp cho một quý trong năm

100 x 4

Số phí BHTG phải nộp được tính làm tròn đến đơn vị nghìn đồng

- Giám sát việc chấp hành quy định của pháp luật về an toàn trong hoạt động ngân hàng

Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất trong hoạt động giám sátcác tổ chức tham gia BHTG nó quyết định tính hiệu quả và mục tiêu của hoạt độnggiám sát Nội dung này với các chỉ tiêu giám sát được xây dựng chi tiết cho từngloại hình tổ chức tham gia BHTG là NHTM và QTDND

Tại Chi nhánh, khi giám sát các chỉ tiêu này được phân tích, tính toán, so sánhvới kỳ trước liền kề và so với cùng kỳ năm trước để xác định mức độ tăng, giảm và

xu thế biến đổi Một số chỉ tiêu giám sát chủ yếu trong nội dung này: Giám sát cơ cấutài sản nợ, tài sản có; vốn tự có; tài sản có; các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động;kết quả kinh doanh,…Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu giám sát, kết hợp với báo cáo kiểmtra, Phòng giám sát tại Trụ sở chính và Chi nhánh thực hiện đánh giá những đơn vị viphạm quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng

* Giám sát tình hình hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG:

Trên cơ sở quy định hiện hành về phân cấp quản lý khách hàng, Phòng giám sáttại Trụ sở chính và Chi nhánh sẽ đánh giá tình hình hoạt động của QTDND, cụ thể:

- Đánh giá các nhân tố kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động của QTDND, xuhướng biến động và các vấn đề cần lưu ý, bao gồm ít nhất các nội dung về biếnđộng lãi suất, tỷ giá, tình hình các sản phẩm, dịch vụ tiền gửi

- Phân tích tổng thể QTDND theo các chỉ tiêu chủ yếu thuộc các khoản mụcTSC, TSN trên Bảng cân đối tài khoản kế toán

- Phân tích chi tiết tình hình hoạt động của loại hình QTDND: Đối vớiQTDND Trung ương và TCTD phi ngân hàng thực hiện phân tích theo hệ thống chỉtiêu CAMELS Đối với QTDND cơ sở thực hiện phân tích, đánh giá theo theo hệthống chỉ tiêu CAMELS kết hợp với PEARLS Ngoài ra, tiến hành phân nhómtương đồng để phân tích theo địa bàn hoạt động, theo quy mô nguồn vốn, việc phânchia cụ thể được thực hiện theo 5 nhóm:

Nhóm 1: Gồm những QTDND cơ sở có nguồn vốn hoạt động từ 50 tỷ đồngtrở lên

Nhóm 2: Gồm những QTDND cơ sở có nguồn vốn hoạt động từ 20 tỷ đồngđến dưới 50 tỷ đồng

Trang 23

Nhóm 3: Gồm những QTDND cơ sở có nguồn vốn hoạt động từ 10 tỷ đồngđến dưới 20 tỷ đồng

Nhóm 4: Gồm những QTDND cơ sở có nguồn vốn hoạt động từ 5 tỷ đồngđến dưới 10 tỷ đồng

Nhóm 5: Gồm những QTDND cơ sở có nguồn vốn hoạt động dưới 5 tỷ đồng(Chi nhánh thực hiện theo phân cấp quản lý và chỉ phân tích, đánh giá theo hệ

thống chỉ tiêu CAMELS)

Dựa vào các nội dung trên, BHTGVN đã ban hành một hệ thống chỉ tiêugiám sát phù hợp riêng cho từng đối tượng giám sát của BHTG thể hiện ở phụ lục

01 Các chỉ tiêu giám sát này sẽ giúp hoạt động giám sát hiệu quả, đánh giá thực trạng

hoạt động của tổ chức tham gia BHTG Thực tế có nhiều hệ thống chỉ tiêu giám sát vàcác cơ quan BHTG lựa chọn các hệ thống riêng phù hợp với cơ chế chia sẻ thông tincũng như nội dung cần giám sát chuyên sâu mà mình quan tâm

1.1.3.4 Phương pháp giám sát đối với QTDND của BHTG

Có rất nhiều phương pháp phân tích trong việc đánh giá các ngân hàngtrong giám sát từ xa, trong đó có thể phân biệt thành 2 loại chính:

• Phương pháp đơn giản: theo dõi và phân tích các chỉ số hoặc tỉ lệ trên

bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập và các báo cáo khác nhằm xác định bất

cứ khả năng suy giảm vị thế của ngân hàng so với quy chuẩn hoặc so với các đơn

vị cạnh tranh khác;

• Phương pháp tiên tiến: sử dụng phân tích thống kê kinh tế lượng, có thể

liên kết với các chỉ số định tính có khả năng gây ra sai phạm của một ngân hàng

để ước lượng hoặc phân loại

Mức độ phức tạp của các phương pháp giám sát từ xa được áp dụng trên thế giớihiện nay tăng lên theo mô hình kim tự tháp: phân tích định lượng dựa trên các chỉ sốcủa một ngân hàng, phân tích theo nhóm ngân hàng, đánh giá theo mức độ rủi ro và hệthống cảnh báo sớm Hệ thống cảnh báo sớm (EWS) là mô hình giám sát tiên tiến nhất

và hiệu quả nhất nhưng mới chỉ được một số nước phát triển triển khai trong hoạt độnggiám sát từ xa ngân hàng, trong khi phương pháp phân tích định lượng dựa trên các chỉ

số CAMELS được áp dụng phổ biến tại các nước đang phát triển Hiện nay, BHTGVNđang áp dụng mô hình CAMELS trong giám sát từ xa đối với các QTDND

Mô hình CAMELS

Hệ thống phân tích CAMELS được áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năngsinh lời và thanh khoản của ngân hàng Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS là mộtphương pháp hoặc một công cụ dùng để phân tích tình hình hoạt động và rủi ro củangân hàng Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa theo sáu yếu tố cơ bản được sử dụng

để đánh giá hoạt động của một ngân hàng, đó là:

C - Capital Adequacy : Mức độ an toàn vốn

Trang 24

A - Asset Quality : Chất lượng tài sản có

M - Management : Quản lý

E - Earnings : Lợi nhuận

L - Liquidity : Thanh khoản

S - Sensitivity to market risk : Mức độ nhạy cảm thị trường

Cần lưu ý là các báo cáo tài chính không thể cung cấp đầy đủ thông tin mà ngườiphân tích cần để đánh giá mức độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngânhàng Do đó, cần kết hợp phân tích theo CAMELS với những đánh giá định tính củangân hàng để có thể thu đuợc kết quả phân tích kỹ lưỡng và hữu ích

Việc các chủ thể giám sát ngân hàng áp dụng phương pháp giám sát ở cấp độnào tùy thuộc vào tính lịch sử, đầy đủ và chất lượng của dữ liệu đầu vào Hơn nữa,ngay cả khi có kho dữ liệu đầu vào đầy đủ, chủ thể giám sát ngân hàng chỉ lựachọn phương pháp định lượng do chi phí lớn đối với xây dựng hạ tầng công nghệthông tin, tính hiệu lực hoàn thiện của các thể chế pháp lý khi áp dụng cácphương pháp giám sát từ xa tiên tiến (Olsen, 2005)

1.2 Chất lượng công tác giám sát từ xa đối với Quỹ tín dụng nhân dân của BHTG

1.2.1 Khái niệm chất lượng giám sát từ xa

Theo phần 1.1.3.1 đã định nghĩa: “Giám sát từ xa là quá trình thu thập, xử lý

số liệu, tiến hành phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của các QTDND trên cơ

sở báo cáo tài chính, báo cáo thống kê và các thông tin khác Từ đó lập báo cáo vàkiến nghị Ngân hàng nhà nước xử lý kịp thời những vi phạm quy định về an toànhoạt động quỹ tín dụng và phát hiện những rủi ro gây mất an toàn hệ thống Trong

đó, hệ thống giám sát là hệ thống chỉ tiêu được BHTGVN xây dựng để phản ánhtình hình hoạt động của QTDND ”

Vậy Chất lượng giám sát từ xa đối với QTDND của TCBHTG có thể được

hiểu là khả năng đáp ứng các yêu cầu, quy định về thu thập, xử lý và phân tích đối với các nội dung cần thiết trong quá trình GSTX đối với QTDND của TCBHTG Kết quả của việc đáp ứng đó là công tác GSTX của bảo hiểm tiền gửi

đưa ra những cảnh báo sớm cho các QTDND, làm tiền đề cho hoạt động kiểm tra tạichỗ của bảo hiểm tiền gửi Từ đó đưa ra hướng giải quyết, xử lý đảm bảo an toànlành mạnh hệ thống tài chính ngân hàng

Khái niệm chất lượng giám sát từ xa cho thấy cần phải có các tiêu chí, cácyêu cầu nhằm đánh giá tình hình các QTDND Việc đáp ứng tốt, thỏa mãn được cáctiêu chí, yêu cầu đặt ra đó thì hoạt động GSTX của QTDND được coi là chất lượng.Dưới đây tác giả sẽ trình bày hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng giámsát từ xa đối với QTDND của TCBHTG:

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng giám sát từ xa

Trang 25

1.2.2.1 Tính đầy đủ, chính xác và độc lập của thông tin đầu vào

Một trong những cơ sở quan trọng trong việc phục vụ hoạt động giám sát từ

xa là nguồn thông tin đầu vào Thông tin đầu vào bao gồm các thông tin tài chínhđược thể hiện trong các báo cáo kế toán, báo cáo thống kê và thông tin phi tài chínhtrong các báo cáo hoạt động ngân hàng các loại báo cáo như: Báo cáo tài chính, báocáo thống kê và các loại báo cáo khác Với mỗi loại thông tin báo cáo đều có giá trị

riêng, báo cáo tài chính cho biết thực trạng hoạt động của các quỹ tín dụng tại thời điểm giám sát, báo cáo thống kê là các mẫu biểu và ghi chép mẫu biểu để thu thập

dữ liệu, thông tin thống kê về đối tượng nghiên cứu cụ thể theo phương pháp khoahọc Việc kết hợp cả hai nguồn thông tin báo cáo này sẽ cho một nguồn cơ sở đầuvào tốt, đáp ứng hoạt động giám sát từ xa

Theo thông lệ quốc tế, một tổ chức BHTG có chất lượng hoạt động giám sáttốt thường có đầy đủ những thông tin đầu vào được gửi trực tiếp từ các QTDNDnhư sau: Hồ sơ pháp lý; Báo cáo theo yêu cầu của tổ chức BHTG; Báo cáo quản trị,điều hành; Báo cáo đột xuất; Báo cáo tài chính; Báo cáo thống kê; Bảng kê số dưtiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm

Việc tiếp nhận thông tin đầu vào trực tiếp từ quỹ tín dụng giúp QTDND chủđộng trong vấn đề tiếp nhận và xử lý nguồn thông tin của mình.Chủ động cập nhậtđược các dữ liệu thông tin và chủ động kiểm tra tính chính xác của thông tin.Việcnhận thông tin dữ liệu qua một kênh thứ ba sẽ làm giảm chất lượng GSTX.Vì vậy,QTDND có chất lượng hoạt động GSTX tốt khi công tác tiếp nhận thông tin đầuvào từ QTDND được thực hiện đầy đủ và độc lập

1.2.2.2 Tần suất báo cáo giám sát, báo cáo tài chính vĩ mô của Chi nhánh BHTG liên tục và đều đặn

Để đánh giá chất lượng của công tác giám sát của một tổ chức BHTG là tốtthì trong công tác giám sát phải có tần suất cho ra các báo cáo tình hình kinh tế vi

mô – tài chính quỹ tín dụng, báo cáo giám sát các QTD phải thực hiện định kỳ, liêntục và đều đặn.Theo quy của BHTG, quy định tần suất này là hàng tháng với báocáo giám sát để liên tục cập nhật đươc tình hình các QTD, nhằm phát hiện ngay khi

có vi phạm và đưa ra hướng xử lý kịp thời; hàng quý đối với báo cáo tình hình kinh

tế vĩ mô – tài chính QTD để có cơ sở khách quan đánh giá nguyên nhân vi phạmcủa QTD và đưa ra phương án xử lý phù hợp với tình hình hiện tại

Ngoài ra, BHTGVN cũng cần công khai chia sẻ và trao đổi các loại báo cáo,thông tin với các tổ chức giám sát khác trong hệ thống tài chính để liên tục nắm bắttình hình các QTDND và có cái nhìn tổng quát về xu thế cũng như đưa ra dự báo,hướng xử lý nhanh chóng và đồng bộ

1.2.2.3 Tính đầy đủ, trung thực của nội dung giám sát

Trang 26

Nội dung giám sát có đầy đủ và trung thực hay không sẽ phản ánh chất lượngcủa công tác giám sát từ xa Nội dung giám sát của mỗi một tổ chức BHTG trên thếgiới đều khác nhau, do tính chất về kinh tế - chính trị - xã hội – văn hoá Cho nênmỗi tổ chức BHTG đều phải tự nghiên cứu và cho ra một nội dung giám sát riêngbiệt, để nội dung đó phù hợp với tình hình của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức BHTG.Theo thông lệ quốc tế , nội dung giám sát thường bao gồm 2 nội dung chính:giám sát tuân thủ và giám sát rủi ro (giám sát an toàn hoạt động ngân hàng) Nộidung giám sát cần được nghiên cứu đưa ra các chỉ tiêu giám sát đáp ứng các quyđịnh về BHTG và thông lệ quốc tế Hiện nay, các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trênthế giới thường giám sát theo các chỉ tiêu chủ yếu theo mô hình CAMELS Tổchức BHTG có hoạt động giám sát từ xa chất lượng tốt khi có hệ thống chỉ tiêugiám sát từ xa đảm bảo đủ 6 yếu tố của mô hình CAMELS Tuy nhiên, thực tế tạiChi nhánh của BHTGVN có áp dụng giám sát dựa trên mô hình CAMELS và hệthống chỉ tiêu trong hoạt động giám sát của BHTGVN Do đặc điểm của QTDNDnhỏ, vốn ít, năng lực nguồn nhân lực kém nên việc tiếp nhận thông tin đầu vào cònthiếu hụt thông tin Nên trong quá trình giám sát, Chi nhánh sẽ chỉ thực hiện phântích, đánh giá một số yếu tố trong mô hình CAMELS và một số chỉ tiêu trong hệthống chỉ tiêu.

Và nếu chỉ thể hiện mỗi tính đầy đủ trong 6 yếu tố trên nhưng chưa có sựtrung thực trong việc phân tích, đánh giá thì nội dung giám sát sẽ không còn mangtính giá trị Nó sẽ ảnh hưởng đến việc phân loại, xếp hạng, cảnh báo các QTD cónguy cơ phá sản và ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế nếu như không phản ánh đúngthực trạng của các QTDND

1.2.2.4 Mức độ tuân thủ của các QTDND về các quy định BHTG

Mức độ tuân thủ chính là việc các QTDND có thực hiện và chấp hành đúng,

đủ các yêu cầu về quy định cung cấp thông tin, báo cáo và nộp đúng, đủ phí BHTGtheo đúng quy định của Luật BHTG hay không?

Nếu như công tác GSTX của BHTG có chất lượng tốt thì sẽ mang lại tácdụng răn đe đối với các Quỹ Khi được giám sát thường xuyên, sát sao, cộng vớicác hình thức xử lý vi phạm nhanh chóng, đánh vào quyền lợi trực tiếp của QTDNDnhư: tổ chức BHTG kiến nghị NHNN đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi, đồng thờithu hồi giấy chứng nhận BHTG của QTDND Điều này ảnh hưởng đến lợi ích, hoạtđộng kinh doanh của QTDND.Vì vậy, càng ít trường hợp các QTDND vi phạm tuânthủ đồng nghĩa với mức độ tuân thủ của các tổ chức càng cao chứng tỏ chất lượnggiám sát từ xa của tổ chức BHTG càng cao

1.3 Các nhân tố tác động đến hoạt động giám sát từ xa của tổ chức bảo hiểm tiền gửi đối với QTDND

Thứ nhất: Môi trường pháp lý

Trang 27

Môi trường pháp lý là những cơ sở pháp lý mà BHTG phải căn cứ vào đó đểthực hiện công việc, nghiệp vụ như GSTX để đảm bảo cho hoạt động của GSTX làphù hợp với những qui định của pháp luật.

Do vậy, môi trường pháp lý có ảnh hưởng mang tính quyết định đến hoạtđộng GSTX Để đảm bảo hoạt động GSTX hiệu quả, cần có một hệ thống pháp luậtđồng bộ điều chỉnh hoạt động tài chính-ngân hàng và các tổ chức giám sát Theothông lệ quốc tế, các quốc gia thường xây dựng cơ sở pháp lý trước khi thành lậpcác tổ chức giám sát hoặc trước khi thành lập tổ chức BHTG Cần xác định được rõchức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan cũng như việc phối hợp hoạt động giữa các

cơ quan Bên cạnh việc điều chỉnh luật pháp, các tổ chức giám sát cũng kí nhữngbiên bản ghi nhớ trong đó quy định trách nhiệm cụ thể của các bên tham gia nhưhợp tác trao đổi thông tin, cơ chế phối hợp kiểm tra giữa các bên

Theo kinh nghiệm quốc tế, đối với các quốc gia đang trong quá trình chuyểnđổi nền kinh tế hoặc quá trình chuyển đổi từ mô hình giá sát phân tán sang mô hìnhgiám sát hợp nhất, khối lượng luật pháp cần sửa đổi hoặc xây dựng mới thường rấtlớn Điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách từng quốc gia phải có những

nỗ lực lớn hoặc có sự trợ giúp của nhiều tổ chức quốc tế có kinh nghiệm nhằm hoàntất quá trình trên

Bên cạnh môi trường pháp lí đồng bộ, việc quốc gia có một hệ thống thực thipháp luật hiệu quả cũng có ý nghĩa rất lớn Trong quá trình triển khai công tác giám sát,

hệ thống thực thi pháp luật quy định phương pháp xử lí các vấn đề cụ thể, chế tài vàcác biện pháp chế tài đối với các trường hợp vi phạm Ví dụ trong trường hợp tổ chứcđược giám sát vi phạm quy định về TTBC, tổ chức giám sát có quyền ra các quyết định

xử phạt hoặc thậm chí nếu vi phạm lớn và kéo dài, có thể đánh tụt hạng giám sát

Thứ hai: Trình độ, năng lực của cán bộ giám sát

Trong mọi công việc yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất, trong hoạtđộng giám sát cũng vậy, con người là yếu tố quyết định chất lượng GSTX Muốnvậy, những người được bố trí công tác giám sát phải đáp ứng được những yêu cầu là

có trình độ chuyên môn về lĩnh vực ngân hàng; có kinh nghiệm trong công tác giámsát, có đạo đức nghề nghiệp; có khả năng phân tích, tổng hợp các yếu tố liên quanđến tình hình hoạt động của QTDND

Với đội ngũ nhân sự đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên, công tác giám sát sẽ cóhiệu quả, chất lượng giám sát sẽ được nang cao, qua đó phân tích và đánh giá đúngtình hình hoạt động của QTDND

Thứ ba: Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong hoạt động giám sát

Để thực hiện hoạt động giám sát QTDND, sự phối hợp của các cơ quan trong hệthống giám sát là rất quan trọng Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chính là sự

Trang 28

phối hợp trao đổi thông tin và thanh tra, giám sát giữa BHTGVN và NHNN, Bộ tàichính.

Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong hoạt động giám sát xử lý trong

và sau giám sát bao gồm từ việc chấm điểm xếp hạng đến đưa ra cảnh báo sớm đốivới QTDND có vấn đề và xác định giải pháp xử lý như hỗ trợ tài chính hay sápnhập.Tùy từng quốc gia, mức độ và phạm vi phối hợp xử lý giám sát giữa các tổchức liên quan cũng mang tính đặc trưng riêng Đối với VN, BHTGVN cần có tráchnhiệm cung cấp cho NHNN các thông tin liên quan về tình hình hoạt động, việcchấp hành các quy định, an toàn hoạt động hoặc thông tin về hỗ trợ tài chính và việcchi trả tiền gửi bảo hiểm theo định kỳ 6 tháng/lần Còn NHNN cũng cấp choBHTGVN các thông tin liên quan đến QTDND về các vi phạm quy định về an toànhoạt động, về các tổ chức có nguy cơ mất khả năng chi trả…

Cho nên thông qua sự phối hợp chặt chẽ đó, sẽ giúp BHTGVN có cái nhìntổng quan, đa chiều về các QTDND, có cách xử lý, phân tích thông tin một cáchthấu đáo, rõ ràng, đầy đủ hơn Nếu như sự phối hợp chặt chẽ sẽ ảnh hưởng tới chính

hệ thổng QTDND, sẽ không có QTDND nào bị phá sản, sẽ không có sự mất niềmtin của dân chúng

Thứ tư: Hệ thống chia sẻ thông tin

Để có một hệ thống giám sát chất lượng cần có hệ thống hợp tác và chia sẻthông tin giữa các tổ chức giám sát chính thức khác nhau, cả trong và ngoài nước,chịu trách nhiệm về sự an toàn và khả năng thanh toán của hệ thống tài chính; sựhợp tác này được hỗ trợ bởi những sự sắp xếp nhằm bảo mật thông tin giám sát vàbảo đảm rằng thông tin này chỉ được sử dụng chỉ với những mục đích liên quan tớiviệc giám sát hữu hiệu những định chế liên quan

Ngoài ra, cơ quan giám sát cũng cần có thông tin đầu vào đầy đủ và tính cậpnhật cao, từ đó làm cơ sở phục vụ hoạt động giám sát Nguồn thông tin đầu vào tổchức BHTG thực hiện giám sát chủ yếu dựa vào nguồn thông tin của các QTDND.Chính vì vậy để có nguồn thông tin chính xác, lượng thông tin đủ, kịp thời thìQTDND phải tuân thủ đúng các quy định về hạch toán kế toán và các quy định khácliên quan Trường hợp các QTDND không đảm bảo được những quy định trên sẽảnh hưởng đến chất lượng, số lượng và tính kịp thời của thông tin, điều đó ảnhhưởng lớn đến hoạt động giám sát, ảnh hưởng đến báo cáo giám sát - sản phẩm củahoạt động nghiệp vụ GSTX Như vậy báo cáo giám sát sẽ không đảm bảo được chấtlượng báo cáo, không phản ánh đúng thực tế tình hình hoạt động của QTDND.Bêncạnh đó số lượng thông tin ít, tình hình cập nhật thông tin kém cũng ảnh hưởng lớnđến việc đánh giá xu thế biến động cũng như xu thế hoạt động của các QTDND

Thứ năm: Điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng

Trang 29

Điều kiện vật chất , cơ sở hạ tầng đó là cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng trong đờisống như điện, đường, trường, trạm… chúng chủ yếu sử dụng là nền tảng cho các hoạtđộng sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và nó thuần túy là vật chất hữu hình.

Trong nền kinh tế hiện đại hóa, công nghệ ngành tài chính và tự do hóa thị trườngdịch vụ tài chính đang diễn ra hết sức mạnh mẽ đã thúc đẩy dịch vụ tài chính phát triển

cả về chất lượng và số lượng Do đó yêu cầu đặt ra đối với tổ chức giám sát là phải theokịp sự chuyển đổi của hệ thống tài chính để có công cụ và phương pháp giám sát hiệuquả nhất Hơn nữa, công tác GSTX không thể đảm bảo chắc chắn hoạt động ngânhàng luôn trong trạng thái tốt, vì nó luôn tiền ẩn rất nhiều rủi ro Vì vậy, tổ chứcgiám sát phải luôn sẵn sang những giải pháp thích hợp đối phó với khó khăn củangành ngân hàng và xử lý đổ vỡ một cách nhanh chóng

Thứ sáu: Phương pháp giám sát từ xa

Phương pháp GSTX là công cụ tối thiểu của hoạt động giám sát liên tục Tổchức giám sát chủ yếu sử dụng giám sát từ xa để giám sát các điều kiện tài chính vàhoạt động QTDND để xác định những tổ chức nào cần quan tâm ở mức đặc biệthơn.Phương pháp GSTX bao gồm phân tích và xem xét các thông tin tài chính định

kỳ và các thông tin khác liên quan tới hoạt động ngân hàng

Tổ chức giám sát thường yêu cầu các QTDND thực hiện báo cáo về báo cáothu nhập, chi phí, bảng tổng kết tài sản, hồ sơ của ngân hàng, tín dụng, đầu tư,nguồn vốn, vốn, thanh khoản, trích lập dự phòng rủi ro

Trong những năm gần đây, tổ chức giám sát đã phát triển và áp dụng nhiềuphương pháp giám sát ngân hàng mới nhằm đánh giá và theo dõi những thay đổi vềđiều kiện tài chính; mức độ rủi ro của QTDND và cảnh báo kịp thời để tổ chứcgiám sát có những biện pháp hỗ trợ

Để đảm bảo chất lượng giám sát, tổ chức giám sát cần lựa chọn phương phápgiám sát phù hợp với tình hình tổ chức và tình hình hệ thống tài chính quốc gia

1.4 Kinh nghiệm của một số tổ chức BHTG tiêu biểu trên thế giới

1.4.1 Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc (KDIC)

Quy trình triển khai giám sát được BHTG Hàn Quốc thể hiện qua Hình 1.4:

Trang 30

Hình 1.1 Quy trình giám sát rủi ro tại Hàn Quốc

Nguồn: KDIC

Trong giai đoạn nhận diện rủi ro, KDIC thực hiện tiếp nhận các dữ liệu báocáo theo mẫu (call report) Bên cạnh đó, KDIC cũng có thẩm quyền tham gia cáccuộc họp ở các mức độ khác nhau với Ủy ban giám sát tài chính và tiếp nhận cácbáo cáo kiểm tra, giám sát của Ủy ban giám sát

Sau khi có nguồn dữ liệu đầu vào kể trên, giai đoạn đo lường rủi ro sẽ đượcthực hiện Theo đó, các chuyên gia của KDIC sẽ phân tích, đánh giá tình hình hoạtđộng của các tổ chức được giám sát qua mô hình được thể hiện tại Hình 1.5, thôngqua đó đưa ra những đánh giá tổng thể đối với tổ chức gặp khó khăn và dự báonhững rủi ro tổ chức tài chính có thể gặp phải

Hình 1.2 Mô hình giám sát rủi ro của KDIC

Nguồn: KDIC

- Mô hình chỉ số rủi ro: sử dụng các chỉ số tài chính và các biến vĩ mô (ví dụ:

tỷ lệ thất nghiệp) nhằm biểu thị mức độ rủi ro trong toàn hệ thống ngân hàng

- Mô hình đánh giá rủi ro: sử dụng 12 biến và 4 nhóm chỉ số (CAEL) nhằmđánh giá tình hình tài chính hiện tại

- Mô hình Logit để đo xác suất đổ vỡ của một tổ chức tài chính sau một

Trang 31

khoảng thời gian nhất định.

- Mô hình Ordered Probit dự báo rủi ro của một tổ chức tài chính sau 6 tháng.Trên cơ sở kết quả giám sát, KDIC có quyền yêu cầu các TCTGBHTG vàCông ty dịch vụ tài chính (FSS) gửi các tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh

và tình hình tài chính hiện thời, từ đó KDIC thực hiện đánh giá, nhận xét về quátrình thực hiện chức năng nhiệm vụ của các tổ chức này đồng thời làm căn cứ đểphân loại các tổ chức tham gia BHTG

Trong giai đoạn xác nhận rủi ro, KDIC có thẩm quyền yêu cầu Ủy ban giámsát tài chính thực hiện các cuộc kiểm tra, tham gia các cuộc kiểm tra chung với Ủyban giám sát và/hoặc thực hiện thanh tra

Kết thúc giai đoạn xác nhận rủi ro, KDIC có thể đưa ra các biện pháp xử lýphù hợp Đầu tiên, đồng thời cũng là mức độ thấp nhất, KDIC có thể áp dụng cácmức phí bổ sung đối với các tổ chức hoạt động không thực sự lành mạnh dẫn tới bịđánh tụt hạng Trong trường hợp tổ chức tài chính gặp khó khăn nghiêm trọng,KDIC có thể xác nhận tình trạng đổ vỡ đồng thời tiến hành các biện pháp tiếp nhận

xử lý, hỗ trợ tài chính phù hợp

1.4.2 Tổng Công ty bảo hiểm tiền gửi Malaysia (PIDM)

Tổng công ty BHTG Malaysia (MDIC) là tổ chức của chính phủ được thànhlập chính thức ngày 01/9/2005 trên cơ sở Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2005 MDIC

có vai trò giám sát và hỗ trợ NHTW trong việc bình ổn hệ thống tài chính, thúc đẩyhoạt động đánh giá và giám sát, quản lý rủi ro, can thiệp và xử lý đổ vỡ ngân hàng,

và bảo đảm tốt nhất lợi ích của người gửi tiền MDIC được tổ chức theo mô hìnhgiảm thiểu rủi ro với các chức năng giám sát, kiểm tra, tiếp nhận xử lý và áp dụngtính phí dựa trên mức độ rủi ro đối với tổ chức thành viên

Về cung cấp thông tin PIDM: Năm 2010, PIDM đã ban hành Quy định

“Hướng dẫn hệ thống thông tin tiền gửi và việc báo cáo thông tin tiền gửi” và sửađổi vào các năm 2013, 2016, trong đó yêu cầu các tổ chức tham gia BHTG phảicung cấp thông tin chi tiết về tiền gửi được bảo hiểm cho PIDM.Theo quy định này,các tổ chức tham gia BHTG phải cung cấp thông tin cho PIDM theo 73 trườngthông tin, bao gồm cả dữ liệu tài chính và dữ liệu phi tài chính, được chia thành 5file như sau: File dữ liệu chính; File thông tin về chủ tài khoản; File tiền gửi kỳ hạn;File thông tin người thụ hưởng của tài khoản tín chấp; File địa chỉ

Các thông tin này được PIDM thu thập định kỳ mỗi năm một lần vào thờiđiểm 31/5 hàng năm, thời điểm của dữ liệu là 31/12 năm trước, nhằm mục đíchkiểm tra lại việc tính toán số dư tiền gửi được bảo hiểm để tính và nộp phí của cácTCTGBHTG Ngoài ra, PIDM cũng yêu cầu hệ thống công nghệ thông tin của các

tổ chức tham gia BHTG phải có khả năng kết xuất 5 file dữ liệu trên vào thời điểm

Trang 32

bất kỳ Yêu cầu này nhằm mục đích chuẩn bị sẵn sàng cho chi trả trong trường hợp

tổ chức tham gia BHTG gặp sự cố bất thường gây ra đổ vỡ

Về bảo mật thông tin cho người gửi tiền: Dung lượng dữ liệu PIDM thu

thập về là rất lớn, chi tiết tới từng tài khoản tiền gửi và lấy tất cả các thông tin liênquan đến mỗi tài khoản tiền gửi, trong đó có thông tin về nhân thân của người gửitiền (như họ tên, địa chỉ, ID, số điện thoại, ) Do vậy, vấn đề bảo mật thông tinđược PIDM đặc biệt chú trọng

Về giám sát tính phí của PIDM: Theo quy định của Malaysia, PIDM tính

phí BHTG theo rủi ro và PIDM cũng là cơ quan xếp hạng rủi ro của cácTCTGBHTG Việc vi phạm các quy định của PIDM về “Hướng dẫn hệ thống thôngtin tiền gửi và việc báo cáo thông tin tiền gửi” là một trong những điểm trừ khiPIDM xếp hạng rủi ro để tính phí BHTG.Từ hệ thống này, các TCTD sẽ được chođiểm và căn cứ vào số điểm đó, PIDM sẽ áp dụng các tỷ lệ phí khác nhau: 0,03% -0,06% - 0,12% - 0,24% tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm

1.4.3 Tổng công ty BHTG Đài Loan (CDIC)

Tại Tổng công ty BHTG Đài Loan (CDIC), cơ chế giám sát rủi ro được thực hiệntheo một quy trình rất chặt chẽ Các loại báo cáo (báo cáo định kỳ theo tháng, quý, nửanăm và báo cáo đặc biệt) sẽ được gửi đến Ủy ban giám sát, đồng thời, Ủy ban giám sát

sẽ chia sẻ thông tin về báo cáo tài chính và kết quả kiểm tra các tổ chức tài chính choCDIC

Các phòng ban nghiệp vụ của CDIC sẽ tiến hành phân tích các báo cáo này.Căn cứ vào kết quả kiểm tra và giám sát, BHTG Đài Loan xếp hạng các ngân hàng

và gửi kết quả xếp hạng tới Ủy ban Giám sát và Ngân hàng Trung ương Đây là kếtquả xếp hạng chính thức gửi tới các tổ chức giám sát khác Đồng thời kết quả xếphạng này được sử dụng để tính phí theo mức độ rủi ro của BHTG Đài Loan

Tương tự như vậy, căn cứ vào báo cáo kiểm tra và các báo cáo tài chính do Ủyban giám sát và Hội đồng nông nghiệp gửi, CDIC xếp hạng các tổ chức tín dụngnông nghiệp và gửi kết quả tới Hội đồng nông nghiệp và Ủy ban giám sát

Trang 33

Hình 1.3 Mô hình cơ chế chia sẻ thông tin giám sát

Nguồn: Tổng công ty BHTG Đài Loan (CDIC)

Bên cạnh đó, kết quả giám sát cũng được BHTG Đài Loan sử dụng cho Hệthống cảnh báo sớm (EWS) với mục tiêu giảm thiểu rủi ro có thể gặp phải thôngqua phát hiện sớm các vấn đề và áp dụng các biện pháp can thiệp sớm Hệ thốngnày gồm 4 tiểu hệ thống:

(1) Hệ thống kiểm tra sử dụng nguồn dữ liệu là báo cáo kiểm tra của các tổchức kiểm tra ngân hàng Hệ thống này sử dụng mô hình CAMELS để đánh giá tìnhhình hoạt động kinh doanh của các tổ chức nhằm phát hiện ra các tổ chức gặp vấn

đề và tiến hành can thiệp sớm nhằm giảm thiểu tổn thất

(2) Hệ thống báo cáo từ xa sử dụng nguồn tài liệu từ báo cáo của cácTCTGBHTG theo định kỳ quý Hệ thống này phân tích các báo cáo dựa theomôhình phân tích theo nhóm tương đồng nhằm tiến hành theo dõi thường xuyên vàđánh giá tình hình của TCTGBHTG

(3) Hệ thống giám sát giao dịch qua Internet sử dụng nguồn số liệu là các báocáo theo ngày của tổ chức tham gia BHTG Hệ thống này phân tích các báo cáo dựatheo phương pháp trung bình trượt nhằm theo dõi các tổ chức và tiến hành can thiệpkịp thời, giảm thiểu rủi ro đạo đức

(4) Hệ thống phân tích nhân viên quản lý khách hàng sử dụng báo cáo kiểm tra

và dữ liệu cập nhật Hệ thống này phân tích báo cáo dựa theo mô hình “stress tests”với mục tiêu dự báo khả năng đổ vỡ, phân tích độ tập trung và nguy cơ rủi ro

Bảng 1.1 Một số phương pháp được Tổng công ty BHTG Đài Loan áp dụng

Phương pháp sử dụng

CAMELSO Báo cáo kiểm

tra của các cơ

Danh sách các

tổ chức có vấn

Trang 34

Phương pháp sử dụng

Hệ thống báo

cáo từ xa

Mô hìnhtheo nhómtương đồng

CAELSO

Báo cáo củacác tổ chứctham giaBHTG theođịnh kỳ từngquý

Danh sách cầnphải theo dõiđặc biệt theođịnh kỳ từngquý

Hệ thống giám

sát giao dịch

qua Internet

Phươngpháp trungbình trượt

Các khoảnmục cụ thểtrong bảngCĐKT

Báo cáo ngàycủa các tổ chức

Danh sách cảnhbáo

Các tài sảncần đánh giálại

Báo cáo kiểmtra và số liệucập nhật

Báo cáo phântích

Nguồn:Tổng công ty BHTG Đài Loan (CDIC)

Trên thực tế, hệ thống giám sát rủi ro nói trên đã được xem như một công cụhiệu quả để CDIC xác định ngân hàng tốt và ngân hàng có vấn đề Từ đó CDIC đã

có biện pháp giám sát nhiều hơn các tổ chức xếp hạng kém và đề xuất các biện pháp

để cải thiện chất lượng hoạt động các tổ chức này, qua đó giảm thiểu khả năng đổ

vỡ của tổ chức

1.4.4 Bài học rút ra đối với hoạt động giám sát từ xa tại Chi nhánh tại T.P Hà Nội

Qua những kinh nghiệm của các nước trên thế giới chi nhánh có thể rút ramột số bài học kinh nghiệm về hoạt động GSTX của các QTDND lớn trên thế giớinhư sau:

Thứ nhất, cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Từ hệ thống GSTX của Malaysia (MDIC) cho thấy các quốc gia và vùnglãnh thổ có hệ thống giám sát tổ chức tham gia BHTG có đặc điểm gần tương đồngViệt Nam đều giám sát hiệu quả, đều rất quan tâm đến việc xây dựng và ban hànhchính sách BHTG

Chính sách BHTG được thể hiện hóa bằng văn bản pháp lý, văn bản có tínhpháp lý cao càng có điều kiện để QTDND thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ củamình Xây dựng và ban hành chính sách phù hợp với bối cảnh kinh tế, tài chính củađất nước và trình độ phát triển của ban thân QTDND được coi là kim chỉ nam cho

Trang 35

hoạt động BHTG ở quốc gia đó Khi có sự thay đổi về tình hình tài chính, tiền tệ,chích sách BHTG của thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế.

Thứ hai, cơ chế chia sẻ thông tin

Cơ chế chia sẻ thông tin, phối hợp hành động giữa các thành viên mạng antoàn tài chính (4 trụ cột là Ngân hàng nhà nước, Bộ Tài chính, Ủy ban Giám sát tàichính quốc gia, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam) cần được chia sẻ về các quy định rõràng cụ thể bằng văn bản pháp lý nhằm đạt hiệu quả tối đa trong việc duy trì ổn định

hệ thống, xử lý đổ vỡ và ngăn ngừa khủng hoảng việc xây dựng cơ chế chia sẻnguồn thông tin đầu vào

Thứ ba, nên đặc biệt quan tâm tới việc triển khai các hoạt động nghiệp

vụ ngay từ khi thành lập

Trước tiên, để thực hiện tốt mục tiêu của mình, QTDND cần đặc biệt quantâm tới các hoạt động nghiệp vụ ngay từ khi triển khai hoạt động Trong đó, căn cứvào điều kiện tài chính, nhân sự cụ thể của từng tổ chức để tập trung đầu tư cho hoạtđộng giám sát Bởi thực hiện tốt hoạt động này sẽ đem lại nguồn thông tin chínhxác, kịp thời giúp QTDND đánh giá, phân loại chính xác các QTDND Trên cơ sở

đó tiến hành các cuộc kiểm tra để uốn nắn và ngăn chặn kịp thời các biểu hiện hoạtđộng của QTDND có thể làm ảnh hưởng tới tính an toàn và ổn định hệ thống ngânhàng quốc gia

Thứ tư, công tác giám sát

Công tác giám sát các TCTGBHTG đóng vai trò đặc biệt quan trọng tronghoạt động BHTG Để giám sát hiệu quả cần có trình độ chuyên môn, cơ sở vật chấtphù hợp, dữ liệu giám sát đầy đủ và hệ thống các chỉ tiêu giám sát chuẩn mực là yếu

tố quan trọng quyết định chất lượng công tác giám sát Giám sát hiệu quả là cơ sở

để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác như xếp hạng tín nhiệm TCTD, cảnh báo sớm,thu phí theo mức độ rủi ro; xử lý TCTGBHTG có vấn đề Bài học cho Việt Nam làcần phải xây dựng mô hình cho DIV cũng như phương pháp giám sát để sẵn sànggiải quyết khi rủi ro chưa xảy ra, chứ không chỉ chờ rủi ro xảy ra rồi mới đưa ra giảipháp Kinh nghiệm của BHTG Đài Loan (CDIC) cho thấy, nếu được đầu tư đầy đủ

và lựa chọn mô hình giám sát TCTGBHTG hiệu quả, sẽ khẳng định được vai tròcủa TCBHTG trong hệ thống kiểm soát tài chính quốc gia CDIC đã thiết lập hệthống cảnh báo sớm nhằm kiểm soát hoạt động của các TCTGBHTG và đưa ranhững cảnh báo kịp thời đối với TCTGBHTG có vấn đề

Vì vậy, BHTGVN nên xem xét áp dụng hai hệ thống đánh giá rủi ro để cóthể hỗ trợ và bổ sung cho nhau Hai mô hình GSTX đang được áp dụng thành côngtại Mỹ mà BHTGVN có thể tham khảo và nghiên cứu cho kế hoạch nâng cao chấtlượng giám sát từ xa, đó là Hệ thống phân hạng từ xa thống kê CAMELS (SCOR)

và Hệ thống Giám sát mức độ tăng trưởng (GMS) Cả hai hệ thống giám sát trên

Trang 36

đều áp dụng Hệ thống chuẩn mực phân hạng tổ chức tài chính (UFIRS), hay cònđược biết đến dưới cái tên Hệ thống phân hạng CAMELS trong giám sát an toànngân hàng.

Thứ năm, độc lập trong hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Như trong luật BHTG của Malaysia có ghi rõ “nguyên tắc cao nhất đối vớimột QTDND hiệu quả chính là sự độc lập trong hoạt động của tổ chức này”.QTDND cũng cần có sự độc lập nhất định, càng ít chịu sự quản lý, ràng buộc của cơquan quản lý nhà nước, QTDND càng có điều kiện độc lập ra quyết định, ứng phónhanh với tình hình thực tế, đặc biệt là trong các tình huống, bổi cảnh nhạy cảm cầnphải đưa ra quyết định kịp thời

Là QTDND mới thành lập khoảng 15 năm, lại chưa chịu tác động nghiêmtrọng của khủng hoảng tài chính, chi nhánh BHTGVN tại T.P HN cần học tậpnhững mặt tích cực và biết những hạn chế các thiếu sót của các tổ chức lớn, nhằmđảm bảo chất lượng hoạt động GSTX của BHTGVN

Tóm lại, trong chương này, luận văn đã nêu lý luận chung về bảo hiểm tiềngửi, về hoạt động GSTX; khái quát hóa chất lượng GSTX và các nhân tố ảnh hưởngtới chất lượng GSTX với các QTDND Ngoài ra, chương này còn rút ra những bàihọc kinh nghiệm cho Việt Nam thông qua kinh nghiệm quốc tế về hoạt động GSTXcủa QTDND

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT TỪ XA ĐỐI VỚI QTDND CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM - CHI NHÁNH T.P

HÀ NỘI 2.1 Khái quát về Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - Chi nhánh T.P Hà Nội

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển tại Chi nhánh T.P Hà Nội

Đầu những năm 1988-1990 của thế kỷ 20, hàng loạt tổ chức tín dụng đô thị bị

đổ vỡ trên toàn quốc, làm lòng tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng bị ảnhhưởng nghiêm trọng Vì vậy, khi mô hình Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) được triểnkhai thí điểm theo quyết đinh số 390/QĐ-TTG ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chínhphủ, Bộ tài chính cũng ban hành Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của QTDND đối vớikhoản tiền gửi có kỳ hạn, theo quyết định số 101-TCQĐ/BH ngày 01/02/1994 Theoquyết định 101-TCQĐ/BH, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam lúc đó (Bảo Việt) đãtriển khai nghiệp vụ Bảo hiểm tiền gửi (BHTG), đây là khởi đầu của chính sách bảohiểm tiền gửi ở nước ta Tiếp sau đó, tuy không chịu ảnh hưởng nhiều từ cuộc khủnghoảng tài chính Châu Á năm 1997 nhưng đây là hồi chuông cảnh báo cho hệ thốngngân hàng nước ta, cần phải chú trong hơn nữa đến vấn đề BHTG.Bên cạnh đó, cùngvới xu hướng thành lập mô hình BHTG trên thế giới và sự hội nhập kinh tế quốc tếmạnh mẽ ở nước ta thời kì đó, việc thành lập QTDND là vô cùng cần thiết

Trong bối cảnh đó, BHTGV được thành lập theo Quyết định số218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ, và chính thức đi vàohoạt động từ ngày 07/07/2000 theo khung pháp lý là Nghị định 89/1999/NĐ-CP,Nghị định 109/2005/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89),Quyết định 75/2000/QĐ-TTg BHTGVN là tổ chức duy nhất thực hiện chính sáchBHTG nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền; hỗ trợ các tổ chức tín dụnggặp khó khăn; kiểm soát và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng.BHTGVN là tổ chức tài chính Nhà nước, có tư cách pháp nhân, hoạt động không vìmục tiêu lợi nhuận Sau hơn 15 năm hoạt động, ngoài Trụ sở chính tại Hà Nội,BHTGVN đã thành lập 6 chi nhánh trên khắp cả nước trong đó có Chi nhánhBHTGVN tại T.P Hà Nội

Chi nhánh BHTGVN tại T.P Hà Nội được thành lập theo Quyết định số108/2001/QĐ-HĐQT ngày 26/12/2001 của Hội đồng quản trị Bảo hiểm tiền gửiViệt Nam Chi nhánh là Chi nhánh cấp I trong hệ thống BHTGVN, đại diện choBHTGVN trên địa bàn hoạt động tại Thành phố Hà Nội và các tỉnh phía Bắc

2.1.2 Mạng lưới hoạt động và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại Chi nhánh T.P Hà Nội

Về mạng lưới hoạt động: Ngày đầu thành lập Chi nhánh thực hiện quản lý 187

QTDND tại địa bàn 7 tỉnh, thành phố phía Bắc Từ tháng 4/2006, Chi nhánh được

Trang 38

BHTGVN mở rộng địa bàn quản lý lên 12 tỉnh, thành phố phía Bắc với, bao gồm 24NHTM, 06 tổ chức tín dụng phi ngân hàng và 283 QTDND

Về cơ cấu tổ chức: Từ khi mới thành lập, Chi nhánh có 39 cán bộ trong đó có

02 thạc sỹ và khoảng 70% cán bộ đã tốt nghiệp đại học, với cơ cấu tổ chức gồm 07phòng và 01 bộ phận được thành lập trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ riêng biệt Đếntháng 7/2007 thực hiện tái cấu trức bộ máy tại các Chi nhánh BHTHVN theo Quyếtđịnh số 210/QĐ-BHTG2 ngày 20/6/2007 của Tổng giám đốc BHTGVN về việc điềuchỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi nhánh BHTGVN, theo đó tại Chi nhánh có 04phòng: Phòng Nghiệp vụ BHTG1, phòng Nghiệp vụ BHTG 2, phòng Kế toán vàphòng Hành chính- Nhân sự Tính đến 31/12/2014, tổng số cán bộ trong Chi nhánh là

76 người, tăng 37 người so với khi mới thành lập, trong đó cán bộ nữ là 49 người,chiếm 65,3% Về cơ cấu trình độ: có 01 tiến sỹ (chiếm 1,33%), 11 thạc sỹ (chiếm14,67%) và hơn 80% cán bộ có trình độ đại học Cơ cấu tổ chức: Ban lãnh đạo (03người); Phòng Nghiệp vụ BHTG1 (23 người); Phòng Nghiệp vụ BHTG2 (28 người);Phòng Kế toán (6 người); Phòng Hành chính - Nhân sự (16 người)

Đến năm 2016, chi nhánh có 87 người, tăng 11 người so với năm 2014.Trong đó, Ban lãnh đạo gồm 4 người, Phòng nghiệp vụ BHTG1 và BHTG2 đổithành phòng Kiểm tra (26 người), Phòng Giám sát (30 người), Phòng Kế toán (5người), Phòng Hành chính – nhân sự (16 người), Phòng Tổng hợp(10 người)

2.2 Thực trạng công tác giám sát QTDND tại Chi nhánh T.P HN

2.2.1 Đối tượng của hoạt động giám sát tại Chi nhánh

Đi đầu trong công tác giám sát từ xa trong hệ thống BHTG Việt Nam, Chinhánh đã xây dựng, điều chỉnh hoạt động giám sát phù hợp với định hướng chiếnlược của BHTG Việt Nam.Từ giữa năm 2006, thực hiện chương trình tái cấu trúctheo định hướng lấy khách hàng làm tâm điểm của BHTG Việt Nam, hoạt độnggiám sát của BHTG Việt Nam trong đó có Chi nhánh cũng chuyển đổi theo hướngmới, tổ chức tham gia BHTG được phân thành các nhóm Hoạt động giám sát củaBHTG Việt Nam đã được cơ cấu lại theo phương thức Trụ sở chính và chi nhánhBHTG khu vực chịu trách nhiệm GSTX những tổ chức tham gia BHTG có trụ sởchính tại tỉnh, thành phố được giao quản lý Cơ sở dữ liệu được tập trung tại BHTGViệt Nam, để chia sẻ đồng thời bảo mật thông tin cho khách hàng

Theo mô hình mới, Chi nhánh được tái cấu trúc lần 3.Theo chức năng nhiệm

vụ mới, hoạt động giám sát tổ chức tham gia BHTG do Phòng giám sát chịu tráchnhiệm Qua gần 15 năm hoạt động, trong từng thời kỳ, đối tượng, số lượng tổ chứctham gia BHTG Chi nhánh giám sát có sự biến động theo sự phân quyền của BHTG

Trang 39

Việt Nam Đối tượng giám sát của Chi nhánh gồm có : Ngân hàng thương mại cổphần chiếm 15% , Chi nhánh ngân hàng nước ngoài 15%, Ngân hàng 100% vốnnước ngoài 3%, Ngân hàng liên doanh 4% và Quỹ tín dụng nhân dân chiếm 63%.

2.2.2 Tình hình áp dụng cơ sở pháp lý tại Chi nhánh T.P HN

a) Theo quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước

Hoạt động Giám sát từ xa được quy định bởi các văn bản của Chính phủ, Ngânhành Nhà nước và cho đến nay hoạt động GSTX được áp dụng bởi Luật BHTG đượcQuốc hội thông qua năm 2013 và các văn bản của Chính phủ ban hành kèm theo như:

“ Nghị định số 68/NĐ-CP ngày 28/6/2013 của Chính phủ về quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành luật BHTG;”

“ Điều 3, Quyết định số 1394/QĐ-TTg ngày 13/8/2013 về việc thành lâpBHGVN và quy định chức năng, nhiệm vụ của BHTGVN;”

“ Điều 9, Quyết định số 1395/QĐ-TTg ngày 13/8/2013 về phê duyệt Điều lệ

tổ chức hoạt động của BHTGVN.”

Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động giám sát củaBHTGVN, BHTGVN còn ban hành quy chế GSTX đối với QTDND (Quyết định 628/QĐ-BHTG111 ngày 31/12/2010 đối với QTDND là các NHTM và Quyết định629/QĐ-BHTG112 ngày 31/12/2010 đối với các QTDND là các QTDND và các tổchức tín dụng phi ngân hàng)

b) Theo quy định của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Để hoạt động giám sát được thực hiện đồng bộ, xuyên suốt từ Trụ sở chínhđến các chi nhánh trong hệ thống, BHTGVN đã ban hành các văn bản mang tínhchất hướng dẫn chi tiết về nghiệp vụ GSTX:

“ Quyết định số 217/QĐ-BHTG-HDQT ngày 19/8/2003 của Hội đồng quảntrị Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam về việc ban hành Quy chế giám sát đối với tổ chứctham gia bảo hiểm tiền gửi; ”

“ Quyết định số 192/QĐ-BHTG13 ngày 18/8/2006 của Tổng giám đốcBHTGVN v/v ban hành Quy định thông tin báo cáo áp dụng đối với QTDND làQuỹ tín dụng nhân dân; ”

“ Quy trình số 334/QT-BHTG13 ngày 27/7/2007 của Tổng giám đốc BHTGVN

về tình hình nộp thông tin báo cáo đối với các QTDND là Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở

và tổ chức tín dụng Phi ngân hàng; ”

“ Quyết định số 629/QĐ-BHTG112 ngày 31/12/2010 của Tổng giám đốc Bảohiểm tiền gửi Việt Nam về việc “ Hướng dẫn thực hiện Quy chế giám sát từ xa đốivới hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tín dụng Phi ngân hàng” ”

2.2.3 Quy trình giám sát từ xa

Trang 40

Tại Chi nhánh, thực hiện theo Quyết định số 217 của Hội đồng Quản trị ngày19/8/2003 về việc ban hành Quy chế giám sát đối với QTDND và hướng dẫn số 341/CV

- BHTG ngày 25/6/2004 Hướng dẫn thực hiện quy chế giám sát đối với QTDND thì quy

trình triển khai hoạt động giám sát tại Chi nhánh cụ thể theo sơ đồ 2.1:

Sơ đồ 2.1: Quy trình giám sát tại Chi nhánh T.P Hà Nội Bước 1: Thu thập, xử lý thông tin đầu vào

Để phục vụ cho hoạt động giám sát thì nguồn thông tin chủ yếu được cungcấp từ các QTDND Đây là nguồn số liệu chính thức, định kỳ phục vụ cho hoạtđộng giám sát Chi nhánh đã hướng dẫn các QTDND nộp thông tin báo cáo theo cácvăn bản sau: “ Quyết định: số 191/QĐ-BHTG7; Quyết định số 192/QĐ-BHTG13

và quy trình tiếp nhận, quản lý thông tin báo cáo đối với các đơn vị này của BHTGVN

- Đối với thông tin từ các nguồn khác liên quan đến hoạt động của hệ thốngTCTD thuộc đối tượng giám sát, phòng Giám sát tại Trụ sở chính, Chi nhánh chủ độngthu thập, rà soát, cập nhật thông tin báo cáo, lưu trữ và quản lý theo phân cấp quản lýkhách hàng

Bước 2: Phân tích, đánh giá, xác định rủi ro, phát hiện vi phạm

Trên cơ sở thông tin nhận đầu vào được nhận từ các QTDND, cán bộ giámsát sẽ theo dõi tình hình hoạt động, phân tích, xác định rủi ro, phát hiện vi phạm,đánh giá đối với hệ thống và từng đơn vị riêng lẻ trên cơ sở nội dung, phương phápgiám sát

Bước 3: Lập báo cáo kết quả giám sát

- Báo cáo định kỳ: sau khi hoàn thành kết quả giám sát, Chi nhánh sẽ lập báocáo giám sát theo định kỳ gửi BHTGVN Báo cáo định kỳ Tháng gửi trước ngày 22tháng tiếp theo, Báo cáo định kỳ Quý gửi trước ngày 05 tháng thứ 2 quý tiếp theo

Phân tích, đánh giá, xác định rủi ro, phát hiện vi phạm

Lập báo cáo kết quả giám sát

Lập báo cáo kết

giám sát

Xử lý kết quả giám sát

Ngày đăng: 10/01/2020, 13:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w