Từ thực trạng sử dụng công nghệ thông tin, bài viết đề cập vấn đề hình thành, phát triển năng lực công nghệ thông tin cho sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An hiện nay.
Trang 1DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO HỌC SINH, SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NGHỆ AN
Lê Thị Cẩm Mỹ - Hồ Thị Loan Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Ngày nhận bài: 02/5/2019; ngày chỉnh sửa: 25/5/2019; ngày duyệt đăng: 28/5/2019
Abstract: From the current status of using information technology, the article addresses the
problem of forming and developing information technology competency for students at Nghe An
College of Education today
Keywords: Teaching, competency, information technology, Webquest, project
1 Mở đầu
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới
căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế chú trọng đổi mới mạnh mẽ
và đồng bộ các yếu tố cơ bản của GD-ĐT theo hướng coi
trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học
“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc
phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc
Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học,
tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ
năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp
sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt
động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông
trong dạy và học [1; phần III, mục 2]
Nghị quyết đã khẳng định tầm quan trọng của CNTT
trong dạy và học Để khai thác CNTT vào quá trình dạy
và học đòi hỏi người dạy và người học đều phải được
trang bị những kĩ năng về CNTT Việc đổi mới phương
pháp dạy học (PPDH) trong bất kì giai đoạn nào cũng
đều cần sử dụng tới công nghệ, và hiện nay là sự hỗ trợ
của CNTT Tuy nhiên, việc sử dụng CNTT để đổi mới
PPDH cũng đang có nhiều rào cản Thứ nhất là một quan
niệm ấu trĩ cho rằng, CNTT vừa là phương tiện, vừa là
phương pháp, nghĩa là “cứ có sử dụng CNTT là đã đổi
mới PPDH”, dẫn đến lạm dụng CNTT nhiều khi phản tác
dụng Mặt khác, kĩ năng CNTT của nhiều giảng viên
(GV) còn yếu cũng làm giảm tác dụng của việc ứng dụng
CNTT trong đổi mới PPDH Bài viết này đề cập việc dạy
học chú trọng phát triển năng lực CNTT cho người học
thông qua đổi mới PPDH có tích hợp CNTT tại Trường
Cao đẳng Sư phạm (CĐSP) Nghệ An
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Thực trạng sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Theo báo cáo tổng kết các năm học gần đây (2016-2017; 2017-2018) của Trường CĐSP Nghệ An, tình hình
sử dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở Trường, cụ thể như sau:
Nhiều phòng học đã được trang bị hệ thống máy chiếu đa năng phục vụ cho việc dạy và học của GV và sinh viên (SV) CNTT tạo ra môi trường dạy học đa phương tiện kết hợp những hình ảnh, video, âm thanh, văn bản, biểu đồ,… được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan Nhiều GV đã có được những tiết dạy tốt tạo được sự tương tác, phát huy được tính chủ động và sáng tạo của người học nhờ sử dụng CNTT trong thiết kế bài giảng và hỗ trợ các hoạt động dạy học Tuy nhiên, vẫn còn có GV khi lên lớp đã có bài giảng soạn sẵn lưu trong máy tính và thường rơi vào tình trạng chiếu chép, chưa kích thích được tính tích cực của người học
GV và học sinh (HS), SV có thể dễ dàng tìm kiếm những thông tin liên quan đến bài học qua mạng Internet không dây của trường nhưng thực tế cho thấy, rất ít SV
sử dụng mạng này để phục vụ cho mục đích học tập Hầu như các em tranh thủ đưa máy đến trường để phục vụ cho
mục đích giải trí, có SV còn vô tư chia sẻ: Mạng ở trường rất mạnh nên download phim rất nhanh và em thường xuyên đưa máy đến trường để tải phim bộ về xem
Tuy CNTT mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ GV hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình Bên cạnh đó, kiến thức, kĩ năng về CNTT ở một số GV vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm
Trang 2VJE Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 3 tháng 5/2019, tr 302-305; 202
chí còn né tránh Mặt khác, PPDH cũ vẫn còn như một
lối mòn khó thay đổi được trong một sớm, một chiều
Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm,
dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho người học, cũng
như dạy cho HS, SV “cách biết, cách làm, cách chung
sống và cách tự khẳng định mình” vẫn còn mới mẻ đối
với một số GV và đòi hỏi GV phải kết hợp hài hòa các
PPDH để hạn chế những nhược điểm của PPDH truyền
thống Điều này làm cho CNTT, dù đã được đưa vào quá
trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích
cực và tính hiệu quả của nó, vẫn chưa được sử dụng đúng
như là công cụ hỗ trợ
Trong thực tế đã có những giờ dạy học, GV còn lạm
dụng CNTT, sử dụng không đúng lúc, đúng chỗ, không
phối hợp với các phương tiện khác, làm cho giờ dạy học
thụ động, ít kiến tạo được tri thức, HS, SV học “như xem
phim”, trong khi CNTT chỉ là phương tiện dạy học Hoặc
sử dụng chỉ để “thay bảng đen” chứ không phát huy được
khả năng tuyệt vời của phương tiện dạy học này Tất cả
các khuynh hướng trên đều không phát huy được vai trò,
vị trí, ưu điểm của CNTT trong dạy học hiện nay
Tồn tại lớn nhất là thói quen thụ động, quen nghe,
quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập
khuôn những gì GV đã giảng, chỉ biết những kiến thức
mà GV đã cung cấp Đa phần SV chưa có thói quen chủ
động tra cứu thông tin trên mạng Internet Một lí do nữa
là lịch học của SV quá dày, nhiều lớp phải học liên tục
hai buổi vào tất cả các ngày trong tuần Thêm vào đó, SV
sư phạm với tâm lí là ra trường chưa chắc có việc làm đã
ảnh hưởng lớn đến động cơ học tập của các em
Qua phân tích ở trên, chúng ta đã phần nào có được
một cái nhìn tổng quát về thực trạng của việc ứng dụng
CNTT vào dạy học cho HS, SV hiện nay Từ đó, tìm ra
những giải pháp để ứng dụng CNTT phù hợp trong quá
trình dạy học ở nhà trường nhằm đổi mới PPDH theo
hướng phát huy tính tích cực chủ động của người học; để
cán bộ giảng dạy không còn lúng túng trong quá trình
soạn giáo án và giảng dạy, tự tin hơn trong việc hướng
dẫn SV học tập đem lại hiệu quả cao nhất cho giờ giảng
2.2 Xác định năng lực công nghệ thông tin của sinh
viên Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Để nâng cao được năng lực CNTT của SV, chúng ta
cần xác định năng lực CNTT của SV bao gồm những
năng lực cụ thể nào Có thể kể đến một số năng lực cụ
thể như sau:
- Năng lực sử dụng các phương tiện kĩ thuật: Sử dụng
phương tiện kĩ thuật thông thường như máy tính, máy
chiếu, đầu đĩa… trong học tập và nghiên cứu
- Nhận biết được các thành phần của một hệ thống
máy tính, biết và sử dụng thành thạo các phần mềm hố
trợ học tập cơ bản như Word, Excel, PowerPoint…
- Biết tổ chức và lưu trữ dữ liệu trong các thiết bị khác nhau Biết khai thác thành thạo mạng Internet, chia sẻ dữ liệu trong mạng Lan Biết xác định được mối liên hệ giữa thông tin tìm được và dùng các thông tin đó để giải quyết các nhiệm vụ học tập
- Năng lực ứng dụng CNTT trong học tập và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm: Có kiến thức về sử dụng CNTT để chia sẻ, trao đổi thông tin, hợp tác với GV và bạn học một cách an toàn và hiệu quả; Sử dụng internet
và các công cụ tìm kiếm nâng cao để cập nhật thông tin liên quan đến lĩnh vực nghề nghiệp của bản thân; Sử dụng các công cụ CNTT và truyền thông để tham khảo, chia sẻ tài nguyên, làm việc cộng tác với đồng môn Đối với SV, năng lực CNTT được xem là một năng lực bắt buộc phải có, xem đây là năng lực chung, bởi lẽ Tin học đã thành một phần tất yếu của cuộc sống hiện đại, đã làm thay đổi cách sống, cách nghĩ và cách làm Chúng ta đang sống trong một môi trường số hóa, máy tính hóa Để sống trong môi trường thế giới công nghệ
số và hiểu biết về nó, hiểu để làm chủ và thích nghi, buộc mỗi người đều cần đến Tin học SV cũng không nằm ngoài guồng quay của thời đại, là những người thuộc tầng lớp tri thức, họ buộc phải làm chủ công nghệ để đáp ứng được sự thay đổi, phát triển của xã hội, công việc, đời sống Đối với SV sư phạm, CNTT chính là môi trường dạy học, công cụ sư phạm, thiết bị dạy học, là chìa khóa vàng để giúp SV trở thành những người thầy giáo giỏi trong tương lai UNESCO đã từng khẳng định: Năng lực CNTT là một trong những năng lực thiết yếu của công dân cùng với các năng lực truyền thống khác như năng lực đọc, viết
2.3 Hình thành, phát triển năng lực công nghệ thông tin cho sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
CNTT đã làm xuất hiện môi trường dạy học mới mà
ở đó cả người dạy và người học đều sử dụng CNTT trong hoạt động dạy học của mình GV sử dụng CNTT
để dạy, HS, SV sử dụng CNTT để học tập, nghiên cứu CNTT hỗ trợ dạy học truyền thống và làm xuất hiện những phương thức, phương tiện và hình thành tổ chức dạy học mới
Như chúng ta đã biết, năng lực được hình thành và phát triển thông qua hoạt động vận dụng các kiến thức,
kĩ năng học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra Do vậy, để hình thành và phát triển năng lực cho HS, SV, cần sử dụng các hình thức tổ chức dạy học, PPDH theo định hướng người học vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống Đối với năng lực CNTT cũng vậy Một câu hỏi đặt ra là, trong trường học,
HS, SV có những cơ hội nào để nâng cao kĩ năng CNTT Thực tế dạy học hiện nay cho thấy, nếu không tính đến
Trang 3các tiết học môn Tin học thì trong quá trình dạy học, GV
là người sử dụng CNTT nhiều phục vụ cho công việc
giảng dạy, HS, SV không có cơ hội sử dụng, khai thác
mà chỉ là khán giả của việc trình chiếu sản phẩm của
người thầy
Chúng ta hình thành và rèn luyện, nâng cao năng lực
CNTT cho HS, SV thông qua việc dạy học môn Tin học
và các môn học khác Hiện nay, HS, SV được học Tin
học đối với hệ trung cấp là 45 tiết, SV các hệ không
chuyên Tin học với thời lượng 45 tiết và đều học ở năm
thứ 2 của khóa học Các học phần Tin học này nhằm cung
cấp các kiến thức cơ bản về tin học và khai thác các phần
mềm cơ bản của bộ Office là Word, Excel, PowerPoint
và khai thác sử dụng mạng internet, thư điện tử Ngoài
ra, để rèn luyện, nâng cao năng lực CNTT cho HS, SV
còn phải thông qua các bộ môn khác, mà ở môn học đó,
HS, SV sử dụng CNTT để giải quyết các nhiệm vụ được
giao trong quá trình học tập và nghiên cứu Theo đó,
không chỉ khi học môn Tin học mà HS, SV có thể tự
mình luyện tập để hình thành năng lực CNTT thông qua
việc sử dụng CNTT để học tập các môn học khác
Đổi mới PPDH phải đặt người học vào tình huống là
người làm chủ hoạt động học và phải sử dụng các
phương tiện kĩ thuật hiện đại hỗ trợ cho quá trình học tập
của mình, trong đó có CNTT Còn GV phải là người biết
định hướng, thiết kế các hoạt động phù hợp: vừa sức
nhưng lại đầy thách thức để dẫn dắt SV tự mình trải
nghiệm, tự mình khám phá và chiếm lĩnh kiến thức
- Dạy học môn Tin học chú trọng tới việc rèn
luyện kĩ năng sử dụng CNTT để giải quyết các nhiệm
vụ cụ thể: Khi dạy các học phần Tin học, một điểm cần
chú ý tới và phải luôn được đặt làm tiêu chí thiết kế bài
giảng môn Tin học là thiết kế các hoạt động để HS, SV
tự học, xem môn Tin học là môn rèn luyện nghề Tin Đây
chính là việc nâng cao năng lực cho SV bằng việc dạy
học có hiệu quả môn Tin học tại Trường CĐSP Nghệ An
- Dạy học theo dự án (DHDA)
Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy
học theo dự án DHDA được nhiều tác giả coi là một hình
thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiều PPDH
cụ thể được sử dụng Tuy nhiên, khi không phân biệt giữa
hình thức và PPDH, người ta cũng gọi là phương pháp
dự án, khi đó cần hiểu đó là PPDH theo nghĩa rộng, một
PPDH phức hợp
DHDA là một hình thức dạy học, trong đó người học
thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp
giữa lí thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể
giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với
tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc
xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự
án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của DHDA
Trong các tài liệu về DHDA có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Các nhà sư phạm Mĩ đầu thế kỉ XX khi xác lập cơ sở lí thuyết cho PPDH này đã nêu ra 3 đặc điểm cốt lõi của DHDA: định hướng HS, định hướng thực tiễn
và định hướng sản phẩm Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của DHDA như sau:
+ Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát
từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học
+ Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực
+ Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án + Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp
+ Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện
dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng
lí thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lí thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
+ Tính tự lực cao của người học: Trong DHDA, người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học Người dạy chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của người học và mức độ khó khăn của nhiệm vụ
+ Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và
sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa người học
và người dạy cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội
+ Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện
dự án, các sản phẩm được tạo ra Sản phẩm của dự án
Trang 4VJE Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 3 tháng 5/2019, tr 302-305; 202
không giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong
đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản
phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những
sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người
ta có thể chia cấu trúc của DHDA làm nhiều giai đoạn
nhỏ hơn Sau đây, chúng tôi trình bày cách phân chia theo
5 giai đoạn:
+ Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án: Người
dạy và người học cùng nhau đề xuất, xác định đề tài và
mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huống xuất phát,
chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải
quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực
tiễn xã hội và đời sống Cần chú ý đến hứng thú của
người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài Người dạy
có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học viên lựa chọn
và cụ thể hoá Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về
việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía người học
Giai đoạn này được K.Frey mô tả thành 2 giai đoạn nhỏ
là đề xuất sáng kiến và thảo luận sáng kiến
+ Xây dựng kế hoạch thực hiện: Trong giai đoạn này,
HS với sự hướng dẫn của người dạy xây dựng đề cương
cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc
xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần
làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp
tiến hành và phân công công việc trong nhóm
+ Thực hiện dự án: các thành viên thực hiện công việc
theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân Trong giai
đoạn này, người học thực hiện các hoạt động trí tuệ và
hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen
kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức lí thuyết, các
phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực
tiễn Trong quá trình đó, sản phẩm của dự án và thông tin
mới được tạo ra
+ Thu thập kết quả và công bố sản phẩm: kết quả thực
hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo,
luận văn… Trong nhiều dự án, các sản phẩm vật chất
được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự
án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng
hạn, biểu diễn một vở kịch, tổ chức một sinh hoạt nhằm
tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của dự án có thể
được trình bày giữa các nhóm SV, có thể được giới thiệu
trong nhà trường hay ngoài xã hội
+ Đánh giá dự án: Người dạy và người học đánh giá
quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt
được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện
các dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể được
đánh giá từ bên ngoài Hai giai đoạn cuối này cũng có thể
được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án
Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế, chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án Giai đoạn 4 và
5 cũng thường được mô tả chung thành một giai đoạn (giai đoạn kết thúc dự án)
Như thế, khi sử dụng DHDA, HS, SV luôn phải sử dụng CNTT làm công cụ, là phương tiện của quá trình học, HS, SV phải tìm kiếm thông tin phục vụ cho việc giải quyết công việc được giao và trình bày kết quả của mình qua các sản phẩm khác nhau như bài trình chiếu, video, bài báo cáo, hình ảnh…
- Dạy học sử dụng WebQuest
WebQuest là một hình thức học tập, trong đó hầu như toàn bộ các thông tin, kiến thức đều đến từ các trang web trên internet Hiện nay, giáo viên các nước sử dụng các bài tập dạng WebQuest để khuyến khích HS sử dụng internet nhằm rèn luyện các kĩ năng tư duy mức cao mà xã hội thế kỉ XXI yêu cầu… Trong tiếng Việt, chưa có cách dịch hoặc cách dùng thuật ngữ thống nhất cho khái niệm này Trong tiếng Anh, “Web” ở đây nghĩa là mạng, “Quest” là tìm kiếm, khám phá Dựa trên thuật ngữ và bản chất của khái niệm có thể gọi WebQuest là phương pháp “Khám phá trên mạng” WebQuest là một dạng đặc biệt của dạy học sử dụng truy cập mạng internet Để thực hiện được những yêu cầu của giáo viên trong WebQuest, HS phải vận dụng
kĩ năng tư duy ở mức độ cao như tổng hợp, phân tích, giải quyết tình huống, sáng tạo và đưa ra quyết định chứ không chỉ đơn thuần là làm những bài tập đã có sẵn đáp
án hay chỉ đọc bài rồi trả lời đúng sai Một WebQuest phải sử dụng được các nguồn tư liệu phong phú trên internet Nguồn trong một WebQuest phải dựa trên các thông tin liên quan đến nhiều lĩnh vực trong cuộc sống
và được cập nhật thường xuyên Trong điều kiện không
có Internet trong trường, giáo viên có thể tải các trang web này về sẵn trong máy tính, hoặc sử dụng các nguồn
tư liệu khác (Word, Excel, sách, báo chí, ) Điều quan trọng là các tư liệu này phải là các tư liệu “sống” chứ không phải chỉ là các bài giảng của giáo viên hay những bài đã được kiểm định kĩ càng trong sách giáo khoa Như thế, khi sử dụng WebQuest, người học phải sử dụng kĩ năng khai thác thông tin trên mạng internet, kĩ năng tổ chức lưu trữ thông tin và thao tác với các tập tin như Word, Excel, Pdf, PowerPoint… để tìm kiếm thông tin, trình bày kết quả học tập của mình, qua đó kĩ năng
CNTT được nâng cao
(Xem tiếp trang 202)
Trang 5Các nhóm đã hoàn chỉnh báo cáo trả lời tốt các câu
hỏi thực hành, trong quá trình thuyết trình cũng đã trả lời
tốt các câu hỏi do các nhóm khác đặt ra, các nhóm nộp
bản viết tay và bản in về cho giáo viên Bên cạnh đó
nhóm 2 và nhóm 3 đã nêu thêm được một số bài toán
thực tiễn liên quan đến cấp số cộng và cấp số nhân
Giáo viên đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các
nhóm khác dựa trên tiêu chí đã nêu và thu thập ý kiến
phản hồi của học sinh về hiệu quả công việc
Bước 6: Đánh giá dự án, điều chỉnh, rút kinh nghiệm
- Giáo viên đánh giá hiệu quả làm việc của từng nhóm
theo các tiêu chí đánh giá
- Sau khi đánh giá ưu nhược điểm của từng dự án,
giáo viên đề xuất cách giải quyết hiệu quả nhất
- Học sinh ghi chép và tổng hợp thành các sản phẩm
hoàn chỉnh nhất, làm tài liệu học tập cho bản thân và cả lớp
Các kĩ năng cần được học thêm khi thực hiện dự án:
kĩ năng sử dụng công nghệ, sử dụng các phần mềm ứng
dụng như Microsoft Word, Microsoft PowerPoint;… kĩ
năng sử dụng và khai thác tài nguyên trên internet; kĩ
năng viết báo cáo
Như vậy, thông qua các bài toán thực tế này, học sinh
hiểu rõ các kiến thức về cấp số cộng và cấp số nhân, biết
vận dụng chúng để giải quyết các bài toán kinh tế, biết
phân tích và lựa chọn các phương án phù hợp thông qua
tính toán
3 Kết luận
Để tổ chức và thiết kế được các dự án học tập gắn với
thực tiễn phù hợp với nội dung dạy học, người giáo viên
cần phải tìm tòi, sáng tạo Những bài toán đưa ra cần phải
gắn với nội dung thực tiễn để tạo sự hứng thú, niềm say
mê học Toán cho học sinh để các em thấy rõ được tầm
quan trọng của môn Toán trong cuộc sống; từ đó góp
phần nâng cao hiệu quả dạy và học Toán theo Chương
trình giáo dục phổ thông mới hiện nay
Tài liệu tham khảo
[1] Pôlia G (1997) Sáng tạo toán học NXB Giáo dục
[2] Phan Trọng Ngọ (2005) Dạy học và phương pháp
dạy học trong nhà trường NXB Đại học Sư phạm
[3] Trần Cường - Nguyễn Thuỳ Duyên (2018) Tìm hiểu
lí thuyết giáo dục toán học gắn với thực tiễn và vận
dụng xây dựng bài tập thực tiễn trong dạy học môn
Toán Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt kì 2 tháng 5, tr
165-169
[4] Perelman IA.I (1987) Toán ứng dụng trong đời
sống NXB Thanh Hoá
[5] Bộ GD-ĐT (2018) Chương trình giáo dục phổ
thông môn Toán
[6] Nguyễn Bá Kim (2011) Phương pháp dạy học môn Toán NXB Đại học Sư phạm
[7] Bùi Văn Nghị (2009) Vận dụng lí luận vào thực tiễn dạy học môn Toán NXB Đại học Sư phạm [8] Phan Anh (2012) Góp phần phát triển năng lực Toán học toán học hóa tình huống thực tiễn cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học đại số và giải tích
Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Vinh
[9] Trần Văn Hạo (tổng chủ biên, 2006) Đại số và giải tích 11 NXB Giáo dục
DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG…
(Tiếp theo trang 305)
3 Kết luận
Đổi mới PPDH sẽ đặt người học vào tình huống là người làm chủ hoạt động học và phải sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại hỗ trợ cho quá trình học tập của mình, trong đó có CNTT GV phải là người biết định hướng, thiết
kế các hoạt động phù hợp: vừa sức nhưng lại đầy thách thức để dẫn dắt SV tự mình trải nghiệm, tự mình khám phá
và chiếm lĩnh kiến thức Để nâng cao năng lực CNTT cho người học, chúng ta không chỉ chú trọng tới việc cung cấp kiến thức tin học mà còn phải tổ chức dạy học sao cho HS,
SV được sử dụng CNTT trong hoạt động học của mình, không chỉ ở nhà mà ngay cả trên lớp học
Tài liệu tham khảo
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2013) Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế [2] Vũ Thanh Dung (2018) Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 8, tr
247-250
[3] Vũ Thị Ngọc Bích - Tôn Quang Cường - Phạm Kim
Chung (2006) Tập bài giảng phương pháp và công nghệ dạy học Trường Đại học Giáo dục - Đại học
Quốc gia Hà Nội
[4] Nguyễn Xuân Lạc (2017) Nhập môn lí luận và công
nghệ dạy học hiện đại NXB Giáo dục Việt Nam
[5] Trần Khánh Đức (2014) Lí luận và phương pháp dạy học hiện đại NXB Đại học Quốc gia Hà Nội [6] Lê Khánh Bằng (2012) Phương pháp dạy học đại học hiệu quả NXB Đại học Sư phạm
[7] Trần Khánh Đức (2010) Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ 21 NXB Giáo dục Việt
Nam